Nội dung bài viết trình bày khía cạnh lý luận liên quan đến vấn đề xã hội và những vấn đề xã hội bức xúc; điểm qua một số lý thuyết và mô hình phát trển trên thế giới từ góc độ xử lý vấn đề xã hội bức xúc...
Trang 1một số mô hình phát triển trên thế giới
xử lý những vấn đề xã hội bức xúc
phạm xuân nam(*)
I Mấy khía cạnh lý luận liên quan đến “vấn đề xã
hội” và “những vấn đề xã hội bức xúc”
Để có nhận thức đúng về “vấn đề xã
hội” và “những vấn đề xã hội bức xúc”,
trước hết cần làm rõ nội hàm khái niệm
“xã hội” với cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp
của nó
Theo nghĩa rộng, khái niệm “xã hội”
dùng để chỉ một chế độ xã hội hay một
hình thái kinh tế - xã hội, như các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Marx-Lenin đã
phân tích Với nghĩa này, mỗi hình thái
kinh tế - xã hội đều bao gồm bốn lĩnh
vực cơ bản có quan hệ mật thiết với
nhau: i) Cơ sở kinh tế; ii) Cơ cấu xã hội;
iii) Kiến trúc thượng tầng về pháp lý,
chính trị; iv) Những hình thái ý thức xã
hội tương ứng
Còn theo nghĩa hẹp, khái niệm “xã
hội” dùng để chỉ lĩnh vực xã hội - bao
gồm cơ cấu xã hội (tức kết quả của phân
tầng xã hội), những nhu cầu thiết yếu
về đời sống xã hội và những mối quan
hệ xã hội của con người - trong tương
quan với các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hóa của một chế độ xã hội nhất định
Sự vận động, phát triển của toàn bộ
một hình thái kinh tế - xã hội nói chung
và từng lĩnh vực cấu thành nói riêng
không phải bao giờ cũng diễn ra một
cách thuận chiều, trái lại chúng luôn trải qua những mâu thuẫn với các mức
độ và tính chất khác nhau Mà ở đâu có mâu thuẫn (ví như trong lĩnh vực xã hội
đang được bàn tới), thì ở đó có vấn đề cần xem xét, giải quyết.(*)
Không theo lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Marx-Lenin, các nhà xã hội học hiện đại phương Tây, mà tiêu biểu là những đại diện của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), thường chỉ tập trung bàn về “xã hội” theo nghĩa hẹp
Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới
Copenhagen, Đan Mạch (tháng 3/1995), UNDP xác định có 10 “vấn đề xã hội” chủ yếu mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm đến Đó là mở rộng việc làm, giảm nghèo, hòa nhập xã hội đối với các nhóm yếu thế, phát triển hợp lý dân số, tăng cường vai trò của gia
đình, phát triển giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo trợ xã hội, bảo vệ môi trường, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội Trong đó, mở rộng việc làm, giảm nghèo và hòa nhập xã hội đối với các nhóm yếu thế được xem là ba vấn đề xã
Trang 2hội cấp bách, cần được ưu tiên giải
quyết (World Summit for Social
Development, 1995) Đây có thể hiểu là
ba “vấn đề xã hội bức xúc” trên phạm vi
toàn cầu, mặc dầu lúc đó thuật ngữ “bức
xúc” chưa được người ta dùng đến
Theo đề cương chung của UNDP,
Báo cáo quốc gia của Chính phủ Việt
Nam tại Hội nghị cũng đề cập đến 10
vấn đề nêu trên, xuất phát từ tình hình
cụ thể của nước nhà
Trên cơ sở vận dụng quan điểm lý
luận của chủ nghĩa Marx-Lenin và tham
khảo lý thuyết xã hội học hiện đại của
thế giới, chúng tôi đưa ra định nghĩa:
- “Vấn đề xã hội” là vấn đề nảy sinh
từ những mâu thuẫn bình thường của
quá trình trưởng thành, phát triển
trong lĩnh vực xã hội, đòi hỏi phải xem
xét, giải quyết nhằm thúc đẩy sự phát
triển xã hội theo những mục tiêu đã xác
định của mỗi quốc gia
- “Những vấn đề xã hội bức xúc” là
những vấn đề nảy sinh từ những mâu
thuẫn không bình thường, thể hiện ở
những va chạm, đụng độ, thậm chí xung
đột về lợi ích giữa các giai tầng, các
nhóm xã hội khác nhau, đòi hỏi phải tập
trung xem xét, điều chỉnh ngay và giải
quyết sớm, nếu không thì chúng có thể
dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng về
nhiều mặt
Mặc dù có mối quan hệ tác động qua
lại biện chứng với nhau, song ở đây cần
có sự phân biệt giữa “những vấn đề xã
hội bức xúc” và những vấn đề kinh tế,
chính trị, văn hóa… gây ra bức xúc
trong xã hội
II Điểm qua một số lý thuyết và mô hình phát
triển trên thế giới xét từ góc độ xử lý những vấn
đề xã hội bức xúc
Về đại thể, trong những thập niên
qua, trên thế giới từng có một số mô
hình phát triển khác nhau được áp dụng Mỗi loại mô hình đều dựa vào một
lý thuyết phát triển, thể hiện bản chất chế độ chính trị - xã hội và truyền thống văn hóa của từng nước
1 Lý thuyết và mô hình phát triển của trào lưu xã hội dân chủ, điển hình
là Thụy Điển
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, trước áp lực đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động, nhiều chính phủ cánh tả mà nòng cốt là các Đảng Xã hội dân chủ đã lên cầm quyền ở các nước Bắc Âu và một số nước Tây Âu Với các mức độ khác nhau, những chính phủ này đã chủ trương chuyển từ mô hình kinh tế thị trường theo chủ nghĩa tự do
cổ điển của A Smith sang mô hình kinh
tế thị trường xã hội dựa trên cơ sở lý thuyết của J M Keynes Theo lý thuyết này, nền kinh tế thị trường phải có sự
điều tiết của nhà nước phúc lợi nhằm khắc phục hai khuyết tật lớn, cũng tức
là hai vấn đề xã hội bức xúc nhất trong xã hội tư bản là “không có việc làm đầy
đủ và phân phối của cải một cách bất công”, dẫn đến phân cực giàu nghèo ngày càng gia tăng (J M Keynes, 1994,
tr 429)
Điển hình của mô hình này là Nhà nước Thụy Điển, do Đảng Xã hội dân chủ đứng đầu trong nhiều thập kỷ Một
hệ thống các chính sách phúc lợi xã hội rộng rãi đã được đề ra, bao gồm trợ cấp cho giáo dục, y tế, chăm sóc trẻ em, người già, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp cho những người ốm đau, tàn tật, những người không có khả năng lao động… do Nhà nước chi ở mức cao nhất thế giới
Để thực hiện được các chế độ nói trên, Nhà nước thi hành chính sách thuế lũy tiến đánh vào thu nhập Trong nhiều năm, các nguồn thu từ thuế thu
Trang 3nhập đạt tới 55% GDP, một tỷ lệ cao
hơn nhiều so với các nước khác thuộc Tổ
chức Hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) Đối với những người có thu
nhập cao nhất, tỷ lệ nộp thuế có khi lên
tới 70%!
