1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế: Những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam

13 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 276,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của luận văn là chỉ ra sự khác biệt trong tiếp nhận tri thức giữa các nhóm doanh nghiệp khác nhau trong chuỗi cung ứng dầu nhờn tại Việt Nam. Chỉ ra sự thay đổi về mức độ tác động các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tri thức của một tổ chức học tập khi nghiên cứu trong bối cảnh là doanh nghiệp thành viên chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Trang 1

CHƯƠNG I – GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do lựa chọn đề tài và bối cảnh nghiên cứu

1.1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Về lý thuyết: Sự chia sẻ và tiếp nhận tri thức (TNTT) có ý nghĩa hết

sức quan trọng đối với mỗi tổ chức nói chung và đối với các thành

viên trong chuỗi cung ứng (CCU) nói riêng Theo Grant, 1996b, “Tri

thức được coi là nguồn lực chiến lược quan trọng nhất”, để tồn tại và

thành công, các doanh nghiệp (DN) phải liên tục mở rộng và nâng

cao tri thức của họ, điều đó phụ thuộc vào nguồn tri thức nội tại cũng

như khả năng tích hợp tri thức từ bên ngoài Grant và Charles (1995)

cũng đã nhấn mạnh rằng tri thức có thể được tích hợp từ bên ngoài

thông qua hợp tác với các bên khác

Những nghiên cứu về TNTT không còn mới, đã có khá nhiều công

trình nghiên cứu về vấn đề này ở trong nước và trên thế giới, nhưng

vẫn còn những khoảng trống:

- Bản thân TNTT là một quá trình và luôn vận động phát triển

Huber (1991) cho rằng học tập, TNTT làm “thay đổi phạm vi các

hành vi tiềm năng của nó và có khả năng dẫn đến kết quả tốt hơn”

- TNTT trong CCU có nhiều đặc thù nhưng những nghiên cứu trước

đây chưa đề cập đến hoặc chưa phản ánh hết những đặc thù này Đó

là (1) Thành viên trong CCU vừa TNTT với tư cách là một tổ chức

học tập đồng thời TNTT với tư cách là những DN có mối liên hệ gắn

bó, hợp tác liên kết với nhau trong một thể thống nhất để đưa sản

phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng Tuy nhiên, các nghiên cứu đã có về

TNTT của DN mới chỉ thiên về vế này hoặc thiên về vế kia mà chưa

có sự nghiên cứu xoay quanh việc chia sẻ, TNTT kết hợp đồng thời

cả hai vế với nhau (2) Khi chia sẻ, TNTT giữa các thành viên trong

CCU, mọi thành viên đều phải rất cân nhắc đến việc giữ vị trí của

mình trong thương thảo, giữ bí quyết kinh doanh, quản lý để duy trì quyền lực của mình trong liên kết

- Các nghiên cứu trước đây về TNTT trong CCU chủ yếu được tiến hành trong điều kiện các nước phát triển hoặc trong các DN có các đối tác ở nước phát triển (ví dụ, Zhenxin Yu & cộng sự, 2001; Benton và Maloni, 2005; Shih & cộng sự, 2012) hoặc trong ngành nghề thiên về nghiên cứu phát triển (Grant 1996b, Shih & cộng sự, 2012) Ở đó, công nghệ mới, tri thức mới là mấu chốt của sự hợp tác, chia sẻ và TNTT Trong khi đó, ngay tại các CCU không thiên về nghiên cứu phát triển thì nhu cầu TNTT từ các đối tác trong CCU cũng rất cần thiết và cần được thực hiện thường xuyên, liên tục

- TNTT có sự phân biệt giữa các loại hình DN khác nhau, như Grant, (1996b), Shih & cộng sự, (2012) nghiên cứu các DN hướng đến nghiên cứu phát triển hoặc các nghiên cứu của Zhenxin Yu & cộng

sự, (2001); Benton và Maloni, (2005); Phan và cộng sự (2006), Shih

& cộng sự, (2012), Hong và Nguyễn (2013) tập trung vào DN liên doanh, DN đa quốc gia Qua đó có thể thấy rằng, đặc điểm phân biệt các loại hình DN cũng có thể ảnh hưởng, tạo ra sự khác biệt trong TNTT của DN Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến và chưa có nghiên cứu thực nghiệm để chứng minh

- Môi trường kinh doanh cụ thể tại Việt Nam có sự khác biệt với môi trường kinh doanh trên thế giới có thể dẫn đến mức độ tác động khác nhau của các yếu tố đến TNTT Điều này cần có thêm nhiều nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng

Về khía cạnh thực tế:

- Tiếp nhận, chia sẻ tri thức trong một tổ chức học tập nói chung và trong các DN CCU nói riêng tại Việt Nam vẫn chưa thực sự được

quan tâm coi trọng và chưa mang lại những kết quả tích cực Tại thị

Trang 2

đang chiếm ưu thế và kinh doanh thành công, đặc biệt là ở hạ nguồn

các CCU Những ưu thế này có thể không còn nữa nếu lợi thế cạnh

tranh của các CCU Việt Nam không bền vững, độc đáo Tăng cường

TNTT lẫn nhau giữa các DN trong CCU Việt Nam để phát triển tri

thức ẩn, độc đáo của thành viên thành tri thức của chuỗi đồng thời

tăng cường mối quan hệ hợp tác, đoàn kết ngay trong nội bộ CCU

Việt Nam là một giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững

- Cho đến nay tại Việt Nam dường như chưa thấy các nghiên cứu

thực nghiệm về chia sẻ và TNTT trong CCU, đặc biệt là những

nghiên cứu về TNTT trong các CCU không thiên về nghiên cứu phát

triển, rất phổ biến trong các DN Việt Nam Trên thực tế, các nghiên

cứu về TNTT trong CCU mới tìm thấy ở điều kiện các nước phát

triển Các nghiên cứu về TNTT của các DN tại Việt Nam chủ yếu

tập trung vào các DN có yếu tố nước ngoài Cần có nghiên cứu thực

nghiệm để xác định sự tương đồng hay khác biệt giữa các yếu tố ảnh

hưởng đến TNTT của các DN trong điều kiện cụ thể của các DN

trong CCU tại Việt Nam

Xuất phát từ các nguyên nhân về lý luận và thực tiễn nêu trên, tác

giả đã lựa chọn vấn đề ‘Những yếu tố ảnh hưởng đến TNTT của

các DN trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam’ làm đề tài nghiên cứu

của Luận án Đề tài này vừa có ý nghĩa về lý luận và cũng rất có ý

nghĩa trong thực tiễn quản trị của các nhà quản lý DN tại Việt Nam

1.1.2 Bối cảnh nghiên cứu là CCU dầu nhờn Việt Nam đã đáp

ứng được các tiêu chí đặt ra Trước hết, đây là CCU điển hình,

không hướng đến nghiên cứu phát triển và có tính phổ quát cao

Thượng nguồn CCU dầu nhờn: Việt Nam chưa sản xuất được các

nguyên liệu chính để sản xuất dầu nhờn thành phẩm là dầu gốc và

phụ gia đều phải nhập khẩu từ số ít các NCC trên thế giới Nhà sản

nhờn, các NSX sẽ lựa chọn, thử nghiệm công thức pha chế có hiệu quả kinh tế nhất để đưa vào sản xuất Do vậy, lợi thế cạnh tranh của NSX không phải từ nghiên cứu phát triển mà từ tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản xuất Thực tế, các NSX dầu nhờn lớn tại Việt Nam đã được định vị trên thị trường, đã hợp tác chặt chẽ nhau và với các NCC để chung mua các lô nguyên liệu lớn, giá bán thấp để tiết giảm chi phí, thì đầu vào không phải là lợi thế cạnh tranh giữa các CCU

Hạ nguồn CCU dầu nhờn: Điểm khác biệt của các CCU dầu nhờn tại Việt Nam chính là hệ thống phân phối Ở mỗi phân khúc, thì NSX cũng đều là người lãnh đạo hệ thống phân phối Các hãng dầu nhờn lớn trên thị trường đều cố gắng tham gia vào tất cả các phân khúc thị trường, nhưng chỉ có lợi thế ở một vài phân khúc Các hãng dầu nhờn nội địa thường tập trung vào các sản phẩm cấp chất lượng trung bình ở các phân khúc Nhóm (1) dầu nhờn cho xe máy, ô tô con

và Nhóm (2) dầu nhờn cho xe tải, xe khách Việc cung cấp dầu nhờn nhóm (3) cho các hệ thống máy móc công nghiệp và nhóm (4) dầu nhờn hàng hải gặp nhiều rào cản kỹ thuật mà không phải hãng dầu

nhờn nội địa nào cũng đáp ứng được

Thứ đến, trong CCU dầu nhờn, nhu cầu hiểu biết, cập nhật kiến thức chung về thương phẩm, máy móc thiết bị, thực hành sử dụng cũng như kiến thức trong quản lý, phân phối sản phẩm trong toàn hệ thống luôn được đặt ra Bởi vì dầu nhờn là sản phẩm phụ trợ đi liền với từng thế hệ thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải… nhu cầu trao đổi thông tin, cập nhật kiến thức để tăng cường sức mạnh, mối quan hệ hỗ trợ trong hệ thống CUU là yêu cầu tất yếu

Tiếp theo, ngoài tính đại diện, điển hình cho các CUU không thiên

về nghiên cứu phát triển nhưng vẫn có nhu cầu TNTT thì lựa chọn CCU dầu nhờn còn có một số lợi thế, rất cần thiết trong tổ chức

Trang 3

nghiên cứu và khảo sát số liệu, thông tin CCU dầu nhờn là CCU

truyền thống, các thành viên đa dạng, phân biệt được nguyên liệu và

sản phẩm cũng như dòng tiền và thông tin, có thể xác định vị trí, vị

thế các công ty tham gia vào CCU, do đó xác định được đơn vị

TNTT hay là đơn vị chuyển giao tri thức

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định xem có bao nhiêu yếu tố ảnh hưởng đến TNTT của DN

với tư cách là thành viên trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam

- Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến TNTT

của DN với tư cách là thành viên trong CCU dầu nhờn tại Việt

Nam

- Chỉ ra sự khác biệt trong TNTT giữa các nhóm DN khác nhau

trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam

- Chỉ ra sự thay đổi về mức độ tác động các yếu tố ảnh hưởng đến

TNTT của một tổ chức học tập khi nghiên cứu trong bối cảnh là

một DN trong CCU tại Việt Nam

- Dựa trên các kết quả nghiên cứu của luận án và sự tổng hợp các

thông tin liên quan đến những khó khăn, rào cản mà các DN

trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam gặp phải khi TNTT từ bên

ngoài; đề xuất một số gợi ý quản trị, nâng cao TNTT của các DN

trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh

hưởng đến TNTT của các DN trong CCU dầu nhờn tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

- Khách thể nghiên cứu: là CCU dầu nhờn của một NSX dầu nhờn

tại Việt Nam, CCU dầu nhờn Petrolimex Đây là CCU phổ quất

nhất, đại diện được hết các đặc điểm vốn có của các CCU dầu nhờn

tại Việt Nam Lựa chọn “phân tích các thành viên trong CCU của một công ty đầu mối duy nhất để tránh được những tác động gây nhiễu do ảnh hưởng của các công ty hoạt động trong nhiều CCU khác nhau” (Hult và cộng sự, 2004) và đã được thực chứng tại

nghiên cứu của Qile He và cộng sự (2013)

- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu, khảo sát các DN trong CCU

dầu nhờn Petrolimex trên địa bàn cả nước

- Thời gian nghiên cứu: tìm hiểu về hoạt động TNTT của các DN

trong CUU dầu nhờn Petrolimex trong giai đoạn 2013-2017

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Với mỗi phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận

án, đều bao gồm hai bước là thu thập và phân tích, xử lý dữ liệu

Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả TNTT của các thành viên CCU

Thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp:

Thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu định tính, 1 cuộc

thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu 3 thành viên CCU được thực hiện

Dữ liệu sơ cấp thu được là cơ sở để hoàn thiện các biến quan sát và Phiếu câu hỏi Đồng thời giải thích các kết luận thu được từ nghiên cứu định lượng và làm phong phú thêm các giải pháp quản trị

Thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu định lượng: được

thực hiện theo trình tự:

Thiết kế phiếu câu hỏi, các câu hỏi gốc bằng tiếng Anh được dịch

sang tiếng Việt Để đảm bảo tính đồng nhất trong cách hiểu, phiếu câu hỏi sẽ được dịch ngược lại ra tiếng Anh Các câu hỏi này được

Trang 4

hiệu chỉnh trước khi tiến hành phát phiếu chính thức.Việc hiệu chỉnh

phiếu câu hỏi dựa trên sự thay đổi mô hình và việc thêm hoặc bớt

các biến quan sát cho phù hợp với điều kiện thực tế của trường hợp

nghiên cứu là CCU dầu nhờn tại Việt Nam

Thiết kế mẫu nghiên cứu theo phương pháp đã được sử dụng bởi

Hult và cộng sự (2004)và Qile He và cộng sự (2013) Trong đó, tác

giả sử dụng CCU của một công ty đầu mối duy nhất làm khung lấy

mẫu Kích thước mẫu được tính toán theo phương pháp được đề xuất

bởi J.F Hair và cộng sự (1998)

Thu thập dữ liệu bằng phương pháp khảo sát qua thư Đối tượng trả

lời phiếu câu hỏi là các nhà quản lý DN trong CCU Phiếu khảo sát

được gửi qua đường bưu điện và/hoặc email với tư cách là cuộc khảo

sát của Tổng công ty Hóa Dầu Petrolimex – là DN dẫn dắt trong

CCU dầu nhờn Petrolimex

Xử lý dữ liệu Các dữ liệu trước khi đưa vào xử lý thống kê, sẽ được

tiến hành làm sạch thông tin, lọc phiếu câu hỏi và mã hóa thông tin,

nhập dữ liệu.Ngoài phần thống kê mô tả, các dữ liệu được phân tích

bằng phần mềm xử lý thống kê SPSS 20

1.5 Đóng góp mới của luận án

Đóng góp về lý luận

- Từ góc nhìn quản trị dựa trên tri thức, một DN (DN) tham gia vào

CCU (CCU) vừa là một tổ chức học tập độc lập vừa là DN trong

CCU, Luận án đề xuất mô hình nghiên cứu, kiểm định và phát hiện

06 yếu tố ảnh hưởng đến TNTT (TNTT) của các DN trong CCU

Khẳng định sự tương thích của bộ tiêu chí đo lường các yếu tố ảnh

hưởng đến TNTT của tổ chức học tập phù hợp điều kiện của DN

trong CCU và ngược lại Chỉ ra sự khác biệt và thống nhất giữa một

-Nghiên cứu đã chứng minh các tiêu chí đo lường mới là phù hợp và

có ý nghĩa thống kê, đó là tiêu chí “Chú ý và dành thời gian tìm kiếm thu thập thông tin, kiến thức từ đối tác” cho biến độc lập “Khả năng học hỏi của nhận viên” và tiêu chí “Thường xuyên trao đổi thông tin, kiến thức với đối tác” cho biến “Văn hóa DN”

- Nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về TNTT giữa các DN: trong

và ngoài một liên kết dọc tập đoàn, giữa các DN có loại hình, quy

mô vốn, lao động, vị trí và thời gian hợp tác khác nhau

Đóng góp về thực tiễn

- Xác định và chỉ ra mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến TNTT của các DN trong CCU Các yếu tố mang tính nội lực DN như ‘Văn hóa DN’, ‘Đầu tư của DN cho đào tạo’, ‘Liên hệ hợp tác kinh doanh’ có tác động mạnh nhất đến TNTT Năng lực cá nhân trong DN không tác động lớn đến TNTT Trong CCU dầu nhờn Petrolimex, TNTT của DN phụ thuộc vào chính sách và sự quan tâm

của người đứng đầu DN

- Đưa ra những gợi ý quản trị để tăng cường TNTT mới bên ngoài

Đó là (1) Tạo lập văn hóa học hỏi, tiếp thu tri thức mới từ bên ngoài (2) Chính sách và cam kết nguồn lực cho đào tạo, đặc biệt là DN trung tâm CCU (3) Làm phong phú thêm các hình thức chia sẻ tri thức phù hợp với đặc điểm ngành nghề (4) Tăng cường giao lưu, hợp tác trên nhiều lĩnh vực trong CCU (5) Hạn chế sử dụng quyền lực (6)

Có chính sách hợp tác rõ ràng, lâu dài, tôn trọng, bình đẳng với tất

cả các đối tác (7) Phát huy uy tín thương hiệu, truyền bá văn hóa, tri thức tích lũy của Petrolimex trong toàn CCU dầu nhờn

- Mở ra các hướng nghiên cứu tiếp theo, đó là nghiên cứu trong các điều kiện: (1)Khác biệt về đặc điểm ngành nghề, quy mô, chức năng (2) TNTT của các thành viên trong một liên kết theo chiều dọc (3) Phân tích về sự tác động của các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến

Trang 5

TNTT trong CCU (4) Về hiệu quả của TNTT trong CCU

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN VỀ TIẾP NHẬN TRI THỨC TRONG CHUỖI

CUNG ỨNG VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý thuyết về TNTT của các DN trong CCU

Theo lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực, những nguồn lực có giá

trị, khan hiếm, không thể bắt chước và không thể thay thế

(Barney,1991) và khả năng hay năng lực cốt lõi của tổ chức là các

nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho DN Lý thuyết này cho

rằng nguồn lực là không đồng nhất và không thể di chuyển tự do

giữa các DN Lý thuyết nguồn lực quan niệm sự thành công hay thất

bại của các DN phụ thuộc vào nguồn lực mà các DN sở hữu

(Barney, 1991; Grant, 1997; Reid & ctg, 2001) Đồng thời, việc sở

hữu các nguồn lực mà các đối thủ khác không có cho phép DN thu

nhận những lợi ích kinh tế gần giống như hình thức độc quyền

(Wenerfelt, 1984) Trong đó, tri thức chính là nguồn lực luồn được

phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh, chính là nguồn lực không thể

thay thế được (Barney, 1991) Lý thuyết về nguồn lực xem tri thức là

nguồn lực chiến lược quan trọng nhất (Grant, 1996) đấy chính là một

nguồn gốc, cơ sở để phát triển lý thuyết quản trị dựa trên tri thức

1.1.1 Quản trị dựa trên tri thức

Theo quan điểm quản trị dựa trên trị thức (KBV), Kogut và Zander

(1992) cho rằng tri thức, bao gồm các thông tin và bí quyết do các cá

nhân nắm giữ và được thể hiện trong các quy tắc ứng xử mà theo đó

các thành viên hợp tác với nhau trong một cộng đồng xã hội Dưới

góc nhìn này, quản trị CCU sẽ phong phú và hiệu quả hơn khi tiếp

cận dưới góc độ quản trị dựa trên tri thức Biên giới của một tổ chức

được xác định qua giới hạn của tri thức và khả năng gắn với tri thức giữa bên tạo ra và bên sử dụng Tri thức do các cá nhân tạo ra, tổ chức đóng vai trò làm rõ, khuếch đại và tích hợp tri thức đó thành tri thức chung Tri thức chung là phương tiện giúp các cá nhân giao tiếp truyền đạt thông tin với nhau Tri thức có thể được tích hợp từ nguồn bên ngoài thông qua mạng lưới quan hệ vượt quá khuôn khổ biên giới DN

Trường phái KBV truyền thống nhấn mạnh tầm quan trọng của tri thức là tạo nên lợi thế cạnh tranh thì học tập của tổ chức lý giải quá

trình tri thức được tạo ra trong một tổ chức Học tập trong tổ chức đề

cập đến TNTT như một phần trong quá trình học tập, trong đó, cá nhân có được kiến thức, còn tổ chức tạo ra môi trường cho các cá nhân có được tri thức đó TNTT là yếu tố đầu tiên trong quá trình học tập của tổ chức, (Huber,1991) Các biến số này là tiền đề cho các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến TNTT của một tổ chức

1.1.2 CCU và quản trị CCU

CCU là tập hợp của từ ba thực thể trở lêncó liên quan trực tiếp đến dòng chảy của sản phẩm/dịch vụ, tài chính và thông tin từ nhà cung cấp nguyên vật liệu đến khách hàng và ngược lại (Mentzer và cộng

sự, 2001) Theo Christopher (2005) quản trị CCU là quản lý các mối quan hệ đa chiều giữa người mua và người bán nhằm đem đến cho khách hàng những giá trị cao hơn với chi phí thấp hơn trong CCU Quản trị hiệu quả CCU thể hiện qua dòng vật chất lưu thông và dòng tiền đổ vào chuỗi ngày càng nhiều Nhưng để làm được việc này, dòng chảy thông tin cần được thông suốt và hơn thế nữa, vai trò của

DN trung tâm trong lựa chọn, khuyến khích chia sẻ thông tin giữa các thành viên là đáng kể để tạo nên hiệu quả chung trong CCU

Trang 6

người dẫn dắt thị trường và có vai trò quan trọng trong việc chia sẻ

và TNTT giữa các thành viên trong chuỗi

1.1.3 TNTT trong CCU

Rất ít các nghiên cứu lấy TNTT trong CCU làm đối tượng nghiên

cứu chính, nó thường được đề cập một cách rời rạc, mờ nhạt và phục

vụ cho các mục đích khác Các nghiên cứu về hiệu quả CCU cho

thấy,hiệu quả chuỗi phụ thuộc rất lớn vào mức độ trung thực và

chính xác của thông tin Theo đó, đã xuất hiện một lớp các nghiên

cứu về quản trị dòng thông tin trong CCU Trong đó, TNTT – một

dạng “sâu” và “phong phú” hơn của thông tin, được đề cập đến như

một hệ quả thu được (ví dụ, Hult và cộng sự, 2004; Modi và Mabert,

2007; Panayides và Venus Lun, 2009, Đặng Văn Mỹ, 201).Hướng

nghiên cứu về quản trị quan hệ đối tác trong CCU, cho thấy quan hệ

đối tác là môi trường tốt để chia sẻ và thu nhận tri thức giữa các đối

tác(ví dụ Hult và cộng sự, 2004; Modi và Mabert, 2007; Pedroso và

Nakano, 2009; Shih và cộng sự, 2012).Ở một góc độ khác, yếu tố

quyền lực và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các đối tác trong CCU được

chứng minh có ảnh hưởng đến TNTT (Caniels và Gelderman,2007và

Qile He và cộng sự, 2013).TNTT trong CCU còn được tìm thấy như

là hệ quả thu được từ các nghiên cứu về hiệu quả CCU (Rauniar và

cộng sự, 2008; Lawson và cộng sự , 2009; Cao và Zhang, 2010)

Hoặc chỉ đi sâu vào phân tích một vài yếu tố ảnh (Emerson, 1962;

Caniels và Gelderman, 2007; Qile He và cộng sự,2013) hoặc tạo ra

môi trường tốt để TNTT trong tổ chức (Hult et al, 2004; Modi và

Mabert,2007; Rauniar và cộng sự, 2008; Shih và cộng sự, 2012)mà

chưa tìm thấy các công trình nghiên cứu tổng quát về các yếu tố ảnh

hưởng đến TNTT trong CCU

góc độ thành viên đó là một tổ chức TNTT từ bên ngoài, dưới góc độ học tập của tổ chức (Spekman và cộng sự,2002; Hult và cộng sự,2004; Mohammad và cộng sự,2014) nhưng còn rời rạc

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về các yếu tổ ảnh hưởng đến TNTT

Phát triển lý thuyết của Huber (1991) về học tập trong tổ chức, theo quan điểm Quản trị dựa trên tri thức, các nghiên cứu của Phan & cộng sự (2006) và Lane & cộng sự (2001), đã đề cập quá trình TNTT theo logic về dòng chảy tri thức Các yếu tố ảnh hưởng đến TNTT của tổ chức và của thành viên CCU tìm được trước và sau đó đều có thể tập hợp vào một trong các nhóm yếu tố: Khả năng nhận ra tri thức mới bên ngoài; Khả năng hấp thụ tri thức mới bên ngoài và Khả năng áp dụng tri thức mới bên ngoài Đó là các yếu tố:

(1)Mối liên quan hệ hợp tác kinh doanh DN nhận tri thức và DN cung cấp tri thức, theoPhan & cộng sự (2006), khi phát sinh các mối

quan hệ liên quan trong kinh doanh, các đối tác mới có cơ hội để nhận ra những tri thức mới cần được học hỏi, thu nhận từ các đối tác

của họ.Hanvanich và cộng sự (2005); Inkpen & Tsang (2005); Lane

& cộng sự(2001) ủng hộ quan điểm này

(2) Đầu tư của DN trong đào tạo, cũng theo Phan & cộng sự (2006),

khi DN quan tâm, đầu tư cho đào tạo, họ sẽ thấy việc học hỏi là cần thiết, qua đó, từng cá nhân sẽ chủ động tìm kiếm và nhận ra những tri thức mới từ bên ngoài có liên quan, cần được tiếp nhận Các nghiên cứu của Nguyen & Hong (2013), Lyles & Barden (2000); Tsang & cộng sự (2004), Mohammad & cộng sự (2014); Spekman& cộng sự (2002) và nhiều tác giá khác cũng có kết quả tương tự

(3) Lòng tin giữa các đối tác, chỉ có sự tin tưởng lẫn nhau mới

Trang 7

các công ty TNTT hiểu những kiến thức được cung cấp Khi các bên

bắt đầu tin tưởng nhau, họ sẽ sẵn sàng chia sẻ tri thức mà không lo

ngại bị đối tác lợi dụng Ngược lại, khi tri thức đến từ nguồn đáng tin

cậy, thì người tiếp nhận sẽ không mất thời gian và công sức để xác

minh tính chính xác, hợp lệ của tri thức (Phan &cộng sự, 2006;

Inkpen& Currall, 2004; Lane & cộng sự, 2001; Spekman & cộng

sự,2002; Modi &Mabert, 2007; Panayides&Venus Lun, 2009 và

Trương, 2014)

(4)Khả năng học hỏi của nhân viên được Zahra &George (2002) và

Phan &cộng sự (2006) thừa nhận Khả năng học hỏi của nhân viên

thể hiện qua việc nhân viên học hỏi được gì từ đối tác

(5) Văn hóa DN chứa đựng những yếu tố năng động trong quá trình

học tập của các DN (Hatch,1993), thúc đẩy thu nhận tri thức mới,

(Lee & Peterson, 2000) Trong nghiên cứu của mình, Lai & Lee

(2007) nhận thấy DN có văn hóa DN mạnh thì các hoạt động tri thức

diễn ra nhiều hơn, nó thúc đẩy nội hóa, thu nhận những giá trị và tri

thức, (Hatch, 1993) Do vậy, có cơ sở đề xuất văn hóa DN có vai trò

tích cực và trực tiếp đến TNTT

(6) Tham gia chung của nhân viên và người nước ngoài tại địa

phương trong các hoạt động DN tại công ty liên doanh tại Việt Nam

được Phan & cộng sự (2006) chứng minh có tác động tích cực đến

mức độ TNTT của liên doanh đó thì cũng có khả năng ảnh hưởng

tích cực đến TNTT của DN trong CCU

(7) Các mục tiêu và kế hoạch bằng văn bản của DN thể hiện khả

năng áp dụng tri thức mới vào hoạt động của DN nhận tri thức Lyles

& Salk (1996) lưu ý rằng các mục tiêu và kế hoạch bộ phận có thể

tạo thuận lợi cho việc thấu hiểu mục tiêu phát triển chung; qua đó, tổ

mục tiêu và nhiệm vụ chung Đây là các yếu tố nội bộ tổ chức, do

đó, nó cũng hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến TNTT trong các DN của CCU

Các yếu tố ảnh hưởng đến TNTT của các DN trong CCU được tìm thấy đa phần tương tự như các yếu tố ảnh hưởng đến TNTT trong tổ

chức và đã được nêu ở trên Ngoài ra, các các yếu tố về “Quyền lực

và Sự phụ thuộc lẫn nhau” giữa các đối tác, mang tính tự nguyện

như trong CCU, cũng được các nghiên cứu của Emerson (1962); Caniels&Gelderman (2007) và gần đây nhất là Qile He &cộng sự (2013), tìm thấy sự tác động trực tiếp đến TNTT Theo Qile He&

cộng sự (2013), các đối tác yếu có ít (8) lựa chọn thay thế sẽ hạn chế

phơi bày tri thức có giá trị cho các đối tác mạnh hơn để tránh bị khai thác và làm giảm khả năng lỗi thời của tri thức Trong khi đó, chính sáchcủa các công tyhướng tớiviệc sử dụngquyền lựcvàcách thức màquyền lựcđược sử dụngđãđược chứng minh làảnh hưởng đếnchia sẻthông tin Beecham & Cordey - Hayes (1998) cho rằng mức độ khác nhau về ý định thực thi quyền lực có thể ảnh hưởng đến mức

độ chia sẻ kiến thức Như vậy, (9) Hạn chế sử dụng quyền lực sẽ

tăng cường chia sẻ kiến thức giữa các đối tác CCU Nghiên cứu của Đặng (2014) tại các DN Việt Nam, quyền lực là yếu tố có tác động đến trao đổi, tiếp nhận thông tin và tri thức

1.3 Thiết kế mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến TNTT trong CCU

Mô hình nghiên cứu đề xuất được trình bày như hình 2.5

Các giả thuyết nghiên cứu: Với những lập luận ở trên, có thể giả

thuyết các yếu tố được tìm thấy trong nghiên cứu tổng quan cũng ảnh hưởng đến TNTT trong CCU:

Trang 8

doanh với bên chuyển giao tri thức tác động tích cực đến khả năng

TNTT

Hình 2.5 – Mô hình nghiên cứu đề xuất

ài Mối liên hệ và hợp tác

kinh doanh

+H1

Đầu tư của DN trong

đào tạo

+H2

Lòng tin giữa các đối

tác

+H3

i Khả năng học hỏi của nhân viên +H4 TNTT

Văn hóa DN +H5

i Sự tham gia chung +H6

Văn bản hóa các mục

tiêu, kế hoạch

+H7

Sẵn có lựa chọn thay

thế

-H8

Hạn chế sử dụng quyền

lực

+H9

Nguồn: tổng hợp của tác giả Giả thuyết H2 Đầu tư của DN trong đào tạo tác động tích cực đến

khả năng TNTT

Giả thuyết H3 Lòng tin giữa các đối tác chuyển giao và TNTT tác

động tích cực đến khả năng TNTT

tác động tích cực đến khả năng TNTT

Giả thuyết 5 Văn hóa DN trong DN TNTT tác động tích cực đến khả

năng TNTT

Giả thuyết H6 Sự tham gia chung của nhân viên với chuyên gia bên

chuyển giao tri thức trong các hoạt động có ảnh hưởng tích cực đến khả năng TNTT của của DN TNTT

Giả thuyết H7 Mục tiêu và kế hoạch được cụ thể hóa có tác động

tích cực đến khả năng TNTT bên ngoài

Giả thuyết H8 Sự sẵn có lựa chọn thay thế cho các đối tác có liên

quan tiêu cực đến khả năng TNTT giữa một công ty từ các đối tác trong CCU của mình

Giả thuyết H9 Hạn chế sử dụng quyền lực trong mối quan hệgiữa

một công ty với các đối tác CCU của mình có ảnh hưởng tích cựcđến khả năng TNTT

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Nghiên cứu định tính

Kết quả nghiên cứu định tính góp phần khẳng định các giả thuyết đưa ra là phù hợp, đồng thời phát hiện ra những đặc điểm nhận dạng

DN có tác động đến TNTT của các thành viên CCU.Theo đó, mô

hình nghiên cứu được hoàn thiện chính thức như hình 3.1 dưới đây

Trong mô hình nghiên cứu chính thức, các giả thuyết đã được phát biểu không thay đổi so với kết quả nghiên cứu đã trình bày Với các yếu tố ảnh hưởng đến TNTT của tổ chức được gom lại từ các yếu tố có đặc điểm tương tự nhau, nên mỗi yếu tố có thể tìm được nhiều bộ tiêu chí đo lường khác nhau Nghiên cứu định tính đã giúp tác giả có cơ sở để lựa chọn bộ tiêu chỉ đo lường phù hợp nhất

Trang 9

với bối cảnh nghiên cứu, đồng thời đề xuất một số tiêu chí đo lường

mới Trong đó:

Hình 3.1 – Mô hình nghiên cứu chính thức

ài Mối liên hệ và hợp

tác kinh doanh

+H1

Đầu tư của DN

trong đào tạo

+H2

Lòng tin giữa các

đối tác

+H3

i Khả năng học hỏi của nhân viên +H4 TNTT

Văn hóa DN +H5

i Sự tham gia chung +H6

Văn bản hóa các

mục tiêu, kế hoạch

+H7

Sẵn có lựa chọn thay

thế

-H8

Hạn chế sử dụng

quyền lực

+H9

Nguồn: tổng hợp của tác giả

- Bộ tiêu chí đo lường ‘Khả năng học hỏi của người lao động trong

DN’ được phát triển bởi Lyles và Barden, (2000); Phan & cộng sự,

(2006) với 4 tiêu chí, được đề xuất bổ sung thêm tiêu chí (5) Thường

xuyên trao đổi thông tin, kiến thức với các đối tác, vì người lao động

Vai trò, quy

mô, thời gian hợp tác, tỷ lệ lợi ích, thành viên liên kết

giỏikhông chỉ chủ động làm việc với khách hàng, trao đổi thông tin chính xác với khách hàng mà còn phải hiểu và nắm bắt được mọi thông tin của khách hàng, để đề xuất chính sách phù hợp với họ.- Bộ

tiêu chí đo lường‘Văn hóa DN’,ngoài 5 tiêu chí đo lường của Trương

(2014) phát triển thêm từ Lai & Lee (2007), cho thấy DN muốn sáng tạo ra tri thức mới thì ‘thì việc lắng nghe, thu thập thông tin, kiến thức từ đối tác’ để làm nền tảng cho việc tạo ra tri thức là cần

thiết.Do vậy, cần bổ sung thêm tiêu chí đo lường (6) Dành thời gian tìm kiếm, thu thập thông tin, kiến thức từ đối tác để phản ánh đầy đủ hơn yếu tố Văn hóa DN trong TNTT từ bên ngoài

-Bộ tiêu chí đo lường Sự tham gia chung của nhân viên với chuyên

gia bên chuyển giao tri thức trong các hoạt động của Lyles (1996)

gồm 5 tiêu chí đo lường, trong thực tiễn thì tiêu chí (1) Được thông báo đầy đủ về các hoạt động của chuyên gia và (4) Có cơ hội ra quyết định như nhau không phù hợp với điều kiện hoạt động chung

của các đối tác trong CCU cũng như trong trao đổi, TNTT Kết quả nghiên cứu định tính cũng tìm ra những gợi ý để nâng cao TNTT giữa các thành viên CCU Các nội dung này sẽ được trình bày

cụ thể trong chương 4

3.2 Nghiên cứu định lượng

Lựa chọn mẫu Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu đã được đề

xuất bởi Hult và cộng sự (2004) và áp dụng trong các nghiên cứu của Hallikas và cộng sự (2005) và Qile He và cộng sự (2013) Trong

đó, sử dụng CCU của công ty đầu mối duy nhất làm khung lấy mẫu Đơn vị phân tích là các DN trong CCU dầu nhờn Petrolimex Đối

tượng phỏng vấn là lãnh đạo/ quản lý hoặc người trực tiếp sử dụng/kinh doanh sản phẩm dầu nhờn Petrolimex

Trang 10

cộng sự (2006) Với43 tiêu chí đo lường, thì cỡ mẫu tối thiểu là

43*5=215 đơn vị quan sát; tốt nhất là 43*20=860 đơn vị quan sát

Đối với hồi quy đa biến, cỡ mẫu tối thiểu: 50 + 8* 9(biến độc lập) =

122 đơn vị quan sát Tổng hợp các yêu cầu trên, kích thước mẫu tối

thiểu của nghiên cứu là 215 và tốt nhất là trên 860 đơn vịquan sát

Phiếu câu hỏiđược thiết kế dưới dạng phiếu giấy và điện tử với 2

phiên bản tiếng Việt và tiếng Anh Phiếu câu hỏi online theo đường

link:

https://docs.google.com/forms/d/1SEKKRSMdinj_m8ySrK-a_ixGaAG6TqcPV5qjUTwjWbY

Quá trình thu thập dữ liệuPhiếu câu hỏi được thu thập từ tháng 6đến

tháng 12/2016 là 1.378 phiếu, với 1.329 phiếu đạt yêu cầu

Phân tích, xử lý dữ liệuCác phiếu được làm sạch, sàng lọc, mã hóa

và nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS 20.Ngoài phần thống kê mô tả,

quá trình phân tích dữ liệu được tiến hành qua các bước sau:

Kiểm định giá trị của biếnbằng phương pháp phân tích nhân tố khám

phá EFA Với các chỉ tiêu 0,5 ≤ KMO ≤ 1; Kiểm định Bartlett có Sig

< 0,05; Factor Loading ≥ 0,5; Total Varicance Explained ≥ 50%;

Eigenvalue>1 thì nhân tố rút ra có ý nghĩa tốt nhất

Đánh giá độ tin cậy của thang đobằng Cronbach’s Alpha Với

(Corrected Item–Total Correlation) > 0,3; Cronbach’s Alpha ≥ 0,7

Phân tích tương quan Bằng hệ số tương quan Pearson Hiện tượng

đa cộng tuyến cần được xem xét khi hệ số tương quan Pearson > 0,3

Phân tích hồi quy đa biến: bằng kiểm định F với sigα <0,05;

Tolerance >0,0001 và VIF <10

Kết quả:

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) lần đầu, 38 tiêu chí đo lường

được gom thành 8 nhân tố, trong đó tiêu chí đo lường LHDT3 có hệ

EFA Kết quả phân tích lần 2, 37tiêu chí đo lườngđược gom thành 8 nhân tố, tất cả các biến số có hệ số Factor Loading >0,5

Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha: Các mục đo và thang đo đều đảm bảo độ tin cậy, hệ số Cronbach's Alpha> 0,7 Các nhân tố TGC và VBH được đo bởi 2 mục đo, không đủ điều kiện kiểm định

độ tin cậy, (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Do vậy được giả định là thỏa mãn điều kiện và thực hiện những kiểm định tiếp theo

Kiểm định các giả thuyết Kiểm định tương quan các biến, giá trị sigα

đều<0,05, các biến tương quan với nhau và có ý nghĩa thống kê

Kiểm định mô hình Các biến đều có giá trị Tolerance>0,0001 và VIF

từ 1.583 đến 2.999<10,mô hình được chấp nhận Giá trị sigαTGC= 0,887 và sigαVBH= 0,943>0,05 nên bị loại; 6 nhân tố còn lại được chấp nhận và mức độ tác động đến TNTT như trong bảng 3.22

Bảng 3.22 Các yếu tố ảnh hưởng đến TNTT (2)

Coefficients

Standardized Coefficients

Statistics

Nguồn: Tổng hợp của tác giả Kiểm định ANOVA: Khi phân tích phương sai ANOVA và kết quả

Ngày đăng: 10/01/2020, 04:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm