1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế: Nghiên cứu phát triển sản xuất dâu tằm bền vững tại tỉnh Thái Bình

27 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 481,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án được nghiên cứu với mục tiêu nhằm hệ thống hóa và làm rõ được các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất dâu tằm bền vững. Đánh giá thực trạng phát triển, tính bền vững, chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất dâu tằm bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ HỒNG VÂN

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT DÂU TẰM BỀN VỮNG TẠI TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

Công trình hoàn thành tại:

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn: 1 TS NGUYỄN TẤT THẮNG

2 PGS.TS TRẦN HỮU CƯỜNG

Phản biện 1: GS TS Hoàng Ngọc Việt

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Phản biện 2: PGS TS Phạm Bảo Dương

Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Phản biện 3: PGS TS Trần Quang Huy

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2018

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện Lương Định Của, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trang 3

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trồng dâu, nuôi tằm là một nghề truyền thống đã đi cùng với đất nước trong suốt chiều dài lịch sử và gắn liền với người nông dân Việt nam, nhất là ở vùng Đồng bằng sông Hồng Sản xuất dâu tằm có bộ mặt hoàn toàn khác biệt với các hoạt động nông nghiệp khác Nó vừa mang đặc điểm của trồng trọt vừa có đặc điểm của chăn nuôi, vừa kết hợp với công nghiệp chế biến Trải qua hàng ngàn năm sản xuất dâu tằm có ý nghĩa xã hội rất sâu sắc và mang đậm tính nhân văn

Thái Bình là một tỉnh đồng bằng, địa hình bằng phẳng Điều kiện tự nhiên, xã hội tương đối thuận lợi cho sản xuất dâu tằm Hiện nay, Thái Bình có tổng diện tích dâu là 406,5 ha Sản xuất dâu tằm đem lại việc làm, thu nhập cho 2.905 hộ dân Năm

2015, Thái Bình sản xuất được 857 tấn kén; năng suất kén tằm đạt 2.108 kg/ha dâu, giá trị sản xuất dâu tằm đạt 81,84 tỷ đồng Sản xuất dâu tằm đã khai thác tốt tiềm năng sẵn có của địa phương và góp phần phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh

Tuy nhiên, sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình luôn biến động và phát triển không bền vững Thời kỳ phong kiến, với 2.000ha dâu, sản phẩm của nghề đã đáp ứng hầu như toàn bộ nhu cầu mặc từ áo the, quần đũi cho đến gấm vóc lụa là Giai đoạn Pháp thuộc, dâu tằm sa sút nhanh chóng, có lúc chỉ còn 650ha Sau 1954, sản xuất phát triển nhanh, diện tích dâu đạt gần 1.500ha Từ năm 1985, dâu tằm lại giảm dần Trong 10 năm gần đây, diện tích dâu đã giảm tới 65,1%

Mặc dù là nghề truyền thống nhưng sản xuất dâu tằm như bị quên lãng và gặp phải nhiều khó khăn như: sản xuất nhỏ lẻ cả về quy mô diện tích, đầu tư cơ sở vật chất cũng như trang bị kỹ thuật Xu thế công nghiệp hóa và hiện đại hóa ngày càng mạnh mẽ nhưng sản xuất dâu tằm vẫn nặng tính thủ công và được thực hiện hoàn toàn tại các nông

hộ theo kiểu mạnh ai nấy làm Việc mở rộng quy mô hoặc liên kết giữa các hộ để sử dụng hiệu quả hơn các yếu tố sản xuất gặp rất nhiều trở ngại Vì vậy, sản xuất kém phát triển và thiếu bền vững, rất cần quan tâm nghiên cứu

Từ trước đến nay đã có một số nghiên cứu về sản xuất dâu tằm nhưng mới chỉ tập trung làm rõ những vấn đề cụ thể về sản xuất, về các biện pháp kỹ thuật, hay chỉ đánh giá về kết quả, hiệu quả kinh tế mà chưa có nghiên cứu nào đi sâu về phát triển sản xuất, để thấy được thuận lợi, khó khăn, giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất dâu tằm bền vững và từng bước khắc phục tình trạng kém phát triển, thiếu bền vững

mà Thái Bình lâu nay chưa giải quyết được

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng phát triển, mức độ bền vững sản xuất dâu tằm trên địa bàn tỉnh Thái Bình, phân tích các yếu tố ảnh hưởng Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất dâu tằm bền vững tại tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

Trang 4

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất dâu tằm bền vững tại tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

1) Khái niệm, vị trí vai trò, đặc điểm, nội dung và các tiêu chí đánh giá phát triển sản xuất dâu tằm bền vững là gì?

