1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số mô hình giáo dục song ngữ trên thế giới

5 141 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, sự phát triển của Internet, đặc biệt trong khoảng hai mươi năm trở lại đây đã làm gia tăng nhu cầu phát triển năng lực đa ngữ, đào tạo các cá nhân đa ngữ, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục song ngữ trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại và tổng hợp một số mô hình giáo dục song ngữ trên thế giới.

Trang 1

MỘT SỐ MÔ HÌNH GIÁO DỤC SONG NGỮ TRÊN THẾ GIỚI

Đào Văn Toàn - Bùi Diệu Quỳnh Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Phạm Hoài Anh, Viện Ngoại ngữ - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Ngày nhận bài: 12/5/2019; ngày chỉnh sửa: 21/5/2019; ngày duyệt đăng: 25/5/2019

Abstract: Bilingual education (or in a broader term - multilingual education) has been around for

a long time, especially in multi-racial countries or in countries with a large variety of immigrants

In the context of integration and globalization, the development of the Internet, especially in the

past twenty years, it has increased the needs for developing multilingual competency and training

multilingual individuals This leads to the strong development of bilingual education in many

countries around the world, including Vietnam The article analyzes concepts, classifies and

synthesizes a number of bilingual education models in the world

Keywords: Bilingual/multilingual education, bilingual/multilingual teaching, non-language

subjects, curriculum, Content and Language Integrated Learning (CLIL)

1 Mở đầu

Giáo dục song ngữ (GDSN) là việc dạy các môn học

trong nhà trường bằng hai thứ tiếng khác nhau Ngôn ngữ

giảng dạy bằng tiếng nước ngoài, quốc ngữ với thời

lượng nhất định, trong những phân môn nhất định cấu

thành mục đích, thể loại, và hình thức GDSN Khái niệm

GDSN được dùng rất phổ biến hầu như toàn thế giới Tuy

nhiên mỗi nước có một cách hiểu và áp dụng trong hoàn

cảnh cụ thể của mình với những mô hình và tên gọi khác

nhau Có một số trường không xem là thực hiện GDSN

dù có hơn hai ngôn ngữ đang dạy trong trường (vì họ cho

rằng song ngữ là dạy hai hay nhiều thứ tiếng cùng một

lúc trong một lớp học)

GDSN (hay rộng hơn - giáo dục đa ngữ) xuất hiện từ

lâu, đặc biệt là ở các nước đa chủng tộc hay ở các quốc

gia có số lượng người nhập cư vô cùng lớn và đa dạng

(như: Mĩ, Canada, nhiều nước châu Âu…), ở các vùng

đặc biệt về ngôn ngữ, địa lí (vùng biên giới…) Bối cảnh

hội nhập và toàn cầu hóa, sự phát triển của Internet, đặc

biệt trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, đã làm gia

tăng nhu cầu phát triển năng lực đa ngữ, đào tạo các cá

nhân đa ngữ, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của GDSN

trên khắp thế giới GDSN/đa ngữ đã trở thành một trong

những chính sách giáo dục được chú trọng ở nhiều khu

vực, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam

Bài viết phân tích khái niệm, phân loại và tổng hợp

một số mô hình GDSN trên thế giới, làm cơ sở cho việc

xây dựng các chương trình (CT) GDSN ở Việt Nam

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Khái quát về dạy học song ngữ

DHSN/đa ngữ được hiểu theo nghĩa chung nhất là

phương thức dạy học trong đó có “sự hiện diện chính thức và có kế hoạch, song song với nhau của ít nhất hai ngôn ngữ trong nhà trường, để giao tiếp và để học tập”; hay một quá trình giảng dạy trong đó “hai ngôn ngữ học tập với học sinh (HS) là : ngôn ngữ thứ nhất (L1), thường

là ngôn ngữ học tập chung của vùng, của quốc gia và ngôn ngữ thứ hai (L2) thường là ngoại ngữ, cũng có thể

là tiếng địa phương…” [1], [2] Nói cách khác, cùng với

L1, L2 vừa là đối tượng học tập vừa là công cụ phục vụ việc học tập một hay một số môn học khác (môn học được dạy bằng 2 ngôn ngữ, còn gọi là môn học ngoài ngôn ngữ Tức là L2 được sử dụng để giảng dạy một số phần, một số nội dung của CT (ngoài giờ học ngoại ngữ)

Ở châu Âu, điều tra của Eurydice năm 2006 cho thấy mức phát triển của GDSN, chiếm từ 3 đến 30% trong nền giáo dục của mỗi nước châu Âu [3]

Giảng dạy song ngữ hay giáo dục song/đa ngữ được gọi nêu dưới những tên gọi rất khác nhau: Giáo dục/dạy học song ngữ (Bilingual education/teaching trong tiếng Anh), Dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ (Content and language integrated learning (CLIL)) trong tiếng Anh

và Enseignement d’une Matière Intégré à une Langue étrangère (EMILE) trong tiếng Pháp, với những quan niệm, mục tiêu, cách tiếp cận, trọng tâm khác nhau [4]

2.2 Phân loại các mô hình giáo dục song ngữ trên thế giới

Dựa trên việc phân tích các mô hình được coi là thành công trên thế giới, Hugo Baetens Beardsmore đưa ra cách phân loại mô hình như sau [1]:

Trang 2

Bảng 1 Phân loại các mô hình GDSN

Mô hình Nơi ứng dụng Đối tượng

đích

Ngôn ngữ

Mục tiêu

về ngôn ngữ

Bối cảnh ngoài nhà trường

Dạng thức GDSN Nhúng toàn

phần

Canada

Xứ Basque

Xứ Catalogne

Đa số

và đơn ngữ

L2 ban đầu

Năng lực song ngữ

L1 phổ biến khắp nơi, L2 thường ít được sử dụng

Mạnh

Nhúng bán

phần

Canada

Xứ Basque Vùng Alsace (Pháp)

Đa số và đơn ngữ

L1 và L2

Năng lực song ngữ

L1 phổ biến khắp nơi, L2 thường ít được sử dụng

Mạnh

Nhúng muộn

Canada Đức

Hà Lan

Đa số và đơn ngữ

L1 và L2

Năng lực song ngữ

L1 phổ biến khắp nơi, L2 thường ít được sử dụng

Mạnh

Nhúng

(immersion) Khắp nơi

Người nhập cư L2

Lĩnh hội 1 ngôn ngữ

L2 phổ biến

Chuyển tiếp Bỉ

Người nhập cư

L1 và L2

Lĩnh hội 1 ngôn ngữ

L2 phổ biến

Song hướng

Mĩ Vùng Alsace Khối song ngữ châu Âu

Tất cả L1 và

L2

Năng lực song ngữ

L1 và L2 phổ biến rộng Mạnh

Module

Đức

Hà Lan Anh

Tự nguyện L2 Năng lực

song ngữ

L2 thường ít được

sử dụng

Trung bình

Duy trì

Bretagne

Xứ Frise

Xứ Wales

Thiểu số

L1 Đôi khi L2

Năng lực song ngữ

L1 thường

là thiểu số Mạnh

Tam ngữ

Lucxambua Khối song ngữ châu Âu

Tất cả L1 L2

L3

Năng lực song ngữ

L1, L2, L3 đều hiện diện Mạnh

(Trong đó, “Nhúng” (immersion): HS học L2 và sử dụng ngay L2 để học các môn học khác)

2.3 Một số mô hình giáo dục song ngữ trên thế giới

2.3.1 Mô hình giáo dục song ngữ phổ biến tại các nước

châu Âu

2.3.1.1 Giáo dục song ngữ chuyển tiếp (transitional

bilingual education): ngôn ngữ mẹ được học trong vòng

3 năm nhằm đảm bảo HS không bị hụt ở các môn học

thuộc: Toán, Khoa học và Xã hội khi học tiếng Anh Mục

đích của mô hình này là giúp HS chuyển tiếp sang các

lớp có mục tiêu là đào tạo bằng tiếng Anh Trong mô hình

này, ngôn ngữ mẹ đẻ của HS được sử dụng như một

phương tiện để phát triển kĩ năng đọc viết và có kiến thức

trước khi chuyển tiếp

2.3.1.2 Giáo dục song ngữ hai chiều (dual language

immersion)

Đây là mô hình giúp những người nói tiếng Anh bản

ngữ trở thành người nói song ngữ Trước đây, 90% CT

là hướng dẫn học các ngôn ngữ thiểu số và 10% là học các ngôn ngữ phổ biến Tuy nhiên tỉ lệ này đang dần thay đổi trong ngôn ngữ đa số cho đến khi được chia đều cho

cả hai ngôn ngữ ở lớp 5 CT dựa trên nguyên tắc phân chia rõ ràng CT của hai ngôn ngữ giảng dạy Giáo viên (GV) không dịch lại các chủ đề bằng ngôn ngữ thứ hai, nhưng tăng cường dạy các khái niệm bằng một ngôn ngữ thông qua ngôn ngữ thứ 2 trong một CT xoắn ốc để cung cấp kiến thức [2] Các ngôn ngữ được dạy luân phiên theo chủ đề hoặc nội dung với mục tiêu là phát triển ngôn ngữ song song

Trang 3

2.3.1.3 Mô hình học đa ngữ (dual language):

Nhiều môn học được dạy bằng ngoại ngữ với các GV

song ngữ được đào tạo đặc biệt: hiểu được câu hỏi bằng tiếng

mẹ đẻ của HS nhưng luôn trả lời bằng ngoại ngữ thứ 2

Mục tiêu: nâng cao khả năng viết và các kĩ năng ngôn

ngữ tiếng mẹ đẻ của HS Tuy nhiên lại không dùng ngôn

ngữ bản xứ để dạy các môn học mà thay vào đó là dạy

bằng ngôn ngữ thứ 2

2.3.1.4 Giáo dục song ngữ phát triển (developmental

bilingual education)

Đây là phương pháp giáo dục tiếng mẹ đẻ cho một

đứa trẻ trong một thời gian dài, kèm theo giáo dục bằng

tiếng Anh, với mục đích phát triển khả năng biết chữ của

tiếng bản ngữ trước và chuyển các kĩ năng này sang ngôn

ngữ thứ 2

2.3.1.5 Phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ

(content and language integrated learning)

Ít nhất 2 ngôn ngữ được sử dụng để dạy các môn học

khác nhau Tùy thuộc vào sự tương ứng với quốc ngữ và

một mục tiêu ngôn ngữ, ngôn ngữ được lựa chọn có thể

là ngôn ngữ bất kì, không nhất thiết phải giống nhau giữa

các CT song ngữ ở các quốc gia khác nhau Ngôn ngữ đó

có thể là ngôn ngữ của các quốc gia khác chưa được du

nhập, hoặc ngôn ngữ khu vực hoặc dân tộc thiểu số

Không phải tổng số ngôn ngữ được sử dụng dạy trong

CT có thể áp dụng cho tất cả mọi đối tượng, có thể thay

đổi khi đối tượng là dân nhập cư hoặc những người mà

tiếng mẹ đẻ không thuộc ngôn ngữ giảng dạy

Nhìn chung, phương pháp học này là dành cho tất cả

các HS Tuy nhiên, ở một số quốc gia, bài kiểm tra được

đưa ra để chọn được những HS có kiến thức tổng quát tốt

về các vấn đề hoặc khía cạnh của ngôn ngữ sử dụng trong

CT Theo phương pháp này, GV môn học được giả định

có thể khai thác các cơ hội học ngôn ngữ, thông thường

là qua việc đọc văn bản Phương pháp này dựa trên cách

tiếp cận từ vựng, khuyến khích người đọc tiếp cận ngôn

ngữ khi đọc dựa trên các tiêu chí: (1) HS có thể nhận biết

được ngôn ngữ; (2) Tập trung vào từ vựng hơn là ngữ

pháp; (3) Tập trung vào ngôn ngữ liên quan đến nội dung

môn học; (4) Tùy vào mỗi quốc gia mà hình thức kiểm

tra cũng khác nhau; (5) Các nhiệm vụ trước, trong và sau

khi đọc văn bản phải phù hợp với bối cảnh môn học cũng

như ngữ cảnh ngôn ngữ

2.3.1.6 Mô hình song ngữ “Nhúng” (Pháp - Canada)

Đây là mô hình được áp dụng thành công việc sử

dụng ngôn ngữ 2 như phương tiện truyền đạt chính thức

mà không làm mất đi tiếng mẹ đẻ

- Nhúng hoàn toàn từ đầu: dạy ngôn ngữ thứ 2 cho

trẻ em mẫu giáo hoặc lớp 1 ở tất cả các môn học Sau đó

giảm dần ngôn ngữ thứ 2, từ lớp 2-lớp 5 là 80%, lớp 6-lớp 8 50% và 6-lớp 9-6-lớp 12 còn 40% được dạy bằng tiếng ngôn ngữ 2

- Nhúng không hoàn toàn từ đầu: sử dụng 50% ngôn

ngữ thứ 2 từ mẫu giáo tới lớp 8, 35% ở lớp 9 và 10, gần 30% ở lớp 11 và 12

- Nhúng không hoàn toàn kì giữa: ngôn ngữ thứ 2

được học từ mẫu giáo đến lớp 3, lớp 4 80% được học trong các bài giảng, lớp 7 và 8 được học 50% và từ lớp 9 đến lớp 12 là 40%

- Nhúng không hoàn toàn kì cuối: ngôn ngữ thứ 2 chỉ

được học như 1 môn học từ mẫu giáo đến lớp 6, từ lớp 7 được học 80% và lớp 9 đến lớp 12 là 50%

2.3.2 Mô hình giáo dục song ngữ ở khu vực Đông Nam Á

2.3.2.1 Mô hình dạy hai ngôn ngữ trong một môn học

CT chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ trong một thời gian ngắn như cầu nối tới tất cả các lớp tiếng Anh Ngôn ngữ thứ nhất được dùng trong giai đoạn đầu để vượt qua các rào cản, khó khăn về ngôn ngữ trong khi thực hành ngôn ngữ thứ 2

- Bối cảnh: Tiếng Anh đang trở thành ngôn ngữ được

sử dụng rộng rãi trên toàn cầu Chúng ta sử dụng tiếng Anh như một phương tiện giao tiếp ở mọi lĩnh vực như trao đổi, buôn bán, thương mại, chính trị và khoa học công nghệ Sử dụng tiếng Anh chính là cách thức giao lưu, tiếp xúc với văn hóa cộng đồng Vì vậy, một số nền giáo dục đang chú trọng vào việc giảng dạy CT song ngữ trong ngoài tiếng mẹ đẻ tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai

- Phương pháp: có 03 phương pháp chính:

+ Duy trì: Đối tượng: dân tộc thiểu số và trẻ em nhập cư; Mục đích: duy trì tiếng mẹ đẻ song song với việc học ngôn ngữ thứ hai; Phương pháp: sử dụng ngôn ngữ mẹ

đẻ trong giai đoạn đầu ở trường học

Sau đó áp dụng các CT ngôn ngữ kép: sử dụng cả 2 ngôn ngữ để giảng dạy trong các chủ đề khác nhau hoặc dạy xen kẽ theo các ngày

+ Chuyển tiếp: Đối tượng: dân tộc thiểu số và trẻ em nhập cư; Mục đích: thay thế ngôn ngữ thứ nhất bằng ngôn ngữ thứ 2, gắn kết các đối tượng này với xã hội; Phương pháp: thay đổi dần dần từ ngôn ngữ mẹ đẻ sang chỉ sử

dụng ngôn ngữ thứ 2

+ Nâng cao chất lượng: Đối tượng: HS chuyên ngữ; Mục đích: HS làm chủ ngôn ngữ 1 cách trôi chảy không

chỉ là ngôn ngữ thay thế mà còn là ngôn ngữ chủ đạo

trong đời sống hằng ngày; Phương pháp: ngôn ngữ thứ

2 là phương tiện giảng dạy ở tất cả các môn học

2.3.2.2 Một số mô hình theo chương trình Cambridge

Trang 4

Tiếng Anh là ngôn ngữ thông dụng cho các trường áp

dụng các CT Cambridge và các chứng chỉ cho phương

thức giảng dạy bằng tiếng Anh (ngôn ngữ thứ 2) của CT

GDSN và được sử dụng cho mô hình giảng dạy của chính

quốc gia đó và các chứng chỉ cho phương thức giảng dạy

bằng ngôn ngữ mẹ đẻ

- Phương án A: Tùy thuộc vào những bối cảnh riêng

(nguồn lực, môi trường, kĩ năng ngôn ngữ, mục tiêu) mà

có các cách tổ chức GDSN, được đặc trưng bởi:

+ Ở các giai đoạn khác nhau, sự cân bằng giữa ngôn

ngữ thứ hai và ngôn ngữ thứ nhất;

+ Có thể bắt đầu với ngôn ngữ thứ hai hoặc ngôn ngữ

thứ nhất, hoặc là bắt đầu cả hai ngôn ngữ cùng lúc do

phương tiện truyền thông của CT

+ Một mô hình giảng dạy phụ thuộc vào số lượng

môn được dạy và được học qua từng ngôn ngữ và trong

bao lâu

+ Bắt đầu bằng cách thức nhỏ, dạy một học phần hoặc

dự án bằng tiếng Anh (thời gian ngắn, cường độ thấp)

+ Chuẩn bị cho HS bằng phương pháp “ngâm”

bằng tiếng Anh trong thời gian ngắn (ví dụ: thông qua

trao đổi sinh viên ở nước ngoài hoặc dạy tất cả các

môn học bằng tiếng Anh trong một học kì thời gian

ngắn, cường độ cao)

+ Dạy một hoặc hai nội dung các môn học bằng

tiếng Anh trong nhiều năm liên tiếp (thời gian dài,

cường độ thấp)

+ Dạy một phần quan trọng của CT bằng tiếng Anh

trong nhiều năm (thời gian dài, cường độ cao)

Về cơ bản, tất cả các phương pháp này phát triển năng

lực cho GV trong việc dạy nội dung thông qua ngôn ngữ

tiếng Anh Phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ

cần thiết để hỗ trợ cho quá trình giảng dạy này Vì thế HS

được hỗ trợ học ngôn ngữ mà HS cần để đạt được kết quả

trong các môn học Cần có chiến lược đào tạo dài hạn tạo

điều kiện cho các GV bản địa có thể củng cố khả năng

ngôn ngữ thứ hai để truyền tải nội dung bài học bằng

tiếng Anh trong quá trình giảng dạy

- Phương án B: Gộp chung/Tích hợp các môn học

Với phương án này, HS học những môn học đã lựa

chọn bằng cả tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ, điều này giúp

người học có thể nhận được cả chứng chỉ quốc gia và

quốc tế như Cambridge Những môn học phổ biến (như

Toán, Khoa học, Vật lí, đặc biệt là Khoa học xã hội) có

thể được dạy bằng việc sử dụng:

+ CT giảng dạy lồng ghép: cả CT quốc gia và CT

Cambridge cho một môn học đều được lồng ghép lại để

xác định những điểm chung và riêng, và sau đó kiểm tra

+ Trong cùng một lớp học với một GV song ngữ hoặc nhóm hai GV Với phương pháp này, cách dạy và học giống nhau giúp người học có thể nhận được hai chứng chỉ: chứng chỉ quốc gia đối với tiếng mẹ đẻ và chúng chỉ Cambridge bằng tiếng Anh

+ Bằng cách luân phiên các lớp học / tuần / chủ đề / học kì / năm giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh Đôi khi, việc học sẽ được luân phiên hoặc xen kẽ trong vài năm Với cách này, CT học sẽ bắt đầu vào đầu năm với CT quốc gia bằng tiếng mẹ đẻ, sau đó xen kẽ với một giai đoạn học bằng tiếng Anh với CT Cambridge để HS tiến tới chúng chỉ quốc tế trước khi quay trở lại với CT quốc gia vào những năm học cuối

+ Một CT tích hợp có nghĩa là việc học tập được sắp xếp hợp lí vì lợi ích của người học; người học chỉ đi theo một thời khóa biểu cho một môn học Tuy nhiên, điều này đòi hỏi phải lập bản đồ giáo trình, lập kế hoạch và sự phối hợp của GV

+ Hai CT riêng biệt CT quốc gia và CT Cambridge cho một môn học sẽ được giảng dạy bằng ngôn ngữ và lớp học riêng biệt mà không đan xen những lĩnh vực giống và khác nhau

+ Nếu CT giảng dạy là riêng rẽ, HS có thể nhận thức được rằng họ sẽ hoàn thành CT quốc gia sau đó mới tiếp nhận CT Cambridge (ví dụ như IGCSE) Điều này có thể

dễ dàng hơn cho các trường trong việc tổ chức nếu họ cảm thấy khó mà lồng ghép hai CT với nhau, nếu không

có đủ sự tương đồng giữa hai CT, hoặc nếu có rào cản ngôn ngữ Điều này không cho phép GV phối hợp để đưa

ra và giảng dạy thống nhất, CT tích hợp

3 Kết luận

Như vậy, GDSN là quá trình dạy học trong đó người

ta chú trọng đến 3 đối tượng dạy và học là L1, L2 và nội dung môn học Chủ thể của hoạt động dạy học là: người dạy, người học; và các tương tác giữa các thành tố của

CT như nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục, kiểm tra, đánh giá Việc lựa chọn các mô hình DHSN cần dựa trên các thành tố sau:

- Mục tiêu giáo dục: Hướng tới song ngữ hay ngôn

ngữ thứ nhất hay ngôn ngữ thứ hai; chỉ là ngôn ngữ hay bao gồm cả các mục tiêu đa ngữ, đa văn hóa, mục tiêu dạy học các môn học ngoài ngôn ngữ…

- Đối tượng thụ hưởng (HS): Đa số hay thiểu số, tinh

hoa hay đại trà, đơn ngữ hay đa ngữ…

- Vị trí, vai trò của ngôn ngữ thứ hai - L2: Vị trí trong

nhà trường và trong xã hội, thời điểm bắt đầu dạy (sớm/muộn…), thời lượng và phân bổ thời lượng…

- Số lượng, cách chọn, cách phân bổ… các môn

không phải ngôn ngữ, các nội dung được dạy bằng L1 và/hay L2, cũng như các yếu tố CT, phương tiện (tài

Trang 5

liệu…), phương thức dạy học các môn học này so với

CT chung…

- Cách thức xen kẽ L1 và L2: Xen kẽ cứng theo thời

kì, theo tuần, theo ngày, theo buổi (sáng/chiều) hay xen

kẽ mềm theo từng môn học (môn học ngoài ngôn ngữ)…

Qua tổng lược các nghiên cứu về lí luận, thực tiễn của

một số nước, có thể thấy, cho tới hiện tại chưa có nghiên

cứu nào xây dựng được một mô hình duy nhất thật sự hiệu

quả với những khả năng điều chỉnh tương ứng với bối cảnh

địa phương Nhưng những thông tin có được ở trên đã gợi

ý một số định hướng cũng như những vấn đề về việc xem

xét các thành tố của mô hình GDSN một cách toàn diện

khi thiết kế mô hình dạy học song ngữ ở từng nước, từng

địa phương, từng trường sao cho khả thi, hiệu quả

Tài liệu tham khảo

[1] Baetens Beardsmore, H (2000) Typologie des

modèles de l'éducation bilingue Le Français dans le

Monde, Numéro spécial, pp 77-84

[2] Duverger J (dir.) (2011) Enseignement bilingue Le

Professeur de “Discipline Non Linguistique”: Statut,

l’Enseignement Bi/plurilingue

Learning (CLIL) at school in Europe, Eurydice

European unit, ISBN 92-79-00580-4, Brussels,

http://www.eurydice.org

[4] Faivre, N., Matysiak K., Schlemminger, G., Winter,

D (2011) De la confusion terminologique vers un

meilleur enseignement bilingue… Éducation et

Sociétés Plurilingues n 30, Vol 95-104

[5] Collier, V C - Thomas, W.P (2004) The

Astounding Effectiveness of Dual Language

Education for All NABE Journal of Research and

Practice, Vol 2 (1), pp 3-20

[6] Commission européenne Direction générale de

l'éducation et de la culture, Bruxelles

[7] Thomas, W., - Collier, V (2002) A National Study

of School Effectiveness for Language Minority

Students' Long-Term Academic Achievement UC

Berkeley: Center for Research on Education,

Diversity and Excellence Retrieved from

https://escholarship.org/uc/item/65j213pt

[8] G Richard Tucker (1999) “A Global Perspective

on Bilingualism and Bilingual Education”,

Language in Our Time: Bilingual Education and

Official English, Ebonics and Standard English,

Immigration and the Unz Initiative James E Alatis

and Ai-Hui Tan (Eds).Washington, DC: Georgetown University Press pp 332-340

[9] Mehisto, P (2012) Excellence in Bilingual Education: A Guide for School Principals

Cambridge: Cambridge University Press

[10] Nguyen Thuy Nga - Nguyen Thi Mai Huong -

Nguyen Thi Thu Ha (2017) An overview of bilingual education: models and success stories

HNUE Journal of Sciences, Hanoi, National University of Education, Vol 6, pp 192-200

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC…

(Tiếp theo trang 339)

Để có những biện pháp cụ thể nhằm phát triển NLDH Vật lí cho SV ngành Sư phạm Vật lí ở các trường CĐSP, ngoài việc xin ý kiến cần thêm đánh giá đầu vào của

NLDH Vật lí của SV qua thực tiễn và những nghiên cứu

sâu hơn về chương trình, có sự thống nhất giữa chương trình đào tạo, phương pháp dạy học của GV và ý thức tự học của SV

Tài liệu tham khảo

[1] Davit A Whetten - Kim S Cameron (1995)

Developing Management Skills, 3rd ed Harper

Collins, New York, NY

[2] Franz E Weinert (2001) Concept of competence: A conceptual clarification, Defining and selecting key competencies Hogrefe & Huber Publishers,

Ashland, OH, US

[3] Denyse Tremblay (2002) Adult education, a lifelong journey: the competency-based approach: helping learners become autonomous

Gouvernement du Québec, Ministère de l'éducation, Québec

[4] Bernard Blandin (2010) Learning Physics: a Competency-based Curriculum using Modelling Techniques and PBL Approach, Oral presentation at

the GIREP-ICPE-MPTL International Conference [5] Певзнер М.Н - Зайченко О.М - Горычева С.Н (2006) Педагогическое консультирование: Учеб, пособие М.: Академия

[6] European Commission (2013) Supporting teacher competence development for better learning outcomes Education and training

[7] Bộ GD-ĐT (2017) Dự án Phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp, Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông NXB

Đại học Sư phạm

Ngày đăng: 10/01/2020, 03:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w