1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học thông qua dạy học học phần “nghiệp vụ sư phạm” ở trường Đại học Đồng Tháp

4 245 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học thông qua học phần Nghiệp vụ sư phạm ở Trường Đại học Đồng Tháp.

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP

CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC HỌC PHẦN “NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM” Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

Dương Huy Cẩn - Lê Duy Cường Trường Đại học Đồng Tháp

Ngày nhận bài: 17/12/2018; ngày sửa chữa: 25/01/2019; ngày duyệt đăng: 31/01/2019

Abstract: The module of Pedagogical Profession in the primary teacher training program plays a

very important role in the development of professional competency On the basis of surveying the

status of professional competency development through teaching module of Pedagogy, we propose

a number of measures to develop professional competency for Primary Education students through

teaching module of Pedagogical profession at Dong Thap University

Keywords: Professional competency, pedagogical profession, primary education

1 Mở đầu

Trong chương trình đào tạo sinh viên (SV) ngành

Giáo dục tiểu học (GDTH) ở các trường sư phạm hiện

nay, ngoài các học phần Tâm lí học, Giáo dục học,

phương pháp dạy học (PPDH) các bộ môn (PPDH Tiếng

Việt, PPDH Toán, ) thì học phần Nghiệp vụ sư phạm

(NVSP) có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng

lực nghề nghiệp (NLNN) cho SV

Trong những năm gần đây, các trường sư phạm đào

tạo giáo viên tiểu học (GVTH) đã có những đổi mới trong

giảng dạy học phần NVSP theo hướng tăng cường vai trò

tự học, tự rèn luyện cho SV, cách làm này đã và đang đạt

được những kết quả nhất định trong việc phát huy tính

tích cực của người học Theo Thông tư

40/2011/TT-BGDĐT ban hành “Chương trình bồi dưỡng NVSP cho

giáo viên trung học phổ thông” [1] của Bộ GD-ĐT thì số

tín chỉ về đào tạo năng lực NVSP trong chương trình đào

tạo giáo viên các ngành sư phạm nói chung và GVTH

nói riêng cần đạt tối thiểu bằng 25% tổng số tín chỉ trong

chương trình đào tạo Thông qua tổ chức học tập, nghiên

cứu học phần NVSP, các trường sư phạm đã trang bị cho

SV những kiến thức về chương trình, nội dung, PPDH và

giáo dục phổ thông, phương pháp giải quyết các tình

huống xảy ra trong hoạt động sư phạm, Học tập học

phần NVSP được coi là cầu nối giữa lí luận và thực tiễn

giáo dục, SV sẽ có nhiều cơ hội để học tập, trải nghiệm

ở trường tiểu học, góp phần phát triển toàn diện về phẩm

chất, nhân cách người giáo viên [2] Bài viết đề xuất một

số biện pháp phát triển NLNN cho SV ngành GDTH

thông qua dạy học học phần NVSP ở Trường Đại học

Đồng Tháp

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Một số khái niệm

2.1.1 Năng lực

Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực Theo [3]:

Năng lực là phẩm chất tâm lí, sinh lí tạo ra cho con người khả năng hoàn thành một loạt hoạt động nào đó với chất lượng cao hay năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó

Theo [4]: Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất tâm lí cá nhân, là điều kiện bên trong, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất

định Tác giả Phạm Thị Minh Hạnh cho rằng: Năng lực

là tập hợp các tính chất hay phẩm chất cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau [5]

Từ những quan niệm trên, có thể coi năng lực là tổng thể những phẩm chất tâm lí, sinh lí, tri thức, kĩ năng, thái

độ và kinh nghiệm của mỗi cá nhân có khả năng hoàn thành một hoạt động với chất lượng cao

