Với mục tiêu của luận án là nhằm Xác lập những cơ sở khoa học cho sử dụng hợp lý tài nguyên phục vụ phát triển bền vững (PTBV) ngành nông, lâm nghiệp và dịch vụ trên cơ sở nghiên cứu quy luật hình thành cấu trúc sinh thái cảnh quan lãnh thổ huyện Sa Pa. Mời các bạn cùng tham khảo luận án để nắm bắt được nội dung chi tiết.
Trang 1Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan
phục vụ phát triển bền vững nông lâm
nghiệp và du lịch huyện Sa Pa, tỉnh
Lào Cai : Luận án TS Địa lý tự nhiên:
/ Nguyễn An Thịnh
Lãnh thổ huyện Sa Pa, nơi có đỉnh Fanxipăng 3143,5m cao nhất
Đông Dương nằm trong lớp cảnh quan núi Hoàng Liên Sơn thuộc hệ
cảnh quan (CQ) Việt Nam nhiệt đới-gió mùa, đặc trưng bởi các CQ
núi cao rất độc đáo, đa dạng về tự
nhiên và nhân văn Đây cũng là
một lãnh thổ giầu tiềm năng phát
triển nông lâm nghiệp á nhiệt đới,
một trong hai mươi điểm du lịch
đẹp nhất Việt Nam, nơi có các CQ
rừng kín thường xanh hỗn giao
cây lá rộng lá kim lạnh ẩm với độ đa dạng sinh học cao được bảo tồn
trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên Tuy nhiên, từ khi được người Pháp
phát hiện cho đến nay, việc khai thác tài nguyên của Sa Pa còn thiếu
đồng bộ do chưa có cơ sở khoa học chắc chắn, không đáp ứng được
các tiêu chí của phát triển bền vững Với những tiềm năng và thực
trạng đó, nghiên cứu sử dụng hợp lý lãnh thổ nông lâm nghiệp, du lịch
trở nên cấp thiết trong giai đoạn phát triển hiện nay đối với huyện Sa
Pa
Mục tiêu của luận án là "Xác lập những cơ sở khoa học cho sử
dụng hợp lý tài nguyên phục vụ phát triển bền vững (PTBV) ngành
Khu vực nghiên cứu
nông, lâm nghiệp và du lịch trên cơ sở nghiên cứu quy luật hình thành cấu trúc sinh thái cảnh quan lãnh thổ huyện Sa Pa"
Để thực hiện mục tiêu, năm nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra:
1 Tổng quan các hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan (STCQ)
và xây dựng luận điểm STCQ nhiệt đới-gió mùa phù hợp với mục tiêu
sử dụng hợp lý CQ nông, lâm nghiệp và du lịch huyện Sa Pa
2 Phân tích mối quan hệ của ba hợp phần sinh thái cảnh-quần
xã sinh vật-cộng đồng cư dân trong cấu trúc STCQ lãnh thổ Sa Pa
3 Nghiên cứu diễn thế sinh thái của các CQ điển hình làm cơ sở
nhận biết tính biến động về tài nguyên và môi trường
4 Xây dựng một số bài toán địa lý định lượng và mô hình hóa
GIS để đánh giá CQ
5 Đề xuất định hướng tổ chức không gian phát triển nông, lâm
nghiệp và du lịch phù hợp với cấu trúc STCQ lãnh thổ huyện Sa Pa
Những luận điểm bảo vệ:
- Luận điểm 1: Nằm trong hệ CQ nhiệt đới-gió mùa Việt Nam
và lớp CQ núi Hoàng Liên Sơn, cấu trúc STCQ lãnh thổ Sa Pa được đặc thù bởi sự phân hóa CQ đa dạng theo đai cao (gồm 87 dạng thuộc
3 phụ lớp, 8 kiểu, 11 phụ kiểu CQ và 20 tiểu vùng STCQ) chi phối đặc điểm phân bố của các quần xã sinh vật tự nhiên cùng hoạt động kinh
tế của các nhóm cư dân địa phương
- Luận điểm 2: Hệ thống CQ tự nhiên, CQ văn hóa ở lãnh thổ
Sa Pa có chức năng đặc thù về phát triển nông, lâm nghiệp á nhiệt đới
và du lịch sinh thái miền núi Đánh giá định lượng các CQ này theo tiếp cận KTST là căn cứ khoa học định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên nhằm đảm bảo các tiêu chí của PTBV
Những điểm mới của luận án:
Trang 21 Với việc tích hợp hướng STCQ định lượng của trường phái
Bắc Mỹ-Tây Âu với hướng CQ phát sinh của trường phái Liên Xô
(cũ)-Việt Nam, luận án đã cụ thể hóa hướng tiếp cận sinh thái học, địa
lý định lượng, mô hình hóa GIS trong phân tích cấu trúc và chức năng
CQ của một lãnh thổ miền núi huyện Sa Pa
2 Lần đầu tiên thành lập bản đồ STCQ huyện Sa Pa tỷ lệ lớn
(1:50.000), thể hiện cụ thể sự phân hóa lãnh thổ theo đai cao và giải
thích đặc điểm đa dạng sinh học, đa dạng CQ và diễn thế sinh thái ở
lãnh thổ Sa Pa
3 Xác lập cơ sở khoa học tổ chức lãnh thổ nông, lâm nghiệp và
du lịch huyện Sa Pa theo hướng PTBV, được minh họa cụ thể bằng tập
bản đồ chuyên đề đánh giá và kiến nghị sử dụng CQ
Phạm vi nghiên cứu của luận án: (1) Phạm vi không gian: giới
hạn trong lãnh thổ hành chính huyện Sa Pa, tỷ lệ nghiên cứu 1:50.000;
nghiên cứu lãnh thổ Sa Pa và phụ cận (khu vực Lào Cai, Bảo Thắng,
Bát Xát, Than Uyên) trong mối quan hệ liên vùng ở tỷ lệ 1:100.000;
(2) Phạm vi khoa học: tập trung nghiên cứu cấu trúc STCQ và đánh
giá cho phát triển nông, lâm nghiệp, du lịch điển hình huyện Sa Pa;
định hướng phát triển nông, lâm nghiệp, du lịch trên đơn vị lãnh thổ cơ
sở là dạng CQ và tiểu vùng STCQ
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: (1) Ý nghĩa khoa học: phát triển
lý luận về STCQ nhiệt đới-gió mùa Việt Nam và hướng tiếp cận địa lý
định lượng trong công tác điều tra tổng hợp lãnh thổ Những kết quả
nghiên cứu mẫu tại huyện Sa Pa thể hiện tính điển hình về quy luật
phân hoá STCQ nhiệt đới-gió mùa theo đai cao ở tỷ lệ lớn (1:50.000);
(2) Ý nghĩa thực tiễn: hệ thống cơ sở dữ liệu, các kết luận nghiên cứu
và tập bản đồ chuyên đề của luận án là những tài liệu khoa học có giá
trị mà các nhà quản lý có thể tham khảo khi ra quyết định quy hoạch lãnh thổ theo hướng PTBV tại huyện Sa Pa
Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài gồm: (i) cơ sở dữ liệu về STCQ
do chính NCS khảo sát tại lãnh thổ Sa Pa thời kỳ 2002-2006, bao gồm
cả tập số liệu quan trắc theo đai cao từ Bản Hồ đến đỉnh Fanxipăng năm 2004 và 2005; (ii) các đề tài, dự án về Sa Pa do NCS chủ trì và tham gia; (iii) thừa kế các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước
Luận án gồm 150 trang đánh máy, được trình bày trong 3 chương, có sử dụng 46 bảng, 33 hình và biểu đồ, 26 bản đồ chuyên đề
để minh họa
Trang 3Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU SINH THÁI
CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH HUYỆN SA PA
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN
1.1.1 Tình hình nghiên cứu STCQ: Nhà địa sinh vật người
Đức C Troll (1939) lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “sinh thái cảnh
quan” (landscape ecology), dựa trên quan điểm “hệ sinh thái”
(ecosystem) của Tansley (1935) Mặc dù hiện nay quan niệm về STCQ
được mở rộng và cụ thể hơn, nhưng nhìn chung vẫn chú trọng nhiều
đến đặc trưng sinh thái học và nhân văn của CQ: “STCQ là chuyên
ngành trẻ của sinh thái học hiện đại nghiên cứu mối quan hệ giữa con
người với các CQ kỹ thuật” (Naveh và Lieberman, 1992), “ ảnh
hưởng của cấu trúc CQ đến các quá trình sinh thái” (J.Wiens, 1995),
“ một hướng mới trong nghiên cứu CQ học, xem xét môi trường hình
thành của cả CQ nhân sinh và CQ tự nhiên” (Deconov, 1990), “ chú
trọng đặc biệt đến nội dung sinh thái của địa tổng thể” (P.H.Hải,
1992)
Hiện nay, ở Tây Âu và Bắc Mỹ, STCQ đang đóng vai trò là một
ngành khoa học tổng hợp, liên ngành phục vụ quy hoạch CQ Năm
1992, Phân hội STCQ Thế giới tại Việt Nam (VN-IALE) được thành
lập, góp phần tích cực phát triển hướng nghiên cứu STCQ Tuy vậy,
các công trình đã công bố chưa đủ chuyên sâu để hình thành một quan
niệm thống nhất về STCQ ở Việt Nam
1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở huyện Sa Pa:
liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án có 3 nhóm công trình:
nghiên cứu các hợp phần tự nhiên trong cấu trúc STCQ (Fridland,
1961; L.Đ.An, 1972; N.N.Thìn, 1998; N.A.Thịnh, 2005); nghiên cứu
tác động của hoạt động phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch (N.T.Cầu, 1992; J.Michaