Bài viết này dựa trên kết quả khảo sát 150 giảng viên ở Trường Đại học Cần Thơ nhằm tìm hiểu thực trạng không đồng đều trong nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học. Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm tháo gỡ và thúc đẩy hoạt động này hiệu quả hơn.
Trang 1KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Đào Ngọc Cảnh1
1 Trường Đại học Cần Thơ
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 26/04/2018
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
14/7/2018
Ngày chấp nhận đăng:
08/2018
Title:
The investigation about the
reality of scientific research
activities of teaching staff at
Can Tho university
Keywords:
Scientific research, university
lecturers, Can Tho University
Từ khóa:
Khoa học, nghiên cứu khoa
học, giảng viên đại học,
Trường Đại học Cần Thơ
ABSTRACT
Doing scientific research is a fundamental duty of the university teaching staff However, many of the teaching staff have just focused on teaching activities, but not paid much attention to scientific research Therefore, there has been an imbalance in scientific research activities of teaching staff in departments and faculties in universities or colleges This paper is based on the survey of 150 university lecturers in Can Tho University in order to study the imbalance in their scientific research activities, which helps to pose suggested solutions to strengthen and develop these activities more effectively
TÓM TẮT
Nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ cơ bản của giảng viên đại học Tuy nhiên, nhiều giảng viên vẫn chỉ chú trọng hoạt động giảng dạy mà chưa quan tâm đến hoạt động nghiên cứu khoa học Vì vậy, có tình trạng không đồng đều trong hoạt động nghiên cứu khoa học giữa các giảng viên trong từng bộ môn, từng khoa ở các trường đại học Bài viết này dựa trên kết quả khảo sát
150 giảng viên ở Trường Đại học Cần Thơ nhằm tìm hiểu thực trạng không đồng đều trong nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học; từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm tháo gỡ và thúc đẩy hoạt động này hiệu quả hơn
1 GIỚI THIỆU
Nghiên cứu khoa học (NCKH) có tầm quan
trọng đặc biệt trong giáo dục đại học bởi vì nó
không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào
tạo mà còn sáng tạo ra những tri thức mới, công
nghệ mới, sản phẩm mới phục vụ cho sự phát
triển xã hội Trong thời đại ngày nay, sự phát
triển nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ 4 (Công nghiệp 4.0) đang
diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi các trường đại học
phải đẩy mạnh hoạt động khoa học và công
nghệ (KH&CN) để đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
Theo Meek and Davies (2009), vai trò của các trường đại học ngày càng được nâng cao trong nền kinh tế tri thức thông qua ba chức năng cơ bản là: (i) nghiên cứu để sáng tạo tri thức, (ii) giảng dạy để truyền bá tri thức và (iii) cung cấp dịch vụ để phục vụ xã hội Để trường đại học thực hiện được ba chức năng này thì người giảng viên cũng phải thực hiện được ba vai trò tương ứng: (i) vai trò nhà giáo; (ii) vai trò nhà nghiên cứu; (iii) vai trò nhà cung ứng các dịch
Trang 2vụ cho xã hội dựa trên kết quả nghiên cứu của
mình
Ở Việt Nam, hoạt động KH&CN ở các trường
đại học vẫn còn nhiều hạn chế Tại Hội nghị
“Phát triển KH&CN trong các cơ sở giáo dục
đại học giai đoạn 2017 - 2025” do Bộ Giáo dục
và Đào tạo (GD&ĐT) phối hợp với Bộ
KH&CN tổ chức ngày 29/7/2017, Bộ trưởng
Phùng Xuân Nhạ chỉ rõ: “Cơ chế, chính sách
thu hút đội ngũ giảng viên tham gia NCKH của
các cơ sở giáo dục đại học chưa mạnh mẽ và
hiệu quả; chính sách hỗ trợ các trường trong
việc thúc đẩy hoạt động KH&CN còn bất cập;
các trường, giảng viên chưa thực sự coi trọng
NCKH, thiếu đầu tư trọng điểm cho các nhóm
nghiên cứu gắn với các ngành đào tạo trọng
tâm Bất cập lớn nhất nằm ở chỗ hoạt động
NCKH đáng lẽ ra phải là nhiệm vụ căn bản,
trọng tâm thì chỉ vài trường đại học chú trọng
đầu tư” (Lệ Thu, 2017)
Đối với giảng viên đại học, nhìn chung vẫn có
tình trạng coi trọng giảng dạy hơn NCKH Bên
cạnh một số giảng viên tích cực tham gia
NCKH, thì nhiều giảng viên khác còn thờ ơ với
hoạt động này Vì vậy, trên thực tế đã xảy ra
tình trạng không đồng đều trong hoạt động
NCKH của giảng viên giữa các khoa, trong
từng khoa và từng bộ môn của trường đại học
Nghiên cứu này dựa trên kết quả khảo sát 150
giảng viên ở Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT)
nhằm tìm hiểu thực trạng không đồng đều trong
NCKH của giảng viên đại học, động cơ NCKH
và những khó khăn của giảng viên trong
NCKH Từ đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh
hoạt động NCKH của giảng viên, đáp ứng yêu
cầu phát triển nền kinh tế tri thức và hội nhập
quốc tế hiện nay
2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Dữ liệu nghiên cứu
Các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn
bản pháp quy của Chính phủ, của Bộ GD&ĐT
về nhiệm vụ NCKH của giảng viên đại học; từ
các công trình nghiên cứu, các báo cáo thường niên, báo cáo tự đánh giá, số liệu thống kê của của Trường ĐHCT và các nguồn thông tin tư liệu khác Các dữ liệu này được hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng để thu thập dữ liệu sơ cấp liên quan đến hoạt động NCKH của giảng viên Tổng số mẫu khảo sát là 150 giảng viên thuộc 13 khoa của Trường ĐHCT theo cách lấy mẫu phân tầng
Thang đo được sử dụng là thang Likert 5 mức
độ Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS for Window 20.0 dưới dạng thống kê mô
tả áp dụng trong nghiên cứu xã hội học
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về Trường ĐHCT và đặc điểm đối tượng khảo sát
3.1.1 Khái quát về Trường ĐHCT
Trường ĐHCT là cơ sở đào tạo đại học và sau đại học trọng điểm quốc gia, là trung tâm văn hóa, KH&CN ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Hơn 50 năm qua, nhà trường
đã không ngừng hoàn thiện và phát triển thành một trung tâm đào tạo và NCKH đa ngành, đa lĩnh vực theo hướng đại học nghiên cứu Bên cạnh công tác đào tạo, Trường đã chú trọng triển khai các chương trình NCKH, ứng dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề về KH&CN, kinh tế, văn hoá và xã hội của vùng ĐBSCL
Trong giai đoạn 2012 - 2016, Trường ĐHCT đã thực hiện 1.269 nhiệm vụ KH&CN các cấp
Trong đó, có 817 đề tài cấp Trường, 440 đề tài cấp Bộ và cấp Nhà nước, 448 đề tài hợp tác với các địa phương Trường ĐHCT đã có nhiều công bố khoa học, trong đó có 398 bài báo khoa học được công bố quốc tế trên các tạp chí trong danh mục ISI Nguồn thu từ NCKH và chuyển giao công nghệ của Trường đạt trên 316 tỷ đồng
Trang 3Bảng 1 Số lượng và kinh phí đề tài NCKH của ĐHCT thời kỳ 2012 - 2016
Kinh phí (triệu đồng) 37.565 26.573 59.066 29.831 37.310
(Nguồn: Trường ĐHCT, 2016)
Với định hướng xây dựng Trường ĐHCT trở
thành trường đại học xuất sắc về nghiên cứu,
đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực nhằm thực hiện
tốt hơn nhiệm vụ đào tạo, cung cấp nguồn nhân
lực có chất lượng cho vùng ĐBSCL và cả nước,
nhà trường đã chú trọng hoạt động NCKH, tăng
cường xuất bản các công trình nghiên cứu, nhất
là các công bố quốc tế Riêng năm 2016, Trường có 1.218 bài báo khoa học, trong đó có
95 bài báo quốc tế ISI
Vì vậy, theo bảng xếp hạng website các trường đại học trên thế giới (Webometrics Ranking of World Universities), ĐHCT luôn nằm trong danh sách các đại học hàng đầu của Việt Nam
Bảng 2 Xếp hạng của ĐHCT trong đại học Việt Nam và thế giới (tháng 1/2017)
Việt Nam Thế giới
(Nguồn: Webometrics, 2017)
Từ những kết quả NCKH, Trường ĐHCT đã
tạo ra nhiều sản phẩm, quy trình công nghệ
phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu, tạo
được uy tín trên thị trường trong nước và quốc
tế Các hoạt động NCKH của Trường góp phần
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
người dân vùng ĐBSCL trong thời kỳ hội nhập
quốc tế và thích ứng với biến đổi khí hậu toàn
cầu
3.1.2 Đặc điểm đối tượng khảo sát
Về độ tuổi, các giảng viên được khảo sát có độ
tuổi từ 25 - 59 tuổi; trong đó, từ 25 - 35 tuổi
chiếm 44%; từ 36 - 45 tuổi chiếm 43,3%; từ 46
- 59 tuổi chiếm 12,7% Về giới tính, nam chiếm
50,7%; nữ chiếm 49,3% Về dân tộc, hầu hết
các đối tượng là người Kinh (98,7%), chỉ có 2
trường hợp là người Hoa (1,3%) Về tôn giáo,
đa số trường hợp không theo tôn giáo nào (99,3%), chỉ có 1 trường hợp theo Đạo Thiên Chúa (0,7%)
Về lĩnh vực chuyên môn, các giảng viên thuộc
4 nhóm ngành: Khoa học Tự nhiên (19,6%);
Khoa học Kỹ thuật & Công nghệ (25,9%);
Khoa học Nông nghiệp (21%); Khoa học Xã hội và Nhân văn (33,6%) Về trình độ chuyên môn, giảng viên từ Thạc sĩ trở lên chiếm 99,3%, các trình độ khác chiếm tỷ lệ rất thấp,
cụ thể như sau: Đại học (0,7%); Thạc sĩ (50,7%); đang học thạc sĩ (6,1%); Tiến sĩ (27,7%); đang học tiến sĩ (14,9%) Về chức danh: Giảng viên (85,2%); Giảng viên chính (9,4%); Phó Giáo sư (5,4%) Về chức vụ:
không có chức vụ (60,7%); Trưởng/Phó tổ chuyên ngành (5%); Trưởng/Phó bộ môn (25,7%); Trưởng/Phó khoa (1,4%); chức vụ khác (công tác Đảng, đoàn thể) chiếm 7,1% Về
Trang 4thời gian công tác tại ĐHCT: từ 2 - 5 năm
chiếm 20,5%; từ 6 - 10 năm chiếm 52,6%; từ 11
- 30 năm chiếm 23,1%; trên 30 năm chiếm
3,8%
Về tình trạng hôn nhân, gia đình: 32 trường hợp
sống độc thân (20,3%); 117 trường hợp kết hôn
(79,1%); 1 trường hợp ly hôn (0,7%) Về số con
của các giảng viên: 51 giảng viên chưa có con
(34%); 41 giảng viên có 1 con (27,3%); 56
giảng viên có 2 con (37,3%); 1 giảng viên có 3
con (0,7%); 1 giảng viên có 4 con (0,7%)
3.2 Quan niệm, ý nghĩa và động cơ NCKH
của giảng viên
3.2.1 Quan niệm về NCKH của giảng viên
NCKH là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều
tra, thử nghiệm dựa trên những số liệu, tài liệu,
kiến thức thông qua thí nghiệm, thực nghiệm
hoặc khảo sát từ thực tế khách quan để sáng tạo
ra tri thức mới, công nghệ mới hoặc sản phẩm
mới, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Nội
hàm của khái niệm NCKH rất rộng, bao gồm
quá trình hoạt động NCKH, kết quả NCKH,
ứng dụng kết quả nghiên cứu, công bố kết quả
nghiên cứu và phổ biến kiến thức khoa học
Theo Ding et al (2006), hoạt động NCKH được
thể hiện dưới dạng các hình thức sau: (i) thực
hiện NCKH, (ii) xuất bản công trình nghiên
cứu, (iii) bằng sáng chế khoa học, (iv) giải
thưởng NCKH
Đặc trưng cơ bản của hoạt động NCKH ở các
trường đại học là NCKH thường đan xen với
các hoạt động đào tạo và nhằm phục vụ đào tạo
Như vậy, cần phân biệt khái niệm NCKH theo
nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, NCKH được hiểu là hoạt động nghiên cứu
“thuần túy”, nghĩa là nhằm mục tiêu khám phá
và ứng dụng tri thức khoa học Theo nghĩa rộng, NCKH vừa sáng tạo tri thức khoa học, vừa đưa tri thức khoa học vào giảng dạy, đồng thời còn dẫn dắt người học nghiên cứu
Trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay, kiến thức mà người học thu nhận được ở trường đại học sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu Vì vậy, nhiệm vụ chính của giảng viên không phải là truyền thụ kiến thức chuyên môn, mà là thông qua quá trình dạy học để hình thành năng lực nghiên cứu ở người học, để người học có khả năng tự nắm bắt và phát triển tri thức Điều đó
có nghĩa là, giảng viên đại học phải vừa là nhà giáo dục chuyên nghiệp, vừa là nhà nghiên cứu
có đầu óc sáng tạo, có tư duy độc lập và khả năng hợp tác để hỗ trợ có hiệu quả cho sinh viên, nghiên cứu sinh phát triển năng lực nghiên cứu của mình
Từ quan niệm về hoạt động NCKH theo nghĩa rộng, chúng tôi đã đưa ra các câu hỏi khảo sát theo thang Likert 5 mức độ (1 = rất không đồng
ý, 2 = không đồng ý, 3 = trung lập; 4 = đồng ý,
5 = rất đồng ý) Kết quả cho thấy, các hoạt động NCKH được giảng viên đồng ý ở mức cao
là: Viết bài đăng trên tạp chí khoa học; Thực hiện báo cáo khoa học; Thực hiện đề tài NCKH các cấp; Viết bài tham luận hội nghị/hội thảo khoa học; Hướng dẫn sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu Đây là những hoạt động NCKH
theo nghĩa hẹp
Bảng 3 Quan niệm của giảng viên về hoạt động NCKH (N= 150)
3 Thực hiện đề tài các cấp (từ cấp Trường trở lên) 4,29
Trang 5TT Tiêu chí Trung bình
5 Hướng dẫn sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu 4,08
8 Tự nghiên cứu nội dung chuyên môn phục vụ bài giảng 3,91
9 Hướng dẫn sinh viên thực hiện khóa luận/luận văn đại học 3,86
10 Tự nghiên cứu một vấn đề lý thuyết hoặc thực tiễn 3,84
12 Hướng dẫn học viên cao học thực hiện luận văn thạc sĩ 3,74
14 Hướng dẫn nghiên cứu sinh thực hiện luận án tiến sĩ 3,70
Các hoạt động còn lại được sự đồng ý ở mức
thấp hơn Về cơ bản, đây là hoạt động NCKH
theo nghĩa rộng, tức là hoạt động NCKH gắn
với giảng dạy và phổ biến kiến thức khoa học
3.2.2 Ý nghĩa của NCKH đối với giảng viên
Hoạt động NCKH có nhiều ý nghĩa đối với
giảng viên đại học, nhất là ý nghĩa đối với việc
phát triển năng lực chuyên môn của giảng viên
Kết quả khảo sát cho thấy, các ý nghĩa NCKH
được giảng viên đồng ý ở mức cao (Trung bình
> 4,0) là: Nhằm hiểu sâu hơn các lý thuyết chuyên môn; Nhằm phát hiện tri thức mới;
Nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn; Góp phần nâng cao chất lượng bài giảng; Tạo nên uy tín cho người giảng viên; Thể hiện năng lực chuyên môn của người giảng viên; Thỏa mãn niềm đam mê; Là nghĩa vụ và trách nhiệm của giảng viên
Bảng 4 Ý kiến của giảng viên về ý nghĩa của NCKH (N=150)
6 Thể hiện năng lực chuyên môn của người giảng viên 4,26
Trang 6Hai ý nghĩa còn lại có mức đồng ý thấp hơn
(Trung bình < 4,0): Là điều kiện để thăng tiến
trong sự nghiệp; Góp phần tạo thu nhập cho
giảng viên Chính vì một số giảng viên quan
niệm rằng, NCKH không phải là điều kiện
thăng tiến và không tạo thu nhập nên ít quan
tâm đến NCKH
3.2.3 Động cơ NCKH của giảng viên
Động cơ cũng được coi là động lực NCKH
Theo GS Đặng Hùng Thắng (2015), có động
lực nghiên cứu mới thôi thúc người ta nghiên
cứu Động lực càng mạnh mẽ thì năng lực
nghiên cứu càng được phát huy tốt Động lực
nghiên cứu của một giảng viên, tùy thuộc vào
mỗi người, có thể là: niềm đam mê, ham nghiên
cứu tìm tòi cái mới, khát vọng muốn khẳng
định bản thân, muốn hơn người khác, học hàm, học vị, lợi ích kinh tế
Kết quả khảo sát về động cơ NCKH của giảng viên với câu hỏi có nhiều lựa chọn cho thấy có
sự phân hóa đáng kể giữa các động cơ Đa số
giảng viên đồng ý rằng động cơ NCKH là: Để nâng cao năng lực chuyên môn (40,3%); Vì nhiệm vụ (26,5%); Vì đam mê (25,7%) Tuy nhiên, số giảng viên chọn động cơ NCKH: Để xét thi đua, xét chức danh chiếm tỷ lệ khá thấp
(7,5%) Theo kết quả phỏng vấn sâu, nhiều giảng viên cho rằng, việc xét thi đua chưa thực
sự công bằng, có người không NCKH nhưng vẫn được xét danh hiệu thi đua Ngoài ra, một
số giảng viên cho rằng, việc xét chức danh (Phó Giáo sư, Giáo sư) đối với họ còn quá xa vời nên không quan tâm
Bảng 5 Động cơ NCKH của giảng viên (N=150)
(Ý kiến)
Tỷ lệ
(%)
Ý kiến về động cơ NCKH như vậy cũng phù
hợp với quan niệm về ý nghĩa của NCKH khi
có không ít giảng viên cho rằng, NCKH không
phải là điều kiện thăng tiến Đây có thể là
nguyên nhân làm cho nhiều giảng viên chưa
thực sự chú trọng NCKH
3.3 Thực trạng hoạt động NCKH của giảng
viên
3.3.1 Khối lượng hoạt động chuyên môn và
NCKH của giảng viên
Cùng với hoạt động giảng dạy thì NCKH cũng
là nhiệm vụ cơ bản mà mỗi giảng viên phải
thực hiện Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT
của Bộ GD&ĐT (2014) quy định “Giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học để làm nhiệm vụ NCKH”
Nghị định số 73/2015/NĐ-CP của Chính phủ
(2015) quy định “Đối với cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, giảng viên cơ hữu phải dành ít nhất 50% tổng thời gian làm việc định mức cho hoạt động NCKH”
Quyết định số 4212/QĐ-ĐHCT (2015) của Trường ĐHCT quy định giảng viên phải thực hiện tổng định mức hoạt động chuyên môn từ
280 đến 510 giờ chuẩn (G) mỗi năm học, trong
Trang 7đó giờ NCKH chiếm khoảng 30% tùy theo chức
danh và hệ số lương của giảng viên
Mặc dù giảng dạy và NCKH là hai nhiệm vụ
bắt buộc đối với giảng viên, nhưng trên thực tế
giảng viên chỉ chú ý đến hoạt động giảng dạy
mà chưa quan tâm đến NCKH Kết quả khảo sát cho thấy, tổng giờ của giảng viên là rất cao nhưng giờ NCKH lại thấp Năm 2016, tổng giờ quy chuẩn của giảng viên trong khoảng từ 180 - 3.500 giờ, trung bình 1.208 giờ/giảng viên
Hình 1 Tỷ lệ giảng viên (%) tính theo tổng số giờ quy chuẩn (G)
Nếu lấy mức giờ chuẩn chung cho giảng viên là
500 giờ/năm thì có 78,9% giảng viên vượt giờ
chuẩn; đặc biệt có 25,4% giảng viên đạt > 1000
giờ/năm Trong khi đó, số giảng viên có tổng số
giờ chuẩn dưới 500 giờ/năm chỉ chiếm 28,1%
Nếu như tổng số giờ của giảng viên là rất cao, thì giờ NCKH lại thấp và không đồng đều giữa các giảng viên Trung bình mỗi giảng viên đạt 126,5 giờ NCKH, nhưng có tới 21,3% giảng viên không có giờ NCKH; 31,3% giảng viên
chỉ đạt từ 10 - 50 giờ NCKH
Hình 2 Tỷ lệ giảng viên (%) tính theo số giờ NCKH
28,1
46,7 22,0
2,7 0,7
Dưới 500 giờ
Từ 500 đến 1000 giờ
Từ 1000 đến 2000 giờ
Từ 2000 đến 3000 giờ
Từ 3000 giờ trở lên
21,3 2,0
31,3 19,3
10,7 13,3 2,0
Không có giờ NCKH
Dưới 10 giờ NCKH
Từ 10 đến 50 giờ NCKH
Từ 50 đến 100 giờ NCKH
Từ 100 đến 200 giờ NCKH
Từ 200 đến 400 giờ NCKH
Từ 400 giờ NCKH trở lên
Trang 8Tính trung bình số giờ NCKH của giảng viên
chỉ chiếm khoảng 10% - 15% so với tổng số giờ
trong năm Có nghĩa là, hầu hết giảng viên chưa
đáp ứng được yêu cầu đề ra đối với nhiệm vụ
NCKH theo các quy định hiện hành
