1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ - Quân sự (Số 13 – 5/2018)

120 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của tạp chí trình bày sự mất cân đối trong cấu trúc ngữ nghĩa và kết hợp cú pháp của động từ phái sinh với tiền tố trong tiếng Nga: trường hợp tiền tố Pac; các đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của biện pháp ngoa dụ trong các bài hát tiếng Anh và tiếng Việt; nghiên cứu việc sử dụng tiếng Anh của giảng viên trong giảng dạy tại trường Đại học Thương mại...

Trang 1

LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH LƯU BÁ MINH - Sự mất cân đối trong cấu trúc ngữ nghĩa và kết hợp cú pháp của

động từ phái sinh với tiền tố trong tiếng Nga: trường hợp tiền tố pac- 3

PHẠM THỊ THÙY DƯƠNG - Phân biệt “weile” và “yibian” trong tiếng Hán hiện đại 11 TRƯƠNG HOÀI UYÊN - Các đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của biện pháp ngoa

dụ trong các bài hát tiếng Anh và tiếng Việt 22

ĐOÀN HỮU DŨNG - Sự thể hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong tiếng Nga

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHU THỊ HỒNG NHUNG, NGUYỄN TRÍ DŨNG - Nâng cao chất lượng dạy-

học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) tại Học viện Khoa học Quân sự 38

TRẦN LAN HƯƠNG - Nghiên cứu việc sử dụng tiếng Anh của giảng viên trong

giảng dạy tại trường Đại học Thương mại 50

TRỊNH VĂN HUÂN - Một số chú ý khi sử dụng phương pháp giao tiếp trong

NGUYỄN THANH HÀ - Đề xuất một vài giải pháp về giảng dạy kiến thức văn

hóa nhằm nâng cao chất lượng dạy-học tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) tại Học viện Khoa học Quân sự

64

ĐINH THỊ BẮC BÌNH - Một số đề xuất nhằm cải thiện tình hình dạy và học

môn đọc tiếng Anh ngân hàng tại Học viện Ngân hàng 74

NGUYỄN THỊ KIM ANH - Sử dụng nguồn Internet trong giảng dạy tiếng Nga

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI NGUYỄN THỊ THU HIỀN - Khảo sát vai trò của kỹ năng nói trong quá trình học

tiếng Anh của sinh viên năm thứ 2 tại Học viện Quân y 104

VĂN HÓA - VĂN HỌC NGUYỄN THỊ HUYỀN GIANG - Hình tượng “tre”, “trúc” trong văn hóa Việt

Đại tá, TS ĐINH QUANG TRUNG

Đại tá, ThS DƯƠNG VĂN TUYỂN

Đại tá, TS BÙI THỊ THANH LƯƠNG

Thượng tá, ThS LÊ CÔNG PHÁT

Trung tá, TS TRẦN THỊ MINH THỤC

Trung tá, TS NGUYỄN THU HẠNH

Trung tá, TS ĐOÀN THỤC ANH

Thiếu tá, ThS NGÔ NGỌC HẢI

Đại úy, ThS NGUYỄN THỊ THU

TRỤ SỞ

322E Lê Trọng Tấn, Định Công,

Hoàng Mai, Hà Nội

Điện thoại: 0988.350.598

Email: tapchikhnnqs@ gmail.com

Website: hvkhqs.edu.vn

Trang 2

distinction between “weile” and “yibian” in modern Chinese; 3 Syntactic and semantic features of hyperbole in English and Vietnamese songs; 4 Demonstration of grammatical meaning of instruments in Russian and Vietnamese; 5 The

improvement of teaching and learning reading comprehension skills for French (as a 2nd foreign language) at Military

Science Academy; 6 A study of teachers’ use of English in classrooms at Vietnam University of Commerce ; 7 Some notes during the application of communicative approach in teaching modern Chinese; 8 Suggested solutions of teaching cultural

knowledge to improve the quality of teaching and learning French as the second foreign language at Military Science

Academy; 9 Some implication to improve the teaching and learning reading English for banking in Banking Academy;

10 Using internet resources in teaching Russian as a foreign language; 11 The images of bamboo in Vietnamese and Chinese

cultures; 12 An investigation into the role of English speaking skills in English learning process of the second-year students

at Vietnam Military Medical University; 13 Approaches to coherence in English written discourse using functional grammar

SOMMAIRE

1 La dissymétrie dans la structure sémantique et la combinaison de la structure du verbe dérivé à préfixe en russe: Le cas

du préfixe pac-; 2.Distinction entre “weile” et “yibian” en chinois moderne; 3 Caractéristiques syntaxiques et sémantiques

de l’hyperbole dans les chansons anglaises et vietnamiennes; 4 Expression du sens grammatical de l’instrument en russe et

en vietnamien; 5 Amélioration de l’enseignement/apprentissage de la compréhension écrite du francais (langue vivante 2)

à l’Académie des Sciences Militaires; 6 Etude de l’usage de l’anglais chez les professeurs dans l’enseignement à l’Université Thuong Mai; 7 Quelques réflexions à l’application de l’approche communicative dans l’enseignement du chinois moderne;

8 Quelques propositions de l’enseignement des connaissances culturelles visant à l’amélioration de l’enseignement/

apprentissage du français langue vivante 2 à l’ Académie des Sciences Militaires; 9 Quelques propositions visant à améliorer l’enseignement/apprentissage de l’anglais à l’Académie de banque; 10 Usage de l’Internet dans l’enseignement du russe langue étrangère; 11 Images de “ bambou” et “phyllostachys” dans les cultures vietnamienne et chinoise; 12 Enquête

Trang 3

LƯU BÁ MINH *

* Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội, ✉ luubaminh481954@gmail.com

Ngày nhận bài: 15/4/2018; ngày sửa chữa: 11/5/2018; ngày duyệt đăng: 20/5/2018

1 MỞ ĐẦU

Ngôn ngữ là một cơ chế hoàn chỉnh và thống

nhất, trong đó các quan hệ thuộc trục dọc và trục

ngang là cái “cốt lõi”, “cái khung” mà từ đó hình

thành các mối quan hệ hết sức đa dạng và phong

phú giữa các đơn vị ngôn ngữ Các nghiên cứu có

giá trị cao đều xem xét các hiện tượng ngôn ngữ

theo hai quan hệ cơ bản trục dọc và trục ngang này

Các công trình nghiên cứu kết hợp cú pháp cũng đi

theo hướng đó và các nhà nghiên cứu đều lưu ý tới

hai vấn đề cơ bản: Các yếu tố chi phối kết hợp cú

pháp và vai trò của từng yếu tố riêng biệt Khi nói

về khả năng kết hợp người ta muốn nói đến vấn đề

một đơn vị từ điển này hay đơn vị từ điển khác đã

“xử lý” như thế nào đối với các đơn vị khác trong

những ngữ cảnh cụ thể Đó chính là sự cụ thể hoá

SỰ MẤT CÂN ĐỐI TRONG CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA

VÀ KẾT HỢP CÚ PHÁP CỦA ĐỘNG TỪ PHÁI SINH

VỚI TIỀN TỐ TRONG TIẾNG NGA:

TRƯỜNG HỢP TIỀN TỐ PAC-

TÓM TẮT

Bài viết tập trung xem xét một số vấn đề về lý thuyết kết hợp cú pháp của động từ, làm rõ yếu tố

cơ bản quy định kết hợp cú pháp của động từ Trên cơ sở phát hiện những sự mất cân đối trong cấu trúc ngữ nghĩa của động từ với tiền tố pac- trong tiếng Nga đã ảnh hưởng và quy định kết hợp cú pháp của động từ phái sinh, bài viết làm rõ nhận định: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng và quy định kết hợp cú pháp của động từ, song từ vựng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng và quy định kết hợp

cú pháp của động từ phái sinh với tiền tố, góp phần làm rõ cơ chế liên hệ và tác động qua lại của bình diện ngữ nghĩa và cú pháp

Từ khóa: cấu trúc ngữ nghĩa, động từ phái sinh, kết hợp cú pháp, quy định

những khả năng kết hợp tiềm tàng Cho nên, một khi đã cho rằng “ngôn ngữ và lời nói không thể tách rời nhau, không thể đối lập nhau” (Васильев Л.М, 1981, tr.16), thì không thể nào xem xét tách biệt hai khái niệm ngữ trị và khả năng kết hợp Vấn đề kết hợp từ vừa có thể xem xét ở bình diện

cú pháp (hình thức) vừa ở bình diện từ vựng (nội dung) Trong bài viết này chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến khái niệm kết hợp cú pháp

2 NỘI DUNG 2.1 Khái niệm kết hợp cú pháp

Có khá nhiều quan điểm trái ngược nhau về khối lượng (объём) và về nội dung (содержание) khái niệm này Một số nhà ngôn ngữ học chỉ đưa vào hàm lượng khái niệm kết hợp cú pháp của

Trang 4

động từ những thành tố “bên phải” thể hiện các

mối quan hệ khách thể và trạng ngữ Như vậy, theo

cách kiểu này thì kết hợp cú pháp của động từ là

mối quan hệ một phía, có nghĩa là kết hợp cú pháp

của động từ chỉ thể hiện trong các cụm từ không có

vị ngữ tính mà thôi, những phần tử bên trái động từ

(các vị trí chủ thể) không thuộc các thành phần mở

rộng của động từ, vì sự có mặt của chủ thể không

phải là do đặc điểm ngữ trị quy định, mà do các

yêu cầu giao tiếp chi phối, quy định Khi giải thích

khái niệm kết hợp cú pháp, T.M Dorofeeva trong

năng của các thành tố bên phải T.P Lomtev và

A.F Atrosenko cũng nêu lên ý kiến tương tự Vì

vậy họ tiến hành nghiên cứu kết hợp cú pháp của

động từ trong khuôn khổ cụm từ (Гридина Т.A

Коловалова Н.И., 2009) Đối lập với những quan

điểm cho rằng kết hợp cú pháp mối liên hệ một

phía, có những người cho rằng hàm lượng kết

hợp cú pháp rộng hơn P.P Sirota đã nêu một định

nghĩa điển hình cho loại ý kiến này: “Kết hợp cú

pháp của động từ là mối liên hệ từ hai phía (quan

hệ với chủ thể và với các từ hình phụ thuộc) Mối

quan hệ này được quy định bởi ngữ trị của động

từ, bởi các nhiệm vụ chung của lời nói và xây

dựng câu” (Сирота Р.Р., 1978, tr.29) Xem xét các

ý kiến nêu trên, chúng tôi thấy rằng, xuất phát từ

bản chất của hiện tượng ngôn ngữ, xuất phát từ

thực tế giảng dạy từ vựng động từ tiếng Nga cho

sinh viên Việt Nam, việc thừa nhận và đưa vào

giảng dạy khái niệm kết hợp cú pháp của động từ

- như quan hệ một phía với các thành phần mở

rộng bên phải là hợp lý Cho nên chúng tôi muốn

nhấn mạnh ý kiến: “Sự kết hợp cú pháp của động

từ được qui định bởi các thuộc tính ngữ trị của

nó chứ không phải bởi nhiệm vụ tạo ra lời nói và

câu nói chung, đó là mối quan hệ một phía của

động từ với các từ hình phụ thuộc nó” (Нгуен Тхи

Тует Ле, 1979) và xem đó là cơ sở bước vào giải

quyết các vấn đề có liên quan tới kết hợp cú pháp,

từ холодный (lạnh) và читать (đọc) và nêu nên rằng “đặc trưng ngữ pháp của từ này (холодный)

là tính dài đuôi và (читать) là động từ cập vật qui định khả năng kết hợp cú pháp của chúng đối với những từ xung quanh” Ở đây khi cho rằng ngữ pháp là yếu tố cơ bản, ông đã xác định kết hợp

cú pháp như là “khả năng liên kết các từ loại mà chúng có hình thái ngữ pháp nhất định” Tương tự như vậy, V.N Xukhotin đã phát biểu quan điểm của mình trong bài “Về kết hợp động danh từ trong tiếng Nga” như sau: “Một trong những yếu tố cơ bản qui định kết hợp cú pháp của động từ tiếng Nga hiện đại là đặc trưng của động từ cốt lõi, là các phạm trù hình thái học của chúng” (Сухотин В.П., 1978) Quan điểm về vai trò chủ đạo của ngữ pháp của D.H Smeliop và Xukhotin đối lập hoàn toàn với một số nhà nghiên cứu khác Theo N.D Garipova thì tính chất kết hợp cú pháp của

từ “không phải do yếu tố ngữ pháp mà do yếu tố

từ vựng qui định” (Гарипова Н.Д., 1984) Chúng tôi cũng có quan điểm đồng nhất với Garipova khi cho rằng, yếu tố cơ bản trong việc ảnh hưởng lớn đến kết hợp cú pháp của động từ là yếu tố từ vựng Thực vậy, nếu cho đặc tính ngữ pháp (hình thái học) của từ là các phạm trù ngữ pháp của nó thì khi phân tích các kết hợp động từ hoạt động trong các hình thức ngữ pháp khác nhau có thể

dễ dàng thấy rằng không phải ngữ pháp là nhân

tố chính xác định kết hợp của động từ với các từ khác Thí dụ, động từ удивляться (ngạc nhiên) dù

