1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long từ đầu thế kỷ XXI đến nay thành tựu, hạn chế và khuyến nghị

20 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 753,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nông nghiệp từ lâu đã đóng vai trò quan trọng giúp phát triển kinh tế đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức. Vì vậy, nhìn nhận lại các chính sách phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long cùng những thành tựu và hạn chế là cần thiết và có ý nghĩa thời sự. Bài viết điểm lại những chính sách tiêu biểu của Đảng và Nhà nước từ đầu thế kỷ XXI đến nay. Qua đó, bài viết trình bày những thành tựu tiêu biểu và làm rõ những hạn chế để trên cơ sở đó đề ra những khuyến nghị góp phần phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới.

Trang 1

48

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

TỪ ĐẦU THẾ KỶ XXI ĐẾN NAY THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ KHUYẾN NGHỊ

NCS Huỳnh Tâm Sáng – Hoàng Văn Tuấn TÓM TẮT

Nông nghiệp từ lâu đã đóng vai trò quan trọng giúp phát triển kinh tế đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức Vì vậy, nhìn nhận lại các chính sách phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long cùng những thành tựu

và hạn chế là cần thiết và có ý nghĩa thời sự Bài viết điểm lại những chính sách tiêu biểu của Đảng và Nhà nước từ đầu thế kỷ XXI đến nay Qua đó, bài viết trình bày những thành tựu tiêu biểu và làm rõ những hạn chế để trên cơ sở

đó đề ra những khuyến nghị góp phần phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới

Từ khóa: nông nghiệp, đồng bằng sông Cửu Long, thành tựu, hạn chế,

thách thức

1 Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long là phần lãnh thổ nằm ở cực Nam của Tổ quốc

và nằm ở hạ lưu sông Mekong, phía Đông Bắc giáp Thành phố Hồ Chí Minh, Đông và Nam giáp Biển Đông, Bắc giáp Campuchia, Tây giáp Biển Đông và vịnh Thái Lan Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu nhất của Đông Nam Á với diện tích tự nhiên gần 4 triệu

ha và dân số trên 17 triệu người1, bao gồm “các dân tộc Việt, Hoa, Chăm, Khmer cùng cộng cư trên vùng đất này đã tạo nên một nguồn lực to lớn trong

 Trường Đại học Thủ Dầu Một

 Trường Đại học Thủ Dầu Một

1 Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và Trung tâm thông tin Sài Gòn (2005), Tây Nam Bộ tiến vào thế

kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 17

Trang 2

49

việc khai khẩn và phát triển đồng bằng sông Cửu Long”1 Xét về mặt địa giới

hành chính, đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh thành trên tổng số 63 tỉnh

thành của cả nước: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà

Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và

Thành phố Cần Thơ Trong 13 tỉnh thành, đồng bằng sông Cửu Long có 6 tỉnh

thành không có biển (An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Long An) và

7 tỉnh có biển (Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên

Giang, Cà Mau) Là vùng nông nghiệp trọng điểm của cả nước và sở hữu nhiều

nguồn lực và tiềm năng phát triển, đồng bằng sông Cửu Long giữ vị trí trọng

yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tây Nam Bộ nói riêng và cả

nước nói chung2

Tuy là một vùng “đất mới” (cả theo nghĩa địa chất và nghĩa lịch sử)

nhưng đồng bằng sông Cửu Long sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển

nông nghiệp, từ điều kiện tự nhiên đến điều kiện kinh tế - xã hội Về điều kiện

tự nhiên, trước hết phải kể đến khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long có nền

nhiệt cao và ổn định trong toàn vùng nên có thể phát triển một nền nông nghiệp

nhiệt đới với nhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi, tạo nên sự đa dạng trong sản

xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp Thứ hai là đất đai,

được lũ bồi đắp phù sa hàng năm nên đất đai của vùng rất màu mỡ Thêm nữa,

đồng bằng sông Cửu Long còn có khá nhiều loại đất đai khác nhau phục vụ cho

sản xuất nông nghiệp, bao gồm: 1,2 triệu ha đất phù sa tốt (chiếm 29,7%), 1,6

triệu ha đất phèn (chiếm 40%), 744 ngàn ha đất mặn (chiếm tỷ lệ 16,7%), 134

ngàn ha đất xám (chiếm 3,4%) Thứ ba là nguồn nước, sở hữu khoảng 2.500km

sông rạch tự nhiên, 3.000km kênh nhân tạo và 1 triệu ha bề mặt ngập nước theo

mùa nên đồng bằng sông Cửu Long có nguồn nước mặt rất lớn phục vụ cho

hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó, các con

sông rạch tự nhiên, các kênh đào và khoảng 1 triệu ha bề mặt ngập nước theo

mùa còn là nơi sinh trưởng và cư trú của nhiều hệ động, thực vật thích nghi với

1 Trần Phỏng Diểu, “Sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp

chí Văn hóa – Lịch sử An Giang, số 97, 4-2013, tr 14

2 Phát biểu khai mạc của Thường trực Ban Chỉ đạo Diễn đàn MDEC - Sóc Trăng 2014 Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ - Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng,

Kỷ yếu Hội thảo “Tái cơ cấu phát triển nông nghiệp gắn xây dựng nông thôn mới thích ứng với biến

đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long, 2014, tr 3

Trang 3

50

cả môi trường nước ngọt và mặn, trong đó nhiều loài cho hiệu quả kinh tế cao1

Bên cạnh những thuận lợi về mặt tự nhiên thì ưu điểm về điều kiện kinh

tế - xã hội của đồng bằng sông Cửu Long như nguồn lao động dồi dào, lao

động dần chuyển biến và bước đầu có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, thị trường tiêu thụ rộng lớn và ngày càng được mở rộng… cũng là những ưu thế nổi bật, góp phần phát triển nông nghiệp trong suốt thời gian qua2 Bên cạnh

đó, đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng đồng bằng duy nhất mà

ở đó có bốn tộc người cư trú khác biệt nhau về mọi phương diện Mặc dù các tộc người cư trú có mặt vào các thời điểm khác nhau và giữa các tộc người có

sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, tổ chức xã hội, tôn giáo… nhưng trải qua một khoảng thời gian dài cộng cư trên cùng một lãnh thổ thì các tộc người

đã có quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa3 Những giá trị chung giữa các tộc người là điều kiện căn bản mang đến sự ổn định cho phát triển nông nghiệp

Với những lợi thế từ điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, đặc biệt là thuận lợi về mặt khí hậu, đất đai và nguồn nước, đồng bằng sông Cửu Long đã sớm trở thành vùng trọng điểm về sản xuất lương thực và thực phẩm của cả nước Hàng năm, giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản của vùng chiếm khoảng 40%, kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản chiếm trên 42% tổng nông - lâm - thủy sản của cả nước Sản lượng lúa của vùng chiếm trên 50% tổng sản lượng lúa; hàng năm đóng góp trên 90% sản lượng gạo xuất khẩu và trên 94% giá trị xuất khẩu gạo của cả nước Đồng bằng sông Cửu Long cũng là vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước: diện tích nuôi chiếm 71%, sản lượng nuôi chiếm 72% của cả nước và giá trị xuất khẩu thủy sản chiếm đến 75% của cả nước Ngoài ra, đồng bằng sông Cửu Long còn sở hữu tiềm năng phát triển chăn nuôi

để cung cấp thịt, trứng cho nội vùng, cho cả nước và xuất khẩu Hàng năm có đến 50% sản lượng các sản phẩm vật nuôi chính (thịt, trứng các loại) được đưa

ra khỏi vùng để cung ứng cho các vùng lân cận và tham gia xuất khẩu4 Với

1 Nguyễn Thế Bình, “Nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng, cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập”, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Hà Nội, 2015, tr 225-226

2 Nguyễn Minh Tuệ - Lê Thông (đồng chủ biên) (2013), Địa lí nông – lâm – thủy sản Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, tr 271

3 Ngô Văn Lệ, “Hoạt động “thương hồ” của người Việt Nam Bộ”, Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, Số 3 (22) -2015, tr 18

4 Nguyễn Thế Bình, “Nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng, cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập”, Tlđd, tr 224

Trang 4

51

những tiềm năng kể trên, đồng bằng sông Cửu Long đang tiếp tục đóng góp vào

đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp ở phía

Nam nói riêng và cả nước nói chung

Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long,

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều quyết sách chiến lược nhằm chỉ đạo sản

xuất nông nghiệp của vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tiêu

biểu có thể kể đến Nghị quyết số 21-NQ/TW “Về phương hướng, nhiệm vụ,

giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng đồng

bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001 - 2010” của Bộ Chính trị ban hành ngày

20-1-2003 Đây là Nghị quyết nhằm định hướng phát triển toàn diện cho đồng

bằng sông Cửu Long Trong đó, vấn đề nông nghiệp đã được Nghị quyết chỉ rõ:

đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm nhanh tỷ trọng nông

nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ cả trong GDP và cơ cấu lao

động… đối với nông - lâm - ngư nghiệp phải áp dụng các tiến bộ khoa học -

công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất để chuyển dịch mạnh cơ

cấu kinh tế, tăng năng xuất, chất lượng sản phẩm và giá trị sản xuất trên một

hécta đất canh tác Ổn định sản lượng và nâng cao chất lượng gạo, đảm bảo an

ninh lương thực cho đất nước và góp phần xuất khẩu…1 Nghị quyết số

21-NQ/TW của Bộ Chính trị cung cấp định hướng thống nhất, tổng thể, bền vững

và có tính lâu dài cho sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long Nói

cách khác, Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra một bước đột

phá mới cho việc phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long trong

những năm đầu thế kỷ XXI

Quán triệt Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị, Đảng bộ, chính

quyền các cấp và nhân dân các tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long đã nỗ lực

phấn đấu, thực hiện sáng tạo các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Nhà

nước Tính đến cuối năm 2010, ngành nông - lâm - ngư nghiệp đã có bước phát

triển toàn diện, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, chuyên canh,

phát huy lợi thế sản phẩm chủ lực lúa gạo, thủy sản, trái cây Giá trị sản xuất

toàn ngành tăng từ 56.292 tỉ đồng (năm 2001) lên 101.000 tỉ đồng (năm 2010),

tăng trưởng bình quân trong giai đoạn là 2001-2010 đạt 6,9%/năm; thu nhập

trên mỗi ha đất sản xuất nông nghiệp trong vùng tăng từ 20,2 triệu đồng/ha

1 Nghị quyết số 21-NQ/TW “Về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã

hội và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001 - 2010” của Bộ

Chính trị ban hành ngày 20-1-2003

Trang 5

52

(năm 2001) lên gần 38 triệu đồng/ha (năm 2010); sản xuất trái cây đạt 3,5 triệu tấn, chiếm 70% cả nước; thủy sản đạt 1,9 triệu tấn, chiếm 58% cả nước Sản xuất lúa, trái cây, nuôi trồng thủy sản cũng gặt hái được nhiều tiến bộ rõ nét khi

đã hình thành được một số mô hình tập trung chuyên canh lúa, cây ăn trái và thủy sản, áp dụng công nghệ cao, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, tăng lợi thế cạnh tranh trên thương trường trong nước và quốc tế1 Những thành tựu đạt được có ý nghĩa quan trọng giúp thúc đẩy công cuộc đổi mới cho cả vùng

Tiếp đến, trên cơ sở xem xét Báo cáo kết quả tổng kết của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và ý kiến của các cơ quan liên quan sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 14-8-2012, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận

số 28-KL/TW “Về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã

hội và bảo đảm an ninh quốc phòng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2011-2020” với mục tiêu và phương hướng phát triển đồng bằng sông Cửu Long

thành vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng hiện đại, phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ cho nông nghiệp với tốc

độ tăng trưởng cao, bền vững Phát triển mạnh kinh tế biển, xây dựng ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia có quy mô lớn, hiện đại, sức cạnh tranh cao… Tập trung hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Phát triển công nghiệp năng lượng, sinh hóa, công nghiệp chế tác trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp Hình thành cơ cấu hệ thống đê điều, cống đập ngăn mặn, ứng phó với nước biển dâng và tác động của thượng nguồn sông Mekong

Để cụ thể hóa những mục tiêu và phương hướng của Kết luận số 28-KL/TW, Bộ Chính trị đã đề ra một số nhiệm vụ và giải pháp thực hiện cơ bản đến năm 2020, trong đó chú trọng: (i) điều chỉnh quy hoạch theo hướng khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, phát huy sức mạnh tổng thể của vùng, hình thành vùng kinh tế công nghiệp chế biến phục vụ sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản; (ii) xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô vừa và lớn theo hướng liên doanh, liên kết chặt chẽ, phát triển bền vững Thực hiện tốt việc giữ 1,7 triệu ha đất trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020; đồng thời đảm bảo yêu cầu dự trữ 4 triệu tấn lúa cho quốc gia Triển khai nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp nhằm nâng giá trị sản xuất trên diện tích nuôi trồng thuỷ sản và canh tác nông

1 Nguyễn Văn Cường, “Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu ngân sách vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020”, Tạp chí Phát triển & Hội nhập, Số 11 (21) - 2013, tr 85

Trang 6

53

nghiệp lên gấp 1,2 đến 1,5 lần so với năm 2010; (iii) Đầu tư, nâng cấp mở rộng,

chỉnh trang các trung tâm thương mại, chợ nông sản, thuỷ sản theo hướng văn

minh, hiện đại Khai thông liên vận, thông quan các khu kinh tế cửa khẩu, các

chợ biên giới Xây dựng và bảo vệ thương hiệu hàng hoá sản phẩm chủ lực của

vùng…1

Nhìn chung, những chủ trương phát triển nông nghiệp cho đồng bằng

sông Cửu Long mà Bộ Chính trị đề ra trong Kết luận số 28-KL/TW là cụ thể và

toàn diện hơn so với những chủ trương trong Nghị quyết số 21-NQ/TW Trong

đó, chủ trương tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa của

Kết luận số 28-KL/TW có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nông nghiệp

của vùng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Từng bước chuyển nền sản

xuất nông nghiệp truyền thống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sang nền sản

xuất nông nghiệp với công nghệ cao, góp phần đưa kinh tế phát triển, tạo công

ăn việc làm, làm tăng thu nhập cho dân cư nông thôn, tạo tiền đề để giải quyết

hàng loạt các vấn đề chính trị - xã hội của vùng, đưa nông thôn vùng đồng bằng

sông Cửu Long tiến lên văn minh hiện đại2 Bên cạnh đó, sự phát triển từ các

chủ trương cho thấy Đảng ta đang đi đúng hướng với những gì đã khẳng định

trong Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về

nông nghiệp, nông dân, nông thôn là: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”3

Bên cạnh đó, để cụ thể hóa những mục tiêu và phương hướng của Kết

luận số 28-KL/TW, ngày 21-11-2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết

định số 2270/QĐ-TTg về “Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận số 28-KL/TW

ngày 14 tháng 8 năm 2012 của Bộ chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải

pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng

bằng sông Cửu Long đến năm 2020” với một số nhiệm vụ cơ bản là: (i) hoàn

1 Kết luận số 28-KL/TW, ngày 14/8/2012 của Ban Chấp hành Trung ương “Về phương

hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng

bằng Sông Cửu Long, thời kỳ 2011 – 2020”, Cổng thông tin Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh, tại địa chỉ:

http://hatinh.dcs.vn/vanban/view/index/id/494 , truy cập ngày 2/12/2016

2 Phạm Ngọc Hòa, “Một số vấn đề đặt ra từ thực tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay”, Tạp chí Phát triển Khoa học & Công

nghệ, tập 18, số X1-2015, tr 15

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng

khóa X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 124

Trang 7

54

thiện quy hoạch nông nghiệp, nông thôn đồng bằng sông Cửu Long đến năm

2020 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng; (ii) xây dựng kế hoạch đầu tư cho sản xuất lúa, gạo, cây ăn quả, nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và xuất khẩu tôm, cá tra, ba sa đồng bằng sông Cửu Long Quy hoạch và xây dựng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Đầu tư xây dựng các công trình chống ngập úng cho các đô thị lớn đồng bằng sông Cửu Long; (iii) hoàn thành các dự án thuộc chương trình đầu tư khu neo đậu, tránh trú bão cho tàu cá; dự

án thuộc chương trình củng cố nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển; tổ chức triển khai thực hiện các chương trình như bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng nông thôn mới, đề án dự trữ lúa gạo nhằm đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực ; (iv) rà soát, điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách, các Đề án, chương trình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp đồng bằng sông Cửu Long đến năm

2020, tầm nhìn đến 20501

Tuy nhiên, trước khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 28-KL/TW khoảng hơn một tháng thì vào ngày 19-7-2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban

hành Quyết định số 939/QĐ-TTg “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển

kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020” Nghị quyết nhấn

mạnh quan điểm phát huy tiềm năng, lợi thế của các địa phương trong vùng, nhất là lợi thế về sản xuất nông nghiệp, thủy sản và kinh tế biển với mục tiêu tổng quát là xây dựng và phát triển đồng bằng sông Cửu Long thành vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp hàng hóa và thủy sản của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo hướng bền vững Trong đó những nhiệm vụ cơ bản, bao

gồm: một là, phát triển đồng bằng sông Cửu Long thành vùng trọng điểm về

phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; sản phẩm xuất khẩu chính của cả nước với hai mặt hàng chiến lược là lúa gạo và thuỷ sản; hình thành các khu, vùng chuyên canh sản xuất lớn ứng dụng công nghệ cao, gắn với việc phát triển nông thôn mới; tiếp tục chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo định hướng của thị trường Phấn đấu tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân 5,2%/năm giai đoạn

2011-2015 và tăng 4,9%/năm giai đoạn 2016-2020; hai là, xác định cây lúa là cây

1 Quyết định số 2270/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Ban hành “Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận số 28-KL/TW ngày 14 tháng 8 năm 2012 của Bộ chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020”, Thư viện pháp luật, tại địa chỉ: http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa- hoi/Quyet-dinh-2270-QD-TTg-nam-2013-Ke-hoach-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-dong-bang-song-Cuu-Long-2020-214111.aspx, truy cập ngày 2/12/2016

Trang 8

55

trồng chủ lực, tiếp tục đầu tư khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất để

nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đảm bảo cho tiêu dùng trong nước và

xuất khẩu; khuyến khích phát triển vùng sản xuất lúa lớn, chuyên canh (mô

hình cánh đồng mẫu lớn), nhất là các địa phương có thế mạnh về sản xuất lúa

gạo như An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp; ba là, quy hoạch và phát triển các

vùng cây ăn quả theo hướng tập trung chuyên canh, chú trọng lai tạo các giống

mới có giá trị kinh tế cao; phát triển các cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn

ngày như ngô, bông vải, đậu nành, mía tiến tới thay thế các nông sản nguyên

liệu nhập khẩu Giữ vững diện tích đất trồng lúa đến năm 2020 khoảng 1,8 -

1,85 triệu ha1

Nhằm xây dựng các nội dung cho lộ trình phát triển đồng bằng sông

Cửu Long toàn diện hơn đến năm 2020, ngày 12-2-2014, Thủ tướng Chính phủ

đã phê duyệt quyết định số 245/QĐ-TTg về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể

phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu

Long đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” với mục tiêu tổng quát là xây

dựng nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, đa dạng, cạnh tranh và hiệu quả, bền

vững Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản giai đoạn

2011-2015 đạt bình quân 5,4%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt 5,0%/năm Trong đó,

định hướng phát triển nông nghiệp là “thâm canh tăng năng suất và nâng cao

chất lượng lúa Duy trì và ổn định diện tích đất lúa đến năm 2020 khoảng 772,2

nghìn ha (trong đó đất chuyên lúa là 720,7 nghìn ha) Diện tích cây ăn quả

khoảng 68 nghìn ha”2 Quy hoạch này là cơ sở cho việc lập điều chỉnh, trình

duyệt và triển khai thực hiện các quy hoạch ngành, lĩnh vực; quy hoạch tổng

thể phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long3

1 “Quyết định số 939/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát

triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020”, Cổng Thông tin điện tử Chính

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?mode=de tail&document_id=162

393, truy cập ngày 2/12/2016

2 “Quyết định số 245/QĐ-TTg về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”

vào ngày 12-2-2014, Thư viện Pháp luật, tại địa chỉ:

http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-

mai/Quyet-dinh-245-QD-TTg-nam-2014-Quy-hoach-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-trong-diem-Cuu-Long-2020-2030-221350.aspx, truy cập ngày 2/12/2016

3 Bộ Công Thương, “Phát triển thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp vùng Đồng bằng

sông Cửu Long” trong Kỷ yếu Hội thảo xúc tiến thương mại, đầu tư nông nghiệp, nông thôn vùng

Đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng, ngày 6-11-2014, tr 32

Trang 9

56

Những định hướng trên sẽ góp phần thúc đẩy vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long (thành phố Cần Thơ, tỉnh Cà Mau, tỉnh An Giang và tỉnh Kiên Giang) và đóng góp lớn hơn vào đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Đồng thời, vùng kinh tế trọng điểm cũng là “cầu nối” cho hội nhập kinh tế khu vực và qua đó góp phần vào công cuộc hội nhập kinh tế phía Nam

Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, đồng bằng sông Cửu Long luôn nhận được

sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước trên phương diện hoạt động sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở nhận thức về tầm quan trọng của vùng, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương và định hướng phát triển nông nghiệp Những chủ trương và chính sách phát triển nông nghiệp ngày một cụ thể và toàn diện hơn

2 Những thành tựu tiêu biểu trong sản xuất nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long

Trên cơ sở những chủ trương và định hướng của Đảng và Nhà nước, nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản Trong trồng trọt, trước hết phải kể đến việc sản xuất lương thực Nếu như diện tích cây lương thực có hạt của vùng năm 2000 chỉ đạt 3.803,8 nghìn ha, sản lượng chỉ đạt 1.6754,5 nghìn tấn thì đến năm 2010 diện tích đã tăng lên đến 3.966.505 ha (chiếm 45,6% diện tích cây lương thực có hạt cả nước), sản lượng tăng lên đến 21.770.000 tấn, chiếm 47,7% sản lượng lương thực của cả nước So với các vùng khác thì sản lượng lương thực của vùng cao hơn hẳn1 Trong cơ cấu sản xuất lương thực, lúa là cây lương thực tăng liên tục cả về diện tích gieo trồng, năng suất và sản lượng:

Về sản lượng, tính đến năm 2014 sản lượng lúa đạt khoảng 25,2 triệu

tấn, tăng gấp khoảng 1,5 lần so với năm 2000 (16,702 triệu tấn) Tăng trưởng sản lượng lúa không chỉ giúp đảm bảo nhu cầu lương thực trong vùng, cả nước,

dự trữ quốc gia mà còn phục vụ cho xuất khẩu; về năng suất, tính đến năm

2014 năng suất lúa bình quân đạt 59,4 tạ/ha, tăng gấp khoảng 1,4 lần so với năm 2000 (42,3 tạ/năm) Năng suất tăng nhanh là do nông dân đã tích cực áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học - kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất, nhất là

1 Tổng cục thống kê (2002), Niên giám thống kê 2001, NXB Thống kê, Hà Nội, tr 80-82; Nguyễn Kim Hồng, Nguyễn Thị Bé Ba, “An ninh lương thực vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 32 (66) - 2011, tr 7

Trang 10

57

sử dụng giống mới, biện pháp “3 giảm - 3 tăng”, thu hoạch cơ giới và rút ngắn

được khoảng chênh lệch năng suất giữa các hộ trồng lúa; về diện tích gieo

trồng lúa, từ năm 2000 đến năm 2014, diện tích gieo trồng lúa tăng 301 nghìn

ha, từ 3.945,8 nghìn ha lên 4.246,80 nghìn ha1 trong khi diện tích lúa ở nhiều

vùng khác trong cả nước đang có xu hướng giảm Diện tích gieo trồng lúa ở

đồng bằng sông Cửu Long gia tăng đã góp phần quan trọng ổn định diện tích

gieo trồng lúa của đất nước2 Nguyên nhân diện tích gieo trồng lúa gia tăng là

do hệ thống thủy lợi được đầu tư hoàn thiện và phát huy hiệu quả, nhất là hệ

thống kiểm soát lũ, dẫn nước vào sâu nội đồng vùng Tứ giác Long Xuyên và

Đồng Tháp Mười, hệ thống kiểm soát mặn ngọt vùng Bán đảo Cà Mau và các

khu vực ven Biển Đông được hoàn thành và đưa vào sử dụng Hệ thống thủy lợi

ngày càng hoàn thiện không chỉ đảm bảo sản xuất lúa ổn định và đạt hiệu quả

cao mà còn tạo thuận lợi cho khai hoang, phục hóa diện tích đất chưa sử dụng

để đưa vào sản xuất3

Bên cạnh cây lúa, một số cây loại cây lương thực khác cũng đạt được

nhịp độ tăng trưởng ở mức tương đối cao Tiêu biểu có thể kể đến sự tăng

nhanh cả về diện tích, sản lượng và năng suất của cây ngô Diện tích ngô tăng

từ 19 nghìn ha năm 2000 lên 37,7 nghìn ha năm 2010 Sản lượng ngô cũng tăng

tương ứng từ 51,8 nghìn tấn năm 2000 lên 200,4 nghìn tấn năm 2010 Nhờ áp

dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật về giống, phân bón nên năng suất ngô

của vùng cũng tăng nhanh, từ năng xuất là 27,3 tạ/ha năm 2000 tăng lên 53,2

tạ/ha năm 2010, cao hơn năng suất trung bình của cả nước 1,3 lần (cả nước 41,1

tạ/ha năm 2010)4; hay là sự tăng nhanh cả về diện tích, sản lượng và năng suất

của cây khoai lang Diện tích khoai lang tăng từ 9,9 nghìn ha năm 2000 lên

khoảng trên 20 nghìn ha năm 2013, sản lượng khoai lang tăng từ 124,1 nghìn

tấn năm 2000 lên khoảng 486 nghìn tấn năm 2013, năng suất cũng theo đó đạt

1 Nguyễn Hoàng Đan, Nguyễn Khắc Thời, Bùi Thị Ngọc Dung, “Đánh giá tình hình sử dụng

đất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Tập 13, Số 8 – 2015, tr 1438;

Lê Thanh Tùng, “Sản xuất lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2000-2010”, Viện Khoa học

Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, 22/1/2014, tại địa chỉ:

http://iasvn.org/chuyen-muc/San-xuat-lua-o-Dong-bang-Song-Cuu-Long-giai-doan-2000-2010-4540.html, truy cập ngày 3/12/2014

2 Nguyễn Minh Tuệ - Lê Thông (chủ biên) (2013), Địa lí nông – lâm – thủy sản Việt Nam,

Sđd, tr 273

3 Nguyễn Hoàng Đan, Nguyễn Khắc Thời, Bùi Thị Ngọc Dung, “Đánh giá tình hình sử dụng

đất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Tlđd, tr 1436

4 Tổng cục thống kê (2002), Niên giám thống kê 2001, Sđd, tr 108, 110, 112; Nguyễn Minh

Tuệ - Lê Thông (chủ biên) (2013), Địa lí nông – lâm – thủy sản Việt Nam, Sđd, tr 274

Ngày đăng: 09/01/2020, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w