1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Vai trò của học tập thông qua hợp tác trong áp dụng các chiến lược quản lý xói mòn đất trong sản xuất ngô và cải thiện sinh kế nông hộ

5 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 235,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản xuất ngô là nguồn thu nhập chính và cũng là cơ hội để thoát đói nghèo ở vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, ngô thường được trồng trên đất dốc, dẫn đến sói mòn đất và sản xuất ngô không bền vững. Từ những năm 1990, chính phủ Việt Nam và các tổ chức phát triển quốc tế đã tài trợ cho nhiều hoạt động nhằm giải quyết những vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên nghiêm trọng (Nicetic và van de Fliert, 2014; Nguyen, 2015). Tuy nhiên, mặc dù những phương pháp quản lý sói mòn đất hiệu quả đã được xây dựng, việc nhân rộng các phương pháp này vẫn còn rất chậm và có nhiều thách thức (Le và cộng sự, 2003; Ha và cộng sự, 2003). Nguyên nhân chính đó là những phương pháp quản lý đất bền vững được xây dựng bởi các nhà khoa học và họ chưa lường trước được những phương pháp này đòi hỏi lao động tăng thêm đáng kể, dẫn đến thu nhập ròng của người nông dân thấp hơn trong năm áp dụng và thiếu các vật liệu che phủ sẵn có (Nicetic và cộng sự, 2012).

Trang 1

HỘI THẢ

28

Vai trò của học tập thông qua hợp tác trong áp dụng các chiến lược quản lý xói mòn đất trong sản xuất ngô

và cải thiện sinh kế nông hộ

Cơ quan

1 Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hà nội, Việt Nam

2 Trung tâm truyền thông và thay đổi xã hội, Đại học Queensland Australia

3 Trường nông nghiệp và khoa học thực phẩm, Đại học Queensland, Australia

Tác giả đại diện

o.nicetic@uq.edu.au

Từ khóa

Nghiên cứu nông nghiệp cho phát triển (AR4D), tác động, lớp học sản xuất và trường kinh doanh trên đồng ruộng (FF&BS), quản lý sói mòn đất.

Giới thiệu

Tỉnh Sơn La có đặc điểm xã hội, kinh tế và văn hóa đa dạng điển hình của vùng cao Tây Bắc và là địa bàn sinh sống của nhiều nhóm dân tộc thiểu số khác nhau Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm của tỉnh trong thập

kỷ vừa qua đạt trên 10% , tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của Sơn La vẫn ở mức cao (27,01% và 11,86%), với đa số các hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số (MoLISA, 2014)

Sản xuất ngô là nguồn thu nhập chính và cũng là cơ hội để thoát đói nghèo

ở vùng Tây Bắc Tuy nhiên, ngô thường được trồng trên đất dốc, dẫn đến sói mòn đất và sản xuất ngô không bền vững Từ những năm 1990, chính phủ Việt Nam và các tổ chức phát triển quốc tế đã tài trợ cho nhiều hoạt động nhằm giải quyết những vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên ng-hiêm trọng (Nicetic và van de Fliert, 2014; Nguyen, 2015) Tuy nhiên, mặc dù những phương pháp quản lý sói mòn đất hiệu quả đã được xây dựng, việc nhân rộng các phương pháp này vẫn còn rất chậm và có nhiều thách thức (Le và cộng sự, 2003; Ha và cộng sự, 2003) Nguyên nhân chính đó

là những phương pháp quản lý đất bền vững được xây dựng bởi các nhà khoa học và họ chưa lường trước được những phương pháp này đòi hỏi lao động tăng thêm đáng kể, dẫn đến thu nhập ròng của người nông dân thấp hơn trong năm áp dụng và thiếu các vật liệu che phủ sẵn có (Nicetic

và cộng sự, 2012)

Trang 2

NÚI C

29

Dự án ACIAR AGB/2008/002 đã áp dụng hướng tiếp cận nghiên cứu có sự

tham gia và đa ngành nhằm giải quyết các vấn đề quản lý sói mòn trong

bối cảnh kinh tế xã hội phức hợp này bằng cách tăng cường sự tham gia

của nông dân, các cán bộ khuyến nông, các nhà sinh học, nông học, và

khoa học kinh tế, xã hội Thông qua nghiên cứu có sự tham gia, phương

pháp làm đất tối thiểu kết hợp với sử dụng vật liệu che phủ được xác định

là phương pháp dễ làm và khả thi về mặt kinh tế nhất cho áp dụng chiến

lược quản lý sói mòn, và triển khai trên qui mô lớn thông qua các chương

trình lớp học về sản xuất và kinh doanh cho nông dân trên đồng ruộng

(FF&BS) được hỗ trợ bởi chính quyền tỉnh Theo báo cáo của Sở NN&PTNT

tỉnh Sơn La, hơn 6.000 nông dân đã được tập huấn về kỹ thuật quản lý sói

mòn và khoảng 4.000 nông dân sau đó đã áp dụng các phương pháp này

trong vụ ngô năm 2015

Nghiên cứu này đánh giá các phương pháp tiếp cận có sự tham gia và đa

ngành do dự án AGB/2008/002 áp dụng và so sánh với các phương pháp

tiếp cận của các dự án trước đó với mục tiêu xác định mức độ đóng góp

của sự tham gia tích cực của các đối tác địa phương vào quá trình nghiên

cứu và sử dụng truyền thông có mục đích với các nông dân và các tổ chức

có liên quan đến tác động của dự án

Tiếp cận nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá sử dụng khung đánh giá tác động tổng thể dựa trên

khung sinh kế bền vững (Nguyen và cộng sự, 2016) và sử dụng các phương

pháp nghiên cứu định tính khác nhau bao gồm thảo luận nhóm trọng tâm

với nông dân, phỏng vấn bán cấu trúc với nông dân, và phỏng vấn sâu với

các cá nhân chủ chốt bao gồm các lãnh đạo địa phương, cán bộ khuyến

nông và các nhà nghiên cứu nông nghiệp

Kết quả và Thảo luận

Những nghiên cứu nông nghiệp hiện nay và trước đây cũng như những

nỗ lực khuyến nông ở vùng Tây Bắc, Việt Nam thường sử dụng hướng tiếp

cận từ trên xuống và chú trọng vào việc phát triển công nghệ từ bên ngoài

sau đó chuyển giao qua các phương tiện truyền thông đại chúng như tờ

rơi, tài liệu hướng dẫn, đài phát thanh địa phương, các lớp tập huấn ngắn

hạn và các buổi hội thảo trên đồng ruộng Bản sắc văn hóa địa phương và

việc trao quyền cho đối tác địa phương chưa được chú ý trong phát triển

công nghệ thích ứng và định hướng phát triển bền vững cho địa phương

Cùng với các tiếp cận nghiên cứu này, đánh giá tác động của các dự án

cũng được thiết kế từ bên ngoài: tập trung vào những lợi ích kinh tế ngắn

Trang 3

HỘI THẢ

30

hạn và hiệu quả về chi phí dự án đối với các nhà tài trợ và các cơ quan tài trợ hơn là phát triển sinh kế địa phương bền vững

Đánh giá dự án AGB/2008/002 cho thấy dự án đã được triển khai theo

ba giai đoạn liên tục của nghiên cứu có sự tham gia: giai đoạn đầu tiên

là đánh giá nhu cầu và cơ hội với các cộng đồng mục tiêu của dự án; giai đoạn thứ hai thực hiện các thử nghiệm sự tham gia để phát triển hệ thống canh tác ngô bền vững; và giai đoạn ba tiến hành thử nghiệm những hệ thống sản xuất có hứa hẹn trên rộng bằng các thử nghiệm thích ứng, và xây dựng mô hình nhân rộng hệ thống sản xuất thành công

Mức độ tham gia cao của các bên trong thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá dự án nghiên cứu phát triển nông nghiệp dẫn đến các kết quả nghiên cứu phù hợp với điều kiện của người dân địa phương Trong quá trình thực hiện, dự án đã thiết lập được sự hợp tác cao với nông dân và lãnh đạo địa phương tại Sơn La, làm tăng ý thức của họ về sự làm chủ dự án Sựu tham gia tích cực của cán bộ chính quyền địa phương trong xây dựng mô hình nhân rộng, bao gồm chương trình giảng dạy cho các lớp FF&BS, cán bộ khuyến nông được tập huấn về đánh giá học hỏi qua trải nghiệm, các video tập huấn và tài liệu văn bản Những công cụ trên đã được thử nghiệm và hoàn thiện thông qua chương trình thí điểm FF&BS kéo dài theo vụ, đã giúp chính quyền địa phương phối kết hợp việc nhân rộng vào kế hoạch của địa phương và đảm bảo mức kinh phí đáng kể cho tập huấn 6.000 nông dân

Khung đánh giá tác động tổng thể được áp dụng trong nghiên cứu là công

cụ đánh giá tốt cho đánh giá các dự án nghiên cứu cho phát triển nông nghiệp (AR4D) Khung đánh giá có sự tham gia có thể được áp dụng cho các dự án AR4D trong tương lai Tuy nhiên, mức độ tham gia cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với sự sẵn sàng và năng lực tham gia và đóng góp của các đối tác Tương tự như vậy, văn hóa thể chế và những mối quan hệ liên ngành hiện tại cần được nhận biết và hiểu rõ trước khi quyết định mức độ kết nối liên ngành ở giai đoạn bắt đầu

Trang 4

NÚI C

31

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CHÍNH

• Phát triển thực tiễn sản xuất ngô bền vững để giải quyết vấn đề sói mòn đất

• Đa dạng hóa hệ thống canh tác với ngô là cây trồng chính

• Hỗ trợ nhân rộng công nghệ thành công vào các chiến phát triển của chính phủ

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

• Phương pháp tiếp cận có sự tham gia

• Tiếp cận đa ngành

• Tiếp cận đa tổ chức

• Hệ thống giám sát và đánh giá có sự tham gia (PM&E)

GIAI ĐOẠN NGHIÊN CỨU

• Nghiên cứu chẩn đoán có sự tham gia

• Phát triển công nghệ có sự tham gia

• Xây dựng mô hình nhân rộng về quản lý sói mòn

• Đánh giá

KINH TẾ

VẬT CHẤT

XÃ HỘI

Hình 1: Những hợp phần chính của dự án ACIAR AGB 2008/002

Nguồn: Tài liệu dự án ACIAR Tây Bắc và phân tích dữ liệu sơ cấp

Tài liệu tham khảo

1 Ha, D.T., Le, Q D., Chabanne, A., Husson, O., Seguy L., Forest, F and P Julien

(2003) ‘Conservation farming on sloping lands’ In: Upland agricultural

devel-opment current status and orientation (edited by Q D Le, V B Nguyen and

D T Ha), Agricultural Publishing House: Hanoi, 96-104 Le, Q D., Ha, D.T.,

Cha-banne, A., Husson, O and P Julien (2003) ‘Towards an agro-ecology research

program for upland agricultural development’ In: Upland agricultural

devel-opment current status and orientation (edited by Q D Le, V B Nguyen and D

T Ha), Agricultural Publishing House: Hanoi, 84-95.

2 MoLISA (2014) Decision 529/QD-LDTBXH dated 6 May 2014 on Releasing the

results of general census on poor households and marginally poor households

in 2013 Hanoi: Ministry of Labour and Social Affairs (MoLISA).

3 Nguyen, H N (2015) Making agricultural research for development work in

remote Vietnam Media Development -Special Issue: Enabling People’s Voices

to be Heard, 2015(3), 3

Trang 5

HỘI THẢ

32

4 Nguyen, H N., Van de Fliert, E., & Nicetic, O (2016) Chapter 10: How agri-cultural research for development can make a change – Assessing livelihood impacts in the Northwest Highlands of Vietnam In T Mai Van, V Tran Duc, S Leisz J & G Shivakoti (Eds.), Redefining Diversity and Dynamics of Natural Re-sources Management in Asia -Upland Natural ReRe-sources and Social Ecological Systems in Northern Vietnam (Vol 2, pp 155-176): Elsevier.

5 Nicetic, O., Le, H.H., Trinh, D.N., Nguyen, H.P., Kirchhof, G., Pham, T.S., van de Fliert, E and Q.D Le (2012a) ‘Impact of erosion prevention methods on yield and economic benefits of maize production in northwest Vietnam’ In: Conserva-tion Agriculture in Southeast Asia and Beyond (edited by M.J Mulvaney, M.R Reyes, C Chan-Halbrendt, S Boulakia, K Jumpa, C Sukvibool, and S Sombatpa-nit), World Association of Soil and Water Conservation: Beijing, 29-47

6 Nicetic, O and Van de Fliert, E (2014) Changing institutional culture: participa-tory monitoring and evaluation in transdisciplinary research for agricultural development in Vietnam Knowledge Management for Development Journal, Vol 10, No 3

7 Van de Fliert, E., Pham, T V., Do, T M H., Thomas, P., & Nicetic, O (2010) Out

of comfort zones, into realities: Research for development with upland ethnic minority communities in North West Vietnam Paper presented at the 9th Eu-ropean IFSA Symposium, Vienna, Austria.

Ngày đăng: 09/01/2020, 19:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w