ở hình thức ngôi nào đi chăng nữa, hay trong các

Trang 5

thức khác nhau vẫn luôn kết hợp với danh từ cách

3 không giới từ (чему), các phạm trù như ngôi, số,

thức không hề có ảnh hưởng tới kết hợp cú pháp

của động từ Duy chỉ phạm trù thái (залог) là có

ảnh hưởng tới kết hợp cú pháp của động từ Xem

xét các hiện tượng trên chúng ta dễ dàng đồng ý

với ý kiến cho rằng, ngữ pháp không phải là yếu

tố có ảnh hưởng toàn diện đối với kết hợp cú pháp

và chúng ta dễ dàng có quan điểm tán thành với ý

kiến cho rằng, tính chất kết hợp cú pháp do yếu tố

từ vựng qui định Nguyễn Thị Tuyết Lê cũng đã

nhấn mạnh vai trò của yếu tố từ vựng đối với kết

hợp cú pháp của động từ “Khi xác định các yếu

tố qui định kết hợp cú pháp cần phải nói rằng các

yếu tố ngữ pháp, cấu tạo từ và từ vựng trong một

từ có tác động qua lại, có mối liên hệ mật thiết đối

với việc mở rộng từ vựng động từ bằng các từ cú

pháp Nhưng cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò của

nhân tố từ vựng là yếu tố cơ bản, yếu tố này trực

tiếp qui định kết hợp” (Нгуен Тхи Тует Ле, 1979)

Có hai xu hướng cơ bản, một cho rằng, yếu tố ngữ

pháp quyết định tính chất của kết hợp cú pháp và

xu hướng thứ hai cho rằng, yếu tố từ vựng là yếu tố

cơ bản qui định kết hợp cú pháp của từ

Trên cơ sở khảo sát các ngữ liệu đề cập đến kết

hợp cú pháp của động từ, và trên cơ sở phân tích

ngữ liệu cụ thể, chúng tôi cho rằng, quan điểm từ

vựng là yếu tố cơ bản qui định kết hợp cú pháp của

động từ là hợp lý và cho rằng, yếu tố này được thể

hiện ở các phương diện khác nhau, có mối liên hệ

gắn bó mật thiết, đồng thời đó cũng là quan điểm

chỉ đạo trong các nghiên cứu của mình Về các

phương diện thể hiện của yếu tố từ vựng, chúng tôi

tâm đắc với quan điểm cho rằng, ảnh hưởng của

yếu tố từ vựng đối với kết hợp thể hiện ở hai mặt

liên hệ mật thiết với nhau, đó là kết hợp phụ thuộc

vào ý nghĩa từ vựng của động từ, và kết hợp phụ

thuộc vào nhóm từ vựng - ngữ nghĩa nhất định của

động từ Trên phương diện thứ nhất chúng tôi xem

xét sự phụ thuộc của kết hợp cú pháp vào ý nghĩa

từ vựng là một nhân tố (фактор) đáng kể trực tiếp

qui định tính chất của kết hợp, nó thể hiện ở chỗ,

cùng một động từ nhưng có thể đòi hỏi nhiều hình

thức mở rộng khác nhau nếu dùng với các ý nghĩa

khác nhau Về vấn đề này N.C Dmitrieva đã nêu

lên ý kiến của mình: “Sự cụ thể hoá của một trong

số các ý nghĩa của động từ đa nghĩa được thể hiện trong một chu cảnh từ vựng ngữ pháp nhất định” (Дмитриева Н.С.,1984)

Xem xét các vấn đề cơ bản của lý thuyết kết hợp, hàm lượng của khái niệm kết hợp cú pháp, các yếu tố qui định kết hợp cú pháp và một số nội dung khác chúng tôi khẳng định rằng ngữ nghĩa là tiêu chí cơ bản chi phối cách nhìn nhận các vấn đề nêu trên Điều đó cho thấy tác động to lớn của yếu

tố từ vựng đối với việc kết hợp cú pháp Khẳng định này là tiền đề lý luận của phần tiếp sau, phần

mô tả một trong những ảnh hưởng khác nhau của yếu tố ngữ nghĩa đối với kết hợp cú pháp của động

từ có tiền tố trên cơ sở ngữ liệu động từ có tiền tố pac- trong tiếng Nga

2.2 Sự biến đổi bộ phận trong cấu trúc ngữ nghĩa của động từ khi kết hợp với tiền tố pac-

Trong phần này sẽ xem xét nhóm động từ có

sự mất cân đối bộ phận (частичный сдвиг) trong cấu trúc ngữ nghĩa do việc ghép tiền tố pac- gây nên Tiền tố pac- không những chỉ có khả năng thay đổi ý nghĩa thể của động từ, mà còn làm biến đổi ý nghĩa từ vựng của chúng, mức độ biến đổi ý nghĩa từ vựng do tiền tố pac- gây nên không đồng

đều Ở đây chúng tôi sẽ trình bày sự biến đổi bộ phận (частичный сдвиг) trong cấu trúc ngữ nghĩa của động từ do việc ghép tiền tố đưa lại Ngữ liệu

khảo sát cho thấy sự biến đổi bộ phận đó thường kéo theo sau sự thay đổi trong kết hợp cú pháp của động từ cũng mang tính chất bộ phận Đó là một biểu hiện sự chi phối của yếu tố ngữ nghĩa đối với kết hợp cú pháp

2.2.1 Tiền tố pac- khi ghép với một số động

từ có thể bổ sung cho cấu trúc ngữ nghĩa của chúng ý nghĩa: đập nhỏ, chia nhỏ, tách nhỏ một chỉnh thể thành các phần nhỏ

Thuộc nhóm này có các động từ: разделить, раздробить, разломить, разрубить, распилить, разложить, разбить, разрезать, расчленить Ý nghĩa chia nhỏ chỉnh thể thành các phần nhỏ có thể thấy trong cấu trúc ngữ nghĩa của một số động từ không có tiền tố tương ứng, như trong các động từ sau: делить, дробить, рубить, ломить, пилить Tuy nhiên không phải ý nghĩa này đều xuất hiện

Trang 6

trong tất cả những động từ không tiền tố tương

ứng Chúng ta hãy xem xét ý nghĩa của một vài

Có thể nhận xét rằng, trong cấu trúc ngữ nghĩa

của các động từ бить và садить không xuất hiện

ý nghĩa “chia nhỏ một chỉnh thể thành các phần

nhỏ hơn” Tuy nhiên, ý nghĩa này lại xuất hiện

trong cấu trúc ngữ nghĩa của các động từ phái

sinh có tiền tố pac- Đây là những nghĩa vị hoàn

toàn mới xuất hiện Điều đó chứng tỏ rằng, đối

với các động từ này (разбить, раcсадить - trồng

riêng ra) ý nghĩa chia nhỏ là một nghĩa vị mới

do tiền tố pac- bổ sung cho Như vậy, ở đây sự có

mặt của tiền tố pac- đã gây ra sự biến đổi một bộ

phận trong cấu trúc ngữ nghĩa của động từ, động từ

giữ lại ý nghĩa cũ (бить, садить) và bổ sung thêm

một nghĩa vị mới là chia, tách thành những phần

nhỏ hơn Vì vậy, chúng tôi cho rằng, trong trường

hợp này tiền tố pac- đã gây ra sự biến đổi, sự mất

cân đối một bộ phận trong cấu trúc ngữ nghĩa của

động từ Sự mất cân đối trong cấu trúc ngữ nghĩa

do tiền tố pac- gây ra chứng tỏ rằng tiền tố này có

khả năng khu biệt ngữ nghĩa của động từ phái sinh

(ngữ nghĩa động từ phái sinh khác ngữ nghĩa của

động từ sản sinh)

Sau đây chúng ta quan sát ý nghĩa của một số

động từ với ý nghĩa “đập nhỏ, chia nhỏ một chỉnh

развинчить (св, перех): разнять, разобрать

на части (tháo ốc) раздёргать (св, перех): дёргая, разорвать, разделить на части (giật tung)

разодрать (св, перех): с силой разорвать на

части (xé rách tơi tả)

разрезать (св, перех): сделать надрез, вскрыть какую-либо часть тела, нарушить целостность каккой-либо ткани; разделить на

части режущим (rạch, cứa ra, cắt nhỏ)

рассечь (св, перех) (воен.): разделить на

части (войка противника), прорвав силой (chia cắt, chia tách địch)

разгородить (св, перех): разделить

перегородской на части (ngăn chia, rào dậu)

расколотить (св, перех): разбить на части; ударами разбить на составные части что-

нибудь склочённое (đập vỡ tan)

раскромсать (св, перех): неровно, небрежно

разрезать что-либо на части, на куски (cắt vụn,cắt lởm chởm)

разложить (св, перех): разделить на составные части элементы ~ воду на кислород

(chia nhỏ) расчленить (св, перех): разделить на отдельные части (chia riêng ra)

разрубить (св, перех): рубя, разделить на

Trang 7

части (chặt ra làm nhiều phần)

Ngữ liệu mà chúng tôi nghiên cứu cho thấy,

tiền tố pac- với ý nghĩa “chia nhỏ một chỉnh thể

Như ở trên đã nêu, việc ghép tiền tố vào động

từ đã gây ra sự biến đổi - sự mất cân đối trong cấu

trúc ngữ nghĩa của động từ phái sinh so với động

từ sản sinh Chính sự biến đổi đó đã dẫn đến sự

biến đổi trong kết hợp cú pháp của động từ phái

sinh có tiền tố, hay nói một cách khác sự mất cân

đối trong cấu trúc ngữ nghĩa đã dẫn đến sự biến đổi

между 6 и 28 окт 1912 г.) (Hãy chia nhỏ câu

chuyện ra thành những bài kí sự riêng lẻ).

Садить - рассадить:

садить: Не всё ли равно, убиваете птицу

и садите живое насекомое на булаву (ghim)

(Мамин-Сибиряк: Зелёные горы) (Việc anh giết

chim và ghim côn trùng còn sống lại chả có lẽ

cũng giống nhau à)

рассадить: Бамбук и бананик рассажёны в

саду на шпалеры (hàng, lối) как загородки (hàng

rào) (И Гончаров: Фрегат “Паллада”) (Tre và

chuối trong vườn được trồng riêng rẽ thành hàng

thành lối ngay thẳng chả khác gì một hàng rào).

Những thí dụ trên cho chúng ta thấy, động từ

бить và садить đều đòi hỏi một bổ ngữ trực tiếp không giới từ, trả lời cho câu hỏi что? (щебень, насекомое), ngoài ra không yêu cầu một thành tố

→ bổ ngữ trực tiếp + bổ ngữ gián tiếp với giới từ

) Sự biến đổi trong cấu trúc ngữ pháp này chúng tôi gọi là sự mất cân đối trong kết hợp cú pháp của động từ Như vậy chu cảnh cú pháp của động

từ phái sinh có tiền tố pac- có sự khác biệt so với động từ sản sinh tương ứng

2.2.2 Tiền tố pac- khi ghép với một số động

từ có thể bổ sung cho cấu trúc ngữ nghĩa của chúng ý nghĩa: phân bố, xếp đặt sự vật vào các vị trí khác nhau.

Thuộc nhóm này có các động từ: pассыпать, pасписать, pасквартировать, pасставить, pаспланировать, pазлить, pаздать, pазбраковать, pазгруппировать, pасселить, pассадить Chúng ta hãy xem xét ý nghĩa của hai động từ sau: Расселить: разместить, поселив где-нибудь, у

кого-нибудь (sắp xếp chỗ ở); Рассадить: усадить

по местам Ý nghĩa “phân bố, xếp đặt vào các

vị trí khác nhau” xuất hiện trong cấu trúc ngữ

nghĩa của những động từ trên là một ý nghĩa mới Ý nghĩa này không thấy có trong cấu trúc ngữ nghĩa của động từ không có tiền tố tương ứng Hãy

so sánh cấu trúc ngữ nghĩa của các cặp động từ sản sinh và phái sinh sau:

cыпать (нв, перех): Заставлять падать куда,

во что, выпуская постепенно (rắc, trút)

pассыпать (св, перех.): Pасместить,

распределить, насыпая (муку по мешкам) (chia đều, trút đều (bột vào các bao)).

писать (нв, перех): Письменно сoставлять

Trang 8

какой-либо текст (письмо) (soạn thảo văn bản)

расписать (св, перех): расспределив

каким-либо образом, записать куда-каким-либо (chép đều ra

các cột)

Có thể thấy rằng trong cấu trúc ngữ nghĩa của

động từ sản sinh không có ý nghĩa phân phối, phân

bố Nghĩa này chỉ xuất hiện khi ghép tiền tố pac-

với động từ Như vậy sự có mặt của tiền tố này đã

gây ra một sự biến đổi trong cấu trúc ngữ nghĩa

của động từ, làm cho động từ phong phú hơn về

mặt ý nghĩa của từ vựng Có thể nói, ở đây trong

trường hợp này tiền tố pac- đã gây ra sự mất cân

đối bộ phận trong cấu trúc ngữ nghĩa của động từ.

Với ý nghĩa “phân phối, phân bố” tiền tố

pac- thường kết hợp với những động từ chỉ

Chúng ta quan sát ý nghĩa của các động từ với

ý nghĩa “phân phối, phân bố sự vật vào các vị trí

Разлить (св, перех): Перелить какую-либо

жидкость из какого сосуда в несколько других (rót đều)

Раздать (св, перех) Отдать, выдать всё, многое многим, распределить между всеми,

многими (подарки детям) (phân phát, phân chia)

Расположить (св, перех): рассместить,

расставить слова по альфавиту (xếp đặt, sắp xếp)

Như trên đã nêu, tiền tố pac- khi ghép với động

từ đã làm xuất hiện ý nghĩa mới trong cấu trúc ngữ nghĩa của động từ, có nghĩa là gây ra sự biến đổi,

gây ra sự mất cân đối bộ phận trong cấu trúc ngữ

nghĩa của động từ Chính sự biến đổi đó đã gây ra

sự biến đổi trong kết hợp cú pháp của động từ, hay

nói cách khác đi là gây ra sự mất cân đối trong chu cảnh ngữ pháp của động từ phái sinh Hãy so sánh

kết hợp cú pháp của một số cặp động từ phái sinh

có tiền tố pac- và động từ sản sinh không có tiền tố pac- tương ứng:

Сыпать (нв, перех):

Птицелов (thợ săn chim) устанавливал снасти (dụng cụ, đồ lề, bẫy), сыпал вокрук них приманку (mồi) (Ляшко: Никола из Лебедлна) (Người thợ săn chim đặt bẫy, rồi rắc mồi xung quanh bẫy).

Рассыпать (св, перех): Сабиров вытянул из кармана кисет и весь мелкий превратившийся в

крошу (vụn) табак и рассыпал по рукам бойцов (Смирнов: Дни и ночи) (Xabirop lôi từ túi quần

ra một cái túi đựng sợi thuốc lá đã vụn nát rồi trút đều vào tay các chiến sỹ).

Писать (нв, перех): - Да, звоните, как же

мне писать расписку (biên lai)? Прежде нужно видеть деньги (Vâng, anh gọi cho tôi xem phải ghi biên lai thế nào? Trước hết là cần phải nhìn thấy tiền đã).

Раcписать (св, перех): Какова, а? Министр

Trang 9

Всё расписала по своим графам

(Сергеев-Ценский: Зауряд - полк) (Thưa bộ trưởng, thế nào

á? Tôi đã chép tất cả mọi thứ vào đều các cột rồi).

Селить: Людей охотнее всего селят около

дорог и рек (Чехов: Остров Сахалин) (Nhiều

khả năng là mọi người được bố trí sống ở gần

đường đi lại và gần sông).

cả những người vẫn còn ở trong các xe mui, lều

bạt, hoặc là còn ở ngoài trời ngay lập tức về ở

trong các căn hộ của các nông trang viên)

Động từ сыпать, писать đều đòi hỏi một bổ

ngữ trực tiếp được biểu thị bằng danh từ cách 4

không giới từ Thành phần đó có sẵn trong kết hợp

cú pháp của động từ không tiền tố Còn hai động từ

рассыпать và расписать cũng đòi hỏi một bổ ngữ

trực tiếp biểu thị bằng danh từ cách 4 không giới

từ, ngoài ra còn bắt buộc phải có một thành tố mở

rộng thứ hai nữa, đó là trạng ngữ địa điểm được

biểu thị bằng danh từ cách 3 số nhiều với giới từ

по, trả lời cho câu hỏi где? Chúng tôi gọi sự mất

cân đối trong kết hợp cú pháp của động từ phái

sinh là sự mất cân đối bộ phận, bởi vì: 1) Thành

phần mở rộng cũ có trong chu cảnh cú pháp cảnh

động từ không tiền tố (danh từ cách 4) vẫn được

giữ lại; 2) Việc bổ sung thành phần, mở rộng mới

(danh từ cách 3 với giới từ по) chỉ là việc bổ sung

phân phối, phân bố sự vật vào các vị trí khác nhau

có thể đi đến kết luận như sau:

- Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ sản sinh và

phái sinh không cân đối, sự không cân đối này do

việc ghép tiền tố pac- gây nên

- Sự mất cân đối trong cấu trúc ngữ nghĩa dẫn

đến sự mất cân đối trong kết hợp cú pháp trong chu cảnh cú pháp của động từ

- Nếu trong cấu trúc ngữ nghĩa có sự mất cân đối thì trong kết hợp cú pháp cũng có sự mất cân đối tương ứng

- Sự mất cân đối bộ phận của cấu trúc ngữ nghĩa cũng kéo theo sự mất cân đối có tính chất bộ phận trong kết hợp cú pháp của động từ, hay nói cách khác: yếu tố từ vựng đã quy định kết hợp cú pháp của động từ có tiền tố

Đặc trưng kết hợp cú pháp của động từ các nhóm động từ này cho thấy, yếu tố từ vựng là yếu

tố cơ bản trực tiếp qui định kết hợp cú pháp của động từ

Kết quả nghiên cứu có thể sẽ là tư liệu góp phần vào việc xác định hệ thống động từ với tiền

tố, xem xét những đặc trưng hành chức của hệ thống trong tổng thể hệ thống chung của ngôn ngữ,

là những gợi ý quan trọng mang tính giáo học pháp đối với việc lĩnh hội lớp từ vựng quan trọng này, dạy và khắc phục các lỗi trong quá trình sử dụng nhóm động từ này nói riêng và rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ nói chung

Những vấn đề đặt ra sau nghiên cứu này là:Một là, phải chăng khi ghép tiền tố với động từ, tất yếu trong cấu trúc ngữ nghĩa của động từ phái sinh sẽ xuất hiện những nghĩa vị mới và chúng sẽ làm thay đổi kết hợp cú pháp cũng như làm thay đổi chu cảnh cú pháp động từ?

Hai là, vai trò của tiền tố động từ nói riêng và tiền tố nói chung trong cấu tạo từ và những hệ quả

về mặt giáo học pháp;

Ba là, những hệ quả mang lại cũng như việc xây dựng hệ thống bài tập nhằm nhận biết và rèn luyện sử dụng những kiến thức về nhận biết và sử

Trang 10

dụng hệ thống ngữ nghĩa và chu cảnh cú pháp;

Bốn là, cần xem xét mức độ thay đổi kết hợp cú

pháp động từ do xuất hiện tiền tố làm cấu trúc ngữ

nghĩa thay đổi đối với nhiều tiền tố khác nhau./

7 Лыу Ба Минь (2016), Синтаксическая ситуация – один из главных способов выражения внутреннего и внешнего объектов глаголов говорения со значением прямой информационной передачи в русском и вьетнамском языках Международная

региональная конференция “Русский язык в странах Юго-Восточной Азии”, X, (c.281-289)

8 Нгуен Тхи Тует Ле (1979), Синтаксическая

сочетаемость глаголов с приставкой вы- в сов рус Языке М.

9 Сирота Р.Р (1978) синтаксическая сочетаемость глаголов движения и глаголов перемещения в пространстве в сов р лит языке М.

Лексико-10 Шмелёв Д.Н (1996), Синтаксическая

сочетаемость слов в сов р.я РЯВШ.

IMBALANCE IN THE SEMANTIC AND SYNTACTIC STRUCTURES OF RUSSIAN

DERIVATIVE VERBS: A CASE STUDY OF PREFIX

PAC-LUU BA MINH Abstract: The article focuses on several theoretical problems combining the syntax of the verbs,

clarifying the basic factors that govern the syntax of the verbs On the basis of detecting imbalances

in the semantic structure of the verbs with the prefix pac- in Russian which influenced and regulated

syntactical combinations of derivative verbs, the article clarifies the statement: Among many factors

influencing and regulating the syntax of the verbs, vocabulary is the basic factor which influences and

regulates the syntactical combination of the verb with the prefix The article also contributes to clarify

the interaction mechanism and the interaction of semantics and syntax

Keywords: semantic structure, derivetive verb, syntactical combination, regulate

Received: 15/4/2018; Revised: 11/5/2018; Accepted for publication: 20/5/2018

Trang 11

PHẠM THỊ THÙY DƯƠNG *

* Đại học Ngoại thương, ✉ duong0412@yahoo.com

Ngày nhận bài: 14/3/2018; ngày sửa chữa: 11/4/2018; ngày duyệt đăng: 20/4/2018

PHÂN BIỆT “WEILE” VÀ “YIBIAN”

TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI

(现代汉语“为了”与“以便”的辨别)

TÓM TẮT

Từ loại trong tiếng Hán hiện đại luôn là một vấn đề phức tạp, được thể hiện trong tiêu chuẩn phân loại từ, chức năng ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp của từ Trong hệ thống từ loại tiếng Hán, tuy số lượng hư từ không nhiều bằng thực từ nhưng nó cũng đóng vai trò quan trọng không kém Những nghiên cứu về hư từ là một phần quan trọng trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán, nhưng khi tiến hành nghiên cứu sẽ vấp phải không ít khó khăn, bởi loại từ này không có ý nghĩa từ vựng, mà chỉ

có ý nghĩa ngữ pháp, hơn nữa, ý nghĩa ngữ pháp, chức năng ngữ pháp giữa các hư từ đôi khi có sự giao thoa lẫn nhau “Weile” và “yibian” chính là ví dụ tương đối điển hình, tuy từ loại của chúng khác nhau, “weile” là giới từ, “yibian” là liên từ, nhưng giữa chúng lại có nhiều điểm tương đồng

về chức năng ngữ pháp, ngữ nghĩa và cách dùng, đây cũng chính là một trong những khó khăn cho sinh viên Việt Nam trong quá trình học tiếng Hán Trên cơ sở các ngữ liệu khảo sát, bài viết

sẽ phântichvà so sánh điểm giống và khác nhau về mặt cú pháp, ngữ nghĩa, cách dùng của hai

từ “weile” và “yibian”

Từ khóa: weile, yibian, hư từ, phân biệt, thực từ, tiếng Hán hiện đại

料来源为现代汉语教材、小说、报刊、电视剧等、收集“为了”的444句,“以便”的500 句,这是分析“为了”与“以便”特点的语料库。

1 “为了”与“以便” 句法方面的比较 1.1 组合能力的比较

1.1.1 为了/以便 + 词

据考察,介词“为了”能跟名词、动词、代词结合,如:

Trang 12

b 不同点介词“为了”除了连接动词性词组与小句之外,还可以连接名词性词组,“以便”则不能,例如:

1.2 句法功能的比较

在句中,“为了”与“以便”的位置也不相同:介词“为了”可位于句首和句中,偶尔可以位于句末,例如:

Trang 13

(20) 他是有点后悔,悔不该为了祖父、母

第二,出现“不是”这个否定形式,例如:

Trang 14

(21) 晚上,不是为了拉货源在酒店请客户用饭,就陪老板,唱卡拉OK,半夜一两点钟回家,

(22) 如果不是为了油,谁也不会到这里来苦熬一辈子。(14)

但连词“以便”没有上面的否定形式。,“以便”是个连词,不能被其他词语所修饰。在考察语料中,我们没有发现任何否定形式的词语出现在连词“以便”前面。

2.2.“为了”与“以便”语义方面的比较

2.2.1 相同点

虽然从句法角度看,介词“为了”与连词“以便”在句中的位置不同,介词“为了”的位置较灵活,而连词“以便”是固定的。但是“为了”与“以便”都能表示目的。它们所联接的成分表示行动和行动所要达到的目的,这是它们在基本语义上的相同点。

两者的基本句型是:“为了A, B”和“B, 以便A”。

Trang 15

(29a) 以后我必去看看有无老街道的遗痕,

(29b) 以后我必去看看有无老街道的遗痕,因为这样可以证明我的理论

(30a) 他说,两国科委之间应建立一个有效机制,以便使双方能更好地交流经验、密

(30b) 他说,两国科委之间应建立一个有效机制,因为这样可以使双方能更好地交流经验、密切合作。

另一方面,后分句表示所要达到的目的,

实 际 上 也 是 需 要 采 取 某 种 行 动 的 原 因 。 若

把 “ 以 便 ” 改 成 “ 是 因 为 要 ” , 前 分 句 就可以加上“之所以”。从这方面看前分句是果,后分句是因。例如:

(31a) 这次比赛报名和参赛办法将进行改

(31b) 这次比赛报名和参赛办法之所以将进行改革,是因为要增强参与意识。

(32a) 电视台为他们提供一次旅游机会,以

(32b) 电视台之所以为他们提供一次旅游机会,是因为要双方更深入了解。

根据以上论述:“为了”是从表层语义上

Trang 16

b 表示目的

正如上所提,“为了”与“以便” 在基本语义上的相同点就是均能用于表示目的,但在这方面两者有时也会有差别。邢福义《现代汉语》1991年认为现代汉语的目的句可分为两类:“A,以便B”是一种获得性目的句,另一种“A,以免B”是一种免得性目的句。其中,邢教授之所以把“A,以便B”归为获得性目的句,是因为“以便”在语义上偏重于表示施事者采取某种行为是企求、希望通过它能使目的的实现变得容易些。“为了”在语义上则没有这种限制,只要是行为动作想要达成的目的,不管能否实现都能用“为了”引介出,。例如:

(33a) 为了学习汉语,他瞒着父母办了手续。(8: p.55)

(34a) 为了能让我坚持把学上下去,家里已经没有什么可卖的了(8: p.124)

对这些例子进行观察,我们可以看出,上面的例句中,“为了学习汉语”、“为了能让我坚持把学上下去”都是用来引出行动的目的,不包含希望使目的的实现容易些的语义。

(35a) 他尽心竭力把这个“小社会”搞好,以便使人们通过这个小社会看到我们的大社会。(14) (36a) 他只建议旅馆里还须添个舞厅,以便叫高贵的女子也可以进来。(16)

个舞厅”使“叫高贵的女子也可以进来”的目的容易实现一些。分析结果表明“为了”与“以便”在表示目的上存在一定的差别。值得注意的是,因“为了”没有象“以便”那样受限制,所以在上面的两个例子中,使用“以便”的句子可以换成“为了”,而句子的意义基本上不改变。使用“为了”的句子反而不能换成“以便”:

(33b)* 他瞒着父母办了手续,以便学习汉语。

(34b)* 家里已经没有什么可卖的了,以便能让我坚持把学上下去。

(35b) 为了使人们通过这个小社会看到我们的大社会,他尽心竭力把这个“小社会”搞好。(36b) 为了叫高贵的女子也可以进来,他只建议旅馆里还须添个舞厅。

3.“为了”与“以便” 用法方面的比较

3.1 “为了”与“以便”的使用情况考察

部电视剧及两部话剧进行考察、统计后,结果表明“为了”与“以便”的使用频率及其分布如下:

Trang 17

刘亦婷》等属于当代文学。这三本小说使用连词“以便”的句子极少,只使用介词“为了”。但在老舍《四世同堂》这本现代文学小说,连词“以便”与介词“为了”的出现频率相当。介词“为了”与连词“以便”也可以用于报刊种类。“人民日报”使用连词“以便”的例句也比较多。

