1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tăng thêm hành thể trong câu hành động của bản dịch tiếng Việt tác phẩm “Hồng Lâu Mộng”

11 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 434,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng thêm hành thể trong câu hành động của bản dịch tiếng Việt Hành thể là thành phần phụ trong câu hành động tiếng Trung, thông thường đứng trước động ngữ. Bài viết thông qua phương pháp phân tích câu theo “Văn hóa câu tiếng Trung” của Thân Tiểu Long để tiến hành khảo sát bản gốc Hồng Lâu Mộng và bản dịch tiếng Việt tương đương của dịch giả Vũ Bội Hoàng cùng nhóm dịch, thu được kết quả như sau: câu đơn đoạn có tỷ lệ thêm vào hành thể là 19,41%, câu đa đoạn có tỷ lệ thêm vào hành thể là 80,59%. Trong câu đa đoạn có 0,75% sau khi dịch sang tiếng Việt bị cắt thành hai hoặc ba câu, đồng thời thêm vào hành thể. Sự thêm vào hành thể và cắt câu như vậy giúp tính liên kết trong câu chặt chẽ hơn, ý nghĩa rõ ràng, dễ hiểu hơn và phù hợp với văn hóa giao tiếp của người Việt. Bài viết nhằm lý giải cho việc tăng hành thể đó và cung cấp thêm phương pháp dịch tăng hành thể trong câu tiếng Việt.

Trang 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhà ngôn ngữ học J.Baudouin de Courtenay

nhấn mạnh việc nghiên cứu ngôn ngữ phải xuất

phát “từ bản thân nó” (Dẫn theo Nguyễn Quang

Hồng, 2018, tr 27)

Nhà ngôn ngữ học Trung Quốc Thân Tiểu Long

cho rằng, các câu tiếng Trung không có khung hình

thức trừu tượng như câu trong ngôn ngữ châu Âu

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã chú ý đến sự

thống nhất giữa chức năng và kết cấu khi nghiên

cứu các mẫu câu tiếng Trung Theo đó, xuất phát

từ chính ý nghĩa và chức năng diễn đạt của các loại

câu Chúng tôi chia thành các loại câu sau đây:

NGUYỄN THỊ LUYỆN * ; PHAN THANH HOÀNG **

* Đại học Phúc Đán, Trung Quốc,  nguyenluyen1185@gmail.com

** Đại học Phúc Đán, Trung Quốc,  jack_lucky_phan@yahoo.com

Ngày nhận bài: 28/7/2019; ngày sửa chữa: 27/8/2019; ngày duyệt đăng: 30/8/2019

TĂNG THÊM HÀNH THỂ TRONG CÂU HÀNH ĐỘNG CỦA BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT

TÁC PHẨM “HỒNG LÂU MỘNG”

Câu chủ đề, câu hành động, câu quan hệ, câu miêu

tả, câu thuyết minh, (Thân Tiểu Long, 1988) Bài viết này sử dụng phương pháp phân tích câu theo “Văn hóa câu tiếng Trung” do Thân Tiểu Long đề xuất và lấy thành phần chủ thể hành động trong câu hành động của tác phẩm “Hồng Lâu Mộng” làm đối tượng nghiên cứu

Trong cuốn “Văn hóa câu tiếng Trung”, Thân Tiểu Long cho rằng: “Câu hành động(施事句)

là câu trần thuật hành vi, hành động Kết cấu đầy

đủ của loại câu này là: “ngữ thời gian (时间语) + ngữ địa điểm (地点语) + chủ thể hành động (施事

语) + động ngữ (动作语)” Trong đó, động ngữ là

TÓM TẮT

Hành thể là thành phần phụ trong câu hành động tiếng Trung, thông thường đứng trước động ngữ Bài viết thông qua phương pháp phân tích câu theo “Văn hóa câu tiếng Trung” của Thân Tiểu Long để tiến hành khảo sát bản gốc Hồng Lâu Mộng và bản dịch tiếng Việt tương đương của dịch giả Vũ Bội Hoàng cùng nhóm dịch, thu được kết quả như sau: câu đơn đoạn có tỷ lệ thêm vào hành thể là 19,41%, câu đa đoạn có tỷ lệ thêm vào hành thể là 80,59% Trong câu đa đoạn có 0,75% sau khi dịch sang tiếng Việt bị cắt thành hai hoặc ba câu, đồng thời thêm vào hành thể Sự thêm vào hành thể và cắt câu như vậy giúp tính liên kết trong câu chặt chẽ hơn, ý nghĩa rõ ràng,

dễ hiểu hơn và phù hợp với văn hóa giao tiếp của người Việt Bài viết nhằm lý giải cho việc tăng hành thể đó và cung cấp thêm phương pháp dịch tăng hành thể trong câu tiếng Việt

Từ khóa: hành thể, Hồng Lâu Mộng, văn hóa ngôn ngữ, tính phân cắt

Trang 2

trọng tâm ngữ nghĩa và trọng tâm kết cấu của câu

Chính vì vậy, động ngữ là thành phần không thể

vắng mặt trong cấu trúc trên, các thành phần còn

lại đều có thể vắng mặt mà không ảnh hưởng đến

ý nghĩa ngữ pháp của câu” Trong đó, chủ thể hành

động (施事语) là thành phần đứng trước động ngữ,

là đối tượng gây ra tác động đó (申小龙, 1988, tr

364) Như vậy, “chủ thể hành động” tương ứng

với khái niệm “hành thể” trong câu chỉ hành động

của Cao Xuân Hạo “Một biến cố trong đó có một

chủ thể làm một việc có chủ ý (chủ động, tự điều

khiển) gọi là một hành động Chủ thể (diễn tố duy

nhất hoặc thứ nhất) của một hành động gọi là hành

thể, hay kẻ hành động (actor).” (Cao Xuân Hạo,

1991, tr 234) Dưới đây chúng tôi thống nhất gọi

“chủ thể hành động” bằng tên gọi hành thể

Thân Tiểu Long (1988, tr 147) cho rằng, “hành

thể là thành phần có thể vắng mặt trong câu mà

không ảnh hưởng đến cấu trúc cú pháp và ý nghĩa

toàn câu” Vương Lý Hà (2004, tr 8) đã chỉ ra

rằng, “do trong đoạn văn luôn có sự liên kết thông

tin câu trên dưới với nhau, chính vì vậy, hành thể

hoàn toàn có thể vắng mặt mà không ảnh hưởng

đến ý nghĩa và kết cấu của câu” Vương Ý (2016,

tr 6) khi nghiên cứu về câu hành động tiếng Trung

đã kết luận rằng: “Hành thể không phải là thành

phần bắt buộc trong câu hành động, đặc biệt trong

văn cổ tiếng Trung, thành phần này thường xuyên

vắng mặt trong câu”

Trong 40 hồi đầu tiên của tác phẩm Hồng Lâu

Mộng có tổng cộng 13407 câu, trong đó có 5684

câu hành động, chiếm 42,4% tổng số câu và là loại

câu có số lượng lớn nhất Sau khi dịch sang tiếng

Việt, có 438 câu được thêm vào hành thể, chiếm

7,71% tổng số câu hành động

Thân Tiểu Long chia câu hành động thành câu

hành động đơn đoạn và câu hành động đa đoạn

“Câu hành động đơn đoạn là câu trần thuật hành

vi, hành động, chỉ có một cú đoạn1 Trong cú đoạn

đó có thể có một hoặc nhiều động từ” “Câu hành

động đa đoạn là câu có từ hai cú đoạn trần thuật

hành vi hành động trở lên.” (夏征农, 2003, tr

128) “Câu đơn đoạn” và “câu đa đoạn” là thuật

ngữ được dùng trong văn hóa câu tiếng Trung, không giống với câu đơn, câu ghép và câu phức trong tiếng Việt Do đó, khi khảo sát câu hành động trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm câu đơn đoạn và câu

đa đoạn

Tăng hành thể được hiểu theo hai trường hợp: thứ nhất, trong câu tiếng Trung vốn không có hành thể nhưng trong bản dịch tiếng Việt lại thêm vào một hành thể, gồm 414 câu, chiếm 94,52%; thứ hai, câu tiếng Trung có một hành thể, sau khi dịch xuất hiện hai, gồm 24 câu, chiếm 5,48%

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ khảo sát việc tăng thêm hành thể của câu tiếng Việt thông qua câu hành động tiếng Trung và bản dịch tương ứng của dịch giả Vũ Bội Hoàng cùng nhóm dịch để lý giải cho việc tăng đó và nhằm cung cấp thêm phương pháp dịch tăng hành thể trong câu tiếng Việt

Chúng tôi tiến hành thống kê câu tăng thêm hành thể trong 40 hồi đầu tiên và thu được kết quả như sau:

Bảng 1: Thống kê kết quả tăng thêm hành thể của bản dịch “Hồng Lâu Mộng”

Thứ tự Loại câu Số lượng Tỷ lệ (%)

1 Câu đơn đoạn 85 19.41

2 Câu đa đoạn 353 80.59

3 Tổng cộng 438 100

ĐOẠN

Trong 40 hồi đầu tiên có 2472 câu đơn đoạn tiếng Trung, chiếm 43,49% câu hành động Trong

đó có 85 câu khi dịch sang tiếng Việt tăng thêm

Trang 3

hành thể, chiếm 19,41% câu tăng thêm, chiếm

3,44% câu đơn đoạn Tăng hành thể xuất hiện

trong câu đối thoại và câu trần thuật, hành thể

được thêm vào do danh từ hoặc đại từ đảm nhiệm

2.1 Tăng hành thể trong câu đối thoại

Trong các câu đối thoại có 24 câu tăng hành

thể, chiếm 5,48% câu tăng, chiếm 0,97% câu đơn

đoạn Hiện tượng tăng hành thể tương đương với

tăng thêm chủ ngữ trong câu tiếng Việt Ví dụ:

(1) Câu trước: 周瑞家 (S) 的又问 (V)香菱

(O):……香菱 (S) 听问 (V),都摇头说 (V)

(Dịch: Bà Chu lại hỏi Hương Lăng: Hương Lăng

(S) lắc đầu (V)

Câu chính:不记得 (V)了。(Dịch thẳng:

Chẳng nhớ gì cả.)

Bản dịch: Em (S) chẳng nhớ (V) gì (O) cả

Trong câu tiếng Trung không xuất hiện hành

thể nhưng khi dịch sang tiếng Việt được thêm vào

từ “em” bởi trong đoạn hội thoại trên có sự tham

gia của hai nhân vật, người hỏi là “bà Chu” lớn

tuổi hơn người nghe là “Hương Lăng” Nếu dịch

thẳng câu tiếng Trung ra thành: “Chẳng nhớ gì cả.”

thì không phù hợp trong ngữ cảnh này, bởi như vậy

sẽ thiếu đi yếu tố văn hóa trong giao tiếp

“Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có

thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá Tuổi

tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình

trạng gia đình là những vấn đề người Việt thường

quan tâm Mặt khác, do lối sống trọng tình cảm,

mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng hô

riêng” (Trần Ngọc Thêm, 2000, tr.156-157)

“Tiếng Việt Nam lấy sự “biết gọi biết thưa”

trong sự giao thiệp – làm rất thận trọng Phải tùy

tuổi, tùy địa vị hay nghề nghiệp của từng người

mà dùng tiếng đại danh tự cho đúng Ví như người

đáng gọi là cụ, là bà mà gọi là anh, là chị thì bị

ngạo.” (Trần Trọng Kim, 1940, tr.69)

“Hương Lăng” ít tuổi hơn “bà Chu” nên xưng

là “em” chứ không xưng “tôi” và cũng không được

nói trống không “Trong tiếng Việt, rất ít sử dụng các đại từ nhân xưng đích thực (có thể bị coi là khiếm nhã), mà thường dùng các danh từ chỉ người

có họ hàng (danh từ thân tộc) và cả từ chỉ chức

vụ để làm từ xưng hô Cũng thường gặp trong hội thoại đời thường cách dùng một danh từ chỉ quan

hệ thân tộc kết hợp ở phía sau các từ như “cháu,

em, nó (tùy hoàn cảnh cụ thể) để tạo dạng nhân xưng ngôi thứ hai và ngôi thứ ba” (Diệp Quang Ban, 2009, tr.334)

(2) Câu trước:宝玉道……袭人忙回身拦住,

笑道:)(Dịch: Tập Nhân vội kéo Bảo Ngọc lại nói.) Câu chính:往哪里 (Ad) 去 (V)?(Dịch thẳng: Đi đâu đấy?)

Bản dịch: Cậu (S) định đi (V) đâu (O) đấy? Trong bối cảnh giao tiếp trên gồm có “Tập Nhân” (người hầu) và “Bảo Ngọc” (cậu chủ) Chính vì vậy “Tập Nhân” không thể “nói trống không” với cậu chủ Trong câu tiếng Trung (2) không xuất hiện hành thể, nhưng khi dịch sang tiếng Việt được thêm vào từ “cậu” chỉ cách xưng

hô của “Tập Nhân” với “Bảo Ngọc” Việc thêm vào hành thể là hoàn toàn hợp lý

(3) Câu trước:王夫人便问:“你从哪里 来?” (Dịch: Vương phu nhân hỏi: Cháu ở đâu đến đây?)

Câu chính: 从园子里 (Ad) 来 (V)。(Dịch thẳng: Ở bên vườn sang.)

Bản dịch: Cháu (S) ở bên vườn sang (V) Trong câu (3) là cuộc đối thoại giữa “Vương phu nhân”(người già) với “Bảo Thoa” (người trẻ) Trong câu tiếng Trung không xuất hiện hành thể nhưng sau khi dịch đều được thêm vào, đó là “cháu”

Có thể thấy rằng, trong các ví dụ trên, các hành thể tăng thêm đều do đại từ hoặc danh từ thân tộc như “em”, “cậu”, “cháu” đảm nhiệm Nguyên nhân tăng là do hoàn cảnh giao tiếp giữa người dưới xưng hô với người trên hoặc do địa vị xã hội

Trang 4

quy định Chẳng hạn trong câu (1), “周瑞家” lớn

tuổi hơn “香菱” hoặc trong (3) “王夫人” lớn tuổi

hơn “宝钗”, còn với câu (2) là đối thoại giữa “袭

人 (người hầu)” và “宝玉 (cậu chủ)” Chính vì

vậy việc thêm vào hành thể nhằm mục đích thể

hiện thái độ tôn trọng và lễ phép của người dưới

đối với người trên Hơn nữa, khi thêm vào như vậy

thì người đọc xác định rõ hơn mối quan hệ, vai vế

giữa người những người tham gia cuộc đối thoại

Hành thể tăng thêm còn do danh từ riêng đảm

nhiệm, ví dụ:

(4) Câu trước: 林姑娘的行李东西可搬进来

了?(Dịch: Những hành lý của cô Lâm đã mang

vào chưa?)

Câu chính: “带(V) 了几个人(O)来(C)?”(Dịch

thẳng: Mang mấy người theo hầu?)

Bản dịch: Cô Lâm (S) mang (V) mấy người

theo hầu?

Tương tự các câu trên, câu (4) cũng được thêm

vào hành thể “cô Lâm” mà trong bản dịch không có

Về cách xưng hô trong tiếng Việt, “như ai nấy

đều biết, nền tảng của xã hội Việt Nam là gia đình

và làng xã Trong quan hệ giao tiếp, chủ thể giao

tiếp dùng cách xưng hô trong gia đình để xưng hô

trong xã hội Điều này, một mặt tạo được sợi dây

gần gũi trong cộng đồng, mặt khác phát huy được

quan hệ tình cảm như kiểu đại gia đình Đây có thể

coi là nét riêng về vẻ đẹp truyền thống của người

Việt.” (Trịnh Sâm, 2018, tr.15)

Nguyên nhân tăng hành thể trong câu đối thoại

là do: Một là, để giúp câu tiếng Việt hoàn chỉnh

hơn về mặt liên kết logic, giúp nội dung giữa các

câu được gắn kết chặt chẽ hơn; Hai là, trong tiếng

Việt, khi giao tiếp với người lớn tuổi hơn hay với

cấp trên, các từ ngữ xưng hô đóng vai trò chủ ngữ

trong câu là không thể thiếu Nếu câu không có

chủ ngữ sẽ bị coi là “nói trống không” và bị đánh

giá là người vô lễ, mất lịch sự Chỉ trong trường

hợp giao tiếp giữa người trên với người dưới hoặc

“ngang hàng phải lứa” thì mới có thể không sử

dụng từ xưng hô đóng vai trò chủ ngữ, tuy nhiên những trường hợp như vậy ít sử dụng hơn

2.2 Tăng hành thể trong câu trần thuật

Trong các câu đơn đoạn mang tính trần thuật

đa phần là lời kể chuyện của tác giả Tổng số câu tăng thêm hành thể là 61, chiếm 13,93% câu tăng, chiếm 2,47% câu đơn đoạn

Hầu hết những chủ thể đó đều do danh từ đảm nhiệm, có thể là danh từ chung hoặc danh từ riêng,

ví dụ:

(5) Câu trước: “凤姐见昭儿回来……交付

昭儿”。(Dịch: Phượng Thư gọi ngay Chiêu Nhi đến trao cho Chiêu Nhi.)

Câu chính: “又细细吩咐(V)昭儿(O) (Dịch thẳng: Lại dặn dò Chiêu Nhi.)

Bản dịch: Phượng Thư (S) lại dặn dò (V)

Chiêu Nhi (O)

(6) Câu trước: 说起来更可笑,他说:‘……’

)(Dịch: Nói ra thật đáng buồn cười, tên học trò

bé con ấy nói ”

Câu chính: “又常对跟他的小厮们说(V)” (Dịch thẳng: Thường nói với bọn người nhà.)

Bản dịch: Nó thường nói với bọn người nhà

(7) Câu trước: “那婆子一时拿了盒子回来, 说:……”(Dịch: Một lúc, bà già mang cái làn về nói: )

Câu chính: 又向平儿道(V):(Dịch thẳng: Ngoảnh vào nói với Bình Nhi.)

Bản dịch: Bà ta (S) ngoảnh vào nói (V) với

Bình Nhi (O)

Trong ví dụ (5), (6), (7), câu tiếng Trung không xuất hiện hành thể nhưng khi dịch sang tiếng Việt thì thành phần này đều được thêm vào Chúng tôi thử nghiệm phương án không cần thêm hành thể

mà dịch trực tiếp từ câu tiếng Trung sang, thì ý

Trang 5

nghĩa câu không rõ ràng, chính vì vậy việc thêm

vào đó giúp người đọc dễ hiểu hơn, câu được rõ

nghĩa hơn nên cho rằng việc thêm vào như vậy là

rất hợp lý

3 TĂNG HÀNH THỂ TRONG CÂU ĐA ĐOẠN

Trong 40 hồi đầu tiên có 3212 câu đa đoạn

tiếng Trung, chiếm 56,51% câu hành động Trong

số đó có 353 câu khi dịch sang tiếng Việt tăng hành

thể, chiếm 80,59% câu tăng, chiếm 10,99% câu đa

đoạn Hiện tượng tăng hành thể trong câu đa đoạn

xuất hiện trong câu hai đoạn, ba đoạn, bốn đoạn

và câu năm đoạn Từ năm đoạn trở lên, câu tiếng

Trung thường xuất hiện hành thể nên không xảy ra

hiện tượng tăng trong câu tiếng Việt

Trong câu đa đoạn xuất hiện hai trường hợp

tăng, thứ nhất là câu tiếng Trung vốn không có

hành thể và tăng thành một sau khi dịch; Trường

hợp thứ hai là câu tiếng Trung có sẵn một hành thể,

sau khi dịch bị tăng thêm hành thể và cắt thành hai

hoặc ba câu tiếng Việt Hiện tượng cắt câu này tỷ

lệ thuận khi số đoạn trong câu tăng lên

3.1 Tăng hành thể trong câu hai đoạn

Câu hai đoạn là câu có hai cú đoạn trần thuật

hành vi, hành động Trong 40 hồi đầu tiên có 2144

câu hai đoạn tiếng Trung, trong đó có 168 câu khi

dịch sang tiếng Việt tăng hành thể, chiếm 38,36%

câu tăng, chiếm 7,84% câu hai đoạn Với câu hai

đoạn chỉ xuất hiện tăng hành thể khi câu tiếng

Trung không có, sau khi dịch thì xuất hiện một

hành thể Ví dụ:

(8) Câu trước: “一语未了,只见房中又走出

几个仙子来,皆是荷袂蹁跹,羽衣飘舞,娇若

春花,媚如秋月”。(Dịch: “Tiếng gọi chưa dứt,

đã thấy mấy cô tiên ở trong buồng, tà sen phất

phới, áo lông thướt tha, tươi như hoa xuân, đẹp

như trăng thu, chạy ra”

Câu chính: 一见 (V)了宝玉(O),都怨谤 (V)

警幻 (O)道 (V):(Dịch thẳng: Vừa trông thấy

Bảo Ngọc, đều trách móc Cảnh ảo tiên cô)

Bản dịch: Trông thấy (V) Bảo Ngọc (O), các nàng tiên (S) đều trách (V) Cảnh ảo tiên cô (O).

Trong ví dụ (8), câu phía trước của cả tiếng Trung và Việt đều xuất hiện “mấy cô tiên” ( 几个

仙子) Câu tiếng Trung phía sau thì chủ thể này không xuất hiện nữa, tuy nhiên câu tiếng Việt vẫn chỉ rõ hành thể là “các nàng tiên”

(9) Câu trước: “宝玉 (S) 笑道 (V):(S)‘

”(Dịch: Bảo Ngọc cười: Tôi không về đâu

Chúng ta cùng nằm tử tế nói chuyện với nhau.) Câu chính: “说着 (V),复又倒下(V)” (Dịch thẳng: Nói xong lại nằm ngả mình xuống.)

Bản dịch: Bảo Ngọc (S) lại nằm ngả (V) mình

xuống

Nội dung câu (9) trần thuật hành động của

“Bảo Ngọc” Khi ba câu tiếng Trung đi liền nhau thì hành thể “宝玉” chỉ cần xuất hiện một lần ở câu phía trước, hai câu phía sau không xuất hiện nữa Tuy nhiên, trong bản dịch tiếng Việt thì hành thể

“Bảo Ngọc” xuất hiện hai lần và đại từ “tôi” (đồng

sở chỉ) xuất hiện một lần Như vậy, mặc dù cả đoạn đều trần thuật hành động của một đối tượng nhưng hành thể cần xuất hiện ba lần thì mới có thể bao trùm được đoạn văn, và hầu như mỗi câu đều cần

có một hành thể

(10) Câu trước: “李嬷嬷又问道:……”(Dịch:

Vú Lý lại hỏi: ) Câu chính: “说毕 (V1),拿 (V2) 匙 (O) 就吃 (V)” (Dịch thẳng: Nói xong, lấy ngay ra ăn.)

Bản dịch: Nói xong (V1), vú Lý (S) lấy (V2)

ngay ra ăn (V)

Trong câu (10) là hai câu tiếng Trung liên tiếp nhau nhưng hành thể chỉ xuất hiện một lần, sau khi dịch thì “vú Lý”(hành thể) tăng lên thành hai lần Hành thể sau khi được thêm vào trong bản dịch

có thể đứng đầu câu hoặc đầu đoạn thứ hai của câu

Trang 6

Ở câu tiếng Trung, hành thể này ẩn đi không xuất

hiện trực tiếp mà tự ngầm hiểu, tuy nhiên trong câu

tiếng Việt, nó được thêm vào nhằm làm rõ nghĩa

câu để tránh gây hiểu lầm Từ đó cho thấy, tính

ngầm hiểu trong câu tiếng Trung lớn hơn trong

câu tiếng Việt, không cần nói rõ hoặc nói trực tiếp

trong văn cảnh nhưng người đọc vẫn hiểu đúng ý

tác giả

Khi thêm vào hành thể thì trọng tâm câu tiếng

Việt đã khác so với câu tiếng Trung bởi hai lý do:

Thứ nhất, câu tiếng Trung không cần xuất hiện chủ

thể đã ngầm hiểu đúng người gây ra tác động, còn

tiếng Việt buộc phải nêu ra để rõ nghĩa Thứ hai,

khi thêm vào hành thể thì trọng tâm câu tiếng Việt

nhấn mạnh tới “kẻ gây ra tác động”, ngược lại câu

tiếng Trung không xuất hiện chủ thể này vì trọng

tâm câu nhấn mạnh đến hành động

3.2 Tăng hành thể trong câu ba đoạn

Câu ba đoạn là câu có ba cú đoạn trần thuật

hành vi, hành động Trong 40 hồi đầu tiên có 672

câu ba đoạn tiếng Trung, trong đó có 124 câu khi

dịch sang tiếng Việt tăng hành thể, chiếm 28,31%

câu tăng, chiếm 18,45% câu ba đoạn Trong câu ba

đoạn xuất hiện hai trường hợp tăng chủ thể: Một

là, sau khi dịch hành thể tăng lên thành một, gồm

120 câu, chiếm 27,4%; Hai là, sau khi dịch hành

thể tăng lên thành hai, trường hợp này chỉ có 4 câu,

chiếm 0,91% câu tăng, chiếm 0,6% câu ba đoạn

Ví dụ:

(11) Câu trước: “贾蔷听了 。” (Dịch: Giả

Tường nghe nói )

Câu chính: “说 着 (V1), 果 然 将 雀 儿 放 了

(V2), 一顿把将笼子拆了(V3)” (Dịch thẳng: Nói

xong, quả nhiên thả con chim ra và bẻ gãy cả lồng)

Bản dịch: Nói xong (V), hắn (S) thả (V) con

chim (O) ra và bẻ gãy (V) cả lồng (O)

(12) Câu trước: “我家里烧的滚热的野鸡,快

来跟我吃酒去。” (Dịch: Bên nhà tôi mới nấu thịt

chim trĩ còn nóng, mời u sang uống rượu với tôi.)

Câu chính: “一面说 (V1),一面拉着走 (V2),又叫 (V3) 丰儿 (O)” (Dịch thẳng: Vừa nói vừa dắt đi, lại gọi Phong Nhi.)

Bản dịch: Phượng Thư (S) vừa nói (V1) vừa

dắt (V2) vú Lý (O) đi, lại gọi (V3) Phong Nhi (O) Câu (11) và (12) khi dịch thẳng không rõ nghĩa câu và gây khó hiểu cho người đọc Vì vậy, câu (11) dịch giả thêm vào hành thể “hắn (Giả Tường)”

để chỉ rõ đối tượng gây ra hành động Còn với câu (12), dựa theo ngữ cảnh nên bản dịch thêm vào hành thể (Phượng Thư) và đối tượng tiếp nhận hành động (vú Lý) giúp câu rõ nghĩa hơn So sánh câu dịch thẳng và bản dịch, chúng tôi thấy cách dịch trong bản dịch phù hợp hơn

Như vậy, với câu ba đoạn, tăng hành thể xuất hiện ngay cả khi trong câu tiếng Trung đã có sẵn một hành thể, và sau khi dịch tăng lên thành hai

Ví dụ:

(13) 他 (S) 也知道 (V1) 袭人 (O) 在宝玉房

Bản dịch: Hắn (S) cũng biết (V1) Tập Nhân

được coi thân hơn so với tất cả những người hầu trong buồng Bảo Ngọc (O) Nay thấy (V2) chị ta pha trà đưa lên mời, lại có Bảo Ngọc ngồi bên

cạnh, hắn (S) liền đứng dậy cười nói (V3):

Trong ví dụ (13), câu tiếng Trung đã có sẵn một hành thể là “他” bao trùm ba đoạn liền nhau, nhưng khi dịch sang tiếng Việt thì “hắn” xuất hiện hai lần, đồng thời cắt câu tiếng Trung ra thành hai

câu tiếng Việt Câu đầu tiên, đại từ “hắn” chỉ bao trùm một đoạn Câu thứ hai, đại từ “hắn” đứng ở

đoạn thứ hai và quản hai đoạn với hai động ngữ

“thấy (V2)”, “đứng dậy cười nói (V3)” Việc xuất hiện hai hành thể và cắt câu giúp cho nội dung câu không bị phân tán, mà tập trung vào đối tượng, khiến cho người đọc dễ hiểu Từ đó cũng thấy được khả năng bao trùm thông tin của hành thể trong câu tiếng Trung tương đối mạnh Với câu ba đoạn chỉ cần một hành thể có thể bao trùm được, nhưng với

Trang 7

câu tiếng Việt thì hành thể đó không bao trùm được

hết mà cần phải cắt câu và tăng thêm hành thể

Chúng tôi đặt giả thiết dịch câu như sau:

“Hắn cũng biết Tập Nhân được coi thân hơn

so với tất cả những người hầu trong buồng Bảo

Ngọc, nay thấy chị ta pha trà đưa lên mời, lại có

Bảo Ngọc ngồi bên cạnh, liền đứng dậy cười nói:”

(Dịch thẳng)

So sánh câu trong bản dịch và câu dịch thẳng:

có sự khác biệt rõ ràng, đó là câu trong bản dịch

cắt thành hai câu và tăng thêm hành thể; Còn câu

dịch thẳng: chỉ có một câu và một hành thể bao

trùm các đoạn Chúng tôi thấy rằng, câu trong bản

dịch rõ nghĩa và liên kết chặt chẽ hơn so với câu

trong bản dịch thẳng, chính vì vậy việc cắt câu và

thêm vào hành thể hoàn toàn hợp lý

Hoặc trường hợp khác như sau:

(14) 凤姐 (S) 因见 (V1)他素日不大拿班作

夫人说(V):

Bản dịch: Phượng Thư (S) biết (V1) Chu thị

xưa nay không hay cậy thần cậy thế mấy, liền nhận

lời (V2) Nghĩ ngợi một lúc (V3), Phượng Thư

(S) sang trình (V) Vương phu nhân:

Trong câu tiếng Trung chỉ có một chủ thể “

凤姐” trải bao trùm cả ba đoạn, nhưng sau khi dịch

đã cắt thành hai câu và hành thể “Phượng Thư”

xuất hiện hai lần

Giả sử dịch câu thành:

“Phượng Thư biết Chu thị xưa nay không hay

cậy thần cậy thế mấy, liền nhận lời, nghĩ ngợi một

lúc, sang trình Vương phu nhân:” (Dịch thẳng)

Hai cách dịch trên có sự khác biệt lớn: Câu

dịch thẳng tuy giữ được nguyên kết cấu theo câu

tiếng Trung nhưng ý nghĩa chưa được rõ ràng như

trong bản dịch Về mặt hình thức, liên kết trong

câu dịch thẳng kém chặt chẽ hơn so với bản dịch

Về mặt ý nghĩa, câu trong bản dịch rõ ràng, chi tiết

và dễ hiểu hơn so với câu dịch thẳng Chính vì vậy chúng tôi cho rằng, việc tăng hành thể và cắt thành hai câu trong bản dịch hoàn toàn hợp lý

Từ câu (13) và (14) chúng tôi thấy rằng, khi dịch câu từ tiếng Trung sang tiếng Việt, đặc biệt với những câu dài thì việc cắt câu và thêm hành thể

sẽ hợp lý và giúp câu liên kết chặt chẽ hơn, ý nghĩa

rõ ràng và dễ hiểu hơn

3.3 Tăng hành thể trong câu bốn đoạn

Câu bốn đoạn là câu có bốn đoạn trần thuật hành vi, hành động Trong 40 hồi đầu tiên có 264 câu bốn đoạn tiếng Trung, trong số đó có 46 câu khi dịch sang tiếng Việt tăng hành thể, chiếm 10,5% câu tăng, chiếm 17,42% câu bốn đoạn Trong câu bốn đoạn có hai trường hợp tăng hành thể: Một là, sau khi dịch hành thể tăng lên thành một, gồm 35 câu, chiếm 7,99% câu tăng; Hai là, sau khi dịch hành thể tăng lên thành hai, trường hợp này chỉ

có 11 câu, chiếm 2,51% câu tăng, và chiếm 4,17% câu bốn đoạn Ví dụ:

(15) Câu trước: “袭人冷笑道:……” (Dịch:

Tập Nhân cười nhạt: )

Câu chính: “一面说(V1),一面禁不住流泪 (V2),又怕(V3)宝玉烦恼,只得又勉强忍着 (V4)。

Bản dịch: Tập Nhân (S) vừa nói (V1) vừa ứa

nước mắt (V2) , nhưng lại sợ(V3) Bảo Ngọc buồn, nên phải cố nén đi (V4)

Trong đoạn văn trên, hành thể của tiếng Trung

chỉ có một “袭人 (Tập Nhân)” xuất hiện ở câu

trước, câu phía sau gồm bốn đoạn đều không sử dụng hành thể, nhưng khi dịch sang tiếng Việt, hai câu liên tiếp đều sử dụng chủ thể là “Tập Nhân” Như vậy, hành thể của câu tiếng Trung có độ bao trùm rộng hơn so với câu tiếng Việt

(16) Câu trước: “凤姐儿说道:……尤氏笑

道.”(Dịch: “Phượng Thư nói: Vưu Thị nói ”)

Trang 8

Câu chính: “于是说说笑笑 (V1),点的戏都

唱完 (V2)了,方才撤下(V3)酒席,摆上 (V4)

饭来。

Bản dịch: Mọi người (S) cười cười nói nói

(V1), nghe hát (V2) xong, dọn (V3) tiệc rượu đi

bưng cơm (V4) lên

Câu (15) và (16) đều tương tự như câu (14)

Tuy nhiên, với câu bốn đoạn còn có hiện tượng khi

trong câu tiếng Trung đã có sẵn một hành thể, sau

khi dịch tăng lên thành hai hành thể Ví dụ:

(17) “凤姐 (S) 便一扬 (V1) 手,照 (V2) 脸一

下,把那小孩子打 (V3)了一个筋斗,骂道 (V4):

Bản dịch: Phượng Thư (S1) giơ tay (V1) tát

(V2) nó một cái, làm (V3) thằng bé ngã lộn nhào,

Phượng Thư (S2) mắng (V4)”

Trong câu (17), tiếng Trung đã có sẵn một

hành thể là “凤姐” và bao trùm bốn đoạn, nhưng

khi dịch sang tiếng Việt thì hành thể này được lặp

lại, đứng trước đoạn thứ tư, vì vậy, câu có hai chủ

thể “Phượng Thư”

(18) 薛蟠 (S)见 (V1) 英莲生得不俗,立意

买 (V2) 了,又遇 (V3) 冯家来夺人,因恃强喝

Câu dịch: Tiết Bàn (S) trông thấy (V1) Anh

Liên có nhan sắc, liền mua ngay (V2), ngờ đâu lại

bị (V) họ Phùng đến đòi về Cậy (V3) có thế lực,

hắn thét (V4) người nhà đánh chết Phùng Uyên

Cũng giống như câu ba đoạn, khi bản dịch

thêm vào hành thể thì thường hoặc cắt thành hai

câu hoặc tăng thành hai hành thể, điều này giúp

liên kết trong câu chặt chẽ hơn, nghĩa trong câu rõ

ràng hơn

3.4 Tăng hành thể trong câu năm đoạn

Câu năm đoạn là câu có năm đoạn trần thuật

hành vi, hành động Trong 40 hồi đầu tiên có 93

câu năm đoạn tiếng Trung, trong đó có 15 câu khi

dịch sang tiếng Việt tăng hành thể, chiếm 3,42%

câu tăng, chiếm 16,13% câu năm đoạn Câu năm đoạn cũng có hai trường hợp tăng hành thể: Một

là, sau khi dịch tăng lên thành một, gồm 6 câu, chiếm 1,37% câu tăng, hai là sau khi dịch tăng lên thành hai, trường hợp này có 9 câu, chiếm 2,05% câu tăng, chiếm 9,68% câu năm đoạn Từ đó cho thấy, tính phân cắt câu tỷ lệ thuận với đoạn, hay nói cách khác, câu càng nhiều đoạn càng dễ xảy

ra hiện tượng cắt câu và tăng lên thành hai hành thể Ví dụ:

(19) 倪二 (S) 听见(V1)是熟人的语音,将醉 眼睁开看 (V2) 时,见 (V3)是贾芸,忙把手松 (V4)了,趔趄着笑道 (V5):

Bản dịch: Nghê Nhị (S1) nghe (V1) tiếng quen

quen, trừng mắt nhìn (V2), biết (V3) là Giả Vân,

vội buông tay (V3) ra Hắn (S2) đi lảo đảo (V4),

cười nói (V5):

(20) 宝钗 (S) 只顾看 (V1) 着活计,便不留

心一蹲身 (V2),刚刚的也坐 (V3) 在袭人方才

Bản dịch: Bảo Thoa (S1) chỉ chăm chú nhìn

(V1) cái bức thêu nên không để ý, ngồi (V2) luôn

xuống đó Vì cũng thích (V3) bức thêu, Bảo Thoa

(S2) liền lấy (V4) ngay kim thêu (V5) tiếp

Trong câu (19) và (20), hành thể chỉ xuất hiện một lần trong câu tiếng Trung và bao trùm trên cả năm đoạn, nhưng khi chuyển dịch sang tiếng Việt

đã cắt thành hai câu, bởi vì thông thường một hành thể không thể bao trùm hết được Vì vậy, nó phải xuất hiện hai lần

Từ kết quả thống kê cho thấy, số lượng tăng hành thể trong câu đa đoạn (80,59%) chiếm lượng lớn hơn so với câu đơn đoạn (19,41%), đồng thời tính phân cắt câu thể hiện rõ nét và tỷ lệ thuận với

số đoạn của câu Tỷ lệ phân cắt của câu ba đoạn

là 0,6%, bốn đoạn là 4,17%, năm đoạn là 9,69% Với câu tiếng Trung, cho dù là câu năm đoạn vẫn không cần hành thể hoặc chỉ cần một là có thể bao trùm lên toàn bộ cả câu Ngược lại với tiếng Việt, khi câu có độ dài lên đến ba đoạn thì rất dễ có hiện

Trang 9

tượng phân cắt để thành hai câu và hành thể phải

xuất hiện hai lần Từ đó cho thấy, hành thể trong

câu tiếng Trung có độ bao trùm lớn hơn câu tiếng

Việt, nói cách khác, câu tiếng Việt có tính phân cắt

mạnh hơn tiếng Trung

Thực tế chứng minh, câu tiếng Việt cắt câu và

thêm hành thể như vậy nhằm mục đích tăng tính

liên kết giữa các đoạn và các câu với nhau, nói

cách khác là việc tăng này giúp tính liên kết giữa

các câu và đoạn được chặt chẽ hơn

Tăng hành thể và cắt câu như vậy nhằm liên

kết nội dung chặt chẽ hơn, “liên kết nội dung của

văn bản không chỉ giới hạn trong phạm vi giữa

các phát ngôn mà nó còn thể hiện ở mọi cấp độ

có nghĩa khác (giữa các đoạn văn, giữa các vế của

phát ngôn, giữa các từ )” (Trần Ngọc Thêm,1999,

tr 238)

Khi thêm vào hành thể và phân cắt câu như

vậy, giúp câu tiếng Việt trở nên hoàn chỉnh hơn về

kết cấu, dễ hiểu hơn về mặt ý nghĩa và có thể trở

thành “câu tự nghĩa” “Câu tự nghĩa là loại phát

ngôn hoàn chỉnh nhất, nó tập trung trong mình sự

hoàn chỉnh về cả ba mặt: hình thức, cấu trúc và nội

dung Nó có thể đứng một mình mà không cần

sự hỗ trợ của phát ngôn nào” (Trần Ngọc Thêm,

1999, tr.84)

Cùng với việc thống kê lượng câu tăng hành

thể khi dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt, chúng

tôi đã tiến hành thử khảo sát lấy ví dụ ngược lại với

tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh và

bản dịch tương ứng của dịch giả Hạ Lộ Chúng tôi

thấy có hai hiện tượng như sau:

Một là, với hai câu tiếng Việt liền nhau được

dùng hai chủ ngữ nhưng khi dịch sang tiếng Trung

có thể dùng một chủ ngữ và gộp thành một câu,

ví dụ:

(21) Bản gốc: “Bốn bộ mặt (S) tái ngoét vụt

ngửng lên (V) Bốn cái nhìn (S) trân trân ngây cứng.”

Bản dịch: “四张苍白的脸 (S) 仰了起来(V),

Bản dịch dùng một câu với một chủ ngữ duy nhất là “四张苍白的脸”để dịch lại hai câu tiếng Việt, từ đó cho thấy hiện tượng câu tiếng Việt dịch sang tiếng Trung đã lược chủ ngữ

(22) Bản gốc: “Kinh hoàng, tôi (S) lao đầu chạy (V), có nhẽ khi ấy tôi (S) đã phát rồ (V).” Bản dịch: 我 (S) 发疯 (V) 似的叫喊着,奔跑

Với câu (22), tiếng Việt có ba đoạn với ba động ngữ khác nhau, đầu tiên là “kinh hoàng” “lao đầu chạy” và cho rằng khi đó mình đã “phát rồ” Trong

câu có đến hai chủ ngữ “tôi” được sử dụng, nhưng

khi dịch sang tiếng Trung chỉ dùng một chủ ngữ “

我” có thể bao trùm toàn bộ ba đoạn câu

(23) Bản gốc: “Anh (S) lẫn (V) chị với hết

người này sang người nọ, cả những người chết với

những hồn ma Và anh (S) chẳng biết gì (V) cái sự

tình rằng chị là đàn bà.”

Bản dịch: “阿坚 (S) 常常会把她误认为 (V1)

(V) 某个死去的人或某个鬼鬼。”

Câu (23) cho thấy, trong tiếng Việt có hai câu liên tiếp và chủ ngữ đều là “anh” (Kiên), khi dịch sang tiếng Trung chỉ dùng một câu với chủ ngữ là

“阿坚” để gộp toàn bộ nội dung đó

Hai là, dùng một câu tiếng Trung để gộp lại từ hai hoặc ba câu tiếng Việt, số lượng chủ ngữ của câu tiếng Trung ít hơn câu tiếng Việt Ví dụ: (24) Bản gốc: “Mặt chúng (S1) rắn lại Lòng căm thù bóp méo nhân dạng Câm nín, chúng (S2) nghiến răng”

Bản dịch: 他们脸上的表情(S) 变得僵硬,心 里充满着某种仇恨,但全都紧咬牙关,默默地 忍耐。

Câu (24) tiếng Trung chỉ dùng một chủ ngữ để bao trùm toàn bộ nội dung câu, trong khi đó tiếng Việt cắt thành ba câu khác nhau và chủ ngữ phải xuất hiện hai lần

Trang 10

Ba là, câu tiếng Trung và Việt có số lượng chủ

ngữ bằng nhau nhưng một câu tiếng Trung có thể

gộp được từ hai đến ba câu tiếng Việt Ví dụ:

(25) Bản gốc: “Còn Tạo “voi”(S1) lại đặc biệt

hay mơ sự ăn uống Không chỉ mơ được ăn no,

Tạo (S2) còn vẽ ra trong đầu những mâm cỗ ăm ắp

các món ăn béo bở do tâm thần mộng mị của hắn

bịa tạc nên.”

Bản dịch: “大象”阿造(S1) 呢,在魔玫瑰的

刺激下,总是特别惦记(V)食物,他 (S2) 可不

桌上摆满各种精美诱人的菜肴的情形。

(26) Bản gốc: “Tên ngụy (S1) thở dài (V) Hắn

(S2) uốn éo (V) cặp vai, nhìn (V) Kiên thiết tha,

rồi thấp giọng(V) xuống”

Bản dịch: 那个伪军 (S1) 长长地叹(V)了一口

气,他 (S2) 耸了耸肩 (V),恳求地看着(V) 阿

(27) Bản gốc: Kiên (S) trở lên phòng Tắm táp,

thay quần áo, nhưng không dám xuống

Bản dịch: 阿坚 (S) 回家洗了澡,换了衣

服,却不敢再下去了。

Trong câu (25), (26) và (27) số lượng chủ

ngữ của câu tiếng Trung và tiếng Việt bằng nhau,

nhưng có thể dùng một câu tiếng Trung để gộp lại

hai câu tiếng Việt đến ba câu tiếng Việt

Từ những ví dụ trên cho thấy, chủ ngữ trong

câu tiếng Trung có độ bao trùm rộng, lớn hơn

chủ ngữ trong câu tiếng Việt Câu tiếng Việt có

tính phân cắt mạnh hơn câu tiếng Trung, hoặc nói

ngược lại, câu tiếng Trung có độ tổng hợp hơn câu

tiếng Việt

4 KẾT LUẬN

Qua thống kê chúng tôi thấy, tăng hành thể tỷ

lệ thuận với số đoạn Tỷ lệ tăng hành thể trong câu

đơn đoạn là 3,44% tổng số câu đơn đoạn; câu đa

đoạn là 10,99% tổng số câu đa đoạn Xét từ tổng

số câu tăng hành thể cho thấy, câu đơn đoạn có

tỷ lệ tăng là 19,41%, câu đa đoạn có tỷ lệ tăng là 80,59% Từ kết quả thống kê đó, chúng tôi thấy được rằng:

Đối với câu đơn đoạn, tỷ lệ tăng hành thể xuất hiện ít chứng tỏ sự tương đồng giữa câu tiếng Việt

và câu tiếng Trung; câu đa đoạn có tỷ lệ tăng hành thể nhiều cho thấy sự khác biệt giữa câu tiếng Việt và câu tiếng Trung Vị trí của các hành thể này tương ứng với vị trí của chủ ngữ trong câu tiếng Việt Hầu hết các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đều cho rằng chủ ngữ là bộ phận nòng cốt của câu Theo Martinet “chủ ngữ là người bạn đường thường xuyên của vị ngữ” (Dẫn theo Lê Xuân Thại,1994, tr.63); “chủ ngữ là một trong hai thành phần chính của mệnh đề (câu) là thành tố hạt nhân của thành phần câu” (Jarsheva Ed,1990, tr.379) Nguyễn Minh Thuyết (1998, tr.121) cho rằng “chủ ngữ là thành tố bắt buộc, không thể bị lược bỏ mà không ảnh hưởng tới tính trọn vẹn của câu” Do đó, hành thể trong câu tiếng Việt có tính chất cần thiết hơn so với trong câu tiếng Trung Trong 40 hồi đầu tiên, có 0,75% câu đa đoạn sau khi dịch sang tiếng Việt bị cắt thành hai hoặc

ba câu tiếng Việt, đồng thời tỷ lệ phân cắt này tăng cao khi số đoạn của câu tăng lên Việc tăng hành thể giúp câu liên kết chặt chẽ hơn, ý nghĩa rõ ràng

và dễ hiểu hơn Chúng tôi cho rằng, hành thể trong câu tiếng Trung có tính bao trùm hơn câu tiếng Việt Ngược lại, với mỗi câu tiếng Việt thường đòi hỏi phải có “chủ thể” để đảm bảo “tính trọn vẹn của câu” Với những câu ba đoạn trở lên, tiếng Việt thường cắt thành hai câu và tăng thêm hành thể để đảm bảo tính liên kết chặt chẽ và rõ nghĩa hơn trong câu Từ đó cho thấy tính phân cắt của câu tiếng Việt mạnh hơn câu tiếng Trung

Ngoài ra, cách dịch tăng hành thể này cũng nhằm mục đích phù hợp với văn hóa giao tiếp của người Việt Nam, đặc biệt thể hiện qua các câu đối thoại Khi người trẻ nói chuyện với người lớn tuổi hơn hoặc người có địa vị thấp nói chuyện với những người có địa vị cao hơn thì việc “xưng khiêm hô tôn” thể hiện thái độ tôn trọng và lịch sự với đối tượng giao tiếp./

Ngày đăng: 10/01/2020, 03:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w