1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh nghiệm ứng dụng nghiên cứu một số đặc điểm của não bộ trong việc giảng dạy tiếng Anh kinh doanh

12 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 368,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kiến thức cơ bản về hoạt động của não bộ có thể hỗ trợ tích cực cho giảng viên nói chung và giảng viên dạy ngoại ngữ nói riêng trong việc tổ chức lớp học, thay đổi phương pháp tiếp cận sinh viên nhằm tạo ra một môi trường học ngoại ngữ vui vẻ, hiệu quả. Thông qua những kiến thức cơ bản về 4 đặc điểm nổi trội của não bộ: đặc điểm hỗ trợ của cả 2 bán cầu não (song não), tính mềm dẻo, đặc điểm trí tuệ cảm xúc, và đặc điểm đa trí tuệ, tác giả bài viết sẽ cung cấp một số gợi ý hoạt động tổ chức trong lớp học tiếng Anh kinh doanh được rút ra từ kinh nghiệm giảng dạy giáo trình Market Leaders. Những hoạt động này được áp dụng cho các lớp học tiếng Anh thương mại ở trình độ tiền trung cấp và trung cấp. Những gợi ý này sẽ góp phần làm cho quá trình giảng dạy ngoại ngữ nói chung, giảng dạy tiếng Anh kinh doanh nói riêng đạt hiệu quả cao hơn khi vận dụng được bốn đặc điểm nổi trội này của não bộ.

Trang 1

PHẠM THỊ THANH THÙY *

* Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội,  thuyflc@gmail.com

Ngày nhận bài: 08/8/2019; ngày sửa chữa: 20/8/2019; ngày duyệt đăng: 25/8/2019

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Khi vai trò của tiếng Anh trong giao tiếp quốc

tế và trong công việc ngày càng trở nên quan

trọng, yêu cầu về cải cách giảng dạy tiếng Anh

trong các cơ sở đào tạo, đặc biệt là tại các trường

cao đẳng và đại học trong nước hơn lúc nào hết

trở thành bài toán khó giải của các nhà giáo dục,

các giảng viên ngoại ngữ Các hình thức như kết

hợp giữa công nghệ máy tính trong giảng dạy tiếng

Anh đã đạt được kết quả nổi bật Sinh viên tại các

trường đại học đã sử dụng đa phương tiện trong

KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM

CỦA NÃO BỘ TRONG VIỆC GIẢNG DẠY

TIẾNG ANH KINH DOANH

TÓM TẮT

Những kiến thức cơ bản về hoạt động của não bộ có thể hỗ trợ tích cực cho giảng viên nói chung

và giảng viên dạy ngoại ngữ nói riêng trong việc tổ chức lớp học, thay đổi phương pháp tiếp cận sinh viên nhằm tạo ra một môi trường học ngoại ngữ vui vẻ, hiệu quả Thông qua những kiến thức

cơ bản về 4 đặc điểm nổi trội của não bộ: đặc điểm hỗ trợ của cả 2 bán cầu não (song não), tính mềm dẻo, đặc điểm trí tuệ cảm xúc, và đặc điểm đa trí tuệ, tác giả bài viết sẽ cung cấp một số gợi

ý hoạt động tổ chức trong lớp học tiếng Anh kinh doanh được rút ra từ kinh nghiệm giảng dạy giáo trình Market Leaders Những hoạt động này được áp dụng cho các lớp học tiếng Anh thương mại ở trình độ tiền trung cấp và trung cấp Những gợi ý này sẽ góp phần làm cho quá trình giảng dạy ngoại ngữ nói chung, giảng dạy tiếng Anh kinh doanh nói riêng đạt hiệu quả cao hơn khi vận dụng được bốn đặc điểm nổi trội này của não bộ

Từ khóa: thuyết song não, tính mềm dẻo của não bộ, trí tuệ cảm xúc, thuyết đa trí tuệ, tiếng Anh

kinh doanh

việc học ngoại ngữ như các thiết bị di động, máy tính để tự học và tự đánh giá quá trình học Trong quá trình đi tìm kiếm các hình thức giảng dạy hiệu quả, nhiều phương pháp mới đã được áp dụng, tuy nhiên nhiều khi áp dụng phương pháp mới, giảng viên chỉ tập trung vào kết quả hiểu biết của sinh viên trên lớp và quên đi việc tạo động lực cho sinh viên trong quá trình học ngôn ngữ, hay đơn thuần nhiều khi giảng viên tổ chức các hoạt động trên lớp mà không hiểu lợi ích của chúng, và chưa xuất phát từ quan điểm sinh học của bộ não con người

Do đó, hiệu quả của quá trình học ngoại ngữ chưa

Trang 2

cao Chính vì vậy, giảng viên ngoại ngữ nên có

kiến thức cơ bản về cấu tạo chức năng của bộ não

để ứng dụng trong giảng dạy nhằm nâng hiệu quả

của quá trình dạy và học ngoại ngữ

Bộ não con người luôn là “mảnh đất màu mỡ”

mà các nhà khoa học không ngừng muốn khám

phá Với sự phát triển của khoa học công nghệ

trong các lĩnh vực khác nhau, nghiên cứu về khả

năng nhận thức của não đã trở thành một thách

thức quan trọng khiến các nhà nghiên cứu trong

thế kỷ 21 phải đau đầu Chúng ta đều biết rằng

bất kỳ hoạt động học tập nào của chúng ta cũng

được thực hiện thông qua nhận thức của bộ não

Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, kiến

thức của con người về não cũng đã chuyển từ giai

đoạn phỏng đoán ban đầu sang giai đoạn nghiên

cứu rất tinh vi hiện nay và với công nghệ hình ảnh

não tiên tiến, con người có thể hiểu cơ chế hoạt

động của não và hệ thần kinh bên trong của nó

Gần đây nhiều nhà khoa học lại nghiên cứu về mối

quan hệ giữa thần kinh nhận thức với não bộ Họ

cũng tiến hành kết hợp nghiên cứu về nhận thức

não trong lĩnh vực giảng dạy, đặc biệt phương thức

giảng dạy kết hợp khả năng nhận thức não với việc

học ngoại ngữ đã được quan tâm một cách sâu sắc

Theo Kepinska (2017) và những đồng sự, việc sử

dụng các mô hình giảng dạy mới tăng cường kết

hợp việc sử dụng tất cả các bộ phận của não bộ vào

việc giảng dạy ngoại ngữ sẽ giúp người học cải

thiện hiệu quả việc học tập và khả năng sử dụng

ngoại ngữ của người học

Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các nghiên cứu chỉ

mới dừng lại ở việc giải thích các đặc điểm của

bộ não con người về đặc điểm vật lý, cũng như

nguyên lý làm việc của bộ nhớ trong não người,

mà ít đề cập trong các nghiên cứu tới mối liên hệ

giữa nhận thức não người với việc dạy tiếng Anh

nói chung và dạy tiếng Anh kinh tế kinh doanh nói

riêng, cũng như việc tìm ra nguyên tắc học tập của

bộ não để giúp quá trình học tiếng Anh diễn ra hiệu

quả hơn

Dựa vào phân tích lý thuyết cơ bản của khoa học bộ não, định luật và đặc điểm của hoạt động não bộ, bài viết này sẽ cung cấp một số phân tích

về việc ứng dụng khoa học nhận thức não bộ trong việc giảng dạy tiếng Anh kinh doanh cho sinh viên thông qua việc cung cấp một số gợi ý các hoạt động hỗ trợ việc dạy tiếng Anh kinh doanh giúp cho quá trình học tiếng Anh trở nên phần nào hiệu quả hơn Những đề xuất trong bài viết được xuất phát từ kinh nghiệm giảng dạy giáo trình “Market Leader” cho sinh viên không chuyên ngữ

2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN TỚI

BỘ NÃO 2.1 Lý thuyết về song não

Não của chúng ta là một trong những cấu trúc tuyệt vời nhất của cơ thể chúng ta Tuy đã có nhiều nghiên cứu về não bộ nhưng vẫn còn có rất nhiều điều để khám phá về nó Dựa trên nhận thức về cấu trúc não bộ, Bezrukih (2010) cho rằng tư duy của con người có thể được chia thành 4 loại: tư duy phân tích, tư duy tổ chức, tư duy giao tiếp và

tư duy tưởng tượng Bốn loại tư duy trong não có được là nhờ vào não trái, hệ thống limbic trái (bộ não cảm xúc trái), não phải và hệ thống libmic phải (bộ não cảm xúc phải) Tư duy phân tích và tư duy

tổ chức được điều khiển bởi bán cầu não trái, trong khi tư duy giao tiếp và tư duy tưởng tượng được điều khiển bởi bán cầu não phải (Basar, 2006) Sự khác biệt của cơ chế tư duy của con người có thể liên quan đến gen di truyền và môi trường phát triển, và những người khác nhau có thể có cùng một cơ chế tư duy giống nhau hoặc có xu hướng cân bằng giữa bốn hình thức tư duy này Theo các nhà nghiên cứu (Bezrukih, 2010; Basar, 2006; Robinson, et al, 2010), nếu đồng thời chúng ta sử dụng cả hai bán cầu não (song não) thì kết quả học tập sẽ tốt hơn Vì bộ não là một tổng thể hữu cơ nên việc sử dụng toàn diện bốn hình thức tư duy trong cả hai bán cầu não này sẽ tạo nên sự thống nhất trong tư duy của bộ não con người và làm cho

cả hai bán cầu não phát triển đồng đều và chúng sẽ

hỗ trợ nhau phát triển tốt hơn

Trang 3

Bảng 1 Tổng hợp cấu trúc và chức năng của

não bộ (theo Basar, 2006)

Bán cần não trái Bán cầu não phải

Phát triển tư duy phân tích và tư

duy tổ chức: Có óc tổ chức tốt,

dẫn dắt bởi mục tiêu Thường suy

nghĩ chín chắn và ít khi mất tập

trung.

Phát triển tư duy giao tiếp và tư duy tưởng tượng: Hành động thường

bị chi phối, dẫn dắt bởi cảm xúc

Thường giữ được bình thản trước khó khăn.

Giỏi về ngôn ngữ và suy nghĩ trừu

tượng Sử dụng tốt những trải nghiệm với môi trường bên ngoài

Từ những thông tin về cấu trúc và chức năng

của não bộ, Bezrukih (2010) đề xuất chia người

học thành hai nhóm: nhóm (1) những người thiên

về bán cầu não trái và nhóm (2) những người thiên

về bán cầu nào phải Theo ông, nhóm (1) phù hợp

với những khóa học truyền thống, cấu trúc như

phương pháp báo cáo nghiên cứu, tranh luận, ghi

chép khi học tập Trong khi nhóm (2) thích hợp với

phương pháp dạy có sử dụng hình ảnh, đồ thị và

các hình dễ nhìn thấy được Bảng 2 dưới đây tổng

hợp các khả năng của 2 nhóm người này

Bảng 2 Khả năng của nhóm người thiên về

bán cầu trái và nhóm người thiên về bán cầu phải

(theo Bezrukih, 2010)

Người thiên về não trái Người thiên về não phải

Khả năng quản lý hành vi, kiểm soát

Khả năng tư duy, tính toán, lập luận Khả năng tưởng tượng

Khả năng vận động tinh xảo Khả năng vận động kém tinh xảo

Khả năng ngôn ngữ Khả năng thụ cảm âm nhạc, âm

điệu, âm thanh Khả năng quan sát, đọc Khả năng cảm nhận thẩm mỹ,

hình ảnh

2.2 Học thuyết về trí tuệ xúc cảm của não bộ

Theo Buck (1985), cảm xúc của con người

thường bị chi phối bởi hành vi của con người theo

nhiều cách khác nhau, tuy nhiên, có thể hiểu một

cách đơn giản là cảm xúc của con người có thể

được chia thành các cảm xúc tích cực và các cảm

xúc tiêu cực thông qua phản ứng của não bộ trước

những cảm xúc đó Cảm xúc tích cực được hình thành khi con người trải qua những kích thích gây hưng phấn như niềm vui, sự thoải mái, sự thỏa mãn; trong khi cảm xúc tiêu cực được tạo ra khi các nơ-ron thần kinh phản xạ trước những kích thích tiêu cực như vết thương, nỗi đau, sự sợ hãi Những phản ứng tiêu cực hay tích cực sẽ được các nơ-ron thần kinh truyền tới não bộ

Khi xem xét mối quan hệ giữa não bộ với quá trình cảm thụ ngôn ngữ thứ hai, Parr và Hopkins (2000) cho biết, mức độ tiếp thu ngôn ngữ thứ hai

bị ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố cảm xúc, đặc biệt xúc cảm ảnh hưởng đến việc lưu giữ và thu thập thông tin của bộ nhớ

2.3 Lý thuyết về tính mềm dẻo của bộ não

Tính mềm dẻo của não bộ hay còn gọi là tính dẻo dai của não (neuroplasticity) để chỉ khả năng thay đổi và thích ứng của não khi con người kinh qua những trải nghiệm Não bộ được cấu tạo từ

86 tỷ nơ-ron, và qua nghiên cứu, nhà tâm lý học William James đã đưa ra những thông tin khác với những nghiên cứu trước đây từ những năm 1890 Trong cuốn Principles of Psychology, ông viết

“chất hữu cơ, đặc biệt là các mô thần kinh, dường như vẫn tồn tại sự linh hoạt và độ mềm dẻo đáng kinh ngạc,” và não bộ vẫn tiếp tục thay đổi Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu (Fung và Robinson, 2013) cho rằng, não sở hữu một khả năng đáng kinh ngạc trong việc tái tạo những đường dẫn, liên kết mới, thậm chí là tái tạo cả nơ-ron mới Tính mềm dẻo luôn tồn tại trong suốt cuộc đời và có liên đới đến cả các tế bào khác của não bộ chứ không chỉ giới hạn ở nơ-ron Các tế bào khác có thể bao gồm các tế bào thần kinh đệm và mạch máu Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy ,tính mềm dẻo của thần kinh có ảnh hưởng tích cực tới việc tăng cường trí nhớ của não bộ Fung

và Robinson (2013) cũng cho rằng, các tế bào thần kinh có thể được kích thích bởi các điều kiện bên ngoài để có thể tái tạo những phần bị khiếm khuyết

và phát triển trong một số điều kiện nhất định, trong khi các tế bào thần kinh tồn tại trong lớp vỏ

Trang 4

não có thể liên kết thành một mạng lưới trong bộ

nhớ để lưu trữ những ký ức mới

Lý thuyết về tính mềm dẻo của thần kinh cũng

cho thấy rằng, quá trình học tập liên tục lâu dài có

tác động kích thích tới các tế bào nơ-ron thần kinh

mạnh hơn và thúc đẩy trí nhớ của con người mạnh

hơn Điều này cũng cho thấy quá trình học tập nói

chung và học ngoại ngữ nói riêng là một quá trình

đòi hỏi liên tục và diễn ra lâu dài

2.4 Lý thuyết đa trí tuệ (thuyết trí thông

minh đa dạng)

Lý thuyết đa trí tuệ phân biệt trí thông minh

của con người thông qua các phương thức biểu

đạt cụ thể (chủ yếu là cảm giác), thay vì đánh giá

trí thông minh của con người thông qua một khả

năng chung chung nào đó Theo hai giáo sư tâm lý

học Howard & Slavin (2009), nếu chúng ta đánh

đồng đo trí thông minh của con người bằng các

bài trắc nghiệm IQ thì đây là một cách rất phiến

diện Thay vào đó, ông đã đưa ra đề xuất đánh giá

trí thông minh của con người thông qua khả năng

giải quyết vấn đề khó khăn hoặc tạo ra những sản

phẩm có giá trị nhất định trong một hoàn cảnh cụ

thể - và ông gọi là đó là lý thuyết đa trí tuệ Theo

lý thuyết đa trí tuệ, mỗi người chúng ta đều có 8

loại trí thông minh khác nhau: trí thông minh ngôn

ngữ, toán học lôgic; nhịp điệu âm nhạc; hình ảnh;

vận động cơ thể; giao tiếp liên nhân; thiên nhiên

(nhận thức về tự nhiên); và nội tâm (khả năng suy

nghĩa và diễn đạt)

Lý thuyết này được áp dụng ở các lĩnh vực khác

nhau và ở một cấp độ nhất định Theo học thuyết

này, mỗi cá nhân hầu như đều sở hữu cả 8 loại

thông minh nhưng ở một mức độ khác nhau Điều

quan trọng là, mức độ thông minh này không phải

là “hằng số” trong suốt cuộc đời của mỗi người mà

nó có thể sẽ thay đổi (tăng hay giảm) tùy vào sự

trau dồi của mỗi cá nhân Theo Temur (2007), mỗi

người học có điểm mạnh và điểm yếu ở một lĩnh

vực riêng tùy theo trí tuệ của mình Chính điều này

đã chi phối tới cách mỗi người biểu đạt trí thông

minh của mình (hay nói cách khác là phong cách học tập), và khiến cho có người học dễ dàng nhưng

có người lại khó khăn khi tiếp thu những thông tin bên ngoài ở một lĩnh vực nào đó thông qua một phương pháp giảng dạy cụ thể nào đó Người giảng viên phải nhận thức được rằng trong một lớp học có nhiều sinh viên, việc có nhiều phong cách học là điều hiển nhiên để từ đó có phương pháp giảng dạy phù hợp Do đó, để cân bằng giữa các phong cách học khác nhau và tăng hiệu quả của quá trình học, người thầy cần giúp học trò của mình hiểu được vấn đề theo cách tiếp cận riêng của từng người

3 ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU BỘ NÃO TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH KINH DOANH

Học là một quá trình thay đổi hành vi thông qua trải nghiệm Người Thầy nói chung và người giảng viên ngoại ngữ nói riêng cần có những kiến thức cơ bản về cách hoạt động của bộ não để từ đó thiết kế bài giảng nhằm tận dụng được tối ưu thế mạnh của bộ não trong việc học ngoại ngữ Giảng dạy tiếng Anh kinh doanh cho sinh viên hiện nay gặp khá nhiều khó khăn do từ vựng kinh tế kinh doanh nhiều, xa lạ với sinh viên, các hoạt động trong sách khá khó đối với những người thiếu thực

tế kinh doanh như sinh viên Dưới đây là một số gợi ý hoạt động ứng dụng nghiên cứu bộ não trong việc giảng dạy tiếng Anh kinh doanh xuất phát từ kinh nghiệm giảng dạy giáo trình Market Leader

3.1 Ứng dụng thuyết song não trong dạy học tiếng Anh kinh doanh

Như đã đề cập ở trên, bán cầu não trái của con người có chức năng hỗ trợ tư duy lôgic, phân tích,

lý giải, ghi nhớ, sắp xếp, tính toán Bán cầu não phải gắn liền với khả năng sáng tạo, tưởng tượng, trực cảm cao Thực tế hiện nay, 90% các môn học tại trường phổ thông đòi hỏi học sinh sử dụng bán cầu não trái nhiều Các công thức toán phức tạp, các hằng số trong toán học, các giờ học môn văn, phân tích nhân vật, tác phẩm đã chiếm phần