综上,介词“为了”与连词“以便”的使用频率与分布有很大的差别:“为了”既能用于口语又能用于书面语,连词“以便”一般用于书面语。“为了”能用于各种文体,而连词“以便”有一定的封闭性,用于现代文学作品与新闻报纸。

Trang 18

(41) 未曾开言,他先有滋有味的轻叹了一

与 别 人 有 益 的 事 , 以 便 死 后 心 中 还 是 平 安的。(16)

在用连词“以便”的400句中,我们只发现4个句子有表示施事者进行一些付出较大努力的动作:

好,以便使人们通过这个小社会看到我们的大社会。(14)

(44) 正是因为这样,许多人如果不能进入学校接受正规教育,便刻苦自学,掌握某种技能,以便谋求一份理想的工作,从而改变自己

(45) 对商品物价,他们每天定期进行七八百次抽样调查和比较,以便消费者安排好家庭预算,使市场物价又议定的透明度,鼓励公平竞争。(14)

(46) 在平日,他爱思索,即使是无关宏旨的一点小事,他也要思前想后地考虑,以便得

上面的4个例子中,施事者都使用一些要付出较大努力的动作:“精心竭力要把这个“小社会”搞好”“ 刻苦自学”“ 进行七八百次抽样调查和比较”“ 思前想后地考虑”。

“为了 ”表达的目的很强,目的性越强越能引发动作行为的产生,“以便…”表达的目的比较弱,这也是由“以便”侧重于表达顺成动作行为便能达到或容易达到的效果这语法意义决定的。

Trang 19

(55) 为了研究大熊猫的生活,他一个人在山上和大熊猫一起生活了三年多的时间,真是不可思议。(9: p.157)

(56) 为了你的女儿出风头唱戏,白白的牺

说没作过错事”都能表达评论态度和说话者的感情色彩。

“为了”与“以便”的异同可以总结如

汉语的词类问题一直以来都被视为个老大难题之一,汉语词类系统中虚词的位置极其重要。虚词的研究是汉语语法研究的重要组成部分。虚词研究的最基本方法是比较法,其中把意义相近的虚词放在一起进行比较、辨别是常见的。在实际教学过程当中,我们可以看到虚词一直是教学的重点,也是教学的难点之一。

在越南的汉语教学提供一份有益且必要的参考资料。

注释(6: p.89): 第6号语料,第89页(14): 第14号语料(电子版)

参考文献:

1 傅雨贤、 周小兵 (1997),现代汉语介词研究,中山大学出版社,广州。

Trang 20

12 袁晖 (1998) ,三个平面:汉语语法研究的多维视野,语文出版社,北京。

13 曾艳 (2000) ,“为了”和“以便”,遵义师

14 周小兵 、 李海鸥(2004),对外汉语教学入门,中山大学出版社,广州。

15 吕叔湘 (2000) ,现代汉语八百词,商务印书馆,北京。

在语义上没有这种限制,只要是行为动作想要达成的目的,均可

在语义上偏重于表示行为主体采取某种行为是企求、希望通过它能使目的的实现变得容易些。

有时还可以表达出说话者的感情色彩,如:同情、诉苦、批评、

决心的态度。

不能表达

Trang 21

THE DISTINCTION BETWEEN “WEILE” AND “YIBIAN” IN MODERN CHINESE

PHAM THI THUY DUONG Abstract: Part of speech in modern Chinese is a complex issue in terms of classification, grammatical

function and meaning Functional words, even though less than lexical words in quantity, play an important role in Chinese part of speech As part of Chinese language grammar, more research on functional words needs to be done due to its complex nature with regard to its functional meaning rather than lexical meaning Plus, its functional meaning overlaps in some cases “Weile” and “yibian” are typical examples in which the former is preposition, the latter is conjunction However, they have some similarity in terms of grammatical function, meaning and usage that causes Vietnamese learners

of Chinese language to have difficulty The aim of this article is to give an insight into the similarity and difference between “Weile” and “yibian” with regard to syntax, semantics and usage

Keywords: weile, yibian, functional words, distinction, lexical words, modern Chinese

Received: 14/3/2018; Revised: 11/4/2018; Accepted for publication: 20/4/2018

13 中国作家协会创研部编选 (2004),2004 年中国中篇小说精选(上、下),长江文艺出版社,武汉。

14.北京大学语料库(2006年2月) <http://ccl.pku.edu.cn:8080/ccl_corpus/jsearch/index.jsp?dir=xiandai>

15.曹 禺 ( 2006年 3月 ) , 雷 雨 , 电 子 版

<http://www.eywedu.net/leiyu/index.htm>

16 老舍(1982),四世同堂,未删节本出版。

20.《千年之恋》电视剧(23集),河内电视台播放。

Trang 22

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Các bản tình ca là nguồn cảm hứng cho hầu hết

những người học ngoại ngữ bất kể nền văn hoá

Trong khi giai điệu gây ấn tượng đối với người

nghe, vẻ đẹp của ca từ vẫn chứa những điều bí ẩn

cần được khám phá thêm Trong số các biện pháp

tu từ được sử dụng, biện pháp ngoa dụ đóng vai

trò nổi bật, tuy nhiên ít được nghiên cứu đầy đủ

Theo Galperin (1981, tr.175), ngoa dụ là “một sự

phóng đại có chủ ý hoặc phóng đại một đặc điểm

cần thiết cho đối tượng hoặc hiện tượng Dưới góc

nhìn cực đoan, sự phóng đại này được thực hiện ở

mức độ bất hợp lý” Theo Claridge (2011), ngoa

TRƯƠNG HOÀI UYÊN *

* Đại học Ngoại ngữ - ĐH Đà Nẵng, ✉ thuyen@ufl.udn.vn

Ngày nhận bài: 15/3/2018; ngày sửa chữa: 23/4/2018; ngày duyệt đăng: 20/5/2018

CÁC ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA BIỆN PHÁP NGOA DỤ TRONG CÁC BÀI HÁT

TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

TÓM TẮT

Bài báo phân tích ngôn ngữ ngoa dụ được sử dụng trong các ca khúc tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện cú pháp và ngữ nghĩa Dựa trên lý thuyết của Galperin (1981) và Clardige (2011), bài báo khảo sát ngôn ngữ ngoa dụ trên các bình diện cú pháp thể hiện ở các cấp độ ngôn ngữ và và trên bình diện ngữ nghĩa về các trường nghĩa Phương pháp phân tích định tính được sử dụng trong việc thu thập và phân tích dữ liệu Nguồn dữ liệu 300 mẫu gồm các từ, ngữ và cú có chứa các cách diễn đạt ngoa dụ, trong đó 150 mẫu tiếng Anh và 150 mẫu tiếng Việt Kết quả nghiên cứu cho thấy, biện pháp ngoa dụ sử dụng trong các ca khúc tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm khác biệt và tương đồng trên bình diện ngữ nghĩa ở các phạm trù nghĩa, trong đó, sự cường điệu số, sự đam mê, đau đớn/mất mát, hạnh phúc/lạc quan chiếm ưu thế và cú pháp như các dạng cụm từ, cấu trúc so sánh và mệnh đề Bài báo hy vọng có thể cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ ngoa dụ trong các kỹ năng đọc hiểu, viết và dịch thuật; đối với những người làm công tác giảng dạy, họ cũng có thể sử dụng bài báo như một tư liệu tham khảo trong công việc chuyên môn liên quan đến biện pháp tu từ ngoa dụ

Từ khóa: bài hát, biện pháp tu từ, cú pháp, ngoa dụ, ngữ nghĩa

dụ vẫn là một lĩnh vực ít được nghiên cứu khi so sánh với ẩn dụ và trào phúng Chúng ta hãy xem xét một vài ví dụ về ngôn ngữ ngoa dụ trong các

ca khúc Anh và Việt:

(1) When you smile, the whole world stops

and stares for a while.

Because you’re amazing just the way you are

(Just the way you are - Bruno Mars)

Rõ ràng, câu này là một sự phóng đại có chủ ý Thế giới không thể dừng lại hay nhìn chằm chằm chỉ vì nụ cười của ai đó Sự cường điệu như vậy

Trang 23

được sử dụng để nhấn mạnh đến nụ cười tuyệt vời

của người phụ nữ, làm cho người đàn ông cảm xúc

sâu sắc, và thu hút sự chú ý của người nghe

(2) Chỉ cần em hiểu anh và biết rằng anh mãi

mãi yêu em mà thôi

Vì trong anh em là điều duy nhất

(Dành cho em - Hoàng Tôn)

Để cho người mình yêu hiểu được tình yêu ấy

kéo dài bao lâu và sâu sắc như thế nào, trạng từ

“mãi mãi” và tính từ “duy nhất” được sử dụng để

phóng đại cảm xúc của người đàn ông

Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy

rằng, phân tích và giải thích các cấu trúc ngoa dụ

trong cuộc sống hàng ngày tương đối đầy thử thách

đối với người học tiếng Anh, cũng như người nước

ngoài học tiếng Việt và tìm hiểu văn hoá Việt Nam

khi tìm hiểu được những khía cạnh tinh tế của biện

pháp ngoa dụ được sử dụng trong các ca khúc tiếng

Anh – Việt và sử dụng ngôn ngữ này một cách hiệu

quả Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy rằng, ngôn

ngữ ngoa dụ chưa được nghiên cứu đầy đủ và có

hệ thống trong các tình khúc tiếng Anh và tiếng

Việt Việc dạy tiếng Anh thông qua các bài hát tạo

ra sự quan tâm lớn cho người học, nhờ những giai

điệu và ca từ lôi cuốn đi vào lòng người qua việc

sử dụng ngôn ngữ ngoa dụ

Vì vậy, bài báo hy vọng cung cấp một số phát

hiện cho người học những kiến thức cơ bản trong

việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ ngoa dụ trong các

kỹ năng đọc hiểu, viết và dịch thuật; đối với những

người làm công tác giảng dạy, bài báo như một tư

liệu tham khảo trong công việc chuyên môn liên

quan đến biện pháp tu từ ngoa dụ

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Khái niệm về biện pháp ngoa dụ

Theo Galperin (1981), ngoa dụ là sự phóng đại

có chủ ý một tính năng của một đối tượng cụ thể,

sử dụng sự cường điệu để nhấn mạnh Mục đích

của ngôn ngữ này là tăng cường bản chất của đối

tượng hoặc hiện tượng được đề cập và để tạo ấn

tượng mạnh mẽ lên người đọc, làm cho người đọc/

người nghe quan tâm hơn và hiểu sâu hơn về điều tác giả muốn nói đến

2.2 Chức năng của biện pháp ngoa dụ

Theo Claridge (2011), trong các cuộc hội thoại hàng ngày, ngôn ngữ ngoa dụ được sử dụng đơn thuần chỉ để nhấn mạnh một hiệu ứng hài hước Tuy nhiên, trong âm nhạc nói chung và các tình khúc nói riêng trong một âm thanh, ngôn ngữ này

có những ý nghĩa khác nhau Bằng cách sử dụng ngôn ngữ cường điệu, nhạc sĩ khiến cho những cảm xúc thông thường trở nên đáng chú ý với cường độ mãnh liệt Theo Galperin (1981), ngôn ngữ ngoa dụ không nên nhầm lẫn với sự phóng đại thông thường vốn được sử dụng để diễn tả trạng thái cảm xúc của người nói Ngoa dụ khác với sự cường điệu thông thường bởi thực tế là người nghe biết rằng cường điệu quá mức này là cố ý và người nói chỉ thể hiện thái độ, cảm xúc của mình, không

có ý định lừa dối người nghe

3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích định tính được sử dụng trong việc thu thập và phân tích dữ liệu, tìm ra

sự khác biệt và tương đồng về các đặc điểm ngữ nghĩa và cú pháp của ngôn ngữ cường điệu trong các các bài hát tiếng Anh và tiếng Việt

3.2 Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu là các cách diễn đạt ngoa dụ trong các ca khúc Anh – Việt Do tính chất dễ nhập liệu và xử lý văn bản nên nguồn dữ liệu trên các trang web trực tuyến đã được chọn để sử dụng.Nguồn dữ liệu 300 mẫu gồm các từ, ngữ và cú

có chứa các cách diễn đạt ngoa dụ, trong đó 150 mẫu tiếng Anh và 150 mẫu tiếng Việt

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN 4.1 Các đặc điểm cú pháp của ngôn ngữ ngoa

dụ trong các ca khúc tiếng Anh và tiếng Việt

Kết quả cho thấy, cấu trúc ngoa dụ được tìm thấy

ở dạng cụm từ, cấu trúc so sánh và câu điều kiện

Trang 24

4.1.1 Cụm từ

Cụm danh từ

Các cụm danh từ tìm thấy trong các ca khúc

tiếng Anh hầu hết có dạng:

Cụm danh từ = (thành tố tiền hạn định) +

(tính từ) + danh từ

(NP = (pre-determiner) + adjective + noun)

Xét các ví dụ:

(3) Boys only want love if it’s torture

(Blank space - Taylor Swift)

(4) Because there’ll be no sunlight if I lose

you, baby

(It will rain - Bruno Mars)

(5) And I won’t make you cry

And maybe an everlasting love can try

(An everlasting love - Andy Gibb)

Cụm danh từ ngoa dụ xuất hiện trong câu ở

dạng cơ bản nhất là danh từ đơn (torture) ở ví dụ

3 Danh từ đơn có thể được thành tố tiền hạn định

(pre-determiner) bổ nghĩa (no) trong cụm danh

từ “no sunlight” ở ví dụ 4, hoặc tính từ bổ nghĩa

(everlasting) đứng sau thành tố tiền hạn định và

NP = pre-modifier + noun + post modifier

Đáng chú ý, các cụm danh từ tìm thấy trong

các ca khúc tiếng Việt có điểm tương đồng với các

ca khúc tiếng Anh qua các cấu trúc:

Cụm danh từ = danh từ + bổ ngữ đứng sau

(7) Anh muốn nói với em những điều thật lớn

lao, sẽ luôn ở đây, nơi tim anh, tình yêu bất tận.

(Bức thư tình đầu tiên - Đỗ Bảo)

(8) Ngày nào đó anh sẽ biết ra rằng mỗi riêng

mình em thôi, yêu anh mong anh suốt kiếp.

Xét ví dụ:

(10) When our friends talk about you, all

it does is just tear me down, because my heart breaks a little when I hear your name.

(It will rain – Bruno Mars)

(11) Baby when you touch me, I can feel how

much you love me And it just blows me away

(Amazed – Lonestar)

Bên cạnh đó, ta còn có cấu trúc:

Cụm động từ = động từ + cụm danh từ + động từ

(VP = Verb + NP + Verb)

Xét ví dụ:

(12) You got me losing every breath What did you give me to make my heart bleed out my chest?

(Latch – Sam Smith)

Ngoài ra, ta còn các cấu trúc:

VP = Verb + (NP) + AdjectiveP

Trang 25

Xét ví dụ:

(13) You make me feel so alive.

(Alive - Empire of The Sun)

(14) You leave me breathless.

(Breathless - Shayne Ward)

Trong tiếng Việt, cụm động từ bao gồm một

nội động từ, hoặc gồm bổ ngữ đứng trước và bổ

ngữ đứng sau:

Xét ví dụ:

(15) Bởi phút giây biệt ly chẳng ai than trách

gì, em đã cố hết sức níu lại, không để tim mình

ngừng đập.

(Quay lưng đi - Bảo Thy)

(16) Một ngày 24 giờ em nhớ anh, chẳng thể

nào quên từng giây có anh.

(24 giờ 7 ngày - Huy Tuấn)

Có thể thấy, danh từ và động từ đơn có thể

được sử dụng như một biện pháp ngoa dụ Các

cụm danh từ có bổ ngữ đứng trước và bổ ngữ đứng

sau đều dùng định tố (determiners) ở dạng từ chỉ

số lượng

Cụm tính từ và giới từ

Trong các ca khúc tiếng Anh, tính từ đơn lẻ vẫn

có đầy đủ chức năng của biện pháp ngoa dụ Xét

ví dụ sau:

(17) I was blessed because I was loved by you.

(Because you loved me – Celine Dion)

Ngoài ra, qua ví dụ:

(18) I’ll be forever thankful baby.

(Because you loved me - Celine Dion)

Ta có cấu trúc:

Cụm tính từ = bổ ngữ đứng trước + tính từ (AdjP = (pre-modifier) + Adjective)

Qua ví dụ 19:

(19) I have loved you for a thousand years I’ll love you for a thousand more

(A thousand years - Christina Perri)

Ta thấy, cụm giới từ bao gồm giới từ và cụm danh từ:

Cụm giới từ = giới từ + cụm danh từ (Prep Phrase = Prep + NP)

Xét ví dụ:

(20) Chỉ thế thôi, tôi tin anh ấy, bằng tất cả

tình yêu nơi tôi.

(Điều ngọt ngào nhất - Đỗ Bảo)

Có thể thấy sự tương đồng giữa cấu trúc cụm tính từ và giới từ tiếng Anh và tiếng Việt:

Cụm tính từ = bổ ngữ đứng trước + tính từ Cụm giới từ = giới từ + cụm danh từ

(All my life - Stephen Bishop)

(22) I will never find another lover more

precious than you.

(All my life - Stephen Bishop)

Trang 26

Qua các ví dụ trên, ta có cấu trúc:

S1 + Verb + NP + Comp Adj + than + S2

So sánh nhất

Cấu trúc so sánh nhất thay thế các cấu trúc

thông thường khiến cho cách diễn đạt nhấn mạnh

hơn Qua ví dụ sau, để làm nổi bật vẻ đẹp của cô

gái, tác giả đã sử dụng cấu trúc so sánh nhất “the

most beautiful girl in the world” như một biện

pháp ngoa dụ thay cho cách diễn đạt thông thường

“beautiful”

(23) The most beautiful girl in the world

picks my ties out

(The most beautiful girl in the world - Frank

mạnh thông điệp “you look very good”:

(24) No one could look as good as you

(Pretty Woman - Roy Orbison)

S1 + Verb + As + Adj + As + S2

Trong tiếng Việt, từ so sánh “như” được sử

dụng phổ biến trong ngôn ngữ ngoa dụ Xét các

ví dụ:

(25) Mà sao hôm nay anh vui cùng cô gái kia

Trời đất bỗng như sao cuồng quay.

(Ghen - Phương Thanh)

(26) Một lần gặp gỡ đã như quen thuở nào.

Cụm danh từ + bổ ngữ đứng trước + như + cụm động từ

4.1.3 Mệnh đề Câu điều kiện

Biện pháp ngoa dụ xuất hiện trong các câu điều kiện loại 0, loại một và loại hai Xét các ví dụ:

(29) Boys only want love if it’s torture

(Blank space - Taylor Swift)

(30) Because there’ll be no sunlight if I lose

you, baby

(It will rain - Bruno Mars)

(31) If my body was on fire, you’d watch me

burn down in flames

(Grenade - Bruno Mars)

Trong tiếng Việt, câu điều kiện không phổ biến như trong tiếng Anh Theo Nguyễn Kim Thản (1997), câu điều kiện không được xem là một điểm ngữ pháp quan trọng mà được gọi là các câu phức thể thể hiện mối quan hệ kết quả điều kiện Theo Diệp Quang Ban (2004), các câu phức kết hợp với các bổ ngữ hoặc liên từ diễn tả mối quan hệ điều kiện – kết quả: nếu, hễ, miễn (là), giá, dù cho,… được xem là câu điều kiện Mệnh đề còn lại bắt đầu bằng (hoặc không có) từ liên kết “thì” là mệnh

đề chỉ kết quả

Trang 27

(32) Dù cho núi sẽ mòn và sông sẽ cạn, lòng

anh vẫn không quên được ngày xưa

(Tìm được nhau khó thế nào - Mr Siro)

(33) Từ bỏ mọi giác quan nếu không còn

được yêu anh

(Mặc kệ - Tiên Cookie)

(34) Một ngày nào đó nếu ánh dương sẽ không

còn, loài người chìm trong…

(Nếu điều đó xảy ra - Ngọc Châu)

4.2 Các đặc điểm ngữ nghĩa của ngôn ngữ

ngoa dụ trong các ca khúc tiếng Anh và tiếng Việt

Ngoa dụ chỉ số là đặc điểm ngữ nghĩa đáng chú

ý của ngôn ngữ ngoa dụ

4.2.1 Ngoa dụ chỉ số (Numerical hyperbole)

Từ chỉ bội số (multiple words)

Một trong những dạng thức ngoa dụ xuất hiện

nhiều nhất thuộc về nhóm ngoa dụ chỉ số Phần lớn

các ngôn ngữ ngoa dụ chỉ bội số bao gồm nghìn

(thousand) và triệu (million) Xét các ví dụ sau:

(35) I could hold you for a million years.

(Make you feel my love - Adele)

(36) I have loved you for a thousand years

I’ll love you for a thousand more.

(A thousand years - Christina Perri)

Từ các ví dụ trên, có thể thấy, “million” và

“thousand” là những từ chỉ bội số phổ biến nhất

được sử dụng Điều này có thể do thực tế những

bội số này đóng góp số lượng lớn cho văn học và

các cuộc hội thoại hàng ngày Các nhà soạn nhạc

tiếng Anh có thể mong muốn gây ra những hiệu

ứng cảm xúc tương tự đối với người nghe Có thể

thấy, các ví dụ mà “million” và “thousand” ở đây

không còn đại diện cho những con số, thay vào đó,

chuyển tải thông điệp nhấn mạnh có chủ ý

Tương tự như vậy, trong các ca khúc tiếng

Việt, các cấu trúc ngoa dụ chỉ số lượng nói chung

và từ chỉ bội số nói riêng khá phổ biến Xét các ví

dụ sau:

(37) Dành cho em ngàn câu ca và thương yêu đó

(Dành cho em – Hoàng Tôn)

(38) Sao em mơ ngày mai chốn xa xa, cho tình

yêu này ngàn năm mãi không phai.

(Nỗi đau chia xa - Phương Uyên)

Có thể thấy, ngoa dụ chỉ số sử dụng các từ chỉ bội số được xem như một công cụ hữu hiệu để bày tỏ tâm tư tình cảm một cách sinh động Những

bội số từ như ngàn và trăm đứng trước danh từ để

nhấn mạnh những cảm xúc khác nhau như nỗi đau,

sự nhớ nhung, nỗi buồn khi yêu Khi nhạc sĩ muốn gửi gắm thông điệp cho ca từ, sự kết hợp hai từ chỉ

bội số trăm ngàn đã được sử dụng nhằm truyền tải

cảm xúc sâu đậm cho người nghe

Từ tập hợp/chỉ sự tuyệt đối (collective/absolute container)

Ngoa dụ chỉ số còn được thể hiện qua từ số lượng chỉ sự tuyệt đối hoặc tập hợp Theo số liệu thống

kê của nghiên cứu này, ngôn ngữ ngoa dụ trong trường hợp này khá phổ biến Xét các ví dụ sau:(39) And when you smile,

The whole world stops and stares for a while

(Just the way you are - Bruno Mars)

(40) All my life I prayed for someone like you

I thank God that I, that I finally found you

(All my life - Stephen Bishop)

(41) With every word and every breath I’m

praying That’s why I’m saying

(Please forgive me - Bryan Adams)

Trong ca khúc tiếng Việt, ngoa dụ chỉ sự tuyệt đối/tập hợp khá phổ biến Xét các ví dụ sau:(42) Ðể rồi ta mất nhau, mất nhau vì cuộc tình

lầm lỡ Mất nhau để trọn đời thương nhớ Mất

nhau khi vẫn nhớ về nhau

(Để trọn đời thương nhớ - Lê Hiếu)

Trang 28

(43) Chạm vào tim em, để nghe nhịp tim vẫn

run run gọi tên anh Từ bỏ mọi giác quan nếu

không còn được yêu anh

(Mặc kệ - Tiên Cookie)

(44) Khi Anh trông thấy Em

Cả địa cầu như vắng ngắt

(Ngỡ đâu tình đã quên mình - Mỹ Tâm)

(45) Tình một đời không ra, có ai như tình đôi ta

Chẳng còn gì hơn anh, tình này dành hết cho anh

(Người yêu bé nhỏ - Phương Uyên)

Sự độc nhất/Hư không (Uniqueness and

Nothingness)

Xét các ví dụ trong các ca khúc tiếng Anh:

(46) Pretty woman, I don’t believe you

You mock the truth

No one could look as good as you

(Pretty Woman - Roy Orbison)

(47) Nothing’s going to change my love for you

(Nothing’s gonna change my love for you -

Glenn Medeiros)(48) I faced the nights alone

Oh, how could I have known

That all my life I only needed you?

(Almost Paradise - Heart)

Trong các tình khúc tiếng Việt, các cấu trúc

ngoa dụ chỉ sự duy nhất/hư không được tìm thấy

Xét các ví dụ sau:

(49) Chỉ cần em hiểu anh và biết rằng anh mãi

mãi yêu em mà thôi Vì trong anh em là điều duy nhất

(Dành cho em - Hoàng Tôn)

(50) Đời em luôn mong có anh, chỉ mong có

anh Ngày nào đó anh sẽ biết ra rằng mỗi riêng

mình em thôi, yêu anh mong anh suốt kiếp.

(Vì em yêu anh - Đức Trí)

Tính vĩnh viễn/bất diệt (eternity/foreverness)

Xét các ví dụ sau:

(51) I will give you my heart until the end of time.

(My Valentine - Martina McBride)

(52) For all the love I found in you, I’ll be

forever thankful baby

(Because you loved me - Celine Dion)

(53) I could stay lost in this moment forever

Every moment spent with you is a moment I treasure

(I don’t want to miss a thing - Aerosmith)

(54) Soaring, tumbling, freewheeling

Through an endless diamond sky.

(A whole new world - Alan Menken)

(55) And I won’t make you cry

And maybe an everlasting love can try.

(An everlasting love - Andy Gibb)

Các ca khúc tiếng Việt cũng sử dụng ngôn ngữ ngoa dụ này Xét các ví dụ sau:

(56) Ngọt lắm những lúc em nắm đôi tay

Và hứa sẽ mãi yêu chỉ anh đây.

(Đếm ngày xa em - OnlyC)

(57) Anh muốn nói với em những điều thật lớn

lao Sẽ luôn ở đây, nơi tim anh, tình yêu bất tận.

(Bức thư tình đầu tiên - Đỗ Bảo)

(58) Và có lẽ em không bao giờ trách than vì

em đã quá yêu anh

(Vì em yêu anh - Đức Trí)

(59) Tình yêu tôi như dòng Krông na tuôn trào

Không bao giờ khô cạn, không khi nào tàn phai

(Em muốn sống bên anh trọn đời - Nguyễn Cường)

Trang 29

Sao em mơ ngày mai chốn xa xa, cho

tình yêu này ngàn năm mãi không

phai

Tập hợp

(Collective) And when you smile, the whole world stops and stares for a while Khi Anh trông thấy em, cả địa cầu như vắng ngắt

Duy nhất

(Uniqueness) No one could look as good as you

Chỉ cần em hiểu anh và biết rằng anh mãi mãi yêu em mà thôi vì trong anh

em là điều duy nhất.

