Những kiến thức cơ bản về hoạt động của não bộ có thể hỗ trợ tích cực cho giảng viên nói chung và giảng viên dạy ngoại ngữ nói riêng trong việc tổ chức lớp học, thay đổi phương pháp tiếp cận sinh viên nhằm tạo ra một môi trường học ngoại ngữ vui vẻ, hiệu quả. Thông qua những kiến thức cơ bản về 4 đặc điểm nổi trội của não bộ: đặc điểm hỗ trợ của cả 2 bán cầu não (song não), tính mềm dẻo, đặc điểm trí tuệ cảm xúc, và đặc điểm đa trí tuệ, tác giả bài viết sẽ cung cấp một số gợi ý hoạt động tổ chức trong lớp học tiếng Anh kinh doanh được rút ra từ kinh nghiệm giảng dạy giáo trình Market Leaders. Những hoạt động này được áp dụng cho các lớp học tiếng Anh thương mại ở trình độ tiền trung cấp và trung cấp. Những gợi ý này sẽ góp phần làm cho quá trình giảng dạy ngoại ngữ nói chung, giảng dạy tiếng Anh kinh doanh nói riêng đạt hiệu quả cao hơn khi vận dụng được bốn đặc điểm nổi trội này của não bộ.
Trang 1PHẠM THỊ THANH THÙY *
* Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, thuyflc@gmail.com
Ngày nhận bài: 08/8/2019; ngày sửa chữa: 20/8/2019; ngày duyệt đăng: 25/8/2019
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi vai trò của tiếng Anh trong giao tiếp quốc
tế và trong công việc ngày càng trở nên quan
trọng, yêu cầu về cải cách giảng dạy tiếng Anh
trong các cơ sở đào tạo, đặc biệt là tại các trường
cao đẳng và đại học trong nước hơn lúc nào hết
trở thành bài toán khó giải của các nhà giáo dục,
các giảng viên ngoại ngữ Các hình thức như kết
hợp giữa công nghệ máy tính trong giảng dạy tiếng
Anh đã đạt được kết quả nổi bật Sinh viên tại các
trường đại học đã sử dụng đa phương tiện trong
KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
CỦA NÃO BỘ TRONG VIỆC GIẢNG DẠY
TIẾNG ANH KINH DOANH
TÓM TẮT
Những kiến thức cơ bản về hoạt động của não bộ có thể hỗ trợ tích cực cho giảng viên nói chung
và giảng viên dạy ngoại ngữ nói riêng trong việc tổ chức lớp học, thay đổi phương pháp tiếp cận sinh viên nhằm tạo ra một môi trường học ngoại ngữ vui vẻ, hiệu quả Thông qua những kiến thức
cơ bản về 4 đặc điểm nổi trội của não bộ: đặc điểm hỗ trợ của cả 2 bán cầu não (song não), tính mềm dẻo, đặc điểm trí tuệ cảm xúc, và đặc điểm đa trí tuệ, tác giả bài viết sẽ cung cấp một số gợi
ý hoạt động tổ chức trong lớp học tiếng Anh kinh doanh được rút ra từ kinh nghiệm giảng dạy giáo trình Market Leaders Những hoạt động này được áp dụng cho các lớp học tiếng Anh thương mại ở trình độ tiền trung cấp và trung cấp Những gợi ý này sẽ góp phần làm cho quá trình giảng dạy ngoại ngữ nói chung, giảng dạy tiếng Anh kinh doanh nói riêng đạt hiệu quả cao hơn khi vận dụng được bốn đặc điểm nổi trội này của não bộ
Từ khóa: thuyết song não, tính mềm dẻo của não bộ, trí tuệ cảm xúc, thuyết đa trí tuệ, tiếng Anh
kinh doanh
việc học ngoại ngữ như các thiết bị di động, máy tính để tự học và tự đánh giá quá trình học Trong quá trình đi tìm kiếm các hình thức giảng dạy hiệu quả, nhiều phương pháp mới đã được áp dụng, tuy nhiên nhiều khi áp dụng phương pháp mới, giảng viên chỉ tập trung vào kết quả hiểu biết của sinh viên trên lớp và quên đi việc tạo động lực cho sinh viên trong quá trình học ngôn ngữ, hay đơn thuần nhiều khi giảng viên tổ chức các hoạt động trên lớp mà không hiểu lợi ích của chúng, và chưa xuất phát từ quan điểm sinh học của bộ não con người
Do đó, hiệu quả của quá trình học ngoại ngữ chưa
Trang 2cao Chính vì vậy, giảng viên ngoại ngữ nên có
kiến thức cơ bản về cấu tạo chức năng của bộ não
để ứng dụng trong giảng dạy nhằm nâng hiệu quả
của quá trình dạy và học ngoại ngữ
Bộ não con người luôn là “mảnh đất màu mỡ”
mà các nhà khoa học không ngừng muốn khám
phá Với sự phát triển của khoa học công nghệ
trong các lĩnh vực khác nhau, nghiên cứu về khả
năng nhận thức của não đã trở thành một thách
thức quan trọng khiến các nhà nghiên cứu trong
thế kỷ 21 phải đau đầu Chúng ta đều biết rằng
bất kỳ hoạt động học tập nào của chúng ta cũng
được thực hiện thông qua nhận thức của bộ não
Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, kiến
thức của con người về não cũng đã chuyển từ giai
đoạn phỏng đoán ban đầu sang giai đoạn nghiên
cứu rất tinh vi hiện nay và với công nghệ hình ảnh
não tiên tiến, con người có thể hiểu cơ chế hoạt
động của não và hệ thần kinh bên trong của nó
Gần đây nhiều nhà khoa học lại nghiên cứu về mối
quan hệ giữa thần kinh nhận thức với não bộ Họ
cũng tiến hành kết hợp nghiên cứu về nhận thức
não trong lĩnh vực giảng dạy, đặc biệt phương thức
giảng dạy kết hợp khả năng nhận thức não với việc
học ngoại ngữ đã được quan tâm một cách sâu sắc
Theo Kepinska (2017) và những đồng sự, việc sử
dụng các mô hình giảng dạy mới tăng cường kết
hợp việc sử dụng tất cả các bộ phận của não bộ vào
việc giảng dạy ngoại ngữ sẽ giúp người học cải
thiện hiệu quả việc học tập và khả năng sử dụng
ngoại ngữ của người học
Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các nghiên cứu chỉ
mới dừng lại ở việc giải thích các đặc điểm của
bộ não con người về đặc điểm vật lý, cũng như
nguyên lý làm việc của bộ nhớ trong não người,
mà ít đề cập trong các nghiên cứu tới mối liên hệ
giữa nhận thức não người với việc dạy tiếng Anh
nói chung và dạy tiếng Anh kinh tế kinh doanh nói
riêng, cũng như việc tìm ra nguyên tắc học tập của
bộ não để giúp quá trình học tiếng Anh diễn ra hiệu
quả hơn
Dựa vào phân tích lý thuyết cơ bản của khoa học bộ não, định luật và đặc điểm của hoạt động não bộ, bài viết này sẽ cung cấp một số phân tích
về việc ứng dụng khoa học nhận thức não bộ trong việc giảng dạy tiếng Anh kinh doanh cho sinh viên thông qua việc cung cấp một số gợi ý các hoạt động hỗ trợ việc dạy tiếng Anh kinh doanh giúp cho quá trình học tiếng Anh trở nên phần nào hiệu quả hơn Những đề xuất trong bài viết được xuất phát từ kinh nghiệm giảng dạy giáo trình “Market Leader” cho sinh viên không chuyên ngữ
2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN TỚI
BỘ NÃO 2.1 Lý thuyết về song não
Não của chúng ta là một trong những cấu trúc tuyệt vời nhất của cơ thể chúng ta Tuy đã có nhiều nghiên cứu về não bộ nhưng vẫn còn có rất nhiều điều để khám phá về nó Dựa trên nhận thức về cấu trúc não bộ, Bezrukih (2010) cho rằng tư duy của con người có thể được chia thành 4 loại: tư duy phân tích, tư duy tổ chức, tư duy giao tiếp và
tư duy tưởng tượng Bốn loại tư duy trong não có được là nhờ vào não trái, hệ thống limbic trái (bộ não cảm xúc trái), não phải và hệ thống libmic phải (bộ não cảm xúc phải) Tư duy phân tích và tư duy
tổ chức được điều khiển bởi bán cầu não trái, trong khi tư duy giao tiếp và tư duy tưởng tượng được điều khiển bởi bán cầu não phải (Basar, 2006) Sự khác biệt của cơ chế tư duy của con người có thể liên quan đến gen di truyền và môi trường phát triển, và những người khác nhau có thể có cùng một cơ chế tư duy giống nhau hoặc có xu hướng cân bằng giữa bốn hình thức tư duy này Theo các nhà nghiên cứu (Bezrukih, 2010; Basar, 2006; Robinson, et al, 2010), nếu đồng thời chúng ta sử dụng cả hai bán cầu não (song não) thì kết quả học tập sẽ tốt hơn Vì bộ não là một tổng thể hữu cơ nên việc sử dụng toàn diện bốn hình thức tư duy trong cả hai bán cầu não này sẽ tạo nên sự thống nhất trong tư duy của bộ não con người và làm cho
cả hai bán cầu não phát triển đồng đều và chúng sẽ
hỗ trợ nhau phát triển tốt hơn
Trang 3Bảng 1 Tổng hợp cấu trúc và chức năng của
não bộ (theo Basar, 2006)
Bán cần não trái Bán cầu não phải
Phát triển tư duy phân tích và tư
duy tổ chức: Có óc tổ chức tốt,
dẫn dắt bởi mục tiêu Thường suy
nghĩ chín chắn và ít khi mất tập
trung.
Phát triển tư duy giao tiếp và tư duy tưởng tượng: Hành động thường
bị chi phối, dẫn dắt bởi cảm xúc
Thường giữ được bình thản trước khó khăn.
Giỏi về ngôn ngữ và suy nghĩ trừu
tượng Sử dụng tốt những trải nghiệm với môi trường bên ngoài
Từ những thông tin về cấu trúc và chức năng
của não bộ, Bezrukih (2010) đề xuất chia người
học thành hai nhóm: nhóm (1) những người thiên
về bán cầu não trái và nhóm (2) những người thiên
về bán cầu nào phải Theo ông, nhóm (1) phù hợp
với những khóa học truyền thống, cấu trúc như
phương pháp báo cáo nghiên cứu, tranh luận, ghi
chép khi học tập Trong khi nhóm (2) thích hợp với
phương pháp dạy có sử dụng hình ảnh, đồ thị và
các hình dễ nhìn thấy được Bảng 2 dưới đây tổng
hợp các khả năng của 2 nhóm người này
Bảng 2 Khả năng của nhóm người thiên về
bán cầu trái và nhóm người thiên về bán cầu phải
(theo Bezrukih, 2010)
Người thiên về não trái Người thiên về não phải
Khả năng quản lý hành vi, kiểm soát
Khả năng tư duy, tính toán, lập luận Khả năng tưởng tượng
Khả năng vận động tinh xảo Khả năng vận động kém tinh xảo
Khả năng ngôn ngữ Khả năng thụ cảm âm nhạc, âm
điệu, âm thanh Khả năng quan sát, đọc Khả năng cảm nhận thẩm mỹ,
hình ảnh
2.2 Học thuyết về trí tuệ xúc cảm của não bộ
Theo Buck (1985), cảm xúc của con người
thường bị chi phối bởi hành vi của con người theo
nhiều cách khác nhau, tuy nhiên, có thể hiểu một
cách đơn giản là cảm xúc của con người có thể
được chia thành các cảm xúc tích cực và các cảm
xúc tiêu cực thông qua phản ứng của não bộ trước
những cảm xúc đó Cảm xúc tích cực được hình thành khi con người trải qua những kích thích gây hưng phấn như niềm vui, sự thoải mái, sự thỏa mãn; trong khi cảm xúc tiêu cực được tạo ra khi các nơ-ron thần kinh phản xạ trước những kích thích tiêu cực như vết thương, nỗi đau, sự sợ hãi Những phản ứng tiêu cực hay tích cực sẽ được các nơ-ron thần kinh truyền tới não bộ
Khi xem xét mối quan hệ giữa não bộ với quá trình cảm thụ ngôn ngữ thứ hai, Parr và Hopkins (2000) cho biết, mức độ tiếp thu ngôn ngữ thứ hai
bị ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố cảm xúc, đặc biệt xúc cảm ảnh hưởng đến việc lưu giữ và thu thập thông tin của bộ nhớ
2.3 Lý thuyết về tính mềm dẻo của bộ não
Tính mềm dẻo của não bộ hay còn gọi là tính dẻo dai của não (neuroplasticity) để chỉ khả năng thay đổi và thích ứng của não khi con người kinh qua những trải nghiệm Não bộ được cấu tạo từ
86 tỷ nơ-ron, và qua nghiên cứu, nhà tâm lý học William James đã đưa ra những thông tin khác với những nghiên cứu trước đây từ những năm 1890 Trong cuốn Principles of Psychology, ông viết
“chất hữu cơ, đặc biệt là các mô thần kinh, dường như vẫn tồn tại sự linh hoạt và độ mềm dẻo đáng kinh ngạc,” và não bộ vẫn tiếp tục thay đổi Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu (Fung và Robinson, 2013) cho rằng, não sở hữu một khả năng đáng kinh ngạc trong việc tái tạo những đường dẫn, liên kết mới, thậm chí là tái tạo cả nơ-ron mới Tính mềm dẻo luôn tồn tại trong suốt cuộc đời và có liên đới đến cả các tế bào khác của não bộ chứ không chỉ giới hạn ở nơ-ron Các tế bào khác có thể bao gồm các tế bào thần kinh đệm và mạch máu Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy ,tính mềm dẻo của thần kinh có ảnh hưởng tích cực tới việc tăng cường trí nhớ của não bộ Fung
và Robinson (2013) cũng cho rằng, các tế bào thần kinh có thể được kích thích bởi các điều kiện bên ngoài để có thể tái tạo những phần bị khiếm khuyết
và phát triển trong một số điều kiện nhất định, trong khi các tế bào thần kinh tồn tại trong lớp vỏ
Trang 4não có thể liên kết thành một mạng lưới trong bộ
nhớ để lưu trữ những ký ức mới
Lý thuyết về tính mềm dẻo của thần kinh cũng
cho thấy rằng, quá trình học tập liên tục lâu dài có
tác động kích thích tới các tế bào nơ-ron thần kinh
mạnh hơn và thúc đẩy trí nhớ của con người mạnh
hơn Điều này cũng cho thấy quá trình học tập nói
chung và học ngoại ngữ nói riêng là một quá trình
đòi hỏi liên tục và diễn ra lâu dài
2.4 Lý thuyết đa trí tuệ (thuyết trí thông
minh đa dạng)
Lý thuyết đa trí tuệ phân biệt trí thông minh
của con người thông qua các phương thức biểu
đạt cụ thể (chủ yếu là cảm giác), thay vì đánh giá
trí thông minh của con người thông qua một khả
năng chung chung nào đó Theo hai giáo sư tâm lý
học Howard & Slavin (2009), nếu chúng ta đánh
đồng đo trí thông minh của con người bằng các
bài trắc nghiệm IQ thì đây là một cách rất phiến
diện Thay vào đó, ông đã đưa ra đề xuất đánh giá
trí thông minh của con người thông qua khả năng
giải quyết vấn đề khó khăn hoặc tạo ra những sản
phẩm có giá trị nhất định trong một hoàn cảnh cụ
thể - và ông gọi là đó là lý thuyết đa trí tuệ Theo
lý thuyết đa trí tuệ, mỗi người chúng ta đều có 8
loại trí thông minh khác nhau: trí thông minh ngôn
ngữ, toán học lôgic; nhịp điệu âm nhạc; hình ảnh;
vận động cơ thể; giao tiếp liên nhân; thiên nhiên
(nhận thức về tự nhiên); và nội tâm (khả năng suy
nghĩa và diễn đạt)
Lý thuyết này được áp dụng ở các lĩnh vực khác
nhau và ở một cấp độ nhất định Theo học thuyết
này, mỗi cá nhân hầu như đều sở hữu cả 8 loại
thông minh nhưng ở một mức độ khác nhau Điều
quan trọng là, mức độ thông minh này không phải
là “hằng số” trong suốt cuộc đời của mỗi người mà
nó có thể sẽ thay đổi (tăng hay giảm) tùy vào sự
trau dồi của mỗi cá nhân Theo Temur (2007), mỗi
người học có điểm mạnh và điểm yếu ở một lĩnh
vực riêng tùy theo trí tuệ của mình Chính điều này
đã chi phối tới cách mỗi người biểu đạt trí thông
minh của mình (hay nói cách khác là phong cách học tập), và khiến cho có người học dễ dàng nhưng
có người lại khó khăn khi tiếp thu những thông tin bên ngoài ở một lĩnh vực nào đó thông qua một phương pháp giảng dạy cụ thể nào đó Người giảng viên phải nhận thức được rằng trong một lớp học có nhiều sinh viên, việc có nhiều phong cách học là điều hiển nhiên để từ đó có phương pháp giảng dạy phù hợp Do đó, để cân bằng giữa các phong cách học khác nhau và tăng hiệu quả của quá trình học, người thầy cần giúp học trò của mình hiểu được vấn đề theo cách tiếp cận riêng của từng người
3 ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU BỘ NÃO TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH KINH DOANH
Học là một quá trình thay đổi hành vi thông qua trải nghiệm Người Thầy nói chung và người giảng viên ngoại ngữ nói riêng cần có những kiến thức cơ bản về cách hoạt động của bộ não để từ đó thiết kế bài giảng nhằm tận dụng được tối ưu thế mạnh của bộ não trong việc học ngoại ngữ Giảng dạy tiếng Anh kinh doanh cho sinh viên hiện nay gặp khá nhiều khó khăn do từ vựng kinh tế kinh doanh nhiều, xa lạ với sinh viên, các hoạt động trong sách khá khó đối với những người thiếu thực
tế kinh doanh như sinh viên Dưới đây là một số gợi ý hoạt động ứng dụng nghiên cứu bộ não trong việc giảng dạy tiếng Anh kinh doanh xuất phát từ kinh nghiệm giảng dạy giáo trình Market Leader
3.1 Ứng dụng thuyết song não trong dạy học tiếng Anh kinh doanh
Như đã đề cập ở trên, bán cầu não trái của con người có chức năng hỗ trợ tư duy lôgic, phân tích,
lý giải, ghi nhớ, sắp xếp, tính toán Bán cầu não phải gắn liền với khả năng sáng tạo, tưởng tượng, trực cảm cao Thực tế hiện nay, 90% các môn học tại trường phổ thông đòi hỏi học sinh sử dụng bán cầu não trái nhiều Các công thức toán phức tạp, các hằng số trong toán học, các giờ học môn văn, phân tích nhân vật, tác phẩm đã chiếm phần
Trang 5lớn thời gian học tập của học sinh trên lớp khiến
nhiều khi học sinh có cảm giác đây là những môn
học chính, chủ yếu và nếu học không giỏi những
môn học này thì sẽ trở thành học sinh yếu kém
Bên cạnh đó cách thiết kế bài giảng, phương pháp
giảng của giảng viên không chỉ môn toán trên
lớp mà hầu hết các môn học khác trong chương
trình học chính khóa chỉ tập trung vào việc tính
toán, nhớ công thức, học thuộc lòng thông tin, nhớ
đoạn văn mẫu đã vô hình chung đẩy những học
sinh có trí tuệ phát triển mạnh về bán cầu não phải
cảm thấy khó khăn, hạn chế trong việc tiếp thu
kiến thức khi các em được dạy bằng phương pháp
này Dần dần, các em có kết quả môn toán thấp
sẽ dễ bị dán những cái mác “Tiếp thu bài chậm”
hoặc “Kém thông minh vì điểm Toán thấp” của
bạn bè, của thầy cô và thậm chí chính bản thân
các em cũng suy nghĩ như vậy Nhiều sinh viên
không chuyên ngữ vẫn quen nếp cũ tại các trường
phổ thông nên có quan niệm cho rằng một người
giỏi nghĩa là phải học giỏi các môn chuyên ngành,
trong khi ngoại ngữ lại là rào cản để họ hiểu môn
chuyên ngành và từ đó họ sợ học ngoại ngữ, và họ
cho rằng họ toàn toàn “không có năng khiếu” học
ngoại ngữ Từ thực tế trên, các thầy cô trên lớp cần
thay đổi tư duy, cách tiếp cận tới quá trình học tập
của sinh viên không chuyên ngữ để giúp các em
tận dụng cả hai bán cầu não trong quá trình học tập
và vận dụng vào quá trình học ngoại ngữ, giúp cho
việc học ngoại ngữ không phải là “nỗi ám ảnh”
cho sinh viên không chuyên ngữ
Dưới đây là gợi ý một số hoạt động thay đổi
phương pháp giảng dạy tiếng Anh thương mại
giúp thúc đẩy sự phát triển của cả hai bán cầu
não, giúp cho người học phát triển khả năng tư
duy lôgic nhưng cũng không thiếu khả năng tưởng
tượng và sự sắc bén trong quá trình sản sinh ngôn
ngữ Những hoạt động này được áp dụng trong lớp
học tiếng Anh thương mại cho sinh viên ở trình độ
tiền trung cấp và trung cấp
Hoạt động trong quá trình giải thích từ vựng
(Pre-teaching): Giải thích từ vựng thông thường
là bước thứ nhất trong quá trình dạy tiếng Anh
Ở giai đoạn này, giảng viên có thể dạy từ vựng thông qua hình ảnh thực (đồ vật, hoặc hình vẽ trên bảng) để giúp người học nâng cao sức mạnh của
sự hình dung (bán cầu não phải) Lối tư duy này
sẽ giúp tạo kết nối giữa hai bán cầu não, đồng thời gia tăng liên kết nơron trong não, giúp người học ghi nhớ tốt hơn, gắn hình ảnh với vỏ bọc ngôn ngữ và lưu giữ nó lâu hơn Ở trình độ tiền trung cấp, giáo trình Market Leader sử dụng nhiều từ vựng ở cấp độ khó và nhiều chuỗi từ dài, việc đưa các từ mới vào một câu chuyện lôgic là một gợi
ý hay giúp sinh viên nhớ từ mới dễ hơn Ví dụ
ở bài 9 (Raising Finance), để dạy học trò từ mới liên quan tới việc gây tài chính, người Thầy có thể xâu chuỗi câu chuyện thực tế một người ở Hà nội cần mở một shop quần áo, anh ta phải dùng tới tiền đã tích lũy (speculate), gom góp (accumulate) lâu nay Nhưng số tiền đó vẫn thiếu, anh ta phải vay ở ngân hàng bằng một khoản bằng hối phiếu thế chấp (collateral/ security for a loan) và để vay khoản lớn hơn, anh ta sẽ còn phải thế chấp một khoản (mortgage) nữa Nếu anh ta làm không tốt thì sẽ dễ dẫn tới phá sản (face bankruptcy)… Bằng việc tạo ra một câu chuyện tương đối có ý nghĩa
và gần gũi, cụ thể, giảng viên sẽ giúp sinh viên gắn các từ mới với một hình ảnh sống động 3D, từ đó ghi nhớ các từ vựng lâu và dễ hơn thay vì chỉ học vẹt các con chữ và nghĩa của chúng Nghĩa là cả hai bán cầu não được huy động sử dụng trong quá trình học từ vựng
Hoạt động trong quá trình giảng dạy nội dung chính trong bài (While teaching process): Giảng viên có thể cho sinh viên đọc/ nghe một tài liệu (sử dụng bán cầu não trái) và gạch chân những con
số, những sự kiện quan trọng Giảng viên yêu cầu sinh viên vẽ lại sơ đồ nội dung theo một số cấu trúc nhất định (sử dụng bán cầu não phải) như cấu trúc nguyên nhân- kết quả; diễn biến sự kiện từ lúc bắt đầu- kết thúc; cấu trúc vấn đề- giải pháp; cấu trúc diễn biến- hậu quả Nhờ cách kết hợp hai bán cầu não này vào quá trình học, sinh viên sẽ phát huy được tư duy liên kết chuỗi sự kiện, hình dung diễn tiến của cả quá trình từ đầu tới hiện tại và thậm
Trang 6chí tới cả tương lai xa Tất cả có thể diễn ra như
những thước phim 3D quay chậm trong não của
sinh viên Học cách này học sinh sẽ có thể nhớ các
chi tiết trong bài nghe/đọc lâu hơn, và còn kết hợp
đưa ra những chính kiến của mình liên quan tới các
nội dung trong bài thay vì chỉ học vẹt, nhớ thuộc
lòng và nhanh chóng quên đi sau một khoảng thời
gian ngắn Sơ đồ tư duy là một công cụ hữu hiệu
trong quá trình này để giúp sinh viên cụ thể hóa
hình ảnh nội dung trong bài đọc/nghe tiếng Anh
Ví dụ, với bài 4 (Organization) trong cuốn Market
Leader (Intermediate), giảng viên yêu cầu sinh
viên đọc bài viết về công ty Google và dựng lại
cấu trúc công ty Google cũng như chức năng của
các bộ phận trong công ty, từ đó phân tích vai trò
của bộ phận quan trọng nhất tạo nên sự thành công
của công ty
Cũng với bài đọc này, sinh viên sẽ được giảng
viên phân công mình phụ trách một bộ phận trong
công ty, và sinh viên phải nêu bật được cấu trúc,
chức năng của bộ phận trong công ty mình phụ
trách Bằng cách này, người học sẽ làm quen
với việc liên kết các hình ảnh lại với nhau nhằm
tăng tính lôgic, khả năng sáng tạo Thực hành và
rèn luyện cách này thường xuyên sẽ giúp người
học tăng cường khả năng tư duy một cách hệ thống
và chặt chẽ hơn và cả hai bán cầu não đều tham gia
vào quá trình học sẽ giúp cho việc học diễn ra dễ
dàng, hiệu quả hơn
Gợi ý hoạt động trong quá trình sau khi giảng
nội dung chính trong chương trình (Post teaching
process): Đây là giai đoạn giúp người học phóng
thích tư duy trí tưởng tượng của mình nhiều nhất
để giúp cho quá trình ghi nhớ nội dung bài giảng
hiệu quả hơn Giảng viên có thể cho sinh viên của
mình tưởng tượng về kết cục tương lai xuất phát
từ thực tế hiện tại sinh viên ghi nhận được từ nội
dung vừa học Như đã đề cập ở trên, chính việc sử
dụng cả hai bán cầu não sẽ giúp quá trình tương tác
của hai bán cầu não nhanh, mạnh hơn và giúp quá
trình học tập hiệu quả hơn Nói cách khác, người
học có thể sử dụng não phải để khơi gợi phát triển
ý tưởng, và đồng thời hợp lý hóa các ý tưởng bằng
toán học, tư duy lôgic Trí tưởng tượng mạnh mẽ
giúp người học tạo ra dấu ấn từ những gì mình học, từ đó hình thành khả năng ghi nhớ sâu và lâu hơn Ví dụ, vẫn với bài số 4 (Organization- Market Leader- Intermediate), giảng viên có thể đưa ra những gợi ý dạng như “Nếu tôi phụ trách một bộ phận trong tập đoàn Google…”, hoặc cũng có thể đưa ra những ý tưởng lạ như “Hãy tạo ra một công
ty kỳ dị, bán những sản phẩm kỳ lạ mà bạn mong muốn”, hay đơn giản chỉ những gợi ý như “Nếu hôm nay tôi được nhận vào công ty Google làm thì tôi sẽ…” và yêu cầu sinh viên viết ra những tưởng tượng hoặc những kế hoạch trong tương lai Bằng cách này, người học chắc chắn sẽ được khuyến khích tưởng tượng và liên kết những gì liên quan đến cuộc sống xung quanh với nội dung vừa học Điều này giúp quá trình học trở nên sống động hơn
Sau khi viết, giảng viên có thể tạo cơ hội cho sinh viên trình bày những ý tưởng của mình viết
ra trước lớp Quá trình này sẽ thúc đẩy khả năng làm chủ của người học trước đám đông thông qua
kỹ năng thuyết trình, làm việc nhóm Đây là bước giúp người học chuyển thể những gì đã học/đã viết trở nên cụ thể và rõ ràng hơn bằng những diễn đạt kết hợp đồng bộ bởi ngôn ngữ hình thể, âm điệu và ngôn từ Từ đó kiến thức sẽ được đưa vào sâu hơn trong não các em, giúp tăng cường khả năng phản
xạ và giao tiếp tiếng Anh một cách tự nhiên
3.2 Ứng dụng lý thuyết về trí tuệ xúc cảm của não bộ trong việc dạy tiếng Anh kinh doanh
Theo lý thuyết về trí tuệ xúc cảm, cảm xúc của người học có ảnh hưởng lớn tới quá trình học, đặc biệt là tới trí nhớ của người học Chính vì lý do này, trong quá trình giảng dạy, người thầy cần có những hoạt động, động thái nhằm tạo nên những cảm xúc tích cực cho người học và giúp họ có trí nhớ tốt nhất trong quá trình học tập Giảng viên tiếng Anh không nên ép buộc hoặc áp đặt người học trong quá trình giảng dạy mà nên gợi mở, hướng dẫn
họ làm chủ quá trình học của mình Ví dụ, người giảng viên có thể yêu cầu về số lượng thành viên của nhóm, nêu yêu cầu công việc cho nhóm và để sinh viên chủ động chọn thành viên trong nhóm
Trang 7mình cũng như quyết định nội dung cần phát triển
Điều này giúp tạo nên một môi trường học tiếng
Anh an toàn - làm việc cùng những người mình
yêu mến, được nhận góp ý từ những người bạn
của mình và cũng giúp tạo sự thoải mái cho người
học khi họ được chủ động ra quyết định nội dung
mà họ chọn lựa Tất cả những điều này sẽ giúp
cho quá trình học ngoại ngữ diễn ra hiệu quả hơn
3.3 Ứng dụng thuyết tính mềm dẻo của não
bộ trong việc dạy tiếng Anh kinh doanh
Môi trường cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới
chỉ số thông minh IQ của con người Theo các
nghiên cứu (Gordon Dryden & Jeannette Vos,
2001; Eric Jensen, 2005), môi trường xung quanh
con người quyết định tới 60-70% sự phát triển của
hệ thống nơ-ron thần kinh của não bộ Có được
điều này bởi bộ não của con người có tính mềm
dẻo Thậm chí nhờ tính mềm dẻo này, trong thực
tế, nhiều khi có một phần của não bị tổn thương,
các phần khỏe mạnh khác của não có thể đảm trách
luôn các chức năng của phần tổn thương đó và các
khả năng này có thể được khôi phục lại Như đã
đề cập ở trên, não bộ có tính mềm dẻo - nghĩa là
não bộ có khả năng xử lý các kích thích, thông tin
từ bên ngoài và mở rộng các kết nối Quá trình
tạo và mở rộng các liên kết đó sẽ giúp cho não bộ
phát triển quá trình xử lý thông tin hiệu quả hơn
và nhanh chóng hơn Nếu một người sống trong
môi trường phong phú, thuận lợi cho quá trình học
tập thì người đó sẽ biết cách xử lý các tình huống
nhanh hơn, nhưng ngược lại một người thứ hai
sống trong môi trường nhàm chán, đơn điệu thì họ
khó có những kỹ năng xử lý tình huống như người
thứ nhất - hay nói cách khác, não bộ của người thứ
hai có tính mềm dẻo kém hơn người thứ nhất
Khám phá về tính mềm dẻo của não bộ sẽ mang
lại nhiều lợi ích trong giáo dục Mặc dù người ta
đã từng tin rằng, não bộ trở nên ổn định sau một
độ tuổi nhất định, nhưng các nghiên cứu mới đây