Trang 5

lớn thời gian học tập của học sinh trên lớp khiến

nhiều khi học sinh có cảm giác đây là những môn

học chính, chủ yếu và nếu học không giỏi những

môn học này thì sẽ trở thành học sinh yếu kém

Bên cạnh đó cách thiết kế bài giảng, phương pháp

giảng của giảng viên không chỉ môn toán trên

lớp mà hầu hết các môn học khác trong chương

trình học chính khóa chỉ tập trung vào việc tính

toán, nhớ công thức, học thuộc lòng thông tin, nhớ

đoạn văn mẫu đã vô hình chung đẩy những học

sinh có trí tuệ phát triển mạnh về bán cầu não phải

cảm thấy khó khăn, hạn chế trong việc tiếp thu

kiến thức khi các em được dạy bằng phương pháp

này Dần dần, các em có kết quả môn toán thấp

sẽ dễ bị dán những cái mác “Tiếp thu bài chậm”

hoặc “Kém thông minh vì điểm Toán thấp” của

bạn bè, của thầy cô và thậm chí chính bản thân

các em cũng suy nghĩ như vậy Nhiều sinh viên

không chuyên ngữ vẫn quen nếp cũ tại các trường

phổ thông nên có quan niệm cho rằng một người

giỏi nghĩa là phải học giỏi các môn chuyên ngành,

trong khi ngoại ngữ lại là rào cản để họ hiểu môn

chuyên ngành và từ đó họ sợ học ngoại ngữ, và họ

cho rằng họ toàn toàn “không có năng khiếu” học

ngoại ngữ Từ thực tế trên, các thầy cô trên lớp cần

thay đổi tư duy, cách tiếp cận tới quá trình học tập

của sinh viên không chuyên ngữ để giúp các em

tận dụng cả hai bán cầu não trong quá trình học tập

và vận dụng vào quá trình học ngoại ngữ, giúp cho

việc học ngoại ngữ không phải là “nỗi ám ảnh”

cho sinh viên không chuyên ngữ

Dưới đây là gợi ý một số hoạt động thay đổi

phương pháp giảng dạy tiếng Anh thương mại

giúp thúc đẩy sự phát triển của cả hai bán cầu

não, giúp cho người học phát triển khả năng tư

duy lôgic nhưng cũng không thiếu khả năng tưởng

tượng và sự sắc bén trong quá trình sản sinh ngôn

ngữ Những hoạt động này được áp dụng trong lớp

học tiếng Anh thương mại cho sinh viên ở trình độ

tiền trung cấp và trung cấp

Hoạt động trong quá trình giải thích từ vựng

(Pre-teaching): Giải thích từ vựng thông thường

là bước thứ nhất trong quá trình dạy tiếng Anh

Ở giai đoạn này, giảng viên có thể dạy từ vựng thông qua hình ảnh thực (đồ vật, hoặc hình vẽ trên bảng) để giúp người học nâng cao sức mạnh của

sự hình dung (bán cầu não phải) Lối tư duy này

sẽ giúp tạo kết nối giữa hai bán cầu não, đồng thời gia tăng liên kết nơron trong não, giúp người học ghi nhớ tốt hơn, gắn hình ảnh với vỏ bọc ngôn ngữ và lưu giữ nó lâu hơn Ở trình độ tiền trung cấp, giáo trình Market Leader sử dụng nhiều từ vựng ở cấp độ khó và nhiều chuỗi từ dài, việc đưa các từ mới vào một câu chuyện lôgic là một gợi

ý hay giúp sinh viên nhớ từ mới dễ hơn Ví dụ

ở bài 9 (Raising Finance), để dạy học trò từ mới liên quan tới việc gây tài chính, người Thầy có thể xâu chuỗi câu chuyện thực tế một người ở Hà nội cần mở một shop quần áo, anh ta phải dùng tới tiền đã tích lũy (speculate), gom góp (accumulate) lâu nay Nhưng số tiền đó vẫn thiếu, anh ta phải vay ở ngân hàng bằng một khoản bằng hối phiếu thế chấp (collateral/ security for a loan) và để vay khoản lớn hơn, anh ta sẽ còn phải thế chấp một khoản (mortgage) nữa Nếu anh ta làm không tốt thì sẽ dễ dẫn tới phá sản (face bankruptcy)… Bằng việc tạo ra một câu chuyện tương đối có ý nghĩa

và gần gũi, cụ thể, giảng viên sẽ giúp sinh viên gắn các từ mới với một hình ảnh sống động 3D, từ đó ghi nhớ các từ vựng lâu và dễ hơn thay vì chỉ học vẹt các con chữ và nghĩa của chúng Nghĩa là cả hai bán cầu não được huy động sử dụng trong quá trình học từ vựng

Hoạt động trong quá trình giảng dạy nội dung chính trong bài (While teaching process): Giảng viên có thể cho sinh viên đọc/ nghe một tài liệu (sử dụng bán cầu não trái) và gạch chân những con

số, những sự kiện quan trọng Giảng viên yêu cầu sinh viên vẽ lại sơ đồ nội dung theo một số cấu trúc nhất định (sử dụng bán cầu não phải) như cấu trúc nguyên nhân- kết quả; diễn biến sự kiện từ lúc bắt đầu- kết thúc; cấu trúc vấn đề- giải pháp; cấu trúc diễn biến- hậu quả Nhờ cách kết hợp hai bán cầu não này vào quá trình học, sinh viên sẽ phát huy được tư duy liên kết chuỗi sự kiện, hình dung diễn tiến của cả quá trình từ đầu tới hiện tại và thậm

Trang 6

chí tới cả tương lai xa Tất cả có thể diễn ra như

những thước phim 3D quay chậm trong não của

sinh viên Học cách này học sinh sẽ có thể nhớ các

chi tiết trong bài nghe/đọc lâu hơn, và còn kết hợp

đưa ra những chính kiến của mình liên quan tới các

nội dung trong bài thay vì chỉ học vẹt, nhớ thuộc

lòng và nhanh chóng quên đi sau một khoảng thời

gian ngắn Sơ đồ tư duy là một công cụ hữu hiệu

trong quá trình này để giúp sinh viên cụ thể hóa

hình ảnh nội dung trong bài đọc/nghe tiếng Anh

Ví dụ, với bài 4 (Organization) trong cuốn Market

Leader (Intermediate), giảng viên yêu cầu sinh

viên đọc bài viết về công ty Google và dựng lại

cấu trúc công ty Google cũng như chức năng của

các bộ phận trong công ty, từ đó phân tích vai trò

của bộ phận quan trọng nhất tạo nên sự thành công

của công ty

Cũng với bài đọc này, sinh viên sẽ được giảng

viên phân công mình phụ trách một bộ phận trong

công ty, và sinh viên phải nêu bật được cấu trúc,

chức năng của bộ phận trong công ty mình phụ

trách Bằng cách này, người học sẽ làm quen

với việc liên kết các hình ảnh lại với nhau nhằm

tăng tính lôgic, khả năng sáng tạo Thực hành và

rèn luyện cách này thường xuyên sẽ giúp người

học tăng cường khả năng tư duy một cách hệ thống

và chặt chẽ hơn và cả hai bán cầu não đều tham gia

vào quá trình học sẽ giúp cho việc học diễn ra dễ

dàng, hiệu quả hơn

Gợi ý hoạt động trong quá trình sau khi giảng

nội dung chính trong chương trình (Post teaching

process): Đây là giai đoạn giúp người học phóng

thích tư duy trí tưởng tượng của mình nhiều nhất

để giúp cho quá trình ghi nhớ nội dung bài giảng

hiệu quả hơn Giảng viên có thể cho sinh viên của

mình tưởng tượng về kết cục tương lai xuất phát

từ thực tế hiện tại sinh viên ghi nhận được từ nội

dung vừa học Như đã đề cập ở trên, chính việc sử

dụng cả hai bán cầu não sẽ giúp quá trình tương tác

của hai bán cầu não nhanh, mạnh hơn và giúp quá

trình học tập hiệu quả hơn Nói cách khác, người

học có thể sử dụng não phải để khơi gợi phát triển

ý tưởng, và đồng thời hợp lý hóa các ý tưởng bằng

toán học, tư duy lôgic Trí tưởng tượng mạnh mẽ

giúp người học tạo ra dấu ấn từ những gì mình học, từ đó hình thành khả năng ghi nhớ sâu và lâu hơn Ví dụ, vẫn với bài số 4 (Organization- Market Leader- Intermediate), giảng viên có thể đưa ra những gợi ý dạng như “Nếu tôi phụ trách một bộ phận trong tập đoàn Google…”, hoặc cũng có thể đưa ra những ý tưởng lạ như “Hãy tạo ra một công

ty kỳ dị, bán những sản phẩm kỳ lạ mà bạn mong muốn”, hay đơn giản chỉ những gợi ý như “Nếu hôm nay tôi được nhận vào công ty Google làm thì tôi sẽ…” và yêu cầu sinh viên viết ra những tưởng tượng hoặc những kế hoạch trong tương lai Bằng cách này, người học chắc chắn sẽ được khuyến khích tưởng tượng và liên kết những gì liên quan đến cuộc sống xung quanh với nội dung vừa học Điều này giúp quá trình học trở nên sống động hơn

Sau khi viết, giảng viên có thể tạo cơ hội cho sinh viên trình bày những ý tưởng của mình viết

ra trước lớp Quá trình này sẽ thúc đẩy khả năng làm chủ của người học trước đám đông thông qua

kỹ năng thuyết trình, làm việc nhóm Đây là bước giúp người học chuyển thể những gì đã học/đã viết trở nên cụ thể và rõ ràng hơn bằng những diễn đạt kết hợp đồng bộ bởi ngôn ngữ hình thể, âm điệu và ngôn từ Từ đó kiến thức sẽ được đưa vào sâu hơn trong não các em, giúp tăng cường khả năng phản

xạ và giao tiếp tiếng Anh một cách tự nhiên

3.2 Ứng dụng lý thuyết về trí tuệ xúc cảm của não bộ trong việc dạy tiếng Anh kinh doanh

Theo lý thuyết về trí tuệ xúc cảm, cảm xúc của người học có ảnh hưởng lớn tới quá trình học, đặc biệt là tới trí nhớ của người học Chính vì lý do này, trong quá trình giảng dạy, người thầy cần có những hoạt động, động thái nhằm tạo nên những cảm xúc tích cực cho người học và giúp họ có trí nhớ tốt nhất trong quá trình học tập Giảng viên tiếng Anh không nên ép buộc hoặc áp đặt người học trong quá trình giảng dạy mà nên gợi mở, hướng dẫn

họ làm chủ quá trình học của mình Ví dụ, người giảng viên có thể yêu cầu về số lượng thành viên của nhóm, nêu yêu cầu công việc cho nhóm và để sinh viên chủ động chọn thành viên trong nhóm

Trang 7

mình cũng như quyết định nội dung cần phát triển

Điều này giúp tạo nên một môi trường học tiếng

Anh an toàn - làm việc cùng những người mình

yêu mến, được nhận góp ý từ những người bạn

của mình và cũng giúp tạo sự thoải mái cho người

học khi họ được chủ động ra quyết định nội dung

mà họ chọn lựa Tất cả những điều này sẽ giúp

cho quá trình học ngoại ngữ diễn ra hiệu quả hơn

3.3 Ứng dụng thuyết tính mềm dẻo của não

bộ trong việc dạy tiếng Anh kinh doanh

Môi trường cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới

chỉ số thông minh IQ của con người Theo các

nghiên cứu (Gordon Dryden & Jeannette Vos,

2001; Eric Jensen, 2005), môi trường xung quanh

con người quyết định tới 60-70% sự phát triển của

hệ thống nơ-ron thần kinh của não bộ Có được

điều này bởi bộ não của con người có tính mềm

dẻo Thậm chí nhờ tính mềm dẻo này, trong thực

tế, nhiều khi có một phần của não bị tổn thương,

các phần khỏe mạnh khác của não có thể đảm trách

luôn các chức năng của phần tổn thương đó và các

khả năng này có thể được khôi phục lại Như đã

đề cập ở trên, não bộ có tính mềm dẻo - nghĩa là

não bộ có khả năng xử lý các kích thích, thông tin

từ bên ngoài và mở rộng các kết nối Quá trình

tạo và mở rộng các liên kết đó sẽ giúp cho não bộ

phát triển quá trình xử lý thông tin hiệu quả hơn

và nhanh chóng hơn Nếu một người sống trong

môi trường phong phú, thuận lợi cho quá trình học

tập thì người đó sẽ biết cách xử lý các tình huống

nhanh hơn, nhưng ngược lại một người thứ hai

sống trong môi trường nhàm chán, đơn điệu thì họ

khó có những kỹ năng xử lý tình huống như người

thứ nhất - hay nói cách khác, não bộ của người thứ

hai có tính mềm dẻo kém hơn người thứ nhất

Khám phá về tính mềm dẻo của não bộ sẽ mang

lại nhiều lợi ích trong giáo dục Mặc dù người ta

đã từng tin rằng, não bộ trở nên ổn định sau một

độ tuổi nhất định, nhưng các nghiên cứu mới đây

tiết lộ rằng, não bộ không bao giờ ngừng thay đổi

do sự tác động của quá trình học tập Một bộ não

“linh hoạt” phát triển mạnh trong môi trường giáo

dục tối ưu, nhưng ngược lại những sinh viên có

khả năng tốt do các giảng viên kém dạy lại thường

bị giảm tốc độ phát triển Học là một quá trình thay đổi hành vi thông qua trải nghiệm, do đó, người học nên được tạo cơ hội để có thể trải nghiệm Trong giảng dạy tiếng Anh, các hoạt động nhóm, case study, đóng vai, làm dự án,… là những hoạt động giúp người học “sống” trong khung cảnh mới, thỏa thích tưởng tượng ra những gì khác với thực tế và diễn đạt chúng bằng tiếng Anh, từ đó phát triển não bộ một cách tốt hơn

Theo lý thuyết cấu trúc bộ não, Eric Jensen (2005) giải thích, trong quá trình phát triển, não bộ không ngừng phải xử lý các thông tin, tạo nên các kết nối, nhờ đó, một số kết nối được củng cố trong khi một số khác bị loại bỏ đi Quá trình này được biết đến với tên gọi “cắt tỉa” bớt xi-náp (cơ quan thụ cảm trong nơ-ron thần kinh não) Các nơ-ron được sử dụng thường xuyên sẽ phát triển kết nối mạnh mẽ hơn các nơ-ron hiếm hoặc không được

sử dụng thực sự Bằng cách phát triển những liên kết mới và “cắt tỉa” những nơ-ron yếu hơn, não

bộ có thể thích nghi với môi trường không ngừng thay đổi Mỗi kinh nghiệm phong phú mà người học trải qua đều do các tế bào thần kinh gây ra để chuyển thông tin đến tế bào thần kinh khác thông qua một xung điện Nếu giảng viên tạo nên một môi trường mới thì sẽ tạo sự tò mò, kích thích cho người học Sự kích thích sẽ được truyền từ tế bào thần kinh này đến tế bào thần kinh khác, chúng tạo ra các phần kéo dài ra giống như nhánh cây được gọi là đuôi gai (sợi nhánh) Khi não nhận được thông tin mới, các sợi nhánh phát triển ra bên ngoài từ các tế bào cơ thể, tìm kiếm các sợi nhánh cây khác Chúng hình thành một kết nối đến sợi nhánh khác bằng cách kéo dài mỏng hơn Khi không được kết nối, chúng ta chỉ có các nơ-ron thần kinh nghèo nàn Số lượng và chất lượng kinh nghiệm mà người học trải qua có sự liên kết trực tiếp đến sự phát triển của sợi nhánh, sợi trục thần kinh, vì vậy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng của họ trong tương lai

Dưới đây là một số gợi ý hoạt động giảng dạy ngoại ngữ (lấy ví dụ từ việc giảng dạy giáo trình

“Market Leader”- Intermediate) giúp ứng dụng

Trang 8

tính mềm dẻo của bộ não và hỗ trợ quá trình học

tiếng Anh hiệu quả hơn Những hoạt động này

được áp dụng trong lớp học tiếng Anh thương mại

cho sinh viên ở trình độ trung cấp

Bảng 3 Một số hoạt động ứng dụng tính mềm

dẻo của não bộ trong việc dạy tiếng Anh kinh

doanh

STT Tên bài Hoạt động ứng dụng tính mềm dẻo của

não bộ

Phân tích lợi ích

1 Brands Giảng viên đưa cho sinh

viên tên một nước (ví

dụ Mỹ, Đức, Anh), sinh viên trình bày ý tưởng về một nhãn mác sản phẩm

có thể bán chạy trên thị trường nước đó Sinh viên phải đưa ra 05 lý

do thuyết phục cho sự lựa chọn của mình

Môi trường lạ, sản phẩm quen, sinh viên sẽ kết hợp những kiến thức đã học trong bài để đưa ra thiết kế nhãn hiệu sản phẩm phù hợp

2 Travel Giảng viên đưa cho mỗi

nhóm (3 sinh viên) một tờ thông tin về một công ty

du lịch với các dịch vụ của

họ Sinh viên đóng vai là nhân viên của công ty du lịch, giới thiệu về công ty

du lịch đó Một sinh viên khác đóng vai là khách hàng, đưa ra những lý do không lựa chọn công ty

du lịch này Sinh viên thứ

ba chứng kiến cuộc nói chuyện và phân tích.

Sinh viên đóng vai người khác

- có trải nghiệm mới nên sẽ nghiên cứu “vai diễn” của mình

để có những lập luận phù hợp.

3 Change Giảng viên cung cấp cho

mỗi nhóm sinh viên các thông tin về một công ty kèm theo là liệt kê 5 thay đổi trên thị trường liên quan tới lĩnh vực mà công

ty đó đang hoạt động

Sinh viên thảo luận trong nhóm và đưa ra những quyết định thay đổi trong công ty nhằm phù hợp với

05 thay đổi trên thị trường

Sau thời gian thảo luận, các nhóm trình bày trước lớp để giảng viên và các nhóm còn lại đánh giá.

Sinh viên làm việc trong môi trường mới (1 công ty cụ thể và

5 thay đổi của thị trường) Sinh viên

có cơ hội làm việc nhóm, đưa

ra những lập luận

và những phản ứng trước những thay đổi trên thị trường.

4 Advertising Giảng viên cung cấp

cho sinh viên những loại hình quảng cáo và những đoạn quảng cáo Sinh viên đóng vai là nhóm lãnh đạo để lựa chọn ra loại hình quảng cáo và đoạn quảng cáo phù hợp với sản phẩm của công ty.

Sinh viên “vào vai” những người khác và làm việc theo nhóm nên

sẽ có những trải nghiệm mới.

5 Money Mỗi nhóm sinh viên cử

một đại diện lên tham gia hoạt động “đầu tư khôn ngoan” Mỗi sinh viên cùng hoạt động trong một công ty, và được cung cấp một số tiền (tượng trưng) như nhau Giảng viên đưa lần lượt ra những sản phẩm/hạng mục đầu

tư với mức tiền ghi rõ Sinh viên sẽ ra quyết định đầu

tư hay không đầu tư và phải đưa ra lý giải phù hợp Cuối buổi các kết quả đầu tư sẽ được so sánh và xem đội nào đầu

tư hiệu quả

Sinh viên hoạt động trong cùng một công ty/môi trường mới Sinh viên phải đưa ra những quyết định đầu tư nhanh nên

sẽ rèn luyện được phản xạ nhanh.

6 Cultures Sinh viên làm việc theo

nhóm Các nhóm được giao cùng một loại sản phẩm nhưng tiến hành quảng cáo/bán tại các nước khác nhau (bốc thăm tên nước) Sinh viên

lý giải những thay đổi về mẫu mã sản phẩm, cách thức tiếp cận bán hàng tại nước được bốc thăm.

Sinh viên được

“bán hàng” tại một nước cụ thể Môi trường mới

sẽ khiến sinh viên phải thảo luận

để cho ra những thay đổi cho sản phẩm của mình phù hợp hơn.

(Nguồn: Gợi ý của tác giả)

3.4 Ứng dụng thuyết đa trí tuệ của bộ não trong việc dạy tiếng Anh kinh doanh

Thông qua lý thuyết đa thông minh, người giảng viên cần lấy người học làm trung tâm Phương pháp giảng dạy phải tạo nên thế mạnh để lĩnh vực thông minh của người học được phát huy tác dụng, giúp cho họ cảm thấy hứng thú, tự tin khi học tập Không nên đánh giá trí thông minh của một người chỉ thông qua một tiêu chí của người khác Ví dụ, một sinh viên không thể tiếp thu bài học bằng các hình vẽ tưởng tượng của giảng viên trên bảng thì đừng vội kết luận sinh viên đó kém thông minh, bởi có thể sinh viên đó có trí thông minh về âm nhạc, họ có thể học tiếng Anh qua nhịp gõ của thước chứ không phải qua hình ảnh trên bảng Người giảng viên cần nắm rõ, sinh viên

có thể học tiếng Anh bằng cách vẽ hình, vẽ sơ đồ

tư duy, nhảy theo điệu nhạc, viết blog, viết công thức và nhiều cách khác nhau Do đó, một người

có trí tuệ thiên về nhịp điệu âm nhạc thì hãy để

họ tạo nên những âm tiết, tiết tấu hoặc một bài hát có vần trong quá trình học ngoại ngữ và điều

Trang 9

này khiến họ ghi nhớ dễ hơn, môn học cũng trở

nên niềm vui và không trở thành áp lực cho họ

khi học Trong khi một người khác phát triển trí

thông minh toán, lôgic thì việc học tiếng Anh nên

nghiêng về việc tạo ra các quy tắc, các công thức

thì sẽ khiến họ dễ nhớ hơn

Bên cạnh đó, chương trình giảng dạy có thể

được tạo ra bằng cách tích hợp với các hoạt động

dựa trên nhiều kiến thức theo cách phát triển các

lĩnh vực thông minh khác nhau cho mỗi người học;

từ đó, người học sẽ khám phá những cách tốt nhất

để họ có thể lĩnh hội được thông tin theo cách của

riêng mình Muốn thành công, người giảng viên

cần hiểu rõ sinh viên của mình và có sự chuẩn bị

thật kỹ lưỡng các hoạt động cho từng người mới

mong đem lại hiệu quả cao Giảng viên cần coi

trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi sinh viên, phải hiểu

rằng, mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi sinh

viên đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh

hướng khác nhau Do đó, giảng viên cần giúp đỡ,

khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các

hướng khác nhau phù hợp với từng người học

Dưới đây là một số gợi ý hoạt động được sử

dụng trong quá trình giảng dạy tiếng Anh từ cuốn

giáo trình Market leader - Intermediate dựa trên

thuyết đa trí tuệ Những hoạt động này được áp

dụng trong lớp học tiếng Anh thương mại cho sinh

viên ở trình độ trung cấp

Bảng 4: Một số hoạt động ứng dụng tính đa

trí tuệ của não bộ trong giảng dạy tiếng Anh kinh

doanh

STT Tên bài Hoạt động ứng dụng thuyết đa trí tuệ của

não bộ

Cách tổ chức hoạt động nhằm ứng dụng thuyết đa trí tuệ của não bộ

1 Brands Giảng viên đưa cho sinh

viên tên một nước, sinh viên trình bày ý tưởng về một nhãn mác sản phẩm

có thể bán chạy trên thị trường nước đó Sinh viên phải đưa ra 05 lý do thuyết phục cho sự lựa chọn của mình

Giảng viên gợi mở có nhóm có thể sử dụng hình ảnh minh họa,

có nhóm có thể sử dụng phương pháp trình bày bằng lời nói thuyết giải ý tưởng của nhóm mình

2 Travel Giảng viên đưa cho mỗi

nhóm (3 sinh viên) một tờ thông tin về 1 công ty du lịch với các dịch vụ của

họ Sinh viên đóng vai

là nhân viên của công ty

du lịch, giới thiệu về công

ty du lịch Một sinh viên khác đóng vai là khách hàng, đưa ra những lý

do không lựa chọn công

ty Sinh viên thứ 3 chứng kiến và phân tích.

Sinh viên được chủ động trong việc đưa

ra cách giới thiệu về công ty, và trong việc đưa ra lý giải cho sự

từ chối của mình Có sinh viên có thể dùng hình ảnh, dùng hình thể, dùng âm nhạc…

3 Change Giảng viên cung cấp cho

mỗi nhóm sinh viên các thông tin về 1 công ty kèm theo là liệt kê 5 thay đổi trên thị trường liên quan tới lĩnh vực mà công

ty đó đang hoạt động

Sinh viên thảo luận trong nhóm và đưa ra những quyết định thay đổi trong công ty nhằm phù hợp với 05 thay đổi trên thị trường Sau thời gian thảo luận, các nhóm trình bày trước lớp để giảng viên và các nhóm còn lại đánh giá.

Trong quá trình làm nhóm, nhóm trưởng

sẽ giao nhiệm vụ cho từng thành viên dựa vào khả năng của từng người Có thành viên sẽ chuẩn bị hình ảnh, vẽ minh họa, có thành viên sẽ phân tích thông tin được cung cấp, có thành viên sẽ lập luận và thuyết phục.

4 Advertising Giảng viên cung cấp

cho sinh viên những loại hình quảng cáo và những đoạn quảng cáo Sinh viên đóng vai là nhóm lãnh đạo để lựa chọn

ra loại hình quảng cáo

và đoạn quảng cáo phù hợp với sản phẩm của công ty.

Sinh viên sẽ nghiêm vào nhận xét các khía cạnh cụ thể mà mình quan tâm và đưa ra gợi ý để đoạn quảng cáo được tốt hơn: Ví dụ về âm nhạc, về màu sắc, về nội dung của đoạn quảng cáo.

5 Money Mỗi nhóm sinh viên cử

01 đại diện lên tham gia hoạt động “đầu tư khôn ngoan” Mỗi sinh viên cùng hoạt động trong 1 công ty, và được cung cấp một số tiền (tượng trưng) như nhau Giảng viên đưa lần lượt ra những sản phẩm/ hạng mục đầu tư với mức tiền ghi rõ Sinh viên sẽ ra quyết định đầu tư hay không đầu tư và phải đưa

ra lý giải phù hợp Cuối buổi các kết quả đầu tư

sẽ được so sánh và xem đội nào đầu tư hiệu quả

Mỗi thành viên trong nhóm sẽ được giao

1 nhiệm vụ cụ thể

để người đội trưởng chọn lựa nhanh nhất

Ví dụ có thành viên

sẽ tập trung vào việc tính toán tiền đầu tư,

có thành viên sẽ tập trung vào hiệu quả của sản phẩm trong tương lai, có thành viên sẽ tập trung vào việc đưa ra quyết định nhanh cho cả nhóm.

Trang 10

6 Cultures Sinh viên làm việc theo

nhóm Các nhóm được giao cùng một loại sản phẩm nhưng tiến hành quảng cáo/bán tại các nước khác nhau (bốc thăm tên nước) Sinh viên

lý giải những thay đổi về mẫu mã sản phẩm, cách thức tiếp cận bán hàng tại nước được bốc thăm.

Mỗi thành viên trong nhóm sẽ phụ trách các khâu trong quảng cáo khác nhau: có thành viên

sẽ tập trung vào câu chữ trong quảng cáo,

có thành viên tập trung vào chọn nhạc,

có thành viên tập trung vào việc phân tích các yếu tố văn hóa để làm nổi bật đoạn quảng cáo.

(Nguồn: Gợi ý của tác giả)

Trong quá trình giảng dạy, để ứng dụng được

thuyết đa trí tuệ, người giảng viên cần chú ý những

điểm sau:

Phương pháp giảng dạy: Thuyết đa trí tuệ gợi

ý cho giảng viên nên lựa chọn các phương pháp

giảng dạy phù hợp cho từng sinh viên Cho sinh

viên lựa chọn nhóm theo sở thích phù hợp với

phong cách học của mình, và tự lựa chọn phương

pháp học tập phù hợp với nhóm của mình chính là

cách thức hỗ trợ sinh viên học tiếng Anh hiệu quả

nhất Với mỗi bài tập nhóm, giảng viên chỉ nên

đưa ra gợi ý tổng thể và để sinh viên chủ động lựa

chọn cách tiếp cận cụ thể dựa trên thế mạnh của

bản thân, tránh áp đặt cho các em

Cách đánh giá: Vận dụng thuyết đa trí tuệ

trong dạy học, giảng viên cần đổi mới cách nhìn

nhận, đánh giá sinh viên, tránh việc sử dụng tiêu

chí đánh giá người học có trí thông minh ngôn ngữ

để áp đặt đánh giá người học có trí tuệ âm nhạc,

hay trí tuệ toán, lôgic để “dán mác” kém ngoại ngữ

cho bất kể sinh viên nào Việc làm này dễ tạo nên

sự tự ti trong sinh viên Cũng cần tránh áp lực điểm

số trong sinh viên Người thầy cũng nên đánh giá

sinh viên của mình qua quá trình phấn đấu của họ

chứ không nên chỉ dựa vào điểm số cuối kỳ

4 KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu về cấu trúc não bộ, chúng ta

thấy được sự hữu ích trong việc hiểu các thông tin

về não bộ trong việc áp dụng nó trong quá trình

giảng dạy, giảng dạy ngoại ngữ nói chung và giảng

dạy tiếng Anh kinh doanh nói riêng Người giảng

viên trong quá trình giảng dạy không cần phải trở

thành một nhà thần kinh học hoặc ghi nhớ 100 nơ-ron truyền thần kinh và 50 vùng não có tác động tới nhận thức, mà họ cần có những kiến thức cơ bản về 4 đặc điểm nổi trội của não bộ đã được đề cập: sự hỗ trợ của cả hai bán cầu não, tính mềm dẻo, trí tuệ cảm xúc, và thuyết đa trí tuệ của não

bộ để hỗ trợ quá trình giảng dạy ngoại ngữ tốt hơn Eric Jensen (2005) coi việc học là điều mà não

bộ làm tốt nhất Ông cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc sử dụng mọi khu vực của não

bộ từ thị giác, thính giác đến khu vực điều khiển ngôn ngữ trong quá trình học tập Các tế bào của hai bán cầu não chịu trách nhiệm xử lý thông tin

và chuyển đổi tín hiệu điện hóa học và qua lại trên

tế bào thần kinh Mỗi kinh nghiệm phong phú mà người học được trải nghiệm thông qua bài giảng, thông qua tình huống, thông qua bức tranh, câu chuyện của người giảng viên đều do các tế bào thần kinh gây ra để chuyển thông tin đến tế bào thần kinh khác thông qua một xung điện Những xung điện này làm cho quá trình học tập trở nên hứng thú, đa dạng và hiệu quả Khả năng não bộ tái kết nối, tái sắp xếp qua hệ thần kinh của cả hai bán cầu não là rất rõ ràng Giảng viên ngoại ngữ

có thể tác động tới quá trình này qua quá trình xây dựng kỹ năng, và kỹ năng suy nghĩ giải quyết vấn

đề thông qua phương pháp dạy, các tình huống, giao vai diễn trên lớp cho sinh viên

Bộ não của con người có tính mềm dẻo và không ngừng phát triển khi các nơ-ron thần kinh được kết nối trong quá trình học tập Chính vì vậy, người giảng viên cần tạo ra một môi trường học ngoại ngữ phong phú với những tình huống, khung cảnh khác nhau, lạ, các vai diễn không quen thuộc

để sinh viên có thể vận dụng những kiến thức đã học, xây dựng thành những kỹ năng mới, có những trải nghiệm mới giúp họ sau này Học ngoại ngữ cũng giống như quá trình học lái xe, nếu các tình huống giao thông được người học tập luyện, kinh qua thường xuyên thì trong thực tế họ sẽ không thấy khó khi xử lý các tình huống giao thông đó trên đường Nếu người giảng viên tạo ra cho sinh viên những tình huống, những văn cảnh để họ sử dụng kiến thức ngôn ngữ đã học thì khả năng phản

xạ và kiến thức ngôn ngữ đã học sẽ trở nên sống

Ngày đăng: 10/01/2020, 07:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w