Vĩnh cữu

(Eternity) And I won’t make you cry And maybe an everlasting love can try

Anh muốn nói với em những điều thật lớn lao

Sẽ luôn ở đây, nơi tim anh, tình yêu bất tận.

4.2.2 Cấu trúc ngoa dụ diễn đạt niềm hạnh

phúc/lạc quan

Được xem như một sắc thái lạc quan của tình

yêu, trong âm nhạc, niềm hạnh phúc thường được

cường điệu nhằm tạo ấn tượng sâu đậm đến người

nghe Xét các ví dụ sau trong các ca khúc tiếng Anh:

(60) And I love you so I’m such a happy man

Life began again, the day you took my hand.

(And I love you so - Elvis Presley)

(61) I just want to be close to you You make

me feel so alive.

(A natural woman - Carole King)

Rõ ràng rằng hành động you took my hand

không thể giúp cho life began again Tương tự,

cảm giác feel so alive là một cách diễn đạt cường

điệu nhằm bày tỏ niềm hạnh phúc, bởi lẽ close to

you không thể khiến con người feel so alive.

Trong ca khúc tiếng Việt, niềm hạnh phúc được

diễn đạt qua các ví dụ sau:

(62) Vì em mang niềm vui tới nơi anh

Như người may mắn nhất trên đời

(Đếm ngày xa em - OnlyC)

(63) Chỉ thế thôi, tôi tin anh ấy, bằng tất cả tình

yêu nơi tôi

Chỉ thế thôi, tôi cám ơn đời, mang anh đến

điều ngọt ngào nhất trên đời

(Điều ngọt ngào nhất - Đỗ Bảo)

4.2.3 Cấu trúc ngoa dụ diễn đạt vẻ đẹp/sự lôi cuốn

Trong ngôn ngữ của các tình khúc, vẻ đẹp được tô điểm thêm nhờ biện pháp ngoa dụ Xét các ví dụ sau:

(64) When you smile, the whole world stops and stares for a while.

(Just the way you are - Bruno Mars)

(65) You’ve got a smile that could light up this

whole town.

(You belong with me - Taylor Swift)

(66) Time stands still Beauty in all she is

(A thousand years - Christina Perri)

Thế giới không thể ngừng quay, thành phố không thể đươc thắp sáng và thời gian không thể đứng yên chỉ vì nụ cười và vẻ đẹp người phụ nữ

Có thể thấy, sự miêu tả mang tính ngoa dụ nhằm nhấn mạnh vẻ đẹp, sự duyên dáng và say mê trong đôi mắt kẻ đang yêu

Trong các ca khúc tiếng Việt, vẻ đẹp của nụ cười được miêu tả thông qua các cụm từ “ngất ngây” và “đẹp nhất trên đời” qua các ví dụ sau:

Trang 30

(67) Nhớ nụ cười hồn như ngất ngây.

(Xin một ngày mai có nhau - Khánh Hà)

(68) Vừa khi em hé môi

Nụ cười đẹp nhất trên đời

Mà như xa cách anh rồi

(Đánh mất - Mr Siro)

4.2.4 Cấu trúc ngoa dụ diễn đạt sự đam mê

Có thể thấy rằng, ngoa dụ là một biện pháp tu

từ hiệu quả diễn đạt sự đam mê, một nét ngữ nghĩa

đặc trưng trong cả ca khúc tiếng Anh và tiếng Việt

Xét các ví dụ sau:

(69) If you could take my pulse right now, it

would feel just like a sledgehammer.

If you could feel my heart beat now, it would

hit you like a sledgehammer.

(Sledgehammer - Fifth Harmony)

(70) Honey, I knew that we would be together

forever I’d rather die than live without you.

(I’ll never break your heart - Backstreet Boys)

(71) I swear I hear your voice driving me

insane How I wish that you would call to say.

(Anytime - Brian Mcknight)

Như đã đề cập ở trên, biện pháp ngoa dụ diễn

đạt sự đam mê được sử dụng khá phổ biến trong

các ca khúc Việt:

(72) Anh mong em đừng thay đổi Vì anh đã

quá yêu em mất rồi.

(Đếm ngày xa em - OnlyC)

(73) Gạt đi quá khứ đau buồn ta sẽ yêu nhau

như lúc đầu Giờ em mới biết con tim em yêu anh

hơn chính mình.

(Yêu anh hơn chính em - Nguyễn Hoàng Duy)

4.2.5 Cấu trúc ngoa dụ diễn đạt nỗi đau/nỗi buồn

Qua các cấu trúc “make my heart bleed out my

chest”, “breaks my heart”, nỗi đau/nỗi buồn trong

tình yêu được lột tả ấn tượng và mạnh mẽ Xét các

ví dụ sau:

(74) How do you do it? You got me losing

every breath What did you give me to make my

heart bleed out my chest?

(Latch - Sam Smith)

(75) It breaks my heart to see you crying.

(Glory of Love - Peter Cetera)

Trong các ca khúc tiếng Việt, sự đau buồn được miêu tả kịch tính thông qua các cách diễn

đạt “lòng tan nát rã rời”, “trái tim vụn vỡ”, “tim ngừng đập” nhằm nhấn mạnh nỗi đau trong tình

(Em đi - Đức Huy)

(77) Trái tim em vụn vỡ khi chia tay tình đầu

Chẳng dám mong ngày sau lòng này yêu ai nữa đâu

(Yêu lần nữa - Lương Minh Trang)

(78) Bởi phút giây biệt ly chẳng ai than trách

gì Em đã cố hết sức níu lại, không để tim mình

ngừng đập.

(Quay lưng đi - Bảo Thy)

4.2.6 Cấu trúc ngoa dụ diễn đạt nỗi nhớ

Trong ca khúc tiếng Anh, cấu trúc “the day feels like years” không ngụ ý ngày thật sự dài như năm, một điều phi lý trong thực tế Thông qua biện pháp ngoa dụ, người viết nhằm muốn lột tả nỗi nhớ mãnh liệt, thay vì “I really miss you”

(79) My loneliness is killing me I must

confess, I still believe When I’m not with you I lose my mind

(Baby one more time - Britney Spears)

(80) The days feel like years when I’m alone.

(When you’re gone - Avril Lavigne)

Trong ca khúc tiếng Việt, khái niệm thời gian được sử dụng khá phổ biến khi diễn đạt nỗi nhớ Xét các ví dụ sau:

Trang 31

(81) Sự thật là em vẫn nhớ anh bất kể đêm ngày.

(Mùa xa nhau - Tiên Cookie)

(82) Này em có thấu anh đang mỏi mệt Ngần

ấy năm, một giây anh vẫn không ngừng nhớ em.

(Đánh mất - Mr Siro)

5 KẾT LUẬN

Nhìn chung, về mặt cú pháp, ngôn ngữ ngoa

dụ được tìm thấy ở dạng cụm từ, cấu trúc so sánh

và mệnh đề Danh từ, động từ và tính từ đơn lẻ có

thể được sử dụng như biện pháp ngoa dụ Trong

câu điều kiện, trong cú pháp tiếng Việt, câu điều

kiện không phổ biến như trong tiếng Anh và không

được xem như điểm ngữ pháp chính, vì vậy, có

những khác biệt lớn giữa hai ngôn ngữ Về tính

năng ngữ nghĩa, ngoa dụ chỉ số, sự đam mê, hạnh

phúc/lạc quan, nỗi buồn, nỗi nhớ và vẻ đẹp chiếm

ưu thế Kết quả nghiên cứu cho thấy biện pháp

ngoa dụ sử dụng trong các ca khúc Anh và Việt có

những điểm khác biệt và tương đồng từ quan điểm

ngữ nghĩa và cú pháp

Tuy còn một số hạn chế không thể tránh khỏi trong kết quả nghiên cứu, chúng chúng tôi mong rằng đóng góp phần nào giúp người học và người dạy có thể nắm vững và phân biệt cách sử dụng các cách diễn đạt ngoa dụ, sử dụng chúng một cách hữu ích vào quá trình dạy và học ngôn ngữ./

Tài liệu tham khảo:

1 Diệp Quang Ban (2005) Ngữ pháp tiếng Việt NXB Giáo dục, Hà Nội.

2 Nguyễn Kim Thản (1997) Nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt NXB Giáo dục, Hà Nội.

3 Thư viện lời nhạc (n.d.) Truy xuất từ <http://lyric.tkaraoke.com/>

4 Claridge, C (2011) Hyperbole in English

A Corpus-based study of exaggeration New York:

Cambridge University Press

5 Galperin, I.R (1981) Stylistics Moscow:

Higher School Publishing House

SYNTACTIC AND SEMANTIC FEATURES OF HYPERBOLE IN ENGLISH

AND VIETNAMESE SONGS

TRUONG HOAI UYEN Abstract: This article addressed the language of hyperbole used in English and Vietnamese

songs under the perspective of syntax and semantics In light of the theories of hyperbole by Galperin (1981) and Clardige (2011), syntactically, the language of hyperbole was expressed by different linguistic units and semantically, by semantic fields The qualitative analysis method was employed to collect and analyze data The data for analysis included 300 samples of words, phrases and sentences that contain hyperbolic expressions There were 150 Vietnamese samples and 150 English ones The findings showed that the language of hyperbole used in English and Vietnamese songs bore both similarities and differences In terms of semantic features, hyperbolic expressions were found in a number of categories, among which numerical hyperbole, hyperbolic expressions of passion, pain/sadness, missing, happiness/optimism were the most dominant Syntactically, hyperbolic expressions were significantly found in various phrases, comparative structures and clauses On the basis of the findings, several implications and suggestions on comprehending, translating the language of hyperbole as well as learning and teaching English through stylistics in general and hyperbole in particular are put forward

Keywords: song, stylistics, syntax, hyperbole, semantics

Received: 15/3/2018; Revised: 23/4/2018; Accepted for publication: 20/5/2018

Trang 32

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Truyền thống nghiên cứu ngữ pháp ở châu Âu

có từ rất sớm, đã tạo ra được nhiều kết quả lí luận

và thực hành rất lớn, có tầm ảnh hưởng rộng khắp

trên toàn thế giới Ở Việt Nam, ngữ pháp tiếng Việt

được đề cập đến sớm nhất là trong từ điển Việt

– Bồ – La của A.de Rhodes Tiếp theo đó là các

công trình của nhiều tác giả khác như Trương Văn

Chình, Nguyễn Hiến Lê, Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ,

Phạm Duy Khiêm, Bùi Đức Tịnh… Về mặt ngữ

pháp lý thuyết và ngữ pháp thực hành, vấn đề ý

nghĩa ngữ pháp và phương thức ngữ pháp (trong

vấn đề liên quan trực tiếp là phạm trù ngữ pháp)

là nội dung rất quan trọng Tiếp thu và ứng dụng

những thành tựu nghiên cứu hữu quan, ngữ pháp

học của Việt ngữ học cũng đã đạt được những

ĐOÀN HỮU DŨNG *

* Học viện Khoa học Quân sự, ✉ doandung8782@gmail.com

Ngày nhận bài: 28/01/2018; ngày sửa chữa: 20/3/2018; ngày duyệt đăng: 20/4/2018

cụ và một số phương thức thể hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong hai ngôn ngữ Nga - Việt, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo

Từ khóa: công cụ, phạm trù ngữ pháp, phương thức ngữ pháp, ý nghĩa ngữ pháp

thành tựu đáng kể trong phân tích và miêu tả Sau đây tôi xin được trình bày 3 vấn đề liên quan đến chủ đề

2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 2.1 Ý nghĩa ngữ pháp

Khi nói đến ý nghĩa trong ngôn ngữ, người ta thường nghĩ ngay đến ý nghĩa riêng của từng đơn

vị (từ, câu,…) Ý nghĩa riêng của từng từ được gọi là ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa riêng của từng câu cũng thuộc phạm trù ý nghĩa từ vựng vì nó do ý nghĩa từ vựng của các từ trong câu trực tiếp tạo nên (Nguyễn Thiện Giáp, 2014, tr.214) Bên cạnh loại ý nghĩa nói trên, mỗi loạt đơn vị còn có ít nhất một ý nghĩa chung bao trùm lên, gọi là ý nghĩa ngữ

pháp Ví dụ, trong tiếng Nga, các từ như дом (ngôi

Trang 33

nhà), письмо (bức thư), ручка (cái bút), đều có

một ý nghĩa chung bao quát là “sự vật”, “số ít”,

“cách 1 (chủ cách)”

Là ý nghĩa chung của hàng loạt từ, hàng loạt

câu, ý nghĩa ngữ pháp có tính khái quát hoá cao

hơn ý nghĩa từ vựng Cũng như ý nghĩa từ vựng,

ý nghĩa ngữ pháp cũng được thể hiện ra bằng

những hình thức nhất định Khác nhau chỉ ở chỗ,

mỗi loại ý nghĩa tìm cho mình một phương tiện

biểu hiện riêng Đối với việc biểu đạt ý nghĩa từ

vựng, phương tiện ấy là phương tiện từ vựng, còn

phương tiện thích hợp để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp

là phương tiện ngữ pháp (Nguyễn Thiện Giáp,

2014, tr.214-215)

Không thể nói tới sự tồn tại của một ý nghĩa

ngữ pháp nào đó trong một ngôn ngữ nhất định

nếu không tìm thấy phương tiện ngữ pháp diễn

đạt nó Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn

liền mật thiết với nhau Từ với tư cách là đơn vị

nhỏ nhất của ngôn ngữ vốn có cả hai mặt ý nghĩa

đó Ý nghĩa từ vựng phân biệt từ với hàng loạt từ

khác, còn ý nghĩa ngữ pháp thì thống nhất các từ

trong nhóm lại Ý nghĩa ngữ pháp là sự trìu tượng

hoá ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp đi kèm với

ý nghĩa từ vựng và không thể tồn tại tách khỏi ý

nghĩa từ vựng

Có nhiều nhà Việt ngữ học đưa ra khái niệm về

ý nghĩa ngữ pháp, tuy nhiên chúng tôi nhận thấy

khái niệm của Nguyễn Thiện Giáp (2004, tr.216)

là cô đọng và đủ ý hơn cả: Ý nghĩa ngữ pháp là

loại ý nghĩa chung cho hàng loạt các đơn vị ngôn

ngữ và được thể hiện bằng những phương tiện ngữ

pháp nhất định

2.2 Phương thức ngữ pháp

Bất kỳ ý nghĩa của một từ, một tổ hợp từ hay

một câu nào cũng có những hình thức thể hiện của

nó Ý nghĩa ngữ pháp cũng được thể hiện bằng

những hình thức nhất định Mỗi phương thức ngữ

pháp có nhiều phương tiện biểu hiện khác nhau

Phương tiện biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp rất

phong phú, nhưng phương thức ngữ pháp được

khái quát lại nên chỉ còn một số loại khác nhau,

đó là: phương thức phụ tố, phương thức chuyển đổi trong căn tố và bổ sung căn tố, phương thức thay từ căn, phương thức trọng âm, phương thức lặp (láy), phương thức từ hư, phương thức trật tự

từ (Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng

Phiến, 2008) Ngoài các phương thức chính nêu trên còn có thể kể ra một vài phương thức khác nữa như: phương thức ghép, phương thức ngữ điệu Các phương thức ngữ pháp trên đây cũng có thể phân thành hai kiểu: phương thức ngữ pháp bên trong từ (bao gồm phương pháp phụ tố, luân phiên ngữ âm, thay từ căn, trọng âm, lặp) và các phương thức bên ngoài từ (phương thức sử dụng

hư từ, trật tự từ, ngữ điệu) Kiểu thứ nhất gọi là tổng hợp tính, kiểu thứ hai gọi là phân tích tính Đây cũng chính là cơ sở để các nhà ngôn ngữ học phân chia các ngôn ngữ trên thế giới thành hai loại,

là các ngôn ngữ tổng hợp tính và các ngôn ngữ phân tích tính

Tóm lại, ý nghĩa ngữ pháp và phương thức ngữ pháp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: chỉ có thể nói đến ý nghĩa ngữ pháp khi có các phương thức ngữ pháp, không có một loại ý nghĩa ngữ pháp nào mà không có phương thức thể hiện nó Do vậy, có thể khẳng định, dấu hiệu nhận biết một ý nghĩa ngữ pháp là nó phải có các phương thức thể hiện Ý nghĩa ngữ pháp của một ngôn ngữ này có thể được thể hiện bằng phương thức này, nhưng ý nghĩa ngữ pháp đó trong một ngôn ngữ khác lại được thể hiện bằng các phương thức khác.

Với cách định nghĩa như trên, khi nói đến một phạm trù ngữ pháp cần phải nói đến hai điều kiện: điều kiện cần và điều kiện đủ Điều kiện cần là phải có các ý nghĩa ngữ pháp đối lập nhau và có hình thức ngữ pháp khác biệt, điều kiện đủ là các quan hệ ngữ pháp đó (các ý nghĩa ngữ pháp và

Trang 34

hình thức ngữ pháp đó) phải được thể hiện đều đặn

ở một nhóm hoặc một lớp đơn vị ngôn ngữ (danh

từ, động từ, tính từ,…) Ví dụ: trong tiếng Anh,

phạm trù số luôn là thể thống nhất của hai ý nghĩa

đối lập là số ít và số nhiều; được thể hiện bằng phụ

tố zero và phụ tố -s; luôn được thể hiện trong một

Tiếng Nga thuộc loại hình ngôn ngữ hoà kết

Trong hoạt động ngôn ngữ, từ có biến đổi hình

thái, tức là, từ này đòi hỏi từ kia ở sự hợp dạng

Điều này có nghĩa rằng, ở đây, ý nghĩa ngữ pháp

của từ, các quan hệ ngữ pháp của từ được thể hiện

ngay trong bản thân từ Trong tiếng Nga, một ý

nghĩa ngữ pháp có thể được thể hiện bằng nhiều

phụ tố, và ngược lại, nhiều ý nghĩa ngữ pháp có

thể được biểu diễn đồng thời bằng một phụ tố Tức

là ở đây, sự tương ứng giữa phụ tố với ý nghĩa

ngữ pháp không phải là một đối một một cách chặt

chẽ Với những đặc trưng cơ bản như vậy, ta thấy,

ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong tiếng Nga chủ

yếu được thể hiện bằng phương thức phụ tố (Cách

công cụ – danh từ biến đổi về cách trong hệ thống

6 cách)

Trong tiếng Nga, danh từ được biến đổi theo 6

cách, mỗi cách có một ý nghĩa riêng Ý nghĩa ngữ

pháp chỉ công cụ chủ yếu được thể hiện ở cách 5

không có giới từ (cách công cụ) Xét ví dụ sau:

- Каждый день я езжу в школу велосипедом

(Hàng ngày tôi đi học bằng xe đạp)

- Я пишу письмо ручкой (Tôi viết thư bằng

bút mực)

- Я режу мясо ножом (Tôi thái thịt bằng dao)

Trong 3 ví dụ trên, các danh từ велосипедом

(xe đạp), ручкой (bút mực), ножом (dao) đã được

biến đổi sang dạng thức cách 5 với các phụ tố -ом,

-ой, -ом nhằm biểu đạt ý nghĩa chỉ công cụ thực hiện

các hành động ехать (đi), писать (viết), резать

(cắt), trả lời cho câu hỏi чем? (bằng gì?), có nghĩa

là, ý nghĩa công cụ thực hiện hành động trong tiếng Nga được khái quát hoá qua công thức sau:

Г + Сущ инстр

trong đó: Г_глагол (động từ)

Сущ _существительное (danh từ) инстр _инструмент (công cụThông thường, danh từ ở cách công cụ (cách 5) trong tiếng Nga có các biến tố để thể hiện ý nghĩa

cách đó bao gồm: -ом, -ем (đối với danh từ giống đực và giống trung, số ít), -ой, -ей (đối với danh

từ giống cái, số ít), -ами, -ями (đối với danh từ ở

số nhiều)

3.2 Phương thức hư từ

Ngoài phương thức phụ tố, ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong tiếng Nga còn được thể hiện bằng phương thức hư từ, cụ thể, đó là sử dụng giới

từ Có rất nhiều giới từ ở tất cả các cách trong tiếng Nga thể hiện ý nghĩa chỉ công cụ thực hiện hành

động như giới từ: с, под + cách 5 (công cụ cách); из; с + cách 2 (sinh cách); в, на + cách 6 (giới cách); о + cách 4 (đối cách); через, сквозь + cách 4 (đối cách); в, на + cách 4 (đối cách); по + cách 3 (cho cách) Trong số các giới từ thể hiện ý nghĩa công cụ, giới từ -с ở cách 5 (cách công cụ)

được sử dụng với tần suất cao nhất, trả lời cho câu

hỏi с чем? (với cái gì?/bằng cái gì?) Các danh từ đứng sau giới từ -c cũng được biến đổi sang cách

5 với các phụ tố tương tự như khi không có giới

từ, tức là cũng là các biến tố: -ом, -ем, -ой, -ей, -ами, -ями Còn các danh từ đi sau các giới từ ở

các cách khác cũng được biến đổi theo các quy luật biến đổi danh từ ở các cách đối với danh từ số

ít giống đực, giống cái, giống trung và danh từ số nhiều Phương thức này được khái quát bằng công thức sau:

VГ + предлог + Сущ инстр

trong đó: Г_глагол (động từ)

предлог_giới từСущ._существительное (danh từ)инстр_инструмент (công cụ)

Trang 35

Dưới đây là các ví dụ minh hoạ:

Các phạm trù ngữ pháp giống, cách, ngôi, thời,

thức, dạng vốn được phát hiện và nghiên cứu trên

ngữ liệu các ngôn ngữ Ấn – Âu, cho nên cũng

không ngạc nhiên khi tiếng Việt – một ngôn ngữ

khác hẳn các ngôn ngữ Ấn – Âu về nguồn gốc

cũng như loại hình – lại không có các phạm trù ấy

Chính vì vậy, chúng ta sẽ thử tìm hiểu, khảo sát,

nhận diện ý “nghĩa ngữ pháp công cụ” trong tiếng

Việt là gì và được thể hiện bằng những phương

thức nào

Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập,

từ không biến đổi hình thái Hình thái của từ tự nó không chỉ ra mối quan hệ giữa các từ ở trong câu, không chỉ ra chức năng cú pháp của các từ Qua hình thái, tất cả các từ dường như không có quan

hệ với nhau, chúng thường đứng ở trong câu tương

tự như đứng biệt lập một mình Quan hệ ngữ pháp

và ý nghĩa ngữ pháp của tiếng Việt được biểu thị chủ yếu bằng phương thức sử dụng hư từ và một vài phương thức từ vựng khác được ngữ pháp hoá với những mức độ khác nhau

Hư từ là một lớp từ làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa khác nhau giữa các thực từ Hư từ không có ý nghĩa từ vựng, nó chỉ có tác dụng gắn kết các đơn vị tham gia cấu tạo câu với các quan hệ ngữ nghĩa – ngữ pháp khác nhau Trong tiếng Việt, để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp công cụ, người ta thường sử dụng các hư từ:

bằng, với, cùng, nhờ, nhờ vào, qua, bởi, dựa vào, thông qua,… , trong đó, hư từ bằng được sử dụng

với tần suất cao nhất

Ví dụ:

Tôi đi làm bằng xe máy.

Trưởng thôn thông báo tin tức qua loa.

Dựa vào những cứ liệu thu thập được, công an

đã có những kết luận ban đầu về vụ án này

Hàng ngày anh ấy đi làm với cái xe đạp cũ kĩ Anh ấy đến trường nhờ xe của bạn.

Bố mẹ tôi đang sống nhờ vào lương hưu Anh ấy hoàn thành suất xắc công việc bởi lòng

đam mê

Chúng tôi làm việc với nhau thông qua phiên dịch.

Trong các ví dụ trên, các hư từ được đánh dấu biểu thị ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ, làm dấu cho các quan hệ ngữ pháp của các thực từ ở trong câu

Các hư từ bằng, qua, dựa vào, với, nhờ, nhờ vào, bởi, thông qua có chức năng biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ giữa các động từ đi làm, thông báo, kết luận, đến trường, sống, hoàn thành, làm việc, với các danh từ xe máy, loa, cứ liệu, xe đạp,

xe, lương hưu, lòng đam mê, phiên dịch Các hư

từ mang ý nghĩa chỉ công cụ này giúp làm nổi rõ

Trang 36

nghĩa trong câu, phân biệt với các cấu trúc câu

khác về ý nghĩa ngữ pháp và các quan hệ ngữ

pháp Nếu không có các hư từ chỉ ý nghĩa công cụ

thì các câu trên hoàn toàn không có giá trị về mặt

nghĩa và ngữ pháp

Ngoài phương thức sử dụng hư từ để thể hiện

ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ, trong tiếng Việt còn

một phương thức khác nữa cũng thường được sử

dụng để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp công cụ, đó

là sử dụng một số thực từ Khi hư từ vắng mặt, ý

nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng phương tiện

zero Để cải biến, ta thay hoặc thêm hư từ bằng

vào Nếu được, cấu trúc đó có thể hiện ý nghĩa

ngữ pháp chỉ công cụ được biểu thị bằng zero (tức

là không phải phương thức hư từ) Xét một số ví

dụ sau:

- Nó lấy dao thái thịt (1)

- Nó dùng gậy đánh chó (2)

- Nó sử dụng máy tính viết báo cáo (3)

Trong cả ba ví dụ trên, chúng ta thấy, vị từ lấy,

dùng, sử dụng đòi hỏi bổ ngữ trực tiếp dao, gậy,

máy tính để thể hiện ý nghĩa chỉ công cụ thực hiện

hành động thái, đánh, viết Xét theo dấu hiệu nhận

biết như đã phân tích ở phần 2: một ý nghĩa ngữ

pháp phải có một phương thức ngữ pháp thể hiện,

này là một phương thức thể hiện ý nghĩa ngữ pháp

chỉ công cụ trong tiếng Việt Để chứng minh, ta thử

tiến hành kiểm định bằng cách sử dụng hư từ bằng và

đảo vị trí các thực từ trong câu theo cấu trúc:

Động từ + B + bằng + A

Nó thái thịt bằng dao (1’)

Nó đánh chó bằng gậy (2’)

Nó viết báo cáo bằng máy tính (3’)

Các câu cải biến kiểm định này hoàn toàn có

giá trị về nghĩa và ngữ pháp, nên ta khẳng định:

(a), (b), (c) là 1 phương thức thể hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong tiếng Việt, đó là phương thức sử dụng trực tiếp vị từ trung tâm mà không cần sử dụng các hư từ chỉ công cụ như đã trình bày

ở phần trên Làm tương tự, ta cũng thấy xuất hiện

nhiều trường hợp tương tự khác như: ăn đũa =>

ăn bằng đũa (+); đi nạng => đi bằng nạng (+); tô son => tô bằng son (+)…

Như vậy, trong cả hai ngôn ngữ Nga và Việt, ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ đều là ý nghĩa mang tính đơn thể và được diễn đạt bằng những hình thức chung có tính đồng loạt Phương thức thể hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong tiếng Nga chủ yếu là phương thức phụ tố, do đây là loại hình ngôn ngữ có biến đổi hình thái Tuy nhiên, trong cả tiếng Nga lẫn tiếng Việt còn có chung một phương thức thể hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ, đó là phương thức hư từ: tiếng Nga chủ yếu sử dụng các giới từ ở các cách, tiếng Việt là các hư từ mang ý nghĩa chỉ công cụ của hành động Ngoài ra, tiếng Việt còn sử dụng cả thực từ để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ

5 KẾT LUẬN

Tóm lại, ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ là sự phản ánh những kết quả của nhận thức và tư duy vào ngôn ngữ, ở đây là hai ngôn ngữ khác loại hình là tiếng Nga và tiếng Việt Nghiên cứu ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ và các phương thức thể hiện trong tiếng Nga và tiếng Việt là để rút ra những sự giống nhau và khác nhau, các điểm khác biệt và tương đồng, làm cơ sở nghiên cứu các lỗi thường gặp trong việc dạy và học ngoại ngữ và bản ngữ, trong công tác phiên biên dịch hai ngôn ngữ Nga và Việt, trong công tác xây dựng từ điển /

Tài liệu tham khảo:

1 Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2012),

Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1), NXB Giáo dục Việt

Nam, Hà Nội

2 Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2011), Đại cương ngôn ngữ học (tập 1), NXB Giáo dục Việt

Nam, Hà Nội

Trang 37

3 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng

Trọng Phiến (2008), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng

Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.

4 Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ

Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2011), Nhập môn ngôn

ngữ học, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

5 Đinh Văn Đức (2012), Ngôn ngữ học đại

cương - Những nội dung quan yếu, NXB Giáo dục

Việt Nam, Hà Nội

6 Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn Chính, Đinh

Kiều Châu (2016), Ngôn ngữ học ứng dụng, NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

7 Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn

ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

8 Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật,

Nguyễn Minh Thuyết (2014), Dẫn luận Ngôn ngữ

học, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

9 I.M.Punkina (Bùi Hiền dịch) (1983), Tóm

lược ngữ pháp tiếng Nga, NXB Tiếng Nga,

Mát-xcơ-va

10 Hoàng Trọng Phiến (2003), Cách dùng hư

từ tiếng Việt, NXB Nghệ An, Nghệ An.

11 Lê Quang Thiêm (2008), Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội, Hà Nội

12 Lê Quang Thiêm (2013), Ngữ nghĩa học,

NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội

13 Бужинский Сергей Вячеславович

(2013), Семантика инструментальности в явной и скрытой грамматике (на материале русского и английского языков), Диссертация

на соискание учёной степени кандидата филологических наук, Курск

14 В.А Белошапова, Е В Муравенко, Способы выражения инструментального

значения в русском языке, Навстречу VI конгрессу МАПРЯЛ.

15 Е В Муравенко (1990), Виды орудийного значения и способы их выражения

в современном русском языке, Диссертация

на соискание ученое степени кандидата филологиических наук, Москсва

DEMONSTRATION OF GRAMMATICAL MEANING OF INSTRUMENTS

IN RUSSIAN AND VIETNAMESE

DOAN HUU DUNG Abstract: Russian and Vietnamese are two different types of languages However, if you study them

in depth, you will find that these two languages are not completely different They share a number of similarities, one of which is the grammatical meaning denoting instruments in Russian and Vietnamese This article presents several theoretical review in grammar, grammatical meaning identification of instruments and some methods of expressing grammatical meaning in their languages

Keywords: instruments, grammatical category, grammatical means, grammatical meaning

Received: 28/01/2018; Revised: 20/02/2018; Accepted for publication: 20/4/2018

Trang 38

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY-HỌC

KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU TIẾNG PHÁP (NGOẠI NGỮ 2) TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ

Từ khóa: dạy học, kỹ năng đọc hiểu, ngoại ngữ 2, tiếng Pháp

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đọc hiểu là một trong bốn kỹ năng quan trọng

trong lĩnh hội và rèn luyện một ngôn ngữ Rèn

luyện kỹ năng đọc hiểu ngoại ngữ tốt một mặt giúp

cho người học ngoại ngữ có vốn từ vựng, cấu trúc

ngữ pháp phong phú, vốn hiểu biết về văn hóa, văn

minh của nước bản địa được mở rộng, qua đó giúp

họ nâng cao kỹ năng nói, viết và nghe Mặt khác,

chiến thuật đọc được rèn luyện tốt giúp họ phát

triển tư duy logic và phương pháp học, đọc khoa

học và hiệu quả Theo Williams (1996), vai trò của

việc đọc khi học một ngoại ngữ là người học có

thể thực hành ngôn ngữ họ gặp thông qua nghe và

nói Ngôn ngữ mà học viên có được thông qua đọc

có thể được sử dụng lại cho kỹ năng viết, hoặc học viên có thể diễn giải nghĩa của bài đọc để có được những thông tin cần thiết cho họ

Tuy nhiên, học tốt kỹ năng đọc hiểu phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó, yếu tố người dạy, người học, chương trình môn học, điều kiện dạy học (giáo trình, tài liệu, cơ sở vật chất, trang thiết bị, thư viện) có mối quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng đến chất lượng dạy-học kỹ năng đọc hiểu Trong khuôn khổ bài báo khoa học, chúng tôi tập trung đề cập đến thực trạng dạy-học và các biện pháp nâng cao chất lượng dạy-học kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) tại Học viện Khoa học Quân sự

CHU THỊ HỒNG NHUNG *; NGUYỄN TRÍ DŨNG **

* Học viện Khoa học Quân sự, ✉ chuchuhongnhung@gmail.com

** Học viện Khoa học Quân sự, ✉ braveman20083@gmail.com

Ngày nhận bài: 18/4/2018; ngày sửa chữa: 09/5/2018; ngày duyệt đăng: 20/5/2018

Trang 39

2 THỰC TRẠNG DẠY-HỌC KỸ NĂNG

ĐỌC HIỂU TIẾNG PHÁP (NGOẠI NGỮ 2)

TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ

2.1 Chương trình môn học, giáo trình, tài

liệu dạy học

Hiện nay, tiếng Pháp được giảng dạy tại Học

viện Khoa học Quân sự như là ngoại ngữ thứ 2 cho

đối tượng học viên, sinh viên năm thứ ba, năm thứ

tư chuyên ngành tiếng Anh và tiếng Trung Quốc

Thời lượng giảng dạy là 100 tiết/học kỳ, tương ứng

với 4 đơn vị học trình/học phần (đối với học viên

quân sự) và 125 tiết/học kỳ, tương ứng với 5 đơn

vị học trình/học phần (đối với sinh viên dân sự)

Nội dung và chương trình môn học được thiết kế

cho ba học phần nhằm trang bị cho người học kiến

thức tiếng Pháp cơ bản, phát triển cho bốn kỹ năng

(nghe, nói, đọc, viết) giúp người học hình thành

cơ sở ngôn ngữ và kỹ năng, bước đầu xây dựng

kỹ năng giao tiếp cơ bản Theo quy định về chuẩn

đầu ra của Học viện, học viên, sinh viên phải đạt

tối thiểu bậc 2, hướng tới bậc 3 theo Khung năng

lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, tương

đương với trình độ A2 hướng tới B1 theo Khung

tham chiếu Châu Âu (CECR) Cụ thể đối với kỹ

năng đọc hiểu, học viên, sinh viên có thể đọc được

thư giao dịch, các văn bản ngắn, đơn giản, tìm ra

được thông tin đặc biệt, có thể đoán được nội dung

trong các tài liệu thông thường như quảng cáo, tờ

rơi, thực đơn, bảng giờ tàu,

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy, chương trình

chi tiết môn học tiếng Pháp được xây dựng từ

năm 2014 chưa xác định cụ thể chuẩn kiến thức

cần đạt được sau mỗi học phần tiếng Pháp 1,

tiếng Pháp 2, tiếng Pháp 3 Bên cạnh đó, việc

phân bổ nội dung cho từng bài, từng hoạt động

bổ trợ trong chương trình chi tiết môn học còn

chung chung, mặc dù lịch huấn luyện của Tổ bộ

môn từng tháng, từng tuần thể hiện rất rõ ràng, cụ

thể Đối với kỹ năng đọc hiểu, Tổ bộ môn phân

bổ 04 tiết/chương của giáo trình chính , cụ thể là

sau 02 bài học (leçon) mới bổ sung thêm kỹ năng

đọc hiểu học trong 02 tiết

Giáo trình chính được sử dụng trong giảng dạy tiếng Pháp (ngoại ngữ 2) tại Học viện Khoa học Quân sự là giáo trình Initial (quyển 1, quyển 2) do các tác giả Sylvie Poisson-Quinton và Marina Sala biên soạn, được xuất bản năm 2002 tại Nhà xuất bản Clé International Mỗi cuốn giáo trình gồm sáu chương, mỗi chương có bốn bài, cuối mỗi chương

là phần tổng kết những kiến thức đã học Mỗi bài học bao gồm hai tình huống giao tiếp thông dụng trong đời sống hàng ngày; phần kiến thức từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm kết hợp với các hoạt động/bài tập thực hành Kèm theo mỗi cuốn giáo trình

là một cuốn sách bài tập chủ yếu luyện ngữ pháp

và từ vựng theo chủ điểm của bài học Đối với kỹ năng đọc hiểu, qua quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy, giáo trình chưa chú trọng phát triển và rèn luyện kỹ năng này Trên thực tế, các bài đọc hiểu dưới dạng bài khóa thuần túy không xuất hiện trong giáo trình Initial (quyển 1) Các bài đọc chỉ tồn tại dưới dạng bài tập tình huống phục vụ cho rèn luyện kỹ năng nói, cụ thể đó là bảng thực đơn (trang 45), sơ đồ căn nhà/căn hộ và tờ rao vặt cho thuê nhà/căn hộ (trang 59), bản đồ khu phố để chỉ đường (trang 65), lịch trình du lịch 3 ngày (trang 113), Trong giáo trình Initial (quyển 2) các bài đọc hiểu đi kèm với hoạt động nghe hiểu bài khóa, nhiều bài không có phần khai thác bài đọc hiểu (trang 10, trang 50) hoặc các dạng bài khai thác chỉ dừng lại ở bài tập nối tranh (trang 11); hoặc nghe, đọc và trả lời các câu hỏi đọc hiểu dưới dạng tự luận (trang 22, trang 46), Để bổ sung những bài đọc còn thiếu trong giáo trình và để rèn luyện kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp cho học viên, sinh viên học tiếng Pháp (ngoại ngữ 2), Tổ bộ môn tiếng Pháp đã tiến hành biên soạn Tài liệu Đọc tiếng Pháp năm 2015

Tài liệu Đọc tiếng Pháp được thiết kế 24 bài tương ứng với 24 bài trong giáo trình Initial (quyển 1), mỗi bài bao gồm 02 bài khóa được lựa chọn trên cơ sở đảm bảo tính hệ thống và logic với chủ đề, các kiến thức ngôn ngữ bám sát nội dung của giáo trình chính, kết hợp với việc mở rộng kiến thức ngôn ngữ và kiến thức văn hoá-xã hội nói chung cho người học Tùy theo mỗi bài khóa, các cách khai thác khác nhau như trả lời câu hỏi, lựa

Trang 40

chọn đúng sai, bài tập từ vựng, bài tập viết cũng được sử dụng trong tài liệu Tuy nhiên, tài liệu này mới chỉ biên soạn các bài đọc bổ trợ cho giáo trình Initial (quyển 1) nên còn thiếu hụt phần bổ trợ kỹ năng đọc hiểu cho giáo trình Initial (quyển 2) phục vụ cho học phần tiếng Pháp 3 Bên cạnh đó, cách khai thác bài đọc trong nhiều bài còn chưa phù hợp với trình độ người học bởi cách đặt câu hỏi trong các yêu cầu của bài

có từ vựng và cấu trúc ngữ pháp khó so với trình độ của người học, ví dụ một số các bài đọc của học phần tiếng Pháp 1 (bài 3, bài 6, bài 7) Tài liệu chưa đề cập nhiều đến các dạng bài tập khác như đọc hiểu từ, đọc hiểu câu, đọc hiểu đoạn văn giống như cấu trúc đề thi kỹ năng đọc hiểu giữa học phần và kết thúc học phần Điều này phần nào ảnh hưởng đến kết quả học tập và rèn luyện kỹ năng đọc của học viên, sinh viên.Qua khảo sát bảng điểm kết quả thi học phần kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp của học kỳ I (năm học 2016

- 2017) và học kỳ I (năm học 2017 - 2018), chúng tôi nhận thấy kết quả có chiều hướng đi xuống, thể hiện trong bảng tổng kết sau: (xem bảng 1)

Bảng 1: Tổng hợp kết quả thi kết thúc học phần kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp học kỳ 1

(năm học 2016 - 2017) và học kỳ 1 (năm học 2017 - 2018)

Học kỳ I Năm học 2016 - 2017 Năm học 2017 - 2018 Học kỳ I

2.2 Một số hạn chế và nguyên nhân

2.2.1 Hạn chế

Qua quá trình giảng dạy chúng tôi nhận thấy học viên, sinh viên chưa thực sự coi trọng bộ môn tiếng Pháp, họ xem như đó là một môn học phụ, không quan trọng nên họ chưa có động cơ học tập đúng đắn đối với bộ môn tiếng Pháp nói chung và kỹ năng đọc hiểu tiếng Pháp nói riêng Từ đó, thái độ học tập và

ý thức học tập đối với bộ môn tiếng Pháp của học viên, sinh viên chưa tốt, còn tình trạng sinh viên bỏ giờ học, không hoàn thành các nhiệm vụ học tập của bộ môn

Những tồn tại trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Qua quan sát, kinh nghiệm giảng dạy và trao đổi với đồng nghiệp và học viên, sinh viên, chúng tôi rút ra một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Ngày đăng: 10/01/2020, 04:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w