tiết lộ rằng, não bộ không bao giờ ngừng thay đổi
do sự tác động của quá trình học tập Một bộ não
“linh hoạt” phát triển mạnh trong môi trường giáo
dục tối ưu, nhưng ngược lại những sinh viên có
khả năng tốt do các giảng viên kém dạy lại thường
bị giảm tốc độ phát triển Học là một quá trình thay đổi hành vi thông qua trải nghiệm, do đó, người học nên được tạo cơ hội để có thể trải nghiệm Trong giảng dạy tiếng Anh, các hoạt động nhóm, case study, đóng vai, làm dự án,… là những hoạt động giúp người học “sống” trong khung cảnh mới, thỏa thích tưởng tượng ra những gì khác với thực tế và diễn đạt chúng bằng tiếng Anh, từ đó phát triển não bộ một cách tốt hơn
Theo lý thuyết cấu trúc bộ não, Eric Jensen (2005) giải thích, trong quá trình phát triển, não bộ không ngừng phải xử lý các thông tin, tạo nên các kết nối, nhờ đó, một số kết nối được củng cố trong khi một số khác bị loại bỏ đi Quá trình này được biết đến với tên gọi “cắt tỉa” bớt xi-náp (cơ quan thụ cảm trong nơ-ron thần kinh não) Các nơ-ron được sử dụng thường xuyên sẽ phát triển kết nối mạnh mẽ hơn các nơ-ron hiếm hoặc không được
sử dụng thực sự Bằng cách phát triển những liên kết mới và “cắt tỉa” những nơ-ron yếu hơn, não
bộ có thể thích nghi với môi trường không ngừng thay đổi Mỗi kinh nghiệm phong phú mà người học trải qua đều do các tế bào thần kinh gây ra để chuyển thông tin đến tế bào thần kinh khác thông qua một xung điện Nếu giảng viên tạo nên một môi trường mới thì sẽ tạo sự tò mò, kích thích cho người học Sự kích thích sẽ được truyền từ tế bào thần kinh này đến tế bào thần kinh khác, chúng tạo ra các phần kéo dài ra giống như nhánh cây được gọi là đuôi gai (sợi nhánh) Khi não nhận được thông tin mới, các sợi nhánh phát triển ra bên ngoài từ các tế bào cơ thể, tìm kiếm các sợi nhánh cây khác Chúng hình thành một kết nối đến sợi nhánh khác bằng cách kéo dài mỏng hơn Khi không được kết nối, chúng ta chỉ có các nơ-ron thần kinh nghèo nàn Số lượng và chất lượng kinh nghiệm mà người học trải qua có sự liên kết trực tiếp đến sự phát triển của sợi nhánh, sợi trục thần kinh, vì vậy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng của họ trong tương lai
Dưới đây là một số gợi ý hoạt động giảng dạy ngoại ngữ (lấy ví dụ từ việc giảng dạy giáo trình
“Market Leader”- Intermediate) giúp ứng dụng
Trang 8tính mềm dẻo của bộ não và hỗ trợ quá trình học
tiếng Anh hiệu quả hơn Những hoạt động này
được áp dụng trong lớp học tiếng Anh thương mại
cho sinh viên ở trình độ trung cấp
Bảng 3 Một số hoạt động ứng dụng tính mềm
dẻo của não bộ trong việc dạy tiếng Anh kinh
doanh
STT Tên bài Hoạt động ứng dụng tính mềm dẻo của
não bộ
Phân tích lợi ích
1 Brands Giảng viên đưa cho sinh
viên tên một nước (ví
dụ Mỹ, Đức, Anh), sinh viên trình bày ý tưởng về một nhãn mác sản phẩm
có thể bán chạy trên thị trường nước đó Sinh viên phải đưa ra 05 lý
do thuyết phục cho sự lựa chọn của mình
Môi trường lạ, sản phẩm quen, sinh viên sẽ kết hợp những kiến thức đã học trong bài để đưa ra thiết kế nhãn hiệu sản phẩm phù hợp
2 Travel Giảng viên đưa cho mỗi
nhóm (3 sinh viên) một tờ thông tin về một công ty
du lịch với các dịch vụ của
họ Sinh viên đóng vai là nhân viên của công ty du lịch, giới thiệu về công ty
du lịch đó Một sinh viên khác đóng vai là khách hàng, đưa ra những lý do không lựa chọn công ty
du lịch này Sinh viên thứ
ba chứng kiến cuộc nói chuyện và phân tích.
Sinh viên đóng vai người khác
- có trải nghiệm mới nên sẽ nghiên cứu “vai diễn” của mình
để có những lập luận phù hợp.
3 Change Giảng viên cung cấp cho
mỗi nhóm sinh viên các thông tin về một công ty kèm theo là liệt kê 5 thay đổi trên thị trường liên quan tới lĩnh vực mà công
ty đó đang hoạt động
Sinh viên thảo luận trong nhóm và đưa ra những quyết định thay đổi trong công ty nhằm phù hợp với
05 thay đổi trên thị trường
Sau thời gian thảo luận, các nhóm trình bày trước lớp để giảng viên và các nhóm còn lại đánh giá.
Sinh viên làm việc trong môi trường mới (1 công ty cụ thể và
5 thay đổi của thị trường) Sinh viên
có cơ hội làm việc nhóm, đưa
ra những lập luận
và những phản ứng trước những thay đổi trên thị trường.
4 Advertising Giảng viên cung cấp
cho sinh viên những loại hình quảng cáo và những đoạn quảng cáo Sinh viên đóng vai là nhóm lãnh đạo để lựa chọn ra loại hình quảng cáo và đoạn quảng cáo phù hợp với sản phẩm của công ty.
Sinh viên “vào vai” những người khác và làm việc theo nhóm nên
sẽ có những trải nghiệm mới.
5 Money Mỗi nhóm sinh viên cử
một đại diện lên tham gia hoạt động “đầu tư khôn ngoan” Mỗi sinh viên cùng hoạt động trong một công ty, và được cung cấp một số tiền (tượng trưng) như nhau Giảng viên đưa lần lượt ra những sản phẩm/hạng mục đầu
tư với mức tiền ghi rõ Sinh viên sẽ ra quyết định đầu
tư hay không đầu tư và phải đưa ra lý giải phù hợp Cuối buổi các kết quả đầu tư sẽ được so sánh và xem đội nào đầu
tư hiệu quả
Sinh viên hoạt động trong cùng một công ty/môi trường mới Sinh viên phải đưa ra những quyết định đầu tư nhanh nên
sẽ rèn luyện được phản xạ nhanh.
6 Cultures Sinh viên làm việc theo
nhóm Các nhóm được giao cùng một loại sản phẩm nhưng tiến hành quảng cáo/bán tại các nước khác nhau (bốc thăm tên nước) Sinh viên
lý giải những thay đổi về mẫu mã sản phẩm, cách thức tiếp cận bán hàng tại nước được bốc thăm.
Sinh viên được
“bán hàng” tại một nước cụ thể Môi trường mới
sẽ khiến sinh viên phải thảo luận
để cho ra những thay đổi cho sản phẩm của mình phù hợp hơn.
(Nguồn: Gợi ý của tác giả)
3.4 Ứng dụng thuyết đa trí tuệ của bộ não trong việc dạy tiếng Anh kinh doanh
Thông qua lý thuyết đa thông minh, người giảng viên cần lấy người học làm trung tâm Phương pháp giảng dạy phải tạo nên thế mạnh để lĩnh vực thông minh của người học được phát huy tác dụng, giúp cho họ cảm thấy hứng thú, tự tin khi học tập Không nên đánh giá trí thông minh của một người chỉ thông qua một tiêu chí của người khác Ví dụ, một sinh viên không thể tiếp thu bài học bằng các hình vẽ tưởng tượng của giảng viên trên bảng thì đừng vội kết luận sinh viên đó kém thông minh, bởi có thể sinh viên đó có trí thông minh về âm nhạc, họ có thể học tiếng Anh qua nhịp gõ của thước chứ không phải qua hình ảnh trên bảng Người giảng viên cần nắm rõ, sinh viên
có thể học tiếng Anh bằng cách vẽ hình, vẽ sơ đồ
tư duy, nhảy theo điệu nhạc, viết blog, viết công thức và nhiều cách khác nhau Do đó, một người
có trí tuệ thiên về nhịp điệu âm nhạc thì hãy để
họ tạo nên những âm tiết, tiết tấu hoặc một bài hát có vần trong quá trình học ngoại ngữ và điều
Trang 9này khiến họ ghi nhớ dễ hơn, môn học cũng trở
nên niềm vui và không trở thành áp lực cho họ
khi học Trong khi một người khác phát triển trí
thông minh toán, lôgic thì việc học tiếng Anh nên
nghiêng về việc tạo ra các quy tắc, các công thức
thì sẽ khiến họ dễ nhớ hơn
Bên cạnh đó, chương trình giảng dạy có thể
được tạo ra bằng cách tích hợp với các hoạt động
dựa trên nhiều kiến thức theo cách phát triển các
lĩnh vực thông minh khác nhau cho mỗi người học;
từ đó, người học sẽ khám phá những cách tốt nhất
để họ có thể lĩnh hội được thông tin theo cách của
riêng mình Muốn thành công, người giảng viên
cần hiểu rõ sinh viên của mình và có sự chuẩn bị
thật kỹ lưỡng các hoạt động cho từng người mới
mong đem lại hiệu quả cao Giảng viên cần coi
trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi sinh viên, phải hiểu
rằng, mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi sinh
viên đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh
hướng khác nhau Do đó, giảng viên cần giúp đỡ,
khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các
hướng khác nhau phù hợp với từng người học
Dưới đây là một số gợi ý hoạt động được sử
dụng trong quá trình giảng dạy tiếng Anh từ cuốn
giáo trình Market leader - Intermediate dựa trên
thuyết đa trí tuệ Những hoạt động này được áp
dụng trong lớp học tiếng Anh thương mại cho sinh
viên ở trình độ trung cấp
Bảng 4: Một số hoạt động ứng dụng tính đa
trí tuệ của não bộ trong giảng dạy tiếng Anh kinh
doanh
STT Tên bài Hoạt động ứng dụng thuyết đa trí tuệ của
não bộ
Cách tổ chức hoạt động nhằm ứng dụng thuyết đa trí tuệ của não bộ
1 Brands Giảng viên đưa cho sinh
viên tên một nước, sinh viên trình bày ý tưởng về một nhãn mác sản phẩm
có thể bán chạy trên thị trường nước đó Sinh viên phải đưa ra 05 lý do thuyết phục cho sự lựa chọn của mình
Giảng viên gợi mở có nhóm có thể sử dụng hình ảnh minh họa,
có nhóm có thể sử dụng phương pháp trình bày bằng lời nói thuyết giải ý tưởng của nhóm mình
2 Travel Giảng viên đưa cho mỗi
nhóm (3 sinh viên) một tờ thông tin về 1 công ty du lịch với các dịch vụ của
họ Sinh viên đóng vai
là nhân viên của công ty
du lịch, giới thiệu về công
ty du lịch Một sinh viên khác đóng vai là khách hàng, đưa ra những lý
do không lựa chọn công
ty Sinh viên thứ 3 chứng kiến và phân tích.
Sinh viên được chủ động trong việc đưa
ra cách giới thiệu về công ty, và trong việc đưa ra lý giải cho sự
từ chối của mình Có sinh viên có thể dùng hình ảnh, dùng hình thể, dùng âm nhạc…
3 Change Giảng viên cung cấp cho
mỗi nhóm sinh viên các thông tin về 1 công ty kèm theo là liệt kê 5 thay đổi trên thị trường liên quan tới lĩnh vực mà công
ty đó đang hoạt động
Sinh viên thảo luận trong nhóm và đưa ra những quyết định thay đổi trong công ty nhằm phù hợp với 05 thay đổi trên thị trường Sau thời gian thảo luận, các nhóm trình bày trước lớp để giảng viên và các nhóm còn lại đánh giá.
Trong quá trình làm nhóm, nhóm trưởng
sẽ giao nhiệm vụ cho từng thành viên dựa vào khả năng của từng người Có thành viên sẽ chuẩn bị hình ảnh, vẽ minh họa, có thành viên sẽ phân tích thông tin được cung cấp, có thành viên sẽ lập luận và thuyết phục.
4 Advertising Giảng viên cung cấp
cho sinh viên những loại hình quảng cáo và những đoạn quảng cáo Sinh viên đóng vai là nhóm lãnh đạo để lựa chọn
ra loại hình quảng cáo
và đoạn quảng cáo phù hợp với sản phẩm của công ty.
Sinh viên sẽ nghiêm vào nhận xét các khía cạnh cụ thể mà mình quan tâm và đưa ra gợi ý để đoạn quảng cáo được tốt hơn: Ví dụ về âm nhạc, về màu sắc, về nội dung của đoạn quảng cáo.