3.3.2 Một số hoạt động NCKH của giảng viên
Thông tư 47/2014/TT-BGDĐT quy định “Mỗi
năm, kết quả NCKH của giảng viên tối thiểu là
một đề tài NCKH cấp cơ sở hoặc tương đương
được nghiệm thu từ đạt yêu cầu trở lên hoặc
một bài báo được công bố trên tạp chí khoa học
có phản biện hoặc một báo cáo khoa học tại hội
thảo khoa học chuyên ngành” (Bộ GD&ĐT,
2014)
Kết quả khảo sát cho thấy có tỷ lệ khá lớn giảng
viên không tham gia các hoạt động NCKH như:
thực hiện đề tài NCKH; viết bài đăng trên tạp
chí khoa học; viết báo cáo tham luận hội nghị,
hội thảo khoa học; thực hiện báo cáo khoa học
(Seminar), v.v…
Về đề tài NCKH, 56,7% giảng viên đã thực
hiện đề tài NCKH; trong đó: 32,7% giảng viên
đã thực hiện 1 - 2 đề tài, 18% giảng viên đã
thực hiện 3 - 5 đề tài, 7,3% giảng viên đã thực
hiện 6 - 10 đề tài Tuy nhiên, có tới 41,3%
giảng viên chưa từng thực hiện đề tài NCKH
Nếu tính riêng trong 3 năm gần đây thì 50%
giảng viên không có đề tài NCKH Trong số
50% giảng viên còn lại, 47,3% giảng viên có 1 -
2 đề tài; 12,7% giảng viên có 3 - 5 đề tài
NCKH
Về công bố bài báo khoa học, 52% giảng viên
đã công bố ít nhất 1 bài; trong đó, có 16,7%
giảng viên công bố từ 2 - 5 bài, 18,6% giảng viên công bố trên 10 bài Đặc biệt, có giảng viên công bố hơn 50 bài trên tạp chí khoa học trong nước và hơn 10 bài trên tạp chí khoa học quốc tế Tuy nhiên, cũng có 48% giảng viên chưa từng công bố bài báo khoa học; 32,6%
giảng viên chưa có bài báo khoa học trong nước; 62% giảng viên chưa có bài báo khoa học quốc tế
Ngoài ra, có 50% giảng viên chưa viết báo cáo tham luận hội nghị/hội thảo khoa học; 52%
giảng viên chưa tham gia biên soạn giáo trình;
34,7% giảng viên chưa thực hiện báo cáo khoa học (Seminar)
3.3.3 Mức độ NCKH xét theo các nhóm đối tượng giảng viên
Để phân tích tương quan giữa mức độ NCKH
và các nhóm đối tượng giảng viên, nghiên cứu này chia ra 6 mức độ NCKH: không; rất ít; ít;
trung bình; nhiều; rất nhiều Đối với các nhóm đối tượng giảng viên, nghiên cứu này chia ra theo các tiêu chí: giới tính, độ tuổi, tình trạng có con nhỏ, trình độ chuyên môn, chức danh khoa học
Về tương quan giữa mức độ NCKH và giới tính của giảng viên, xu hướng là giảng viên nữ NCKH nhiều hơn giảng viên nam Nếu tính từ mức trung bình trở lên thì nữ đạt 58,9%, nam đạt 55,3% Đặc biệt, tỷ lệ giảng viên nam không NCKH là 10,5%; trong khi đó, giảng viên nữ không NCKH chỉ có 4,1%
Bảng 6 Tương quan giữa mức độ NCKH với giới tính của giảng viên (%)
Về tương quan giữa mức độ NCKH và độ tuổi,
xu hướng là giảng viên có tuổi càng cao NCKH
càng nhiều Nếu tính từ mức NCKH nhiều và
rất nhiều, độ tuổi 25 - 30 có tỷ lệ 11,1%; độ tuổi
31 - 40 là 16,7%; độ tuổi 41 - 50 là 27,8%; độ tuổi 51 - 60 là 41,6%
Trang 9Bảng 7 Tương quan giữa mức độ NCKH với độ tuổi của giảng viên (%)
Về tương quan giữa mức độ NCKH và tình
trạng có con nhỏ của giảng viên được chia theo
hai tiêu chí (nữ - nam; có con nhỏ - không có
con nhỏ) thành 4 nhóm đối tượng Nhìn chung, giảng viên nữ có con nhỏ ảnh hưởng đến NCKH nhiều hơn giảng viên nam có con nhỏ
Bảng 8 Tương quan giữa mức độ NCKH với tình trạng có con nhỏ (%)
Không Rất ít Ít Trung bình Nhiều Rất nhiều
Nếu tính từ mức NCKH trung bình trở lên thì
số giảng viên nữ có con nhỏ đạt tỷ lệ 50%,
nhưng số giảng viên nam có con nhỏ đạt tỷ lệ
70% Tuy nhiên, nếu chỉ tính mức NCKH nhiều
và rất nhiều thì giảng viên nữ có con nhỏ lại đạt
tới 50%, còn giảng viên nam có con nhỏ chỉ đạt
20%
Đáng lưu ý là, so sánh giảng viên nữ có con nhỏ
với giảng viên nữ không có con nhỏ ở mức độ
NCKH nhiều và rất nhiều thì nữ có con nhỏ lại đạt 50%, còn nữ không có con nhỏ chỉ đạt 25,1% Như vậy, tình trạng giảng viên nữ có con nhỏ tuy có ảnh hưởng đến mức độ NCKH nhưng không phải là điều kiện quyết định
Không ít giảng viên nữ có con nhỏ đã khắc phục khó khăn của bản thân, sắp xếp công việc gia đình để hoạt động NCKH
Bảng 9 Tương quan giữa mức độ NCKH với trình độ chuyên môn (%)
Không Rất it Ít Trung bình Nhiều Rất nhiều
Trang 10Về tương quan giữa mức độ NCKH và trình độ
chuyên môn, xu hướng là trình độ càng cao thì
NCKH càng nhiều Nếu tính mức độ NCKH từ
trung bình trở lên thì kết quả như sau: giảng
viên có trình độ Đại học là 0%; Thạc sĩ là
44,4%; Tiến sĩ là 76,2%
Trong bảng trên còn chia ra các trường hợp:
đang học thạc sĩ và đang học tiến sĩ Trong đó, giảng viên đang học tiến sĩ có mức độ NCKH
từ trung bình trở lên đạt tỷ lệ cao nhất (78%); ở mức độ NCKH nhiều, giảng viên đang học tiến
sĩ cũng đạt tỷ lệ cao nhất (33,3%)
Bảng 10 Tương quan giữa mức độ NCKH với chức danh khoa học (%)
Không Rất it Ít Trung bình Nhiều Rất nhiều
Về tương quan giữa mức độ NCKH và chức
danh khoa học của giảng viên, xu hướng là
chức danh khoa học càng cao thì NCKH càng
nhiều Trong số giảng viên tham gia khảo sát có
ba loại chức danh: Giảng viên, Giảng viên
chính, Phó Giáo sư Nếu tính mức độ NCKH từ
trung bình trở lên thì Giảng viên chính đạt tỷ lệ
cao nhất (92,8%) Nhưng tính riêng hai mức
NCKH nhiều và rất nhiều thì Phó Giáo sư đạt tỷ
lệ cao nhất (62,5%)
3.3.4 Khó khăn trong NCKH của giảng viên
Có thể thấy rằng, một trong những nguyên nhân
cơ bản dẫn đến trình trạng giảng viên ít NCKH
là do họ gặp nhiều khó khăn trong NCKH Kết quả khảo sát về những khó khăn của giảng viên trong NCKH theo thang Likert 5 mức độ được thể hiện trong bảng dưới đây
Bảng 11 Ý kiến của giảng viên về khó khăn trong NCKH (N=150)
3 Thủ tục thanh toán kinh phí NCKH có nhiều khó khăn, rắc rối 3,78
5 Việc phối hợp NCKH trong & ngoài đơn vị còn hạn chế 3,63
6 Việc đăng bài trên tạp chí khoa học có nhiều khó khăn 3,63
7 Việc tính giờ cho hoạt động NCKH quá thấp so với giảng dạy 3,60
8 Phương tiện, thiết bị thí nghiệm phục vụ NCKH còn hạn chế 3,57
11 Việc xét duyệt đề tài NCKH thiếu khách quan, công bằng 3,41
12 Việc tiếp cận nguồn thông tin, tư liệu còn hạn chế 3,36