2) Những bài học kinh nghiệm nào từ thực tiễn trong và ngoài nước có thể áp dụng cho tỉnh Thái Bình?

3) Thực trạng phát triển sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình như thế nào? mức độ bền vững ra sao? Còn tồn tại những hạn chế, bất cập gì?

4) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển sản xuất dâu tằm bền vững và ảnh hưởng như thế nào trên địa bàn tỉnh?

5) Cần có những giải pháp nào nhằm phát triển sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững trong thời gian tới?

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất dâu tằm bền vững trên địa bàn tỉnh, được cụ thể hóa ở các đối tượng khảo sát là các hộ nông dân, các tổ chức kinh tế xã hội và các cơ chế chính sách

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng phát triển, tính bền vững; đánh giá kết quả

đạt được, tồn tại hạn chế; phân tích các yếu tố ảnh hưởng; xác định mục tiêu, định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất dâu tằm bền vững trên địa bàn nghiên cứu Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi trồng dâu nuôi tằm sản xuất kén

Về không gian: Nghiên cứu phát triển sản xuất dâu tằm bền vững trên địa bàn

tỉnh Thái Bình Cụ thể là thực hiện trên phạm vi 5 huyện đang trồng dâu nuôi tằm của tỉnh Thái Bình là Vũ Thư, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng và Tiền Hải

Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng

phát triển sản xuất dâu tằm đến năm 2015 Xác định mục tiêu, đề xuất các giải pháp phát triển bền vững đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 Số liệu về tình hình phát triển sản xuất dâu tằm qua 10 năm từ 2006 đến 2015 Số liệu điều tra được tiến hành trong thời gian gần nhất (năm 2015)

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Về lý luận: Đã làm rõ phát triển sản xuất dâu tằm bền vững là quá trình thực

hiện các nội dung như quy mô, tổ chức, đầu tư, kỹ thuật, liên kết để tạo ra sản phẩm

Trang 5

kén tằm ngày càng tăng dần về lượng, tiến bộ về chất, đồng thời có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa kinh tế với xã hội và môi trường trong hiện tại cũng như tương lai Nghiên cứu cũng đã làm rõ được các vấn đề như vai trò, đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu, tiêu chí đánh giá phát triển sản xuất dâu tằm bền vững (về kinh tế, về

xã hội và về môi trường)

- Về phương pháp: Luận án đã sử dụng cách cho điểm theo các tiêu chí phát

triển bền vững để đánh giá mức độ phát triển bền vững của sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình Cách đánh giá này có giá trị tham khảo tốt cho các đề tài nghiên cứu về

phát triển sản xuất bền vững những sản phẩm nông nghiệp tương tự

- Về thực tiễn: Đã tổng kết thực tiễn phát triển sản xuất dâu tằm bền vững ở

một số nước trên thế giới và một số địa phương, từ đó đúc rút thành 7 bài học kinh nghiệm cho sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình nói riêng và cho nước ta nói chung

Luận án đã đánh giá một cách có hệ thống thực trạng phát triển sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình, cung cấp cơ sở dữ liệu về diện tích, năng suất, sản lượng, kết quả, hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất dâu tằm bền vững của tỉnh Các dữ liệu này có giá trị tham khảo tốt cho các nhà quản lý, các nhà chỉ đạo sản xuất, các nhà nghiên cứu và giảng dạy Các giải pháp mà luận án đề xuất cho tỉnh Thái Bình có giá trị tham khảo cho nhiều địa phương nuôi tằm khác

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Luận án khẳng định rằng đối với vùng truyền thống như Thái Bình, sản xuất dâu tằm vẫn có cơ hội để phát triển và phát triển bền vững, trái ngược với một số quan điểm phổ biến hiện nay là sản xuất dâu tằm đã hết vai trò lịch sử

Trong 10 năm qua, sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình có bước tiến đáng kể theo chiều sâu, nhưng suy giảm mạnh theo chiều rộng Mức độ phát triển theo chiều sâu chưa đủ bù đắp được mức sụt giảm theo chiều rộng Sản xuất dâu tằm trên địa bàn tỉnh thời gian qua là kém phát triển, thiếu bền vững

Thực tế sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình đang tồn tại rất nhiều khó khăn bất cập trong cả sản xuất lẫn tiêu thụ sản phẩm Trong đó, khó khăn lớn nhất là đang nuôi tằm đa hệ kén vàng, chưa nuôi được tằm kén trắng Trong số 06 yếu tố ảnh hưởng, thì thị trường, giá cả là yếu tố trực tiếp làm cho sản xuất suy giảm mạnh

Để sản xuất dâu tằm phát triển bền vững, Thái Bình cần thay đổi định hướng, quay lại nuôi tằm lấy tơ nhưng nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng thì mới có hiệu quả, kết hợp với ươm tơ tự động thì mới phù hợp với xu thế và nhu cầu thị trường Để thay đổi định hướng cần thực hiện đồng bộ 10 giải pháp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh giải pháp tổ chức nuôi tằm con tập trung, kiện toàn hệ thống các tác nhân, nâng cấp công nghệ nuôi tằm và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Trang 6

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Khái niệm

Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Triết học siêu hình xem phát triển chỉ là sự tăng lên đơn thuần về lượng Triết học duy vật biện chứng quan niệm “Phát triển là sự gia tăng dần về lượng và tiến bộ về chất của sự vật, hiện tượng” Đó là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Sản xuất, theo Từ điển tiếng Việt, là hoạt động tạo ra của cải vật chất nói chung Trên thế giới, đã có nhiều học giả đưa ra khái niệm sản xuất dựa trên các cách tiếp cận khác nhau như: nguồn gốc của cải, phạm vi hoạt động tạo ra của cải Dưới góc

độ nội dung của nó, các nhà kinh doanh cho rằng: “Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ đầu ra” Đó chính là quá trình thực hiện các nội dung như tổ chức, quy mô, đầu tư, kỹ thuật, liên kết để tạo ra sản phẩm

Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong

“Chiến lược bảo tồn Thế giới”, của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên quốc

tế (IUCN) Sau đó được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (còn gọi là báo cáo Brundtland) Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định tại Rio De Janeiro, Brasil và được bổ sung hoàn chỉnh tại hội nghị Johannesburg, Cộng hoà Nam Phi năm 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm phát triển kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường”

Từ các khái niệm kể trên, tác giả đưa ra khái niệm: “Phát triển sản xuất dâu tằm bền

vững là quá trình thực hiện các nội dung như quy mô, tổ chức, đầu tư, kỹ thuật, liên kết để tạo ra sản phẩm kén tằm ngày càng tăng dần về lượng và tiến bộ về chất, đồng thời có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa mục tiêu kinh tế với việc thực hiện tốt các vấn đề

xã hội và bảo vệ môi trường trong hiện tại cũng như tương lai”

2.1.2 Vai trò phát triển sản xuất dâu tằm bền vững

Phát triển sản xuất dâu tằm bền vững đóng vai trò quan trọng đối với người nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã và tư thương Vai trò của phát triển sản xuất dâu tằm bền vững thể hiện trên các khía cạnh: (1) Giúp cho sản xuất dâu tằm tăng tiến, ổn định; (2) Khai thác tốt các nguồn lực, nâng cao hiệu quả kinh tế; (3) Gắn kết các tác nhân, giúp họ

có thu nhập ổn định; (4) Tạo công ăn, việc làm ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững; (5) Phát huy kinh nghiệm sản xuất, củng cố nghề truyền thống, góp phần ổn định an ninh, an toàn xã hội; (6) Góp phần cải thiện môi trường

2.1.3 Đặc điểm phát triển sản xuất dâu tằm bền vững

Sản xuất dâu tằm có bộ mặt hoàn toàn khác biệt với các hoạt động nông nghiệp khác Phát triển sản xuất dâu tằm bền vững có một số đặc điểm sau: (1) Phát triển kết hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt; (2) Sản xuất mang tính thời vụ rất cao; (3) Sản

Trang 7

phẩm mang tính hàng hóa cao; (4) Gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, thu mua và chế biến; (5) Sản xuất sử dụng nhiều lao động; và (6) Nguy cơ dịch bệnh rất cao

2.1.4 Nội dung phát triển sản xuất dâu tằm bền vững

Dựa trên khái niệm, đặc điểm đối tượng nghiên cứu, luận án đã xác định rõ nội dung phát triển sản xuất dâu tằm bền vững gồm: 1) Phát triển quy mô sản xuất; 2) Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất; 3) Phát triển đầu tư cho sản xuất; 4) Phát triển kỹ thuật sản xuất; 5) Phát triển liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; 6) Kết quả và hiệu quả phát triển sản xuất

2.1.5 Tiêu chí đánh giá phát triển sản xuất dâu tằm bền vững

Đối với sản xuất dâu tằm, phát triển bền vững về kinh tế: thể hiện phát triển có hiệu quả các nguồn lực hiện có về đất đai, đầu tư, kỹ thuật, tổ chức, liên kết để tăng quy mô sản xuất, chuyển dịch về cơ cấu, tạo ra kết quả ngày càng tăng và hiệu quả sản xuất theo hướng tiến bộ; Phát triển bền vững về xã hội: biểu hiện giải quyết được công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo bình đẳng cơ hội việc làm, thu nhập cho phụ nữ; Phát triển bền vững về môi trường: bảo đảm khai thác tài nguyên hợp lý, sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo trong phạm vi chịu tải của chúng Hoạt động sản xuất không gây ô nhiễm và làm tổn hại đến môi trường Ngược lại, môi trường không tác động tiêu cực đến sản xuất

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất dâu tằm bền vững

Luận án đã xác định 6 yếu tố có ảnh hưởng lớn đến phát triển sản xuất dâu tằm bền vững là: i) Chủ trương, chính sách; ii) Quy hoạch cho phát triển; iii) Năng lực trình độ của cán bộ; iv) Nhận thức, hiểu biết của người sản xuất; v) Sự hỗ trợ, trợ giúp của các cấp, các ngành, các tác nhân; và vi) Thị trường, giá cả

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Thực tiễn về phát triển sản xuất dâu tằm bền vững trên thế giới

Nghiên cứu phát triển sản xuất dâu tằm bền vững tại một số nước trên thế giới cho thấy sức sống mãnh liệt của sản xuất dâu tằm mặc dù đã phải đối mặt với 3 cuộc khủng hoảng lớn, có lúc tưởng chừng như khó vượt qua là khủng hoảng về dịch bệnh, khủng hoảng tâm lý khi xuất hiện tơ nhân tạo và khủng hoảng về kỹ thuật khi sợi nilông được phổ biến Thấy được sản xuất dâu tằm không còn nguy cơ bị tiêu diệt nữa

và nhu cầu ngày càng tăng nhanh một cách đặc biệt Qua nghiên cứu đã thấy rõ xu hướng nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng, gắn kết chặt chẽ với ươm tơ tự động chất lượng cao, thấy được tầm quan trọng của cơ quan phụ trách, sự cần thiết của công tác quy hoạch, chính sách huy động sức dân và doanh nghiệp Đã có được bài học về tổ chức nuôi tằm con tập trung, về đầu tư vốn, hạ tầng, đổi mới kỹ thuật về giống, chăm sóc, nuôi tằm trên nền nhà, phòng bệnh; về đào tạo nông dân và thị trường tiêu thụ

2.2.2 Thực tiễn về phát triển sản xuất dâu tằm bền vững ở Việt Nam

Sau nhiều giai đoạn thăng trầm, từ năm 2009 đến nay sản xuất dâu tằm đã dần

đi vào ổn định và có triển vọng Đã xuất hiện nhiều địa phương sản xuất dâu tằm phát triển tốt như Lâm Đồng diện tích dâu tằm tăng 12,1 %/năm; Yên Bái 26,8 %/năm và Sơn La 5,5 %/năm Các địa phương nói trên đều có khí hậu ôn hòa, mát mẻ thích hợp

Trang 8

nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng chất lượng cao Qua nghiên cứu ở các địa phương này đã thấy rõ tầm quan trọng của chính quyền, vai trò của cán bộ trong phát triển sản xuất

Để có bước tiến mạnh mẽ trong thời gian qua, các địa phương đã có nhiều biện pháp như quy hoạch sản xuất, phát triển nuôi tằm con tập trung, áp dụng kỹ thuật nuôi tằm lớn trên nền nhà, thay đổi giống dâu mới năng suất cao cùng các biện pháp kỹ thuật, đầu tư thâm canh cao hơn và phòng trừ bệnh hại có hiệu quả hơn Trong khi đó công nghiệp ươm tơ đang chuyển biến nhanh theo hướng ươm tơ tự động đã tạo ra thị trường tiêu thụ ổn định cho sản xuất

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu phát triển sản xuất dâu tằm bền vững cho tỉnh Thái Bình

Qua nghiên cứu thực tiễn về phát triển sản xuất dâu tằm bền vững trong và ngoài nước, thấy rằng đối với vùng truyền thống như Thái Bình sản xuất dâu tằm vẫn

có thể phát triển và phát triển bền vững Bài học kinh nghiệm được rút ra cho Thái Bình là: (1) Thái Bình cần xem dâu tằm là vốn quý, từ đó có chủ trương, quy hoạch,

kế hoạch phát triển bài bản, chính sách hỗ trợ rõ nét; (2) Chuyển sang nuôi tằm lưỡng

hệ kén trắng thì mới có hiệu quả, kết hợp với ươm tơ tự động thì mới phù hợp với xu thế; (3) Tổ chức sản xuất thành hai giai đoạn tằm con và tằm lớn; (4) Áp dụng mạnh

mẽ tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; (5) Nâng cao nhận thức, hiểu biết của người sản xuất là hết sức cần thiết; (6) Gắn kết chặt chẽ sản xuất với thị trường tiêu thụ; (7) Nâng cao ý thức trong bảo vệ môi trường, phòng trừ dịch bệnh