5 Money Mỗi nhóm sinh viên cử
01 đại diện lên tham gia hoạt động “đầu tư khôn ngoan” Mỗi sinh viên cùng hoạt động trong 1 công ty, và được cung cấp một số tiền (tượng trưng) như nhau Giảng viên đưa lần lượt ra những sản phẩm/ hạng mục đầu tư với mức tiền ghi rõ Sinh viên sẽ ra quyết định đầu tư hay không đầu tư và phải đưa
ra lý giải phù hợp Cuối buổi các kết quả đầu tư
sẽ được so sánh và xem đội nào đầu tư hiệu quả
Mỗi thành viên trong nhóm sẽ được giao
1 nhiệm vụ cụ thể
để người đội trưởng chọn lựa nhanh nhất
Ví dụ có thành viên
sẽ tập trung vào việc tính toán tiền đầu tư,
có thành viên sẽ tập trung vào hiệu quả của sản phẩm trong tương lai, có thành viên sẽ tập trung vào việc đưa ra quyết định nhanh cho cả nhóm.
Trang 106 Cultures Sinh viên làm việc theo
nhóm Các nhóm được giao cùng một loại sản phẩm nhưng tiến hành quảng cáo/bán tại các nước khác nhau (bốc thăm tên nước) Sinh viên
lý giải những thay đổi về mẫu mã sản phẩm, cách thức tiếp cận bán hàng tại nước được bốc thăm.
Mỗi thành viên trong nhóm sẽ phụ trách các khâu trong quảng cáo khác nhau: có thành viên
sẽ tập trung vào câu chữ trong quảng cáo,
có thành viên tập trung vào chọn nhạc,
có thành viên tập trung vào việc phân tích các yếu tố văn hóa để làm nổi bật đoạn quảng cáo.
(Nguồn: Gợi ý của tác giả)
Trong quá trình giảng dạy, để ứng dụng được
thuyết đa trí tuệ, người giảng viên cần chú ý những
điểm sau:
Phương pháp giảng dạy: Thuyết đa trí tuệ gợi
ý cho giảng viên nên lựa chọn các phương pháp
giảng dạy phù hợp cho từng sinh viên Cho sinh
viên lựa chọn nhóm theo sở thích phù hợp với
phong cách học của mình, và tự lựa chọn phương
pháp học tập phù hợp với nhóm của mình chính là
cách thức hỗ trợ sinh viên học tiếng Anh hiệu quả
nhất Với mỗi bài tập nhóm, giảng viên chỉ nên
đưa ra gợi ý tổng thể và để sinh viên chủ động lựa
chọn cách tiếp cận cụ thể dựa trên thế mạnh của
bản thân, tránh áp đặt cho các em
Cách đánh giá: Vận dụng thuyết đa trí tuệ
trong dạy học, giảng viên cần đổi mới cách nhìn
nhận, đánh giá sinh viên, tránh việc sử dụng tiêu
chí đánh giá người học có trí thông minh ngôn ngữ
để áp đặt đánh giá người học có trí tuệ âm nhạc,
hay trí tuệ toán, lôgic để “dán mác” kém ngoại ngữ
cho bất kể sinh viên nào Việc làm này dễ tạo nên
sự tự ti trong sinh viên Cũng cần tránh áp lực điểm
số trong sinh viên Người thầy cũng nên đánh giá
sinh viên của mình qua quá trình phấn đấu của họ
chứ không nên chỉ dựa vào điểm số cuối kỳ
4 KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu về cấu trúc não bộ, chúng ta
thấy được sự hữu ích trong việc hiểu các thông tin
về não bộ trong việc áp dụng nó trong quá trình
giảng dạy, giảng dạy ngoại ngữ nói chung và giảng
dạy tiếng Anh kinh doanh nói riêng Người giảng
viên trong quá trình giảng dạy không cần phải trở
thành một nhà thần kinh học hoặc ghi nhớ 100 nơ-ron truyền thần kinh và 50 vùng não có tác động tới nhận thức, mà họ cần có những kiến thức cơ bản về 4 đặc điểm nổi trội của não bộ đã được đề cập: sự hỗ trợ của cả hai bán cầu não, tính mềm dẻo, trí tuệ cảm xúc, và thuyết đa trí tuệ của não
bộ để hỗ trợ quá trình giảng dạy ngoại ngữ tốt hơn Eric Jensen (2005) coi việc học là điều mà não
bộ làm tốt nhất Ông cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc sử dụng mọi khu vực của não
bộ từ thị giác, thính giác đến khu vực điều khiển ngôn ngữ trong quá trình học tập Các tế bào của hai bán cầu não chịu trách nhiệm xử lý thông tin
và chuyển đổi tín hiệu điện hóa học và qua lại trên
tế bào thần kinh Mỗi kinh nghiệm phong phú mà người học được trải nghiệm thông qua bài giảng, thông qua tình huống, thông qua bức tranh, câu chuyện của người giảng viên đều do các tế bào thần kinh gây ra để chuyển thông tin đến tế bào thần kinh khác thông qua một xung điện Những xung điện này làm cho quá trình học tập trở nên hứng thú, đa dạng và hiệu quả Khả năng não bộ tái kết nối, tái sắp xếp qua hệ thần kinh của cả hai bán cầu não là rất rõ ràng Giảng viên ngoại ngữ
có thể tác động tới quá trình này qua quá trình xây dựng kỹ năng, và kỹ năng suy nghĩ giải quyết vấn
đề thông qua phương pháp dạy, các tình huống, giao vai diễn trên lớp cho sinh viên
Bộ não của con người có tính mềm dẻo và không ngừng phát triển khi các nơ-ron thần kinh được kết nối trong quá trình học tập Chính vì vậy, người giảng viên cần tạo ra một môi trường học ngoại ngữ phong phú với những tình huống, khung cảnh khác nhau, lạ, các vai diễn không quen thuộc
để sinh viên có thể vận dụng những kiến thức đã học, xây dựng thành những kỹ năng mới, có những trải nghiệm mới giúp họ sau này Học ngoại ngữ cũng giống như quá trình học lái xe, nếu các tình huống giao thông được người học tập luyện, kinh qua thường xuyên thì trong thực tế họ sẽ không thấy khó khi xử lý các tình huống giao thông đó trên đường Nếu người giảng viên tạo ra cho sinh viên những tình huống, những văn cảnh để họ sử dụng kiến thức ngôn ngữ đã học thì khả năng phản
xạ và kiến thức ngôn ngữ đã học sẽ trở nên sống