2.1.2 Năng lực nghề nghiệp của giáo viên tiểu học

Với cách tiếp cận trên, có thể quan niệm NLNN của GVTH là tổng thể những phẩm chất tâm, sinh lí, tri thức,

kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm của một giáo viên có khả năng hoàn thành nhiệm vụ dạy học, giáo dục ở trường tiểu học Như vậy, NLNN của GVTH là những thuộc tính tâm, sinh lí của con người đối với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra NLNN của GVTH được cấu thành bởi 3 yếu tố chính: kiến thức chuyên môn, kĩ năng dạy học/giáo dục và thái độ đối với nghề nghiệp của mình Căn cứ Thông tư quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông ban hành ngày 22/8/2018 thì NLNN của GVTH (gồm 05 tiêu chuẩn, 15 tiêu chí) [6], ngoài yêu cầu về tiêu chuẩn Phẩm chất nhà giáo, NLNN của GVTH còn bao gồm: năng lực nghiên cứu người học

Trang 2

và việc học; năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo

dục; năng lực sử dụng PPDH và giáo dục theo hướng phát

triển phẩm chất, năng lực học sinh; năng lực tổ chức thực

hiện kế hoạch dạy học; năng lực trình bày bảng; năng lực

xử lí tình huống sư phạm; năng lực sử dụng công nghệ

thông tin trong dạy học

2.2 Thực trạng phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh

viên ngành Giáo dục tiểu học thông qua dạy học học phần

Nghiệp vụ sư phạm ở Trường Đại học Đồng Tháp

Để làm cơ sở đề xuất các biện pháp thực hiện dạy học

học phần NVSP theo hướng phát triển NLNN cho SV,

chúng tôi tiến hành tìm hiểu, điều tra thực trạng phát triển

NLNN của SV ngành GDTH thông qua dạy học học

phần NVSP bằng phiếu khảo sát đối với 150 SV ngành

GDTH năm thứ 4; 20 GVTH có nhiều năm tham gia

hướng dẫn SV rèn luyện NVSP ở 3 trường: Tiểu học

Thực hành Sư phạm, Tiểu học Bùi Thị

Xuân và Tiểu học Lê Quý Đôn (3 trường

tiểu học này thường xuyên hướng dẫn SV

Trường Đại học Đồng Tháp trong các đợt

rèn luyện NVSP, Kiến tập và Thực tập sư

phạm); 10 giảng viên tham gia dạy học

học phần NVSP ở khoa Giáo dục,

Trường Đại học Đồng Tháp Thời gian

tiến hành lấy ý kiến khảo sát là tháng

10/2018 Kết quả như sau:

- Do Trường Đại học Đồng Tháp

chưa có trường thực hành sư phạm, nên

việc tổ chức dạy học một số nội dung

NVSP cho SV ngành GDTH được thực

hiện bằng cách đưa SV xuống các trường

tiểu học để quan sát, dự giờ, giảng tập và

trải nghiệm thực tế hoạt động dạy học, Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy: giảng viên và GVTH đều cho rằng, việc phối hợp giữa Trường Đại học Đồng Tháp với các trường tiểu học còn chưa tốt

Biểu đồ 1 cho thấy, sự gắn kết giữa nhà trường và các

cấp quản lí giáo dục cũng như cơ sở giáo dục để tổ chức dạy học học phần NVSP cho SV chưa chặt chẽ Để tăng cường sự phối hợp giữa Trường Đại học Đồng Tháp với các trường tiểu học, cần xác lập một hệ thống các cơ sở giáo dục để làm trường thực hành sư phạm, phục vụ công tác đào tạo giáo viên Vì vậy, trong quá trình tổ chức dạy học học phần NVSP, SV chưa được tiếp cận môi trường giáo dục phổ thông sớm (từ năm thứ 3, SV mới có đợt kiến tập ở các trường phổ thông), dẫn đến hạn chế về kết quả học tập học phần NVSP

Bảng 1 Đánh giá mức độ đạt được về NLNN của SV

TT Năng lực dạy học

Mức độ

SV GV và

GV và

GV và

GV và GVTH

1 Năng lực nghiên cứu người

học và việc học 4,67 10,00 28,67 46,67 54,00 43,33 12,67 0,00

2 Năng lực thiết kế kế hoạch

dạy học và hoạt động giáo dục 2,00 6,67 24,67 36,67 52,67 50,00 20,67 6,67

3 Năng lực dạy học trực tiếp 3,33 10,00 32,67 43,33 45,33 43,33 18,67 3,33

4 Năng lực trình bày bảng 4,67 16,67 25,33 50,00 50,67 33,33 19,33 0,00

5 Năng lực xử lí tình huống sư

6 Năng lực sử dụng công nghệ

thông tin trong dạy học 1,33 3,33 21,33 23,33 51,33 56,67 26,00 16,67

Trang 3

- SV ít có cơ hội thực hành, rèn luyện các nội dung

NVSP ở các trường tiểu học nên không có nhiều kiến

thức thực tiễn; chưa nắm vững nội dung các hoạt động

giáo dục ở trường phổ thông Ngoài ra, SV cũng chưa

nắm vững các công việc, nhiệm vụ mà giáo viên cần thực

hiện trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh

Do không được tổ chức xuống các cơ sở thực hành sớm

nên nhiều SV chưa có điều kiện, cơ hội phát triển NLNN

khi triển khai các hoạt động dạy học và giáo dục học sinh

SV còn lúng túng, chưa biết cách trình bày giảng; chưa

biết cách phối hợp các phương pháp và hình thức dạy học

sao cho hợp lí Kết quả tự đánh giá của SV và giảng viên,

GVTH cho thấy nhiều SV còn hạn chế về các NLNN như

sau (xem bảng 1 trang trước):

- Sự gắn kết nội dung dạy học ở Trường Đại học

Đồng Tháp với nội dung dạy học ở trường tiểu học chưa

chặt chẽ Vì thế, SV còn lúng túng khi vận dụng kiến

thức khoa học cơ bản vào hoạt động giảng dạy (trong

rèn luyện NVSP thường xuyên, khi kiến tập và trong

thực tập sư phạm) Kết quả khảo sát cho thấy: 100%

giảng viên và GVTH đều cho rằng, cần tăng cường kết

nối giữa học lí thuyết ở Trường Đại học Đồng Tháp và

việc thực hành ở trường tiểu học, đa dạng hóa các hình

thức học tập như: tự học, tự nghiên cứu, thực hành ở

trường tiểu học Đồng thời, cần có sự thống nhất giữa

giảng viên và GVTH trong việc đánh giá SV tham gia

học tập học phần NVSP

2.3 Một số biện pháp phát triển NLNN cho sinh viên

ngành Giáo dục tiểu học thông qua dạy học học phần

Nghiệp vụ sư phạm ở Trường Đại học Đồng Tháp

2.3.1 Phối hợp chặt chẽ giữa khoa, nhà trường với các

trường tiểu học

- Cần gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động đào tạo giáo

viên ở Trường Đại học Đồng Tháp với trường tiểu học,

trường tiểu học không chỉ là địa điểm thực tập của SV sư

phạm, mà còn được coi là một đối tác của trường sư

phạm với nhiều hình thức khác nhau Cần phối hợp rõ

vai trò, trách nhiệm cả hai bên trong suốt quá trình đào

tạo, rèn luyện nghề, đánh giá, sử dụng sản phẩm đầu ra

và bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên

- SV sư phạm cần được tiếp cận với các trường tiểu

học ngay từ năm thứ nhất cho đến hết năm thứ tư, qua đó

giúp các em có thời gian tìm hiểu các hoạt động của giáo

viên, học sinh và các trường tiểu học; dự giờ, thiết kế bài

dạy và tổ chức dạy học

- Phối hợp với các Phòng, Sở GD-ĐT xây dựng

chuyên đề cho giáo viên ở trường tiểu học để SV nắm bắt

kịp thời về những đổi mới trong công tác kiểm tra, đánh

giá học sinh, đổi mới PPDH, Đồng thời, mời giáo viên

chủ nhiệm giỏi, giáo viên dạy giỏi ở tiểu học đến chia sẻ

kinh nghiệm tại Trường cho SV, đặc biệt là SV năm thứ

tư chuẩn bị thực tập tốt nghiệp

2.3.2 Kết hợp giữa đào tạo lí thuyết và rèn luyện thường xuyên

Cần kết hợp giữa mô hình đào tạo song song và chuyển tiếp, kết hợp đào tạo lí thuyết và rèn luyện thường xuyên ngay tại giai đoạn đầu của khóa học để SV có nhiều cơ hội tiếp cận với các kĩ năng nghề nghiệp Đó là tích hợp giữa trang bị kiến thức cơ bản với kiến thức nghiệp vụ, lồng ghép rèn luyện kĩ năng nghề cho SV trong quá trình lĩnh hội kiến thức cơ bản và ngược lại Việc lồng ghép này sẽ góp phần vào việc phát triển kĩ năng nghề nghiệp cho SV một cách thường xuyên và liên tục, khắc phục tình trạng SV đến năm thứ ba, năm thứ tư mới được tiếp cận với trường tiểu học thông qua hoạt động kiến tập sư phạm và thực tập tốt nghiệp

2.3.3 Đa dạng hóa các hoạt động rèn luyện nghề nghiệp

ở trường tiểu học

Các hoạt động này nhằm giúp SV làm quen với môi trường ở trường tiểu học, hiểu rõ hơn công việc giảng dạy của GVTH Để thực hiện biện pháp này, nhà trường cần:

- Tổ chức cho SV tham quan trường học, đi thực tế tìm hiểu các trường tiểu học trên địa bàn, tham gia các buổi thao giảng tổ; khối, các buổi báo cáo chuyên đề về chuyên môn, đánh giá kết quả học tập, giáo dục học sinh,

- Tổ chức cho SV tham gia các hoạt động trải nghiệm, tìm hiểu về hoạt động giảng dạy ở trường tiểu học, tập thiết kế làm đồ dùng dạy học; qua đó giúp các em hiểu rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của giáo viên trong công tác giảng dạy

2.3.4 Tăng thời lượng thực hành cho sinh viên sư phạm

Trong quá trình rèn luyện NVSP ở các trường tiểu học, SV ít được dự giờ của GVTH ở trường tiểu học Do vậy, khi học tập các học phần Rèn luyện NVSP, Kiến tập

sư phạm, Thực tập tốt nghiệp, SV cần được tham gia các hoạt động: sinh hoạt chuyên môn, công tác chủ nhiệm lớp, lập kế hoạch giảng dạy và kế hoạch chủ nhiệm, nghiên cứu chương trình, tài liệu, sách giáo khoa, phòng

bộ môn, thiết bị dạy học, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học Số tiết

dự giờ và thực tập sư phạm của SV ngành GDTH thường

từ 8-10 tiết theo quy định của trường sư phạm, với thời gian thực tập tốt nghiệp là 8-10 tuần, mỗi tuần dạy 8 tiết

là rất ít; ở tiểu học có 5 khối lớp (từ lớp 1 đến lớp 5) nên trung bình ở mỗi khối, SV chưa dạy đủ 2 tiết/khối lớp

Vì vậy, để nâng cao NLNN cho SV ngành GDTH, cần tăng số tiết giảng dạy cho SV trong quá trình học tập học phần NVSP, Kiến tập và Thực tập tốt nghiệp

(Xem tiếp trang 50)

Trang 4

cho việc thiết kế và sử dụng hệ thống BTTNHH của các

GV và HS tại cấp THPT được định hướng rõ ràng, đảm

bảo đạt được các mục tiêu đào tạo theo yêu cầu mới của

Bộ GD-ĐT Tuy nhiên, khung NLTNHH mở rộng này

cần được xin ý kiến của nhiều chuyên gia để trở nên có

giá trị hơn trong những nghiên cứu tiếp theo Khi đó

khung NL TNHH cần được đặt trong một đường phát

triển NL từ lớp 10 đến lớp 12 Về thực tiễn, bài viết là

một trong các nghiên cứu đầu tiên tiến hành khảo sát,

đánh giá thực trạng thiết kế và sử dụng BTTNHH trên

địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, bởi vậy kết quả

đã cung cấp thêm dữ liệu thực tiễn quan trọng cho các

hoạt động nghiên cứu liên quan trong tương lai Nghiên

cứu có giới hạn là chỉ khảo sát đối với HS lớp 12 và số

lượng mẫu còn ít; các nghiên cứu sau cần tiến hành đánh

giá với các HS lớp 10 và 11 với quy mô mẫu lớn hơn và

đặc biệt xây dựng các bài tập thực nghiệm thông qua hoạt

động thực tiễn để có bức tranh thực trạng thiết kế và sử

dụng BTTNHH được rõ nét, toàn diện hơn

Tài liệu tham khảo

[1] Robin Millar (2004) The role of practical work in

the teaching and learning of science High school

science laboratories: Role and vision, pp.1-24

[2] Ana Logar - Cirila Peklaj - and Vesna Ferk Savec

(2017) Effectiveness of student learning during

experimental work in primary school Acta Chimica

Slovenica, Vol 64 (3): pp 661-671

[3] Bộ GD-ĐT (2018) Chương trình giáo dục phổ

thông - Chương trình tổng thể

[4] Bộ GD-ĐT (2018) Chương trình giáo dục phổ

thông - Chương trình môn Hoá học

[5] Vũ Thị Thu Hoài - Phạm Thị Tình (2018) Quy trình

xây dựng hệ thống bài tập thực nghiệm hóa học ở

cấp trung học phổ thông dựa theo cách tiếp cận của

phương pháp nghiên cứu bài học Kỉ yếu hội thảo

quốc tế về giáo dục cho mọi người NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội, tr 241-253

[6] Trương Xuân Cảnh (2015) Xây dựng và sử dụng bài

tập để phát triển năng lực thực nghiệm cho học sinh

trong dạy học Sinh học cơ thể sinh vật - Sinh học 11

trung học phổ thông Luận án tiến sĩ Khoa học giáo

dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

[7] Phạm Thị Bích Đào - Đặng Thị Oanh (2017) Đề

xuất cấu trúc và đánh giá năng lực thực nghiệm cho

học sinh thông qua môn Khoa học tự nhiên cấp

trung học cơ sở Tạp chí Khoa học, Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội, số 9, tr 56-64

[8] Phạm Thị Bình - Đỗ Thị Quỳnh Mai - Hà Thị Thoan

(2016) Xây dựng bài tập Hoá học nhằm phát triển

năng lực thực hành hoá học cho học sinh ở trường phổ thông Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội, số 6A, tr 72-78

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

(Tiếp theo trang 59)

3 Kết luận

Ở các trường sư phạm, NLNN của SV được hình thành và rèn luyện trong quá trình học tập, thực hành và

tổ chức các hoạt động sư phạm Đối với SV ngành GDTH ở Trường Đại học Đồng Tháp, việc phát triển NLNN cho SV có sự liên hệ chặt chẽ với thực tiễn giảng dạy ở trường tiểu học Do đó, việc phối hợp giữa Trường Đại học Đồng Tháp và các trường tiểu học trong quá trình đào tạo để phát triển các NLNN cho SV là rất cần thiết Vì vậy, phân bổ một cách hợp lí về thời gian hoạt động rèn luyện NVSP cho SV ngành GDTH sẽ đem lại hiệu quả trong công tác đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ GD-ĐT (2011) Thông tư số 40/2011/TT-BGDĐT ngày 16/09/2011 ban hành Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trung học phổ thông

[2] Bộ GD-ĐT (2017) Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

[3] Hoàng Phê (1996) Từ điển tiếng Việt NXB Đà

Nẵng

[4] Vũ Dũng (2008) Từ điển Tâm lí học NXB Từ điển

Bách khoa

[5] Phạm Thị Minh Hạnh (2007) Nghiên cứu hệ thống đánh giá năng lực chuyên môn của giáo viên trung học phổ thông ở cộng hòa Pháp và hướng vận dụng vào Việt Nam Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Trường

Đại học Sư phạm Hà Nội

[6] Bộ GD-ĐT (2018) Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/08/2018 ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông

[7] Bộ GD-ĐT (2014) Thông tư số 16/2014/TT-BGDĐT ngày 16/05/2014 ban hành Quy chế hoạt

động của trường thực hành sư phạm

[8] Hoàng Thị Hạnh (2016) Kĩ năng cơ bản của sinh viên trong thực tập sư phạm NXB Giáo dục Việt

Nam

Ngày đăng: 10/01/2020, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w