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu
hóa và cạnh tranh kinh tế ngày càng
gay gắt, các chính sách phúc lợi xã hội
rộng rãi dựa trên thuế thu nhập đánh
theo lũy tiến, một mặt, đẻ ra tình trạng
lạm dụng trong dân chúng và mặt khác,
gây ra sự bất mãn trong giới chủ doanh
nghiệp giàu có Nhiều nguồn vốn đầu tư
đã được chuyển ra nước ngoài
Điều đó lý giải tại sao, nền kinh tế
Thụy Điển sau một thời kỳ tăng trưởng
nhanh lại rơi vào một thời kỳ trì trệ, suy
thoái Hệ quả là Đảng Xã hội dân chủ
đã thất cử và bị gạt ra ngoài Chính phủ
ba lần vào những năm 1976-1982,
1991-1994 và 2006-2010 Khi trở lại cầm
quyền, họ buộc phải cắt giảm cả thuế
thu nhập và phúc lợi xã hội xuống mức
hợp lý hơn Nhờ vậy, GDP đã tăng trở
lại từ - 4,8% năm 2009 lên 4% năm
2011 Trong cùng thời gian, tỷ lệ thất
nghiệp đã giảm từ 15,6% xuống còn
7,5% Thực tế đó cho thấy: Do tăng
trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội luôn có
mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau,
nên mức đầu tư cho việc giải quyết các
vấn đề xã hội nói chung, trong đó có
vấn đề xã hội bức xúc là tỷ lệ thất
nghiệp tăng cao nói riêng, không bao giờ
có thể vượt quá khả năng mà nền kinh tế
cho phép
2 Lý thuyết và mô hình phát triển
theo chủ nghĩa tự do mới, tiêu biểu là Mỹ
Trong suốt gần 3 thập kỷ
(1945-1973), khi lý thuyết Keynes chiếm địa vị
chi phối đối với chính sách kinh tế - xã
hội của nhiều nước tư bản phát triển,
thì một nhóm học giả, đứng đầu là V
Hayek, vốn có quan điểm đối lập với J
M Keynes vẫn kiên trì theo đuổi những luận thuyết của họ Nhóm học giả này kịch liệt phê phán sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế thị trường, đồng thời say sưa ca ngợi tư tưởng tự do kinh tế ở các thế kỷ XVIII-XIX Theo họ, vận dụng tư tưởng đó vào thế kỷ XX vẫn là một điều tuyệt vời Với các luận điểm nêu trên, họ được xem là những người
đặt nền móng cho sự ra đời của chủ nghĩa tự do mới
Nhưng phải chờ đến đầu những năm 1980, thì chủ nghĩa tự do mới mới
được Tổng thống Mỹ R Reagan và Thủ tướng Anh M Thatcher tán thưởng và chính thức áp dụng trên thực tế Tiếp
đó, chủ nghĩa tự do mới dần dần được giới cầm quyền của nhiều nước khác trong Tổ chức OECD và một số nước
đang phát triển ở châu á, châu Phi, Mỹ Latinh làm theo Những đại diện của các quốc gia nêu trên đã họp nhau tại thủ đô Hoa Kỳ và ra bản Tuyên bố
chung gọi là Đồng thuận Washington,
trong đó xác định rõ 5 phương châm chỉ
đạo cho việc thực hiện mô hình phát triển theo chủ nghĩa tự do mới là: i) Tăng thị trường; ii) Giảm nhà nước; iii) Phi điều tiết hóa; iv) Tự do hóa; v) Tư nhân hóa
Là quốc gia đi đầu trong việc thực hiện mô hình này, nước Mỹ dưới thời các chính quyền Reagan và Bush (cha)
đã quyết định thu hẹp khu vực sở hữu nhà nước, đẩy mạnh tư nhân hóa, tránh
sự can thiệp của Nhà nước vào công việc kinh doanh, giảm chi từ ngân sách quốc gia cho các chính sách phúc lợi xã hội, giảm thuế đối với những chủ doanh nghiệp giàu có nhằm kích thích họ “tiết kiệm và đầu tư” Thi hành những chủ trương đó, người ta hứa hẹn với quần chúng lao động rằng: tăng trưởng kinh
Trang 4tế phải đi trước, công bằng xã hội sẽ theo
sau, người nghèo hãy kiên tâm chờ đợi!
Nhưng trải qua sự kiểm nghiệm của
thời gian, ngay tại Mỹ, một số nhà trí
thức có đầu óc khách quan đã sớm chỉ
ra rằng: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì
mục đích lợi nhuận tối đa của giới chủ
tư bản đã dẫn đến hàng loạt vấn đề xã
hội nan giải Điều đó giải thích tại sao,
từ năm 1993, khi B Clinton trở thành
ông chủ Nhà Trắng, thì chính quyền của
ông đã phải điều chỉnh mô hình phát
triển theo lý thuyết về Con đường thứ
ba (Xem Anthony Giddens, 1998)
Nghĩa là, một mặt tiếp tục thực hiện tự
do hóa kinh tế, mặt khác tăng đầu tư
cho các chính sách xã hội nhằm tạo
thêm việc làm, cải tiến tiền lương, nâng
trợ cấp cho giáo dục, y tế… Nhưng đến
thời chính quyền G W Bush (con) thì
các chính sách theo mô hình của chủ
nghĩa tự do mới lại được thực hiện một
cách triệt để hơn bao giờ hết
Hệ quả là hàng loạt vấn đề kinh tế,
xã hội được tích lũy trong hai nhiệm kỳ
của chính quyền Bush (con) đã bùng nổ
thành cuộc khủng hoảng tài chính tại
phố Wall từ cuối năm 2007, rồi gây
phản ứng dây chuyền, đẩy nền kinh tế
thế giới lún sâu vào cuộc suy thoái tồi tệ
nhất kể từ đầu những năm 1930 Riêng
tại Mỹ, trong khi nhiều chủ ngân hàng
vỡ nợ được Nhà nước cứu trợ vẫn đem
chia nhau hàng tỷ USD gọi là tiền thù
lao cho “những người có chuyên môn
cao”, thì đông đảo quần chúng nhân dân
lao động lại là những người phải gánh
chịu hậu quả nặng nề nhất Tính đến
tháng 9/2009, khoảng trên 2 triệu ngôi
nhà của những người có thu nhập thấp
bị tịch biên, 10,2% tổng lực lượng lao
động xã hội bị mất việc làm, tương
đương 15,7 triệu người Trong cùng thời
gian, tỷ lệ nghèo ở nước này là 15,1%, tương đương 46,2 triệu người
Đó là những vấn đề xã hội bức xúc của nước Mỹ mà chính quyền của Tổng thống B Obama đã tìm mọi cách để giải quyết trong suốt nhiệm kỳ thứ nhất và mấy tháng đầu của nhiệm kỳ thứ hai, nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết hết Theo các số liệu thống kê, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đã giảm từ trên 10% năm
2009 xuống 7,7% tính đến tháng 3/2013 nhưng còn ở mức cao; riêng tỷ lệ nghèo chính thức thì chỉ giảm chút ít từ 15,1% năm 2009 xuống 14,3% năm 2011
3 Lý thuyết và mô hình phát triển của nước Nga hậu Xô viết
ở nước Nga thập niên đầu thời kỳ hậu Xô viết (1991-1999), các chính khách lớn của điện Kremlin lúc đó đã công khai tuyên bố chuyển sang áp dụng mô hình phát triển kinh tế - xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa tự do mới Hậu quả là gần 10 năm sau khi Liên Xô tan rã và “các nhà dân chủ” do
ông B Enxin đứng đầu lên nắm chính quyền, “nước Nga vẫn đang sống giữa những đống đổ nát và đang cố tìm ra lối
thoát” (Theo báo Nước Nga Xô viết,
2000) Đó không phải là nhận định của một người cộng sản mà là của Solzenicyn - một kẻ vốn thâm thù chế
độ Xô viết trước đây vừa từ chỗ lưu vong
ở Mỹ trở về nước
Nhưng từ năm 2000 đến nay - kể từ khi ông V Putin được bầu làm Tổng thống hai nhiệm kỳ liên tiếp, kế đó bộ
đôi D Medvedev và V Putin lần lượt thay nhau làm tổng thống và thủ tướng
- thì bức tranh toàn cảnh kinh tế - xã hội của Liên bang Nga đã dần dần trở nên sáng sủa hơn nhiều
Ngay trong nhiệm kỳ tổng thống
đầu tiên của mình, ngoài nền kinh tế suy sụp toàn diện do chính quyền cũ để
Trang 5lại, chính quyền Putin còn phải đối mặt
với nhiều vấn đề xã hội bức xúc, trong
đó có hai vấn đề xã hội bức xúc nhất là:
i) Hàng chục triệu công nhân viên chức
dưới thời Xô viết trước đây đã bị sa thải,
đưa tỷ lệ thất nghiệp ở nước Nga lúc đó
tăng vọt; những người còn được giữ lại
làm việc thì chỉ được lĩnh đồng lương rẻ
mạt; ii) Một nhóm tỷ phú hàng đầu từng
phất lên nhanh chóng trong quá trình
“tư nhân hóa hỗn loạn” dưới thời Enxin
tiếp tục tìm cách câu kết với bọn quan
tham trong bộ máy quyền lực mới để
hòng vơ vét nốt những tài sản lớn còn
lại từ thời Xô viết, khiến cho mâu thuẫn
về lợi ích giữa một thiểu số giàu có với
đa số dân chúng nghèo khổ có nguy cơ
ngày càng trở nên gay gắt hơn
Để đối phó với tình hình trên, chính
quyền Putin đã sớm đưa ra những quyết
định quan trọng: i) Thiết lập lại một số
tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước, nhất
là trong các lĩnh vực dầu khí và tài
chính - ngân hàng…, đồng thời khuyến
khích các loại hình doanh nghiệp khác
đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh hợp
pháp nhằm lấy lại đà tăng trưởng kinh
tế; ii) Giáng đòn mãnh liệt vào nhóm lợi
ích gồm các đại gia làm giàu bất chính
và một số quan tham trong bộ máy nhà
nước bằng cách liên tiếp mở các đợt điều
tra, truy tố trước pháp luật và trừng
phạt nghiêm khắc bọn tội phạm, mà
điển hình là đã kết án tù 15 năm, đồng
thời tịch biên tài sản phi pháp của tài
phiệt đầu sỏ Khodorkovsky, khiến cho
nhiều tên khác “có tật giật mình” phải
bỏ của chạy lấy người; iii) Dành một
nửa số doanh thu từ xuất khẩu dầu khí
để thành lập Quỹ dự trữ nhằm bảo vệ
nước Nga trước mọi biến động trên thị
trường thế giới và Quỹ phúc lợi quốc gia
để tăng đầu tư cho giáo dục, y tế, nhất
là tăng lương cho người lao động, người
đã nghỉ hưu, cải thiện điều kiện nhà ở cho những cựu chiến binh trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945)…
Kết quả về mặt kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời
kỳ 2000-2007 đạt 6,4% Từ 2008 đến nay, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nên tốc độ tăng trưởng có chậm lại nhưng vẫn cao hơn mức trung bình của các nước Âu - Mỹ Về mặt xã hội: Từ năm 2000-2011, thu nhập thực tế của người dân Nga tăng 3 lần; tỷ lệ nghèo giảm từ 40% xuống còn khoảng 13% Tỷ lệ thất nghiệp từ 14,6% năm 1999 giảm xuống còn 5,4% năm 2012 - một tỷ lệ thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các nước trong Liên minh châu Âu
Tổng thống V Putin và các nhà lãnh đạo Nga coi những chủ trương chính sách kể trên là nội dung cơ bản
của “mô hình kinh tế thị trường định
con người, đầu tư cho tương lai của đất nước” (Dẫn theo Hà Mỹ Hương, 2008,
tr 109) Theo một số nhà khoa học hàng
đầu của nước Nga, đây là những cơ sở ban đầu để tiến tới hình thành lý thuyết
và mô hình phát triển mới ở nước này (Xem S F Grebenichenko, V P Davydov, 2008)
4 Lý thuyết và mô hình phát triển của Trung Quốc thời cải cách mở cửa
Sau hơn 1/3 thế kỷ tiến hành cải cách mở cửa nhằm xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc theo lý luận
Đặng Tiểu Bình, rồi lần lượt được bổ sung bằng tư tưởng ba đại diện Giang Trạch Dân và quan điểm phát triển khoa học Hồ Cẩm Đào, nền kinh tế thị trường XHCN và công cuộc kiến thiết xã hội khá giả toàn diện tại nước Cộng hòa
Trang 6nhân dân Trung Hoa đã đạt được những
thành tựu to lớn
Từ năm 1978 đến nay, GDP của
Trung Quốc tính theo giá cố định tăng
gần 20 lần, và đến năm 2010 đã đạt
5.878 tỷ USD, vượt Nhật Bản, trở thành
nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Trên cơ
sở tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội
của đa số nhân dân trong nước đã được
cải thiện rõ rệt Số người nghèo ở nông
thôn giảm từ 250 triệu xuống còn 128
triệu (theo chuẩn nghèo mới là 1
USD/ngày/người) Mục tiêu miễn phí 9
năm giáo dục bắt buộc đối với học sinh
trong cả nước đã được thực hiện
Tuy nhiên, do thực hành phương
châm: “Ưu tiên tăng trưởng kinh tế,
đã duy trì quá lâu chính sách tập trung
phát triển các tỉnh vùng duyên hải miền
Đông trước, cộng với chủ trương phát
triển nóng, cho nên nước này đã phải
đương đầu với những hệ quả tiêu cực về
xã hội
Tính đến năm 2008, tình trạng
khiếu kiện về đất đai ở nông thôn Trung
Quốc ngày càng lan rộng Khoảng cách
thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và
nhóm 20% nghèo nhất ở các thành phố
là 18,7 lần! Trên 90% số người giàu
nhất là con em các cán bộ cấp cao, trong
đó có hơn 2.900 người có tài sản cộng lại
bằng 2.045 tỷ nhân dân tệ, tương đương
6,7% GDP của một nước với 1,3 tỷ dân
Trước tình hình đó, những năm gần
đây, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã
chủ trương thay đổi chính sách với nông
nghiệp, nông thôn và nông dân, đồng
thời cải cách chế độ phân phối trong cả
nước theo hướng: Nâng cao thu nhập
cho những người thuộc diện có thu nhập
thấp, mở rộng tầng lớp có thu nhập
trung bình, điều tiết diện thu nhập quá
cao để bảo đảm công bằng xã hội, tạo
động lực cho phát triển bền vững (Đỗ
Tiến Sâm, 2009)
Kết quả cho thấy, có một vài vấn đề
được giải quyết thành công như: Sau khi Quốc vụ viện Trung Quốc quyết
định tăng gấp 10 lần tiền đền bù cho những nông dân có đất bị thu hồi, thì 180.000 cuộc biểu tình đông người của nông dân trong năm 2010 đã tạm thời lắng xuống
Tuy nhiên, do nhiều vấn đề xã hội ở Trung Quốc đã tích lũy từ lâu, trong khi các giải pháp đưa ra lại chưa đủ tầm, cho nên đến nay không ít vấn đề xã hội bức xúc vẫn đang nổi cộm tại nước này,
ví dụ như: i) Theo kết quả điều tra của giáo sư Gan Li, trường Đại học kinh tế - tài chính Thành Đô, tỷ lệ thất nghiệp trong lực lượng lao động thành thị của Trung Quốc năm 2012 là 8,05%, một con số cao gấp đôi so với ước tính của nhà cầm quyền; ii) Hơn 250 triệu công nhân vốn từ nông thôn đổ ra thành thị kiếm sống đều không được phép đăng
ký hộ khẩu chính thức Vì thế, họ phải lưu trú tạm bợ trong những khu nhà tồi tàn và cũng không được hưởng các dịch
vụ giáo dục, y tế… như cư dân tại chỗ
Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hàng loạt cuộc xuống đường phản đối của công nhân làm cho giới cầm quyền ở nhiều nơi như “đang ngồi trên đống lửa” (World Asia, 2012); iii) Vì ồ ạt chạy theo phát triển nhanh công nghiệp và đô thị, nên thời gian gần đây những đám khói bụi độc hại khổng lồ do nhà máy và xe
cộ thải ra đã bao phủ nhiều tỉnh thành
ở Trung Quốc (kể cả thủ đô Bắc Kinh), khiến cho số người bị ung thư phổi và các bệnh tim mạch tăng nhanh, gây bất bình lớn trong nhân dân; iv) Tệ tham nhũng diễn biến xấu đến mức, tại Đại
Trang 7hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung
Quốc (tháng 11/2012), Tổng Bí thư Hồ
Cẩm Đào lúc đó đã lên tiếng báo động:
Nếu không đẩy lùi được tham nhũng thì
cả Đảng và chế độ hiện hữu ở nước này
đều sụp đổ
Trước những vấn đề gay cấn nêu
trên, Báo cáo do Thủ tướng Ôn Gia Bảo
trình bày tại phiên khai mạc Quốc hội
khóa 12 của Trung Quốc (5/3/2013) cũng
phải thừa nhận: Xã hội Trung Quốc
đang chứa đựng “nhiều mâu thuẫn tiềm
ẩn, nhiều vấn nạn làm tổn hại đến lợi
ích của người dân như ô nhiễm môi
trường, thất nghiệp, vấn đề nhà ở, an
toàn thực phẩm… và đặc biệt là tham
nhũng” (Ôn Gia Bảo, 2013)
Và để giải quyết các vấn nạn đó, bên
cạnh một số biện pháp khác, Bắc Kinh
đang tìm cách đẩy các mâu thuẫn bên
trong ra bên ngoài
Nói tóm lại, chăm lo giải quyết các
vấn đề xã hội, đặc biệt là những vấn đề
xã hội bức xúc, trên cơ sở thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế luôn được xem như hai
trong số ba trụ cột chủ yếu của sự phát
triển nhanh và bền vững mà nhiều quốc
gia trên thế giới đều mong muốn đạt tới
Tuy nhiên, trên thực tế, đây là bài toán
khó mà không phải ở đâu và bao giờ
người ta cũng có thể tìm ra lời giải thỏa
đáng Bởi lẽ, để biến mục tiêu đó thành
hiện thực thì phải có hàng loạt điều
kiện khách quan và chủ quan cần thiết,
phải giải quyết hàng loạt mối quan hệ -
nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội - trong một mô hình phát triển nhất định Tài liệu tham khảo
1 Báo Nước Nga Xô viết (2000), số 55
2 Ôn Gia Bảo (2013), “Báo cáo tại phiên khai mạc Quốc hội khóa 12 Trung Quốc ngày 5/3/2013”, báo
3 Anthony Giddens (1998), The third
way - The renewal of social
4 S F Grebenichenko, V P Davydov (2008), “Nước Nga sau Putin”, Tạp chí
5 Hà Mỹ Hương (2008), “Nước Nga sau 8 năm cầm quyền của Tổng
thống V Putin”, Tạp chí Cộng sản,
số 6, tr 109
6 J M Keynes (1994), Lý thuyết tổng
Nxb Giáo dục - Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr 429
7 Đỗ Tiến Sâm (2009), Quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và thực hiện
do Hội đồng lý luận Trung ương tổ chức, tháng 10
8 World Summit for Social
Development (1995), Copenhagen
March 12th
9 World Asia (2012), Unhappy
migrant workers in China are