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Luận án đã khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội, vị trí sản xuất dâu tằm trong ngành nông nghiệp để phân tích, đánh giá những mặt thuận lợi, khó khăn và các yếu tố tác động đến sự phát triển sản xuất dâu tằm bền vững của tỉnh Dâu tằm là nghề truyền thống nên được chính quyền địa phương ủng hộ Trình độ dân trí cao và kinh nghiệm nuôi tằm là những thuận lợi cơ bản cần được khai thác Tuy nhiên, diện tích dâu của nông hộ không nhiều, khó khăn trong việc tích tụ để có thể trở thành sản xuất lớn; tâm lý sản xuất nhỏ, mạnh mún, tận dụng, luôn xem nuôi tằm là hoạt động sản xuất phụ nhằm kiếm thêm thu nhập trong lúc nông nhàn; khí hậu nóng ẩm không thuận lợi cho nuôi tằm nhất là tằm lưỡng hệ; lực lượng lao động nông nghiệp đang giảm là những khó khăn chính cần từng bước khắc phục

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Phương pháp tiếp cận

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tiếp cận như tiếp cận theo hệ thống sản xuất, tiếp cận phát triển bền vững, tiếp cận theo các tác nhân và tiếp cận có sự tham gia để nghiên cứu phát triển sản xuất dâu tằm bền vững tại tỉnh Thái Bình

3.2.2 Khung phân tích

Trên cơ sở các nội dung đã được xác định, các yếu tố ảnh hưởng và hướng đề xuất các giải pháp, khung phân tích được thể hiện tại hình 3.1

Trang 9

Hình 3.1 Khung phân tích phát triển sản xuất dâu tằm bền vững

3.2.3 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu

Phương pháp chọn điểm: 5 huyện sản xuất dâu tằm của tỉnh được chọn làm

điểm nghiên cứu là Vũ Thư, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng và Tiền Hải

Số lượng mẫu điều tra: 352 hộ sản xuất dâu tằm; 30 người thu gom kén, ươm

tơ; 15 cán bộ có liên quan ở cấp tỉnh, huyện và xã (công thức Yamane, 1973)

Phương pháp chọn mẫu điều tra: chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ tại các điểm

3.2.4 Phương pháp thu thập thông tin và dữ liệu

Thông tin thứ cấp: Là các thông tin đã công bố qua các nguồn khác nhau như

báo cáo, số liệu thống kê, sách, báo, internet có liên quan đến nội dung nghiên cứu

Thông tin sơ cấp: Được thu thập bằng 2 phương pháp: Điều tra chọn mẫu bằng

phỏng vấn trực tiếp đối tượng điều tra với bảng câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân nhằm thu thập các thông tin trong việc lựa chọn các ý kiến để xác định những vấn đề bất cập trong sản xuất

3.2.5 Phương pháp phân tích thông tin

Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel Các phương pháp phân tích được sử dụng như thống kê mô tả, so sánh, phân tích kinh tế, phân tích SWOT để thấy được thực trạng sản xuất và đưa ra các giải pháp cho địa bàn Đánh giá mức độ phát triển bền vững bằng phương pháp cho điểm theo 3 tiêu chí về kinh tế, xã hội và môi trường Trong từng tiêu chí, cho điểm từng chỉ tiêu theo thang đo: Rất bền vững (4 điểm), bền vững (3 điểm), kém bền vững (2 điểm) và không bền vững (1 điểm) Tổng số điểm của các tiêu chí (E) được phân tích để đánh giá mức độ bền vững như sau: Rất bền vững: 40 điểm ≥ E ≥ 35 điểm; Bền vững: 35 điểm > E ≥ 25 điểm; Kém bền vững:

25 > E ≥ 15 điểm; Không bền vững: E < 15 điểm

-Phát triển quy mô sản xuất -Phát triển các hình thức tổ chức -Phát triển đầu tư cho sản xuất -Phát triển kỹ thuật trong sản xuất -Phát triển liên kết sản xuất và tiêu thụ -Kết quả hiệu quả phát triển sản xuất

Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức PTBV sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình

Quan điểm, định hướng, mục tiêu yêu cầu

PT sản xuất dâu tằm bền vững tỉnh THÁI BÌNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

