Dịch thơ là một công việc thú vị nhưng cũng đầy thách thức; người dịch ngoài chuyển tải đầy đủ nội dung ý nghĩa của bản gốc, còn phải lột tả tứ thơ cũng như thể hiện được yếu tố vần luật sang ngôn ngữ đích. Trong phạm vi bài viết này, người viết thử nghiệm chuyển dịch một số bài thơ Nôm trong kho tàng thơ Nôm Việt Nam sang tiếng Hán. Quá trình thử nghiệm cho thấy sự tương đồng nhiều mặt giữa hai ngôn ngữ Việt-Hán, sự kế thừa và phát huy những đặc điểm của thơ Đường luật Trung Quốc trong thơ Nôm cho phép người dịch sử dụng phương pháp chuyển dịch âm vị, dịch thẳng, dịch âm luật để chuyển ngữ. Ngoài ra, người viết đưa ra một số trao đổi của cá nhân về dịch thuật, cũng như đề xuất một số yếu tố cần được lưu giữ trong quá trình chuyển dịch.
Trang 1HÁN: CẢM NHẬN VÀ CHIA SẺ
Lê Thị Huyền Trang*
Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN, Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận bài ngày 21 tháng 01 năm 2019 Chỉnh sửa ngày 24 tháng 09 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 27 tháng 09 năm 2019
Tóm tắt: Dịch thơ là một công việc thú vị nhưng cũng đầy thách thức; người dịch ngoài chuyển tải đầy
đủ nội dung ý nghĩa của bản gốc, còn phải lột tả tứ thơ cũng như thể hiện được yếu tố vần luật sang ngôn ngữ đích Trong phạm vi bài viết này, người viết thử nghiệm chuyển dịch một số bài thơ Nôm trong kho tàng thơ Nôm Việt Nam sang tiếng Hán Quá trình thử nghiệm cho thấy sự tương đồng nhiều mặt giữa hai ngôn ngữ Việt-Hán, sự kế thừa và phát huy những đặc điểm của thơ Đường luật Trung Quốc trong thơ Nôm cho phép người dịch sử dụng phương pháp chuyển dịch âm vị, dịch thẳng, dịch âm luật để chuyển ngữ Ngoài ra, người viết đưa ra một số trao đổi của cá nhân về dịch thuật, cũng như đề xuất một số yếu tố cần được lưu giữ trong quá trình chuyển dịch
Từ khoá: thơ Nôm, văn học dịch, dịch thơ, cách thức chuyển dịch
1 Đặt vấn đề
Thơ Nôm bao gồm thể loại thơ Nôm Hàn
luật và thơ Nôm Đường luật, điểm tạo nên cái
hay của mỗi bài thơ Nôm chính là sự kết hợp
hài hoà giữa yếu tố Nôm và yếu tố Đường luật
Tính cô đọng trong số lượng từ, tính hình tượng
và vần luật giúp thơ Nôm trở thành một hình
thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn các hình
thức nghệ thuật khác (Phương Lựu, 1983, tr
18-25) Với hình thức nghệ thuật đặc biệt như
thế, cần sử dụng phương pháp chuyển dịch nào
để chuyển tải hồn cốt, tứ thơ, nét thi vị của thơ
sang ngôn ngữ khác Các bước chuyển dịch cần
triển khai ra sao? Quá trình chuyển dịch đối mặt
với những thuận lợi, khó khăn gì? Những yếu
tố nào trong thơ cần được bảo tồn khi chuyển
dịch? Những suy nghĩ, nhìn nhận cá nhân về
dịch thuật là nội dung người viết muốn chia sẻ
trong khuôn khổ bài viết này
* ĐT: 84-903221055
Email: huyentrang.le@gmail.com
2 Một vài phương pháp dịch thơ
Theo Chukovskii (1984), dịch không chỉ
là nghệ thuật, mà còn là nghệ thuật ở trình
độ cao Thơ là loại hình sáng tác có vần điệu với đặc điểm ngắn gọn, súc tích nên dịch thơ thuộc lĩnh vực riêng, có tính chất đặc biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo Lefevere, A (1974) đưa ra bảy phương pháp chủ đạo trong quá trình dịch thơ: Dịch
âm vị (Phonemic translation): mô phỏng âm thanh của ngôn ngữ văn bản, sử dụng âm tương đồng với từ gốc Dịch thẳng (Literal translation): tìm hiểu ý nghĩa ngữ cảnh của bản gốc, tìm từ ngữ tương đồng Dịch âm luật (Metrical translation): giữ nguyên vần luật nguyên tác Dịch theo thể tản văn (Prose translation): tái hiện hoàn chỉnh nhất ý nghĩa nguyên tác Dịch theo vần luật (Rhymed translation): gần gũi âm vần của bản thơ gốc Dịch theo thể vô vần (Blank verse translation): ý thơ truyền tải hết ý bản gốc Dịch theo hướng giải thích (Interpretation):
Trang 2không giữ đúng thể loại nguyên tác, nhưng
tác phẩm dịch lưu loát dễ hiểu (tham khảo
Bassnett, Susan, 2014, tr.83-110)
Bảng 1 So sánh bản dịch theo phương pháp dịch giải thích và dịch vần luật
秋兴-杜甫 Dịch giải thích - Thu hứng Dịch thơ theo vần luật
(bản dịch của Nguyễn Công Trứ)
玉 露 凋 伤 枫 树 林,
巫 山 巫 峡 气 萧 森。
江 间 波 浪 兼 天 涌,
塞 上 风 云 接 阴。
丛 菊 两 开 他 日 泪,
孤 舟 一 系 故 园 心。
寒 衣 处 处 催 刀 尺,
白 帝 城 高 急 暮
砧。
Móc ngọc tơi bời ở rừng phong, Khí ở núi Vu và kẽm Vu ảm đạm mịt mờ
Trên sông, nước và trời cùng trôi chảy, Ngoài ải, gió và mây liên tiếp
mù đất
Cúc từng chòm nở hai lần dòng
lệ xưa, Thuyền lẻ loi buộc chặt mối tình quê cũ
Nơi nơi giục giã dao thước may áo rét, Tiếng chày chiều dồn dập thành cao Bạch Đế
Lác đác rừng phong hạt móc sa, Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm, Mặt đất mây đùn cửa ải xa Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, Con thuyền buộc chặt mối tình nhà Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước, Thành Bạch, chày vang bóng ác tà
Bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ trong bảng 1
được dịch theo hai cách Cách dịch giải thích
giúp người đọc hiểu rõ nghĩa bài thơ gốc Tuy
nhiên bản dịch không giữ được thể loại thơ
thất ngôn bát cú Đường luật của nguyên tác,
không giữ được vần luật - yếu tố cơ bản nhất
khi chuyển dịch thơ Bản dịch theo phương
pháp vần luật đôi chỗ không sát nghĩa bằng,
song giữ nguyên thể loại thơ, số lượng âm tiết
mỗi câu thơ Bản dịch theo vần luật trắc, gieo
vần [a] ở các tiếng cuối của câu 1, 2, 4, 6 và
8, tuân thủ nghiêm niêm luật của thơ Đường
luật Trung Quốc Trong đó tiếng thứ hai của
câu 1 [đác] niêm với tiếng thứ hai của câu 8
[bạch] cùng vần trắc, tiếng thứ hai của câu 2
[non] thanh bằng niêm với tiếng thứ hai của
câu 3 [trời], tiếng thứ hai của câu 4 niêm với
tiếng thứ hai của câu 5, [đất] và [cúc] đều là
thanh trắc, tiếng thứ hai của câu 6 [thuyền]
thanh bằng niêm với tiếng thứ hai [lùng] trong
câu 7 Ngoài ra, các cặp đối trong bản dịch
chuẩn chỉnh, đối chữ: “lưng trời-mặt đất”, đối
cảnh: “sóng rợn-mây đùn”, “lòng sông thẳng-cửa ải xa”, đối ý “khóm cúc tuôn thềm dòng lệ cũ” của câu 6 với “con thuyền buộc chặt mối tình nhà” ở câu 7 Nội dung bản dịch gần với nguyên tác, những tứ thơ dịch vẫn lưu đến nay
“Mặt đất mây đùn cửa ải xa” hay “Con thuyền
buộc chặt mối tình nhà” Có thể nói, bản dịch
là kết quả của sự trùng hợp hoàn hảo trên các bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng với bản gốc
Thực chất, bất cứ phương pháp dịch nào cũng không hoàn toàn tái hiện hết những đặc trưng của bản thơ gốc, nhưng dựa trên những ưu thế sau, người viết lựa chọn kết hợp phương pháp dịch âm vị, dịch thẳng và dịch vần luật trong quá trình chuyển dịch để tìm ra được sự tương đương giữa nguyên tác và bản dịch, sao cho công việc chuyển ngữ tác phẩm đáp ứng được các yêu cầu đảm bảo trung thực
về nội dung, hình thức và hướng tới đối tượng tiếp nhận có sự khác biệt văn hoá
Trang 31 Xét trên bình diện văn tự
“Chữ Nôm là thứ chữ dùng nguyên hình
chữ Nho, hoặc lấy hai ba chữ Nho ghép lại để
viết chữ Nam do người Việt Nam sáng tạo ra có
bổ sung cách đọc Hán Việt” (Nguyễn Tài Cẩn,
1971, tr 86-118) Ban đầu chữ Nôm thuần túy
mượn dạng chữ Hán y nguyên để ghi âm tiếng
Việt cổ (mượn âm Hán để chép tiếng Quốc âm),
dần dần ghép hai chữ Hán với nhau, một phần
biểu âm, một phần biểu ý được dùng ngày càng
nhiều và có hệ thống (Nguyễn Tài Cẩn, 1971, tr
86-118) Yếu tố này đóng vai trò bổ trợ phương
pháp dịch âm vị khi dịch từ tượng thanh hay từ
tên riêng, mô phỏng âm thanh của ngôn ngữ
văn bản, sử dụng âm tương đồng với từ gốc Ví
