1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang hiện nay

12 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 336,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở làm rõ khái niệm đói, nghèo theo quan niệm của Việt Nam và thế giới hiện nay, tác giả bài viết tập trung nghiên cứu, phân tích những thành tựu và hạn chế, đồng thời tìm ra nguyên nhân của nó trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang hiện nay; qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để nhằm thực hiện chính sách này đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới.

Trang 1

M ỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO

TRONG VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở AN GIANG HIỆN NAY

Lê Thiện Minh1, Nguyễn Văn Cọp2

1 Trường Đại học An Giang,

2 Văn Phòng Tinh ủy, tỉnh An Giang

Thông tin chung:

Ngày nh ận bài: 05/01/2018

Ngày nhận kết quả bình duyệt:

15/02/2018

Ngày ch ấp nhận đăng: 04/2018

Title:

Some solutions to improve the

effectiveness of poverty

reduction policies in Khmer

ethnic minority region in An

Giang province

Keywords:

An Giang, poverty,

poverty-alleviation, poverty-alleviation

policy, Khmer ethnic group

Từ khóa:

An Giang, nghèo, giảm

nghèo, chính sách giảm

nghèo, dân tộc Khmer

ABSTRACT

To clarify the concept of hunger and poverty according to the perception in Vietnam and the world nowadays, the author focuses on researching and analyzing achievements and limitations as well as finding out its causes during conducting poverty-alleviation policies in Khmer ethnic group in An Giang province; Accordingly, the author proposes solutions in order to implement the policies more effectively in the future

TÓM T ẮT

Trên cơ sở làm rõ khái niệm đói, nghèo theo quan niệm của Việt Nam và thế

gi ới hiện nay, tác giả bài viết tập trung nghiên cứu, phân tích những thành tựu

và h ạn chế, đồng thời tìm ra nguyên nhân của nó trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang hiện nay; qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để nhằm thực hiện chính sách này đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới

1 GI ỚI THIỆU

An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc khu

vực Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự

nhiên 353.676 ha, trong đó có 297.872 ha đất sản

xuất nông nghiệp Tỉnh có 11 đơn vị hành chính

cấp huyện, thị xã, thành phố và 156 đơn vị hành

chính cấp xã, phường, thị trấn; có 18 xã biên giới,

36 xã dân tộc (Khmer 27 xã, Chăm 09 xã nằm

trên địa bàn 08 huyện), 35 xã khó khăn theo

Quyết định 30/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng

Chính phủ Dân số toàn Tỉnh là 2.142.709 người,

với 524.759 hộ Hiện Tỉnh có 30 dân tộc, trong

đó, dân tộc thiểu số gồm có 29 dân tộc với

112.809 người, chiếm 5,26% dân số cả Tỉnh Dân tộc thiểu số có số dân khá đông là: Khmer có 90.271 người, (chiếm 4,2%); Chăm có 14.209 người (chiếm 0,66%); Hoa có 8.075 người (chiếm 0,37%)

Đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang có những đặc thù riêng về lịch sử và tôn giáo, sống tập trung ở 02 huyện miền núi Tri Tôn, Tịnh Biên (trên 80.000 người), số còn lại sống rải rác ở các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Châu Phú Hầu hết theo Phật giáo Nam tông, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở

Trang 2

Campuchia Trong kháng chiến, nơi đây là căn cứ

địa cách mạng, chịu nhiều tàn phá, bà con người

dân tộc Khmer chịu nhiều mất mát về người và

của Đến chiến tranh biên giới Tây Nam, bà con

phải di chuyển về tuyến sau, khi trở về quê hương

sau chiến tranh, hầu hết nhà cửa, ruộng vườn, đất

đai đã bị giặc tàn phá, xáo trộn, gây khó khăn cho

đời sống Thêm vào đó, trình độ dân trí của bà con

Khmer còn thấp, với tập quán sống tập trung theo

phum, sóc; chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt,

chăn nuôi và làm thuê mướn theo mùa vụ… đời

sống vật chất và tinh thần của bà con còn thấp so

với mặt bằng chung

Nghèo đói là một vấn đề kinh tế - xã hội mang

tính toàn cầu, do đó giải quyết đói nghèo trở thành

nhiệm vụ quan trọng của đất nước Mặt khác, xoá

đói, giảm nghèo cũng là một trong những chính

sách xã hội cơ bản được Đảng và Nhà nước ta đặc

biệt quan tâm Vì vậy, việc triển khai, thực hiện

tốt các chính sách giảm nghèo, nhất là chính sách

giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số không

chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã

hội của địa phương mà còn góp phần thực hiện tốt

hơn chính sách dân tộc, đảm bảo ổn định tình hình

an ninh, chính trị của địa phương Việc xác định

giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer

là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu

trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của

tỉnh An Giang Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo

thực hiện giảm nghèo, Tỉnh luôn tập trung quan

tâm những vùng còn tỷ lệ hộ nghèo cao như vùng

sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Khmer với

tinh thần: về chủ trương, phải đúng trọng tâm,

đúng trọng điểm; về chỉ đạo, phải quyết liệt, biết

khối lượng công việc, lực lượng thực hiện, thời

hạn hoàn thành; về chủ trì, phải gương mẫu, tận

tụy, sâu sát, dân chủ, sáng tạo nhưng đúng pháp

luật của Nhà nước

Trong thời gian qua, việc triển khai, quán triệt và

tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2005 - 2015, tỉnh An Giang đã tập trung các nguồn lực, thực hiện nhiều chính sách, giải pháp giảm nghèo, an sinh xã hội; đem lại nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo hướng bền vững, đặc biệt là vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer có nhiều chuyển biến tích cực, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc rõ nét, tỷ lệ hộ nghèo giảm, đời sống của một bộ phận khá lớn đồng bào dân tộc Khmer ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, trên thực tế, công tác giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang còn nhiều khó khăn, chưa thật sự bền vững, đặc biệt là một số huyện miền núi, biên giới (Tri Tôn, Tịnh Biên) có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống vẫn chiếm tỷ lệ hộ nghèo khá cao qua các năm; tính chủ động của người nghèo dân tộc Khmer còn hạn chế, một bộ phận còn trông chờ, ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước không nắm bắt

cơ hội để vươn lên thoát nghèo Đặc biệt có nhiều

hộ không có khả năng thoát nghèo (có người già yếu, cô đơn, không có con cháu, có người tàn tật nặng, người tâm thần…); đời sống của một bộ phận người nghèo dân tộc Khmer chưa bảo đảm được mức tối thiểu và có sự chênh lệch giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mức trung bình của cả nước; hiện tượng tái nghèo vẫn còn phổ biến Đồng thời, do đặc điểm kinh tế của An Giang chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (lúa, cá), chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, các yếu tố giá cả thị trường luôn tác động bất lợi cho người sản xuất, cùng với thiên tai, lũ lụt hằng năm, luôn làm biến động về tăng giảm hộ nghèo Nghiên cứu các chính sách giảm nghèo và tác động của chính sách giảm nghèo sẽ giúp chúng ta hiểu thêm

về thực trạng nghèo, đói trong vùng đồng bào dân

Trang 3

tộc Khmer; qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm

nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách giảm

nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer ở An

Giang hiện nay

2 KHÁI NI ỆM ĐÓI, NGHÈO

2.1 Khái ni ệm đói, nghèo của Việt Nam

Căn cứ trên thực tế về trình độ phát triển kinh

tế - xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống

trung bình phổ biến của dân cư hiện nay, có

thể đánh giá đói nghèo theo 4 chỉ tiêu chính:

thu nhập; nhà ở và tiện nghi sinh hoạt; tư liệu

sản xuất và vốn liếng để dành Song, ở nước

ta, do đặc thù của nền văn hóa và bản sắc dân

tộc, nên quan niệm về đói, nghèo không chỉ

đơn thuần đề cập vấn đề thu nhập vật chất mà

còn liên quan đến khía cạnh bản sắc văn hóa,

đạo đức, nhân văn… Trong các tiêu chí như

thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu

gia đình, hưởng thụ văn hóa,… thì tiêu chí

thu nhập về kinh tế là đáng chú ý hơn cả Ở

nước ta, chỉ tiêu đánh giá hộ giàu, nghèo, đói,

có thể dựa trên chỉ tiêu chính là thu nhập bình

quân nhân khẩu một tháng (hoặc năm) được

đo lường bằng chỉ tiêu giá trị quy đổi hoặc

hiện vật quy đổi Khái niệm thu nhập ở đây

được hiểu là thu nhập thuần túy Đối với hộ

dân cư ở nông thôn, thu nhập được tính bằng

cách lấy doanh thu trừ đi chi phí bỏ ra Chỉ

tiêu thu nhập bình quân nhân khẩu/tháng là

chỉ tiêu cơ bản nhất để xác định mức đói

nghèo; ngoài ra còn căn cứ vào chỉ tiêu phụ là

dinh dưỡng bữa ăn, mặc, nhà ở và các điều

kiện học tập, chữa bệnh, đi lại

Qua nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu, Bộ Lao

động, Thương binh và Xã hội đã đưa ra khái

niệm đói nghèo ở Việt Nam như sau: Nghèo

là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những

điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu

và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức

sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện Một cách hiểu khác: nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội

cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang, 2014, tr 36)

Ở Việt Nam, nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu Nghèo tuyệt đối

là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu

tối thiểu của cuộc sống (ăn, mặc, ở, đi lại ); nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét Hộ nghèo được xem là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn

một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và

có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện Trong khi đó, hộ đói được quan niệm là hộ có mức sống dưới mức tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ Từ đây, khái niệm về chính sách xóa đói, giảm nghèo được định nghĩa như sau: Chính sách xóa đói, giảm nghèo là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa

Trang 4

phương, khu vực, quốc gia (Liên hiệp các Hội

Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang, 2014, tr

36)

Như vậy, nghèo đói là một phạm trù lịch sử,

có tính tương đối Tính chất và đặc trưng của

nghèo đói phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự

nhiên, nhân tố chính trị, văn hóa và trình độ

phát triển kinh tế - xã hội của vùng, miền,

quốc gia, khu vực Đặc điểm này có ý nghĩa

quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, là cơ

sở của việc tìm kiếm đồng bộ các giải pháp

xóa đói, giảm nghèo ở nước ta, nhất là vùng

dân cư nông nghiệp và nông thôn hiện nay

2.2 Khái ni ệm đói, nghèo của thế giới

Nhìn chung, mỗi quốc gia đều sử dụng một

khái niệm để xác định mức độ nghèo khổ và

đưa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới

hạn nghèo khổ Giới hạn nghèo khổ của các

quốc gia được xác định bằng mức thu nhập

tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó

là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể

mua sắm được những vật dụng cơ bản phục

vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết

yếu khác theo mức giá hiện hành Đến nay,

nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế đã

đưa ra các khái niệm khác nhau về đói nghèo,

nhưng nhìn chung, chúng không có sự khác

biệt đáng kể Tiêu chí chung nhất để xác định

đói nghèo trong các khái niệm này là mức thu

nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu

cơ bản, tối thiểu của con người về ăn, ở, mặc,

y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã

hội Sự khác nhau giữa các khái niệm là mức

đo lường độ thỏa mãn cao hay thấp, mà mức

đó lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh

tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của

từng vùng, từng quốc gia Đáng chú ý là

nhiều công trình nghiên cứu và nhiều quốc

gia đã sử dụng khái niệm người nghèo của Tổ

chức Liên Hợp Quốc

Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), đói nghèo là tình trạng một bộ

phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được

xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nước khác nhau là không

giống nhau Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (năm 2012), trên thế giới có khoảng 1,2

tỷ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó

phần lớn là phụ nữ và trẻ em (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang, 2014,

tr 35)

Tại Hội nghị về chống đói, nghèo do Ủy ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) vào tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng:

“Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu

cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã

hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: Ăn,

ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao

tiếp xã hội Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới

về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen, Đan Mạch vào năm 1995, đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói: “Người nghèo

là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới

01 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số

tiền được coi như đủ mua những sản phầm thiết yếu để tồn tại”

Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới còn đưa ra quan niệm, nghèo là một khái niệm đa chiều

Trang 5

vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất,

nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu

nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan

đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo

dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có

quyền phát ngôn và không có quyền lực (Sở

Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang,

2008, tr 1)

TRONG VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

KHMER Ở AN GIANG HIỆN NAY

3.1 Nh ững thành tựu đạt được

Trong định hướng Chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Đảng ta đã xác

định: “Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc

sống của nhân dân Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận

các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ

cơ bản, các phúc lợi xã hội Thực hiện có hiệu quả

hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời

kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để

đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các

huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn

Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh

số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên Có chính

sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa

giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông

thôn và thành thị” (Đảng Cộng sản Việt Nam,

2011, tr 124 - 125)

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có

nhiều chủ trương, chính sách về công tác dân tộc

như Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989

của Bộ Chính trị về một số chủ trương chính sách

lớn nhằm phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Chỉ

thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư

Trung ương Đảng (khoá VI) về công tác ở vùng

đồng bào Khmer Đặc biệt từ khi có Nghị quyết số

24/NQ-TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành

Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa IX) về phát huy

sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân

tộc; Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Tỉnh uỷ, Ủy ban Nhân dân Tỉnh đã kịp thời chỉ đạo các cấp, các ngành, phối hợp cùng với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cơ quan thông tin đại chúng quán triệt trong nội bộ, cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, tuyên truyền, phổ biến đến các vị chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo, nhằm nâng cao

nhận thức, trách nhiệm, tạo sự đồng thuận trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; trong đó có chính sách

giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer Ngoài ra, Tỉnh ủy cũng đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 23/10/2007 về phát triển kinh tế -

xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer đến năm

2010 và định hướng đến năm 2015

Các chính sách dân tộc đã và đang được triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh An Giang gồm có: Quyết định 29/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013 - 2015; Quyết định 2472/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 - 2015; Quyết định 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và

hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; Quyết định số 2239/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số

từ năm 2013 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh An Giang Bên cạnh đó, Tỉnh còn ban hành nhiều

Trang 6

chính sách kêu gọi đầu tư đối với các xã đặc biệt

khó khăn, xã biên giới, xã có đông đồng bào dân

tộc thiểu số sinh sống, đồng thời, xây dựng các cơ

chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thuận

lợi cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế biên giới

gắn với phát huy lợi thế về dịch vụ, du lịch, tạo

đòn bẩy phát triển vùng có đông đồng bào dân tộc

Khmer sinh sống

Việc triển khai, thực hiện có hiệu quả các chính

sách giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc

Khmer, đem lại nhiều kết quả quan trọng, góp

phần vào phát triển kinh tế - xã hội của địa

phương theo hướng bền vững, đặc biệt là vùng có

đông đồng bào dân tộc Khmer ở 02 huyện Tịnh

Biên và Tri Tôn, có nhiều chuyển biến tích cực,

bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc rõ nét, tỷ lệ

hộ nghèo giảm, đời sống của một bộ phận khá lớn

đồng bào dân tộc Khmer ngày càng được nâng

lên, cụ thể như sau:

Đối với công tác đào tạo nghề và giải quyết việc

làm, Tỉnh tập trung huy động được nhiều nguồn

lực từ Nhà nước và xã hội để chăm lo cho các đối

tượng khó khăn với kinh phí năm sau cao hơn

năm trước (tổng nguồn lực đầu tư hàng năm từ

1.000 - 1.700 tỷ đồng) Hầu hết các địa phương,

nhất là cấp xã tích cực tổ chức triển khai các

chính sách an sinh xã hội trên địa bàn đảm bảo kịp

thời đưa chính sách đến người dân ; đa số thành

viên trong tổ an sinh xã hội ở cấp xã đã tiếp cận

được các chính sách và đề xuất nhiều giải pháp

thực hiện có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực

tế ở từng địa phương Các địa phương chú trọng

thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho

người lao động Ngoài hỗ trợ đào tạo nghề, vốn

giải quyết việc làm tại chỗ, nhiều địa phương đã

gắn kết với các doanh nghiệp trong và ngoài Tỉnh

để đưa lao động đi làm việc Kết quả giải quyết

việc làm đều đạt và vượt chỉ tiêu hằng năm (bình

quân giải quyết việc làm thường xuyên khoảng 35.000 người/năm)

Đối với công tác giảm nghèo, Tỉnh đã tập trung phát triển kinh tế - xã hội, triển khai các chính sách giảm nghèo và giải quyết việc làm; phát động nhiều phong trào giúp nhau giảm nghèo đạt hiệu quả thiết thực, nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm khá mạnh, cụ thể: tỷ lệ hộ nghèo chung cả Tỉnh (theo Quyết định 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) từ 13,15% (năm 2007), với 49.198 hộ giảm xuống còn 3,59% (cuối năm 2010), với 18.756 hộ, tỷ lệ bình quân giảm 1,8%/năm Căn cứ chuẩn nghèo mới (theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) vào cuối năm 2011 là 7,84% (tương đương 41.281 hộ), giảm xuống còn 4,67% (tương đương 26.945 hộ) vào cuối năm 2013, tỷ lệ bình quân giảm 1,21%/năm Cuối năm 2014 còn 3,65% (tương đương 19.840 hộ), tỷ lệ bình quân giảm 1,31%/năm, đến cuối năm 2015 toàn Tỉnh giảm

còn 2,5% (tương đương 13.500 hộ), giảm bình quân 1,15%/năm Như vậy, trong 05 năm hộ nghèo giảm 6,78% (bình quân hàng năm giảm gần 1,40% ) Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 (Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) đầu năm 2016 trên địa bàn Tỉnh có 45.789 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 8,45%, cuối năm 2016 giảm còn 6,75% (tương đương 36.726 hộ) giảm 1,7%/năm Đến cuối năm

2017, hộ nghèo toàn Tỉnh còn 28.461 hộ, chiếm tỷ

lệ 5,24% giảm 1,51%

Đối với vùng dân tộc thiểu số cũng có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống từng bước được nâng lên thông qua các chương trình, dự án đầu tư của Trung ương và địa phương Theo thống kê của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trong thời gian qua giảm từ 31,43%, với 6.895 hộ (năm 2007) xuống còn 20,5%, với 4.550 hộ (năm

Trang 7

2010), bình quân giảm 2,73%/năm, với 586

hộ/năm (chuẩn cũ); tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu

số giảm từ 22,70% (tương đương 5.950 hộ) năm

2011 xuống còn 17,37% (tương đương 4.870 hộ)

vào cuối năm 2013 (chuẩn mới) Cuối năm 2014

giảm còn 14,55% (tương đương 4.080 hộ) giảm

bình quân 2,82%/năm Đến cuối năm 2015, toàn

Tỉnh giảm còn 13,07% (tương đương 3.663 hộ)

giảm 1,48%/năm Hộ dân tộc thiểu số trong 05

năm giảm 15,12% (bình quân hàng năm giảm trên

3%) Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai

đoạn 2016 - 2020 (Quyết định số

59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) đầu năm 2016 có

7.295 hộ, tỷ lệ 27,46%, cuối năm 2016 giảm còn

24,17% (tương đương 6.593 hộ) giảm bình quân

3,29%/năm, đến cuối năm 2017 giảm còn 21,48%

(tương đương 5.721 hộ) giảm bình quân 2,69%/năm

Riêng tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer trong thời gian qua giảm nhanh qua các năm: (1) Theo chuẩn nghèo cũ, tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer giảm từ 31,73% (tương đương 7.171 hộ) đầu năm 2011 xuống còn 24,72% (tương đương 5.587 hộ) cuối năm 2011; đến cuối năm 2012 giảm còn 24,67% (tương đương 5.575 hộ), giảm xuống còn 19,14% (tương đương 4.616 hộ) vào cuối năm 2013; cuối năm

2014 giảm còn 16,1% (tương đương 3.882 hộ); đến cuối năm 2015 giảm còn 14,99% (tương đương 3.487 hộ) Hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer trong 05 năm giảm 16,74% (bình quân hàng năm giảm trên 3,35%)

Hình 1 Thống kê tỷ lệ hộ nghèo dân tộc Khmer theo chuẩn nghèo cũ

(Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang)

(2) Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn

2016 - 2020 (Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của

Thủ tướng Chính phủ), tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng

bào dân tộc Khmer giảm từ 32,29% (tương đương

6.949 hộ) đầu năm 2016 xuống còn 27,76% (tương đương 6.268 hộ) cuối năm 2016, đến cuối năm 2017 giảm còn 24,85% (tương đương 5.432

hộ)

31.73

19.14

16.1

14.99

0

5

10

15

20

25

30

35

Đầu năm 2011 Cuối năm

2011

Cuối năm 2012

Cuối năm 2013

Cuối năm 2014

Cuối năm 2015

Trang 8

Hình 2 Thống kê tỷ lệ hộ nghèo dân tộc Khmer theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều

(Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang)

3.2 Nh ững hạn chế và nguyên nhân

3.2.1 Nh ững hạn chế

Một là, nước ta có quá nhiều chính sách về giảm

nghèo nên gây ra lúng túng, khó khăn trong triển

khai Việc có quá nhiều chính sách về giảm nghèo

được ban hành, dẫn đến tình trạng tản mạn và

trùng lặp gây khó khăn cho địa phương trong quá

trình triển khai thực hiện chính sách trên thực tế

Cán bộ triển khai trực tiếp mất nhiều thời gian

trong tập huấn, tìm hiểu chính sách

Hai là, nhiều chính sách giảm nghèo chưa nhằm

vào nâng cao năng lực tự thoát nghèo cho người

nghèo Một số chính sách giảm nghèo mang tính

bao cấp, hỗ trợ trực tiếp nên hình thành tâm lý ỷ

lại, thụ động, trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước

ở một bộ phận người nghèo Việc này tạo ra hệ

lụy không mong muốn của chính sách, đó là

người dân không muốn thoát nghèo để được

hưởng lợi từ chính sách giảm nghèo và cán bộ cơ

sở cũng không muốn địa phương mình thoát

nghèo để được hưởng hỗ trợ

Ba là, mức hỗ trợ thấp trong nhiều chính sách dẫn tới dàn trải, khó giúp cải thiện cuộc sống người nghèo Nhiều chính sách ban hành căn cứ

trên hiện trạng, nhu cầu nhưng lại chưa cân đối được nguồn lực để thực hiện Chính sách giảm nghèo có nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp nhưng với mức hỗ trợ rất nhỏ lẻ, làm cho sự hỗ trợ trở nên phân tán, ít mang lại hiệu quả trong giảm nghèo mà chỉ có tính động viên, khắc phục một vài khó khăn trước mắt

Chính sách giảm nghèo thường đặt mục tiêu cao, việc phê duyệt dự án thường dựa trên nhu cầu nhưng không dựa trên cân đối nguồn lực, làm cho nhiều đề án, chính sách luôn trong tình trạng không cấp đủ ngân sách Điều này dẫn tới khó giải quyết dứt điểm, kém bền vững trong thực hiện chính sách giảm nghèo

Bốn là, ngân sách dành cho giảm nghèo phân bổ chưa tương xứng giữa đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh tạo thu nhập cho người nghèo Nguồn ngân

sách hỗ trợ cho hộ nghèo phát triển sinh kế chưa

32.29

27.76

24.85

0

5

10

15

20

25

30

35

Trang 9

được chú trọng đúng mức, trong khi đó, việc xây

dựng kết cấu hạ tầng tốn kém nhiều nhưng hiệu

quả mang lại thấp đối với cả vùng, hoặc cơ hội

hưởng lợi từ các công trình mang lại cho tất cả

người dân trong vùng còn hạn chế Thực tế, người

nghèo ít có cơ hội hơn để hưởng lợi do công trình

hạ tầng mang lại so với hộ không nghèo, do họ ít

có điều kiện để đa dạng hóa sinh kế, qua đó khó

tăng thu nhập để thoát nghèo

Năm là, nhiều hộ nghèo triền miên nhưng lại

chưa có chính sách phù hợp đối với họ Nhiều

đồng bào dân tộc Khmer nghèo triền miên, đời

sống rất thấp và không hoặc rất ít có điều kiện để

thoát nghèo Hầu hết những hộ này là đồng bào

dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có

điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Ở

những nơi này do cơ cấu kinh tế chậm chuyển

dịch, chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông

nghiệp, trong khi điều kiện sản xuất nông nghiệp

khó khăn và cơ hội chuyển đổi sang nghề khác rất

thấp nên hầu hết thanh niên lớn lên lại làm nông

nghiệp giống như cha mẹ mình và cái nghèo đeo

bám họ từ đời này sang đời khác Vì vậy, họ rơi

vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói không thoát ra

được

Sáu là, nhiều hộ thoát nghèo nhưng lại rất dễ tái

nghèo trở lại Hộ mới thoát nghèo, hộ cận nghèo

rất dễ bị tái nghèo trở lại khi gặp phải những rủi

ro hay cú sốc từ bên ngoài Các rủi ro về thiên tai,

thời tiết, dịch bệnh và rủi ro thị trường là những

nguyên nhân chính làm cho hộ nghèo thoát nghèo

không bền vững Điều này cho thấy cần có các

chính sách giảm nghèo và chính sách bảo hiểm

cũng như chính sách giúp người dân giảm thiểu và

thích ứng với rủi ro

Bảy là, chính sách giảm nghèo hiện tại chủ yếu

tập trung vào tăng thu nhập cho người nghèo,

chưa chú trọng đúng mức việc tăng phúc lợi cho

người nghèo Mặc dù thu nhập là chỉ tiêu quan

trọng nhưng thu nhập cũng chỉ là điều kiện cần để

nâng cao phúc lợi cho người dân nói chung và

người nghèo nói riêng Việc hỗ trợ để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cũng quan trọng không kém với việc hỗ trợ, tạo điều kiện để tăng thu nhập

3.2.2 Nguyên nhân c ủa hạn chế

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy những hạn chế trên đây là do những nguyên nhân khách quan

và chủ quan sau đây:

* Nguyên nhân khách quan:

Th ứ nhất, An Giang là tỉnh đông dân nhất Đồng

bằng sông Cửu Long, vị trí địa lý cách xa trung tâm lớn, phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nền kinh tế của Tỉnh tăng trưởng chưa ổn định, thiếu bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, những giải pháp tạo việc làm có thu nhập cho người nghèo chưa cơ bản và thiếu ổn định (chủ yếu là sản xuất nhỏ gia đình); thị trường tiêu thụ, xuất khẩu nông sản gặp khó khăn, tình trạng “trúng mùa, rớt giá” diễn ra thường xuyên, gây khó khăn cho cả doanh nghiệp và người dân Mặt khác, thiên tai, lũ lụt hàng năm, luôn làm biến động về tăng giảm hộ nghèo, hàng năm hộ nghèo giảm nhiều nhưng phát sinh mới cũng cao

Thứ hai, địa bàn đầu tư chương trình, chính sách

dân tộc là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên

giới nên hầu hết đều gặp những khó khăn nhất định về cơ sở hạ tầng, môi trường sinh hoạt cũng như về trình độ dân trí

Th ứ ba, việc thiếu nhà ở, đất ở của đồng bào dân

tộc là do trước đây vùng đất này còn nhiễm phèn nặng, đất đai khó canh tác, hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh, thiếu hệ thống tưới tiêu, nên nhiều bà con đã bỏ đất đai, nhà ở đi nơi khác làm ăn sinh sống

Th ứ tư, tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn

xã hội nhất là trong vùng dân tộc, biên giới tiềm

ẩn nhiều diễn biến phức tạp Tình trạng tranh

chấp, khiếu kiện có liên quan đến đất đai diễn

biến phức tạp

Trang 10

* Nguyên nhân chủ quan:

Th ứ nhất, việc triển khai các chính sách, dự án

giảm nghèo đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu

số đòi hỏi có nhiều nguồn vốn, suất đầu tư lớn

Trong khi đó, nguồn vốn phân bổ của Trung ương

về địa phương để triển khai, thực hiện các chính

sách dân tộc còn phân tán nhỏ lẻ, đầu tư dàn trải,

không tập trung, kinh phí được cấp quá thấp

không tương xứng với quy mô đòi hỏi được đầu

tư của địa phương, từ đó, việc thực hiện chính

sách chưa đạt hiệu quả cao, kinh tế - xã hội vùng

đồng bào dân tộc còn nhiều bất cập, chưa mang

tính ổn định

Thứ hai, trình độ dân trí trong đồng bào dân tộc

còn thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu, điểm

xuất phát về kinh tế - xã hội thấp Nhiều bà con

dân tộc còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính

sách hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động phát

huy hết nội lực, cố gắng vươn lên thoát nghèo

Thứ ba, ở vùng nông thôn, nhất là đồng bào dân

tộc thiểu số, việc sinh con thứ ba trở lên vẫn còn

phổ biến, với quan niệm gia đình đông con sẽ có

đủ nguồn nhân lực giúp ích cho việc canh tác,

trồng trọt được thuận lợi; sau khi con cái lập gia

đình, lại có nhu cầu có chỗ ở riêng, tách hộ Ngoài

ra, đa số người dân tộc nghèo thường đi làm thuê

mướn theo thời vụ hoặc đi làm ăn xa, dài hạn

Những người này khi trở về hoặc những người từ

nơi khác đến sinh sống lại có nhu cầu về nơi ở,

nơi làm ăn, nên hộ gia đình thiếu nhà ở, đất ở tiếp

tục phát sinh

Thứ tư, một số cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt

trận và các đoàn thể chưa nhận thức đầy đủ ý

nghĩa chiến lược và vị trí, tầm quan trọng của

công tác dân tộc Việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức

thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung

ương và Tỉnh về thực hiện công tác dân tộc có nơi

chưa thật tốt Năng lực lãnh đạo của một số cấp

uỷ, chính quyền ở những vùng có đông đồng bào

dân tộc thiểu số còn hạn chế Việc vận dụng, cụ

thể hoá chủ trương, nghị quyết của cấp trên thiếu

sáng tạo, chưa sát với tình hình cơ sở Một số địa phương (các phường, xã) còn chậm trong xây dựng kế hoạch xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, có đăng ký chỉ tiêu nhưng chưa đề ra

giải pháp cụ thể, phù hợp để thực hiện các chỉ tiêu

đó

Th ứ năm, đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số

chưa đáp ứng yêu cầu Cán bộ chính quyền, mặt trận, các đoàn thể ở địa bàn có đông đồng bào dân tộc phần lớn không biết nói tiếng dân tộc, am hiểu phong tục tập quán, sinh hoạt văn hoá của đồng bào còn ít, từ đó làm hạn chế công tác tuyên truyền, vận động, thực hiện chính sách, chương trình, dự án của Chính phủ

4 PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI

ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở AN GIANG

4.1 Phương hướng cơ bản

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020 xác định:

“Giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo thêm nhiều việc làm Nâng chất lượng dạy nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững; nâng cao tỷ lệ xuất khẩu lao động chất lượng cao Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm sóc người có công, công tác bình đẳng giới và các quyền trẻ

em Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn 2016 - 2020) bình quân 1,5%/năm” (Tỉnh ủy An Giang,

2015, tr 8) Đồng thời, phương hướng giải quyết vấn đề giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang, Tỉnh cần tập trung một số phương hướng cơ bản sau:

M ột là, đa dạng hoá các nguồn lực và phương

thức thực hiện công tác giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế Nhà nước cần đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và

Ngày đăng: 09/01/2020, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w