SX DÂU TẰM BỀN VỮNG TỈNH THÁI BÌNH

YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PTBV SX DÂU TẰM

-Về kinh tế -Về Xã hội -Về môi trường

Trang 10

3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm bốn nhóm: Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ phát triển sản xuất về kinh tế (điều kiện sản xuất của hộ, các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất, tình hình tiêu thụ, kết quả và hiệu quả sản xuất); Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ phát triển sản xuất về xã hội (số hộ, số lao động sản xuất dâu tằm, tuổi bình quân, trình độ giáo dục, tỷ lệ lao động được đào tạo, khả năng tiếp cận tiến bộ kỹ thuật, tỷ lệ hộ nghèo, sự tham gia của phụ nữ); Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ phát triển sản xuất về môi trường (mức độ ô nhiễm đất, nước, không khí, tỷ lệ thất thu do dịch bệnh, tỷ lệ thất thu do ảnh hưởng của thuốc trừ sâu từ các hoạt động nông nghiệp khác) Bộ chỉ tiêu đánh giá tính bền vững phát triển sản xuất dâu tằm được xây dựng

cụ thể theo 3 tiêu chí: về kinh tế, về xã hội và về môi trường

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 BỐI CẢNH VỀ SẢN XUẤT DÂU TẰM TỈNH THÁI BÌNH

Sản xuất dâu tằm được hình thành trong quá trình mở mang, khai canh, lập ấp diễn ra vào giai đoạn triều Lý, cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII Trong suốt thời phong kiến, dâu tằm phát triển, đáp ứng đủ nhu cầu mặc cho nhân dân, diện tích dâu có lúc đạt 2.000ha Thời kỳ Pháp thuộc, đã có nhiều biện pháp khuyến khích trồng dâu, nuôi tằm, nhưng do ảnh hưởng của tơ nhân tạo và khủng hoảng kinh tế đầu những năm 30 làm dâu tằm sa sút chỉ còn khoảng 650ha Trong kháng chiến, sản xuất bị đình trệ do ảnh hưởng của chiến tranh

Sau năm 1954, nhân dân lại tiếp tục sản xuất Hầu hết những vùng dâu lớn trong tỉnh, các trại giống, nhà máy tơ, trạm nghiên cứu đã được xây dựng Với sự hình thành, trợ giúp của Cục Dâu tằm, Chi cục tằm tơ Thái Bình cũng như sự hỗ trợ của các cấp các ngành nên dâu tằm rất hưng thịnh Thời kỳ phát triển nhất đạt gần 1.500ha

Năm 1985, Cục dâu tằm chuyển thành Liên hiệp các xí nghiệp dâu tằm tơ (sau này là Tổng công ty) xác định vùng truyền thống phía bắc không phù hợp nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng chất lượng cao nên đã chuyển vào Lâm đồng Tại Thái Bình, Chi cục tằm tơ cũng giải thể từ đó kéo theo nhiều hệ lụy, trong bối cảnh áp lực cạnh tranh ngày một tăng nên dâu tằm ngày càng giảm sút, đến năm 2006 còn 1.166ha

Từ 2006 đến nay, sản xuất dâu tằm lấy tơ gặp trở ngại nên sụt giảm rất mạnh, diện tích dâu tằm chỉ còn 406,5 ha, nông dân phải chuyển sang nuôi tằm lấy nhộng làm thực phẩm Như vậy có thể thấy rằng sản xuất dâu tằm tỉnh Thái Bình là một nghề truyền thống

có quá trình phát triển rất thăng trầm, chưa thực sự phát triển bền vững

4.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT DÂU TẰM TỈNH THÁI BÌNH 4.2.1 Thực trạng phát triển quy mô sản xuất dâu tằm

Giai đoạn 2006 – 2009, là thời gian khó khăn đối với sản xuất dâu tằm Thái Bình Thị trường tiêu thụ kén tằm lấy tơ gặp nhiều trở ngại dẫn đến diện tích dâu và

số hộ nuôi tằm trên địa bàn giảm mạnh, bình quân diện tích dâu giảm 19,4 %/năm, số

Trang 11

hộ nuôi tằm giảm 20,9 %/năm Từ năm 2009 đến nay, thị trường tiêu thụ nhộng làm

thực phẩm mở ra đã tác động tích cực đến sản xuất giúp diện tích dâu giảm ít hơn

8.863

2.905 2.911 3.678 4.146 4.177 4.438 4.233

6.006 6.251

406,5 407 528 595 596 605 595 821 854 1.166

0 2.000 4.000 6.000 8.000 10.000

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Năm

0 400 800 1.200 1.600 2.000

Số hộ nuôi tằm (hộ) Diện tích dâu (

Biểu đồ 4.1 Biến động quy mô sản xuất dâu tằm Thái Bình từ năm 2006 - 2015

Quy mô sản xuất của hộ nhỏ, diện tích dâu trung bình là 1.363m2, tăng 10,8% so với năm 2006 Tuy nhiên, không phải các hộ trồng thêm dâu mà do diện tích dâu giảm mạnh và giảm nhiều ở các hộ có diện tích dâu nhỏ Cơ cấu diện tích dâu của hộ theo quy

mô có tiến bộ, thay đổi từ nhóm hộ có diện tích 720 - 1.080m2 chiếm tỷ lệ cao nhất trước đây đã dịch chuyển sang nhóm hộ 1.080 - 1.440m2 hiện nay