dụ cụm từ “con cuốc cuốc”, “cái gia gia” trong
hai câu thơ “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,
thương nhà mỏi miệng cái gia gia” trong bài
“Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan
được chuyển dịch thành “鸣咕咕”, “直唊唊” với
hai cặp từ láy giữ nguyên hình vị của bản gốc “
咕咕 – gūgū ”, “唊唊- jiàjià”, ngoài ra, âm “gu”
cùng âm với “cố quốc -古国 gùguó” trong tiếng
Hán, âm “jiàjià” gần với âm “jiā -家” trong “国
家- guójiā - đất nước” Hay, bài “Hoài cổ” của
Nguyễn Khuyến sử dụng cách chơi chữ điệp từ
tại hai câu thơ “Sự đời đến thế, thế thời thôi”
với 4 tiếng có cùng âm [th] và “thôi thôi đến
thế, thời thôi nhỉ” với 5 tiếng có cùng phụ âm
[th] được chuyển dịch lần lượt thành “世事如此,
时世了- shìshì rú cǐ, shí shì liăo” với 4 âm [shi]
và “世世如今,算算是 - shìshì rú jīn , suàn suàn
shì” với sự xuất hiện của 3 phụ âm [sh] và 2
phụ âm [s] ít nhiều đạt được sự tương đương về
cách chơi chữ của thi nhân trong bản gốc
2 Xét trên bình diện ngôn ngữ
Tiếng Việt và tiếng Hán đều thuộc loại hình
ngôn ngữ có thanh điệu, đơn lập, phân tiết tính,
các âm tiết của tiếng Việt và tiếng Hán đa phần
có nghĩa, vì vậy, khi chuyển dịch có thể chọn
được âm tương đồng với từ gốc ở phần lớn các
từ loại chứ không riêng từ tượng thanh hay từ tên riêng Bên cạnh đó, tiếng Hán chi phối tiếng Việt trong một thời gian dài, nhiều từ Hán đã trở thành từ Việt với 65% từ Hán Việt trong kho từ vựng tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt cho thấy
âm Hán Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán) ngày nay bắt nguồn từ thời nhà Đường - nhà Tống thế kỷ 8-9 (Nguyễn Tài Cẩn, 1979, tr 79-108) Do vậy, khi nắm được ý nghĩa ngữ cảnh của bản gốc, trong nhiều trường hợp có thể tìm được tiếng, từ ngữ tương đồng để dịch thẳng
mà không ảnh hưởng đến giá trị văn học trong nguyên tác Ví dụ trong bài “Bảo kính cảnh giới Bài số 5” xuất hiện khá nhiều cụm từ, câu thơ mang âm Hán Việt như “văn chương” , “sự nghiệp” , “trừ độc trừ tham trừ bạo ngược” ,
“có nhân có chí có anh hùng” hoàn toàn có thể dịch thẳng sang tiếng Hán “文章 ”, “事业” , “除 毒除贪除暴虐” , “有仁有志有英雄” , vừa có được nghĩa tương đương vừa giữ được không khí trang trọng trong bản gốc Hay bài “Tự than Bài số 41” của nhà thơ Nguyễn Trãi đề cao việc học tập đọc sách thánh hiền nên các cụm
từ Hán Việt đến nay vẫn được sử dụng trong tiếng Hán hiện đại như “đạo Khổng môn” ,
“tích đức” , “trung hiếu” , “thi thư” , “nhi tôn” được chuyển thẳng sang tiếng Hán với nghĩa và
âm tương đồng “孔门而学道 ”, “积德” , “忠孝” , “诗
书 ” , “儿孙” vừa trung thành với nguyên tác vừa không triệt tiêu giá trị văn học
3 Xét về thể loại thơ
Thơ Nôm bao gồm thể loại thơ Nôm Hàn luật và thơ Nôm Đường luật Thơ Nôm Hàn luật cải biến từ hai thể thơ thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú xen những câu 6 tiếng ở những vị trí không cố định nhưng vẫn tuân thủ cách gieo vần
và luật đối của thơ Đường luật, trong khi đó thơ Nôm Đường luật tuân thủ quy tắc nghiêm ngặt
về niêm, luật, đối, vần của thơ Đường (Lã Nhâm Thìn, 1997, tr 21-30) Đặc điểm này giúp bản dịch phần nào tái hiện niêm luật vần đối trong
Trang 4những tổ hợp câu ngắn song hành, âm vần gần
gũi như bản gốc với cách gieo vần chân diễn
ra tương đối tự nhiên, không gượng ép khi vận
dụng phương pháp dịch vần luật
Huyện Thanh Quan được làm theo thể thất
vần chính ở cuối mỗi câu 1, 2, 4, 6 và 8, riêng
hai từ “tà” và “hoa” được xem là vần thông
với phát âm gần giống nhau Câu 1 niêm với
câu 8 với tiếng thứ 2 của hai câu đều có vần
trắc [tới], [mảnh], câu 2 niêm với câu 3 với
tiếng thứ 2 đều gieo vần bằng [cây], [khom], câu 4 niêm với câu 5 với tiếng thứ 2 cùng có vần trắc [đác], [nước], câu 6 niêm với câu 7 cùng có vần bằng ở tiếng thứ 2 [nhà], [chân] Bài thơ tuân thủ nguyên tắc đối cố định của
một bài thơ Đường luật Câu 3 tính từ “lom
khom” đối với tính từ “lác đác” ở câu 4, cụm
từ phương vị “dưới núi” đối với “bên sông”,
số lượng từ + tân ngữ “tiều vài chú” đối với
“chợ mấy nhà” Ý nghĩa của câu 5 “nhớ nước
đau lòng con cuốc cuốc” đối trạng với ý của
câu 6 “thương nhà mỏi miệng cái gia gia”
Người viết thử nghiệm chuyển dịch sang tiếng Hán như sau:
Bản dịch giữ nguyên thể loại thơ thất ngôn
bát cú, vần [ia] ở cuối câu 1 hiệp vần với chữ
cuối câu 4 và 8, câu 4 vần [a] gieo với câu 6,
đồng thời là vần thông với vần [ia] toàn bài
Các câu trong toàn bài niêm với nhau, trong
đó tiếng thứ hai của hai câu theo cùng một
niêm luật, cụ thể, câu 1 [zhì] niêm với câu 8
[piàn ] cùng vần trắc, câu 2 [féng] niêm với
câu 3 [shēn] cùng vần bằng, câu 4 [luò] niêm với câu 5 [ǒu] cùng vần trắc, vần bằng ở câu
6 [gū] niêm với câu 7 [zú] Hai câu thơ “Lom
khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà” nhà thơ sử dụng biện pháp đảo
ngữ nhằm làm nổi bật bóng dáng nhỏ bé của con người trong khung cảnh chiều hôm được giữ nguyên kết cấu khi chuyển dịch “lom
Trang 5khom - 俯身” “dưới núi - 山下” , “tiều vài chú
- 两樵童” , “lác đác -稀落” , “bên sông - 河边”
, “chợ mấy nhà - 几屋家” “Vài” và “mấy”
đều là các từ thuần Việt biểu thị số lượng ít,
người dịch dùng số từ “两”(số lượng dưới 3
biểu thị số ít theo quan niệm của người Trung
Quốc), đồng thời đối đẳng với “几- mấy” từ
biểu thị số lượng ít, không xác định ở câu
dưới Câu 5 và câu 6 “Nhớ nước đau lòng con
cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia
gia”, Bà Huyện Thanh Quan dùng tên hai loài
chim này để chơi chữ “quốc-gia” ngầm bộc lộ
nỗi nhớ Người dịch chuyển kết cấu câu đảo
ngữ ở bản gốc sang câu chủ - vị - tân, sử dụng
từ tượng thanh miêu tả tiếng kêu của hai loài
chim này như một cặp điệp từ “水鸥思家鸣咕
咕,鹧鸪眷国直唊唊” - con chim cuốc vì ‘nhớ
nhà’ nên cứ hót “咕咕 – gūgū” âm “gu” cùng
âm với “cố quốc -古国 gùguó”, chim đa đa
‘nhớ nước’ mà “mãi - 直” kêu “唊唊- jiàjià” gần với âm “jia -家” trong “国家- guójiā - đất nước” Tiếng kêu ‘quốc-gia’ này dường như khiến nỗi lòng nhà thơ thêm trùng xuống, nên
khi chuyển dịch câu thơ “dừng chân đứng lại
trời non nước” người dịch đã sử dụng từ “
愣-lèng” nhằm khắc hoạ hình ảnh nhà thơ chợt không biết mình phải đi đâu về đâu giữa đất trời mênh mang “停脚愣望天山水” Không
có ai để chia sẻ và cũng không biết sẻ chia với
ai nên chỉ mình làm bạn với chính mình để “一 片思情自我夹 - chỉ mình hiểu và mắc kẹt trong nỗi hoài niệm sâu lắng này”
Bài thơ Nôm Hàn luật lục ngôn xen thất ngôn “Mạn thuật kỳ Bài số 4” của Nguyễn Trãi cũng được người viết giữ nguyên thể loại thơ nhằm giới thiệu thể thơ độc đáo chỉ có trong thơ Nôm Việt Nam
Bài thơ có luật bằng, gieo vần [ay] xuyên
suốt toàn bài, cách ngắt nhịp 3/3 ở những câu
6 tiếng, và 4/3 ở câu 7 tiếng, các vế đối đúng
niêm luật với tứ thơ nhẹ nhàng mà ý thơ vô
cùng hiện đại Bản dịch tuân thủ bản gốc ở
cách ngắt nhịp, sử dụng cách gieo vần tiếp với
các cặp bằng trắc xen kẽ tiếp nhau, dùng vần
[ei] ở khổ thứ nhất và tiếp vần [an] ở khổ thứ
hai “Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay- 傍晚天从
容背” - thi nhân “dắt tay ai” mà “đủng đỉnh
- 从容” ? Dường như không phải, bởi lúc này,
khi đang bị giam lỏng ở Côn Sơn, nhà thơ chỉ
cần tâm hồn được tĩnh lặng để suy tư chiêm
nghiệm Khi chuyển dịch, người dịch thay từ
“tay” bằng từ “背- bèi” với hai nét nghĩa “cái lưng” và “cõng” với cách lý giải: ông không cõng ai cùng đi dạo, mà dưới nắng chiều, bóng lưng đang làm bạn với ông, cùng ông cảm nhận cõi nhân sinh vụt đến vụt đi “phút chim bay -鸟闪飞” Hai câu thơ lục ngôn tiếp theo, tác giả mượn chuyện cây cỏ, núi đồi gửi gắm chuyện đời: “mây biết hết ngọn núi nào cao ngọn núi nào thấp - 山高低只云清” , “gió thoảng qua rừng biết ngay cây nào thẳng cây nào cong - 树直弯唯风昧” Triết lý thịnh - suy bất biến của vũ trụ bao trùm ý tứ câu 5, câu 6 “bao nhiêu kiếp rồi trăng nhẫn nhịn, soi mắt xuống thế gian, đau lòng chứng kiến cảnh
Trang 6hưng vong của đất nước - 国千秋景依然,月百
世象忍堪” , trong câu thơ dịch này, người dịch
sử dụng các từ Hán Việt để được vế đối chỉnh,
cố gắng giữ cấu tứ tương đương qua đó truyền
tải cái thần của nguyên tác Từ câu 1 đến câu
6 là những câu thơ lục ngôn, đến câu 7, 8 tác
giả chuyển dùng hai câu thất ngôn làm kết bài,
việc thay đổi có dụng ý này tạo hiệu ứng âm
thanh như một tiếng thở dài của một người tuy
“biết hết sự đời mà lực bất tòng tâm - 世俗各
场皆通晓” bởi “sự thay đổi khó lường của lòng
người - 唯有人心极险难”
3 Quá trình chuyển ngữ thi phẩm
Theo quan điểm của Nida (1974), dịch
là một quá trình phức tạp, để hiểu được thế
nào là quá trình dịch người ta phải xem xét
các yếu tố và các mối quan hệ bắt đầu từ văn
bản nguồn – người dịch – văn bản dịch Văn
bản nguồn mang đậm dấu ấn của nền văn hóa
và cá nhân tác giả, người dịch có nhiệm vụ
chuyển các ý nghĩa từ văn bản nguồn sang văn
bản ngữ đích, phải sử dụng các cấu trúc từ ngữ
ở ngữ đích sao cho các ý nghĩa đó được thể
hiện trung thực trong văn bản đích và được
độc giả ở văn bản ngữ đích chấp nhận Vì vậy,
quá trình chuyển dịch được người viết tuân
thủ theo các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn văn bản
Lần đầu đưa các tác phẩm thơ Nôm ra bên
ngoài, người viết lựa chọn 9 bài thơ được các
nhà nghiên cứu đánh giá “hội tụ những nét đặc
trưng riêng” (Bùi Duy Tân, 1999, tr.34-42)
như tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm hay tác phẩm của Bà Huyện Thanh
Quan, Nguyễn Khuyến “đạt trình độ niêm
luật đối chuẩn chỉnh của Đường thi” (Bùi
Duy Tân, 1999, tr.102-128) làm đối tượng
chuyển dịch Nguyễn Trãi, đại diện cho dòng
thơ Nôm Hàn luật, Bà Huyện Thanh Quan,
Nguyễn Khuyễn thuộc dòng thơ Nôm Đường
luật Mỗi nhà thơ, mỗi loại hình thi phẩm đều
có phong cách và những nét đặc sắc riêng Do
tác phẩm thơ Nôm có khá nhiều dị bản, sau
khi đối chiếu, người viết lựa chọn các bản thơ trên trang thivien.net, để độc giả các nước có thể tra cứu, tìm hiểu
Bước 2: Các bước chuẩn bị
Trước tiên, xác định đối tượng tiếp nhận bản dịch, hình thức chuyển tải nội dung và phương tiện hỗ trợ như từ điển chữ Nôm, từ điển vần luật, từ điển tiếng Hán ngữ ứng dụng,
Từ Hải cùng sự trợ giúp trên mạng xã hội, tài liệu tham khảo về dịch thuật, thơ phú, lịch sử,
xã hội Thứ hai, tìm hiểu những nét đặc thù của thơ Đường luật Trung Quốc, thơ Nôm Việt Nam cùng kiến thức nền về niêm, luật, đối, vần những quy tắc sáng tác thơ Thứ ba, tìm hiểu về tác giả, tác phẩm, bối cảnh lịch
sử xã hội, thân thế sự nghiệp của nhà thơ, bối cảnh ra đời của tác phẩm, thông qua phân tích tác phẩm hiểu rõ thông điệp mà tác giả gửi gắm Các bước này tạo cơ sở, giúp giảm thiểu khó khăn, tăng thêm sự tự tin cho người dịch
Bước 3: Chuyển dịch tác phẩm
Trước tiên, sử dụng phương pháp dịch thẳng dịch bài thơ yêu thích nhất, tiếp theo thông qua phương pháp dịch âm vị chuyển dịch các từ tên riêng, từ tượng thanh, từ láy xuất hiện trong thi phẩm Tiếp đến áp dụng phương pháp dịch vần luật chỉnh sửa các cặp đối ý trong đơn vị câu, các cặp đối trạng trong các cặp câu Sau đó, sử dụng các sách công
cụ là từ điển vần luật, từ điển Hán Nôm, từ điền đồng nghĩa, dị nghĩa để tra cứu chữ Hán vừa có ý nghĩa biểu đạt cần tìm, vừa có âm vần tương đương với vần chân đã chọn Xem xét, căn chỉnh ý biểu đạt của từng hình ảnh, tứ thơ, đồng thời rà soát tiết tấu, nhịp điệu từng câu, từng khổ Sau khi dành cho bản thân một khoảng lặng nhất định, đứng ở góc độ độc giả, kiểm chứng nội dung bản dịch với nguyên tác, đánh giá khách quan tác dụng của các thủ pháp nghệ thuật sử dụng trong bản dịch Quá trình “đọc-sửa-cảm” được lặp đi lặp lại trong suốt quá trình dịch để cho ra đời bản dịch hoàn thiện nhất, sát nghĩa nguyên tác nhất, có âm
Trang 7hưởng thơ nhất chuyển tới chuyên gia đánh
giá, thẩm định
Bước 4: Nhận xét, thẩm định
Ở góc độ chủ quan, ngay từ đầu và trong
suốt quá trình chuyển dịch, người dịch luôn
đưa ra các yêu cầu như: bản dịch chuyển tải
được nội dung bản gốc; hình thức biểu đạt
trong bản dịch trôi chảy, lưu loát; thể loại thơ
trong bản dịch giữ nguyên hình thức ngôn
bản; ưu thế ngôn ngữ trong bản dịch được
phát huy tối đa để làm mục tiêu hướng tới
Ở góc độ khách quan, giá trị của bản dịch
chỉ được thể hiện qua quá trình đọc, thưởng
thức, nhận xét, phê bình của độc giả và các
nhà chuyên môn Mục đích của việc nhận xét
đánh giá bản dịch không phải phê phán, mà
đưa ra đánh giá khách quan xung quanh các
tiêu chuẩn về nội dung, hình thức, nghệ thuật
giữa bản gốc và bản dịch, để người dịch làm căn cứ, từ đó bổ sung, chỉnh sửa để bản dịch tốt hơn, hay hơn, gần nghĩa nguyên tác hơn, tái sáng tạo một bản dịch đem đến sự rung cảm trong lòng người đọc Công việc thẩm định bản dịch được tiến hành hai lần, với các đối tượng khác nhau, tiêu chí đánh giá khác
nhau (Phụ lục 1: Phiếu nhận xét góp ý).
Bản dịch được gửi tới: nhóm 1 gồm hai Phó Giáo sư (PGS) người Trung Quốc biết tiếng Việt, có kinh nghiệm dịch nhiều loại hình văn bản; nhóm 2 gồm hai PGS người Việt Nam (GVVN) thông hiểu tiếng Hán, làm công tác giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu sinh nhằm thu thập ý kiến nhận xét xung quanh nội dung bản dịch, từ vựng cú pháp, hình ảnh, tiết tấu âm điệu, phương thức biểu đạt giúp người dịch kiểm chứng độ chân thực của bản dịch Kết quả cụ thể như sau:
Bảng 2 Kết quả thẩm định bản dịch lần 1 Lĩnh
vực
Đối tượng
Nội dung Từ vựng, cú
pháp Hình ảnh Tiết tấu, âm điệu Phương thức biểu đạt Nhóm 1 Hiểu nội
dung bản
dịch muốn
truyền tải
Đôi câu thơ dùng từ, cú pháp chưa chuẩn;
Các vế đối trong câu, cặp câu khá chỉnh
Tái hiện được hình ảnh thơ trong mỗi tác phẩm, nhưng chưa thật dày công
Âm điệu thơ rõ nét, với tiết tấu vần luật nhất định
Tương đối lưu loát, khơi gợi cảm xúc nhất định trong lòng người đọc
Nhóm 2
GVVN 1 Bản dịch
lưu loát, khá
sát nguyên
tác
Từ ngữ sử dụng khá trau chuốt;
Đôi chỗ cặp câu chưa thật chỉnh
Cảm nhận được hình ảnh thơ Đã chú ý đến gieo vần;
Tiết tấu ở câu thơ 6 chữ chưa thật hay
Đa phần bản dịch khơi gợi được cảm xúc
có trong bản gốc
GVVN 2 Hai bản
dịch có 3
câu thơ
chưa chuyển
dịch chính
xác
Ba bản dịch sử dụng cụm từ chưa chính xác;
Hai bản dịch
có 4 cặp câu đối chưa chuẩn chỉnh, dịch chưa sát
Một số bản dịch khơi gợi hình ảnh thơ trong nguyên tác
Mới dừng ở gieo vần chân;
Một số bài mang đến âm hưởng thơ khá rõ nét
Ý biểu đạt khá
ổn ở từng bản dịch
Trang 8Sau khi có kết quả góp ý, người dịch tiến
hành đối chiếu, chỉnh sửa, hoàn thiện, đồng
thời gửi phản hồi cho từng nhận xét góp ý,
chia sẻ cách thức và lí do chuyển dịch Tiếp
tục gửi bản dịch đến 3 đối tượng sau (không
trùng với nhóm 1): Nhóm 1 gồm 5 thầy cô có
học hàm học vị PGS, TS (Tiến sĩ) hiện đang
giảng dạy tiếng Trung Quốc; Nhóm 2 gồm
3 thầy cô có học vị TS người Trung Quốc (không biết tiếng Việt) hiện đang giảng dạy tiếng Hán tại Việt Nam; Nhóm 3 gồm 3 thầy
cô GS người Trung Quốc có chuyên môn về dịch văn học, trong đó có 2 người biết tiếng Việt thẩm định bản dịch xung quanh nội dung bản dịch, tứ thơ, vần luật, ý nghĩa cảm nhận Kết quả thu được như sau:
Bảng 3. Kết quả thẩm định bản dịch lần 2
Lĩnh vực
Đối tượng Nội dung Tứ thơ Vần luật Ý biểu đạt Ý kiến khác
sát nghĩa bản gốc
3 ý kiến cho rằng tứ thơ đẹp;
2 ý kiến cho rằng tứ thơ độc đáo
Bản dịch có vần luật, tiết tấu
Ý thơ biểu đạt
rõ nghĩa, súc tích
khá giống nguyên tác
Tứ thơ khá sinh động Bản dịch chú ý đến
vần luật nhưng chưa hoàn chỉnh
Tứ thơ biểu đạt khá sát bản gốc
- Những bài thơ thất ngôn xen lục ngôn, hay lục ngôn xen thất ngôn chuyển dịch thành thơ thất ngôn;
- Một số từ ngữ nên chỉnh sửa để thoát ý hơn;
- 2 bản dịch sử dụng chữ Hán chưa đúng
Nhóm 3 Nội dung
bản dịch khá giống nguyên tác
Tứ thơ tương đối chặt chẽ Bản dịch chưa thật
chỉnh về niêm luật của thơ Đường luật Trung Quốc
Tứ thơ sát với bản gốc
- Đối với thể thơ đặc trưng trong thơ Nôm cần đưa ra chú giải;
- Cần tìm thủ pháp gieo vần cố định trong các thể thơ đặc trưng, để tái hiện hoàn chỉnh bản dịch
Bước 5: Hoàn thiện bản dịch
Căn cứ vào kết quả nhận xét, người dịch
tiến hành chỉnh sửa, hoàn thiện bản dịch trong
khả năng cho phép, đạt được mục tiêu đề ra:
bản dịch có nội dung tiếp cận gần nhất với
nguyên tác, hình ảnh, tứ thơ đặc trưng trong
từng bài được thể hiện rõ nét trong bản dịch,
khắc hoạ được tâm trạng nhà thơ cũng như
truyền tải được hàm ý mà nhà thơ muốn gửi
gắm trong nguyên tác (Phụ lục 2: các bản
dịch trong quá trình chỉnh sửa ).
4 Khó khăn và thuận lợi khi chuyển dịch
Dưới đây người viết chia sẻ một số bài thơ gồm nguyên tác, bản dịch, phân tích sơ lược tác phẩm, đồng thời đứng ở góc độ chuyển dịch nêu lên một số khó khăn, thuận lợi trong quá trình chuyển dịch tác phẩm cụ thể
Trang 9Nguyễn Trãi - Thủ vĩ ngâm 首尾吟
Góc thành Nam/ lều một gian,
No nước uống/ thiếu cơm ăn
Con đòi trốn/ dường ai quyến,
Bà ngựa gầy/ thiếu kẻ chăn
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá,
Nhà quen thú thứa ngại, nuôi vằn
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải,
Góc thành Nam, lều một gian
城南角/屋一间,
水饱喝/餐饥怜。
儿想躲/无亲照,
老马瘦/没人恋。
塘因小而料养鱼, 家惯邋遢懒养犬。
朝官不是,隐也非,
城南角/屋一间。
“Thủ vĩ ngâm – 首尾吟” được sáng tác
trong tháng ngày Nguyễn Trãi bị vua Lê Thái
Tổ ruồng bỏ vì nghi ông liên quan đến vụ án
Trần Nguyên Hãn, bài thơ thể hiện tâm trạng
chán nản cực độ về chính sự và lòng người
của thi nhân (www.loigiaihay.com, ngày tra
cứu 20/5/2019) Bài thơ được làm dưới hình
thức lục ngôn xen thất ngôn, với luật trắc,
gieo vần chân [an] toàn bài, cách ngắt nhịp
3/3 ở câu 6 và 4/3 ở câu 7, sử dụng các cặp
câu đối, các cụm từ với kết cấu tương đương
Khi chuyển dịch, người dịch gặp phải hai vấn
đề sau:
1 Lớp từ Nôm cổ
Các từ “quyến” , “thú thứa”, “vằn” thuộc
lớp từ cổ Nôm cổ, một trong cách dùng từ nổi
bật trong các tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn
Trãi (Nguyễn Trãi-về tác gia và tác phẩm,
2002, tr 564-598) Nếu dịch thẳng sang tiếng
Hán với nghĩa gốc trong từ điển Hán Nôm thì
“quyến” là “nhớ - 想 ” , “thú thứa” là “bừa bộn,
lộn xộn - 乱七八糟 ” , “vằn” là “con chó - 狗 ”
Như vậy, tuy chuyển tải đúng nghĩa nhưng
làm mất nét nghĩa cổ, cũng như không truyền
tải được nét đặc sắc của bản gốc, vì vậy, người
dịch sử dụng các từ đồng nghĩa trong tiếng
Hán với tần suất xuất hiện ít hơn trong tiếng
Hán hiện đại như “眷” , “邋遢” , “犬” (辞海, tr
1768, 应用汉语词典, tr 1044) để chuyển dịch
2 Kết cấu thể loại thơ Hàn luật
Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn hay lục
ngôn xen thất ngôn là một trong những nét
độc đáo của dòng thơ Nôm, nhưng vấn đề tiết tấu, vần luật, hiệu ứng là điều không dễ
xử lý khi chuyển dịch Về tiết tấu, sử dụng các cụm từ có cùng kết cấu ngữ pháp tạo một thể thống nhất đơn lập với nhịp điệu 3/3 đồng thời vẫn đảm bảo âm vần trong toàn bài “城南角/屋一间”,, “ 水饱喝/餐饥怜”, “儿想 躲/无亲照 ”, “老马瘦/没人恋” Về hiệu ứng, thể thất ngôn xen lục ngôn giúp phong cách thơ rắn rỏi, hay thể lục ngôn xen thất ngôn như một tiếng than dài của nhà thơ trước thế sự (Mạn thuật kỳ Bài số 4) Cách sử dụng thủ pháp nghệ thuật này cho thấy quan niệm của nhà thơ về mối hoà quyện giữa hình thức
và nội dung (Phan Trọng Thưởng, 2007, tr 239-265) của tác phẩm, chính vì vậy, người dịch giữ nguyên thể loại thơ khi chuyển dịch đồng thời bổ sung chú giải giúp độc giả hiểu
ý nghĩa và đặc điểm nghệ thuật này
Bài “Bảo kính cảnh giới Bài số 5” với những triết lý, giáo huấn được Nguyễn Trãi thể hiện nhẹ nhàng, tích cực với bản sắc riêng Trong bài thơ này, người dịch giữ nguyên thể loại thất ngôn xen lục ngôn, bản dịch sử dụng vần[uan]xuyên suốt toàn bài thay cho vần[ung]trong nguyên tác, giữ nguyên lối ngắt nhịp 4/3 ở câu 7 tiếng và 3/3
ở câu 6 tiếng:
Trang 10Phúc của chung thì hoạ của chung,
Nắm thì hoạ khỏi phúc về cùng
Văn chương chép lấy đôi câu thánh,
Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung
Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược,
Có nhân có chí có anh hùng
Nhìn cho biết nơi dường ấy,
Chẳng thấp thì cao ắt được dùng
众之福则众之患,
守是灾而放即绚。
文章抄下圣贤话,
事业保住忠孝愿。
除毒除贪除暴虐,
有仁有志有英全。
世俗看破随此,
才智高低必展权。
3 Vấn đề chuyển dịch văn hoá
Việt Nam-Trung Quốc có nhiều nét tương
đồng về văn hoá, tôn giáo, nên việc truyền tải
tư tưởng tuân theo “mệnh trời” và “lời nói của
thánh nhân” theo quan điểm Nho giáo với tinh
tuý của đạo Khổng đưa ra khái niệm về người
anh hùng nhân, nghĩa, trí, tín trong bản gốc
không gặp khó khăn khi chuyển dịch, cũng
không cần bổ sung chú thích mà người đọc
vẫn lĩnh hội được ý tứ coi trọng sự học và
thông điệp “sống ở đời phải giữ lòng trung chữ hiếu” (Bùi Duy Tân, 1999, tr 91-125) như trong nguyên tác
Tuy nhiên, yếu tố văn hoá không phải lúc nào cũng diễn ra suôn sẻ Bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến miêu tả cảnh thu đẹp, tĩnh lặng nơi làng quê, mối tình thu đẹp mà cô đơn, buồn thương của một nhà Nho nặng tình với quê hương đất nước
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Gió biếc theo làn mây gợi tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
秋池清澈飕飕安,
钓船渺小豆点伴。
清风悠悠碧云起,
黄叶翩跹前风漫。
浮云浪荡天蔚蓝,
竹同弯曲客悄然。
靠枕握竿久无获,
鱼哪游藏于萍岸。
Bài thơ theo thể thất ngôn bát cú, tuân thủ
nghiêm niêm luật thơ Đường gồm: 5 câu vần
bằng [veo, teo, vèo, teo và bèo] ở câu 1,2,4,6
và 8, 3 câu vần trắc [tí, ngắt, được] ở câu 3, 5
và 7 Bản dịch giữ nguyên thể thơ, dùng vần
[an] làm vần chân ở câu 1, 2, 4, 5, 6 và 8 tạo
nên âm hưởng về một không gian yên bình, vạn
vật lắng đọng, hoà nhịp với tâm trạng trầm lắng
của thi nhân Tuy nhiên bản dịch cần cung cấp
phần giải thích cho hình ảnh ngư ông - các nhà
thơ xưa thường mượn hình tượng ngư ông câu
cá với hàm ý từ chối việc làm quan, tránh xa
thế sự (Nguyễn Huệ Chi, 1994, tr 158-162), để
giữ một lòng thiện tâm với mình và với đời, nét
nghĩa này tương đương với hình ảnh “hái hoa
tử vi - 采薇 ” trong thi ca Trung Quốc (Từ điển
Từ Hải, 1989) Nếu giữ hình ảnh này trong bản dịch không tái hiện được hàm ý sâu xa với độc giả sử dụng chữ Hán, nhưng nếu sử dụng hình ảnh “采薇 - hái hoa tử vi” sẽ phá vỡ bối cảnh tổng thể của bản gốc Điều này cho thấy, trong quá trình chuyển dịch có trường hợp phải chấp nhận giữ nguyên từ gốc trong văn bản và thông qua chú giải giúp người đọc hiểu và cảm nhận thi phẩm tốt hơn
Bài “Tự thán Bài số 41” của Nguyễn Trãi với tư tưởng chủ đạo đề cao việc học, chỉ có đọc sách thánh hiền thì nhân cách, tâm hồn mới được nuôi dưỡng (Nguyễn Trãi, 2002, tr 182-189):