3.32

18.95 12

24.57

32.47

6.16

2.54 0

5 10 15 20 25 30 35

Dưới 360m2

720m2

360- 1080m2

720- 1440m2

1.080- 1800m2

1.440- 2160m2

1800-Trên 2160m2

Tỷ lệ %

Biểu đồ 4.2 Cơ cấu quy mô diện tích dâu của nông hộ năm 2015

4.2.2 Thực trạng phát triển các hình thức tổ chức sản xuất dâu tằm

Khảo sát trên địa bàn cho thấy sản xuất dâu tằm được thực hiện hoàn toàn theo

mô hình nông hộ nhỏ lẻ, không có nông hộ quy mô lớn hay trang trại nuôi tằm Trồng dâu và nuôi tằm thực hiện khép kín trong từng nông hộ và theo hình thức một giai đoạn Hợp tác xã có vai trò hạn chế trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Sản xuất rất rời rạc và thiếu tổ chức, ngày nào cũng có hộ băng tằm, có hộ bán kén Thái Bình rất cần phải tổ chức sản xuất thành hai giai đoạn: tằm con riêng và tằm lớn riêng như kinh nghiệm của nhiều địa phương khác

4.2.3 Thực trạng đầu tư trong sản xuất dâu tằm

Của Nhà nước: cơ sở hạ tầng cho sản xuất được đầu tư tốt vào những năm 60 và

70 thế kỷ trước gồm 03 trại giống tằm, 02 nhà máy ươm tơ và 01 trạm nghiên cứu Ngày nay, các trại giống đã chuyển thành Công ty CP giống tằm Thái Bình Nhà nước đang hỗ

Trang 12

trợ kinh phí nuôi giữ giống gốc với mức hỗ trợ tăng bốn lần trong 5 năm qua Trạm nghiên cứu Dâu tằm Việt Hùng thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ do Nhà nước giao, kinh phí nghiên cứu tăng trung bình 20,46%/năm Các nhà máy ươm tơ đều đã giải thể Đầu tư cho vùng sản xuất nằm trong đầu tư chung cho nông nghiệp mà không có các chính sách khuyến khích riêng

Của doanh nghiệp: sức thu hút đầu tư của các doanh nghiệp rất thấp Thời

gian qua, đầu tư chủ yếu là của các doanh nghiệp gia đình Đối với doanh nghiệp lớn, chỉ ghi nhận được trường hợp doanh nghiệp tơ tằm Phú Khánh đầu tư nhà máy ươm

tơ cơ khí và sản xuất sợi Spunsilk nhưng không duy trì được lâu

Của dân: Đất đai đã được giao từ năm 1993, đến nay không có biến động lớn

Đất trồng dâu của hộ nhỏ Diện tích dâu hiện chiếm 78,37% tổng diện tích đất nông nghiệp nên khả năng mở rộng có hạn Đầu tư quan trọng là nhà nuôi tằm nhưng nhiều

hộ sử dụng nhà ở sẵn có Số hộ có phòng nuôi riêng đạt 54,7% và đang tăng chậm Diện tích nhà nuôi tằm trung bình 25m2, tăng 5,06 %/năm Số hộ đầu tư điều hòa cho nuôi tằm tăng nhanh 189 %/năm Chi phí đầu vào cho ruộng dâu chủ yếu là các loại phân bón với mức đầu tư thấp Chi phí cho nuôi tằm chiếm tỷ lệ 56% Trong đó, chi phí trứng tằm là chủ yếu

Như vậy, đầu tư của nhà nước trong các giai đoạn trước ngày càng mai một Đầu tư cho sản xuất hiện nay vừa thấp, vừa chưa tập trung vào những vấn đề trọng tâm Không thu hút được đầu tư của doanh nghiệp Nhà máy ươm tơ cũ không còn, các cơ sở ươm tơ hiện tại nhỏ, năng lực hạn chế Nhà nuôi tằm của dân có tiến bộ đáng kể Đặc biệt là số hộ đầu tư điều hòa nhiệt độ tăng nhanh (đạt 12,3%) đã mở ra triển vọng nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng trong điều kiện nóng ẩm của Thái Bình

4.2.4 Thực trạng phát triển kỹ thuật trong sản xuất dâu tằm

4.2.4.1 Giống

Giống dâu: trước đây Thái Bình sử dụng các giống bản địa, năng suất thấp 12-15

tấn lá/ha Từ 1980, có nhiều giống mới đưa vào sản xuất như tam bội số 12 trồng bằng hom, các giống dâu lai VH9, VH13, VH15 trồng bằng hạt Giống mới có tiềm năng đạt năng suất 25-30 tấn/ha nhưng đòi hỏi thâm canh cao (Hà Văn Phúc, 2003) Thái Bình có khả năng cung cấp đủ nhu cầu giống dâu nhưng hiện nay giống dâu năng suất cao mới đạt 32,4%, tốc độ mở rộng chậm, trung bình 1,57 %/năm

Giống tằm: Ngày trước, dân nuôi tằm đa hệ kén vàng năng suất thấp 7-8

kg/vòng trứng Tằm đa hệ khỏe, dễ nuôi nhưng ít tơ Từ cuối thập kỷ 60, bắt đầu nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng cho năng suất cao 12-13kg/vòng Giống này kén tốt, nhiều tơ nhưng khó nuôi trong điều kiện Thái Bình nên nông dân thường sử dụng giống đa hệ lai với lưỡng hệ (đa hệ lai) cho năng suất, chất lượng kén cao hơn giống đa hệ nhưng

dễ nuôi hơn giống lưỡng hệ Năng suất kén đạt 10-11 kg/vòng Năm 2007, giống tằm

đa hệ lai chiếm 95,72% Từ năm 2008, bắt đầu nuôi tằm lấy nhộng làm thực phẩm thì quay trở lại nuôi giống đa hệ như trước Hiện nay, giống tằm đa hệ chiếm 63,14%; giống tằm đa hệ lai chỉ còn chiếm 32,58% Khi chuyển sang nuôi tằm đa hệ thì việc cung cấp giống dễ dàng hơn vì ngoài Công ty giống tằm Thái bình, còn có thêm 15

Trang 13

cơ sở nhân giống khác và người dân cũng có thể để được giống Như vậy, việc quay lại nuôi giống tằm đa hệ là một bước thụt lùi nghiêm trọng trong công tác giống Dân

tự sản xuất giống, không kiểm soát dịch bệnh là mối đe dọa lớn đối với sản xuất cần

Chăm sóc dâu: trước 2007, dâu được trồng thuần, không tưới Chỉ có 19% số

hộ điều tra cho biết có cày xới Phân chuồng thì dùng ngay phân tằm để bón, phân đạm bón sau các đợt thu lá, ít bón lân và kali Mức bón các loại phân rất thấp so với quy trình Năm 2007, chuyển sang trồng xen thì việc chăm sóc dâu có thay đổi tích cực: ruộng được cày xới 2 lần/năm tương ứng 2 đợt trồng xen; phân hữu cơ ngoài phân tằm, có thêm phân xanh sau thu hoạch rau; phân vô cơ được bón nhiều hơn; một

số vùng dâu có tưới và được làm cỏ thường xuyên hơn

Chăm sóc tằm: duy trì nhiệt, ẩm độ thích hợp tương đối và cho tằm ăn đầy đủ

đảm bảo chất lượng Sự tăng nhiệt trên giới hạn hoặc giảm xuống quá thấp đều không tốt Ẩm độ quá cao bệnh tật phát sinh, ẩm độ quá thấp làm dâu mau héo, tằm ăn đói, cơ thể thiếu nước dẫn đến suy nhược Khi nhiệt độ, ẩm độ quá cao hoặc quá thấp đều phải tìm cách điều chỉnh nhưng được hay không phụ thuộc điều kiện nhà cửa, trang bị và kinh nghiệm của người nuôi tằm Hầu hết các hộ điều kiện chăn nuôi và chăm sóc hạn chế nên không nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng Tằm đa hệ lai kén vàng mà vẫn người nuôi được người mất Khi quay về nuôi tằm đa hệ năng suất thấp thì dễ nuôi hơn

Bảng 4.1 Sử dụng phân bón trong các khâu chăm sóc

TT Phân bón trình Quy

Từ 2006 đến 2007 Từ 2008 đến 2015 Thực

tế

So với Q/trình (%)

Thực

tế

So với Q/trình (%)

4.2.4.3 Áp dụng kỹ thuật mới

Về dâu: có nhiều thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật canh tác như: đốn rải vụ,

bón phân, tưới nước, phân NPK chuyên dụng và cơ giới hóa sản xuất Tuy nhiên, mức độ áp dụng còn rất hạn chế Hiện trạng kỹ thuật sản xuất thủ công trong từng

Ngày đăng: 10/01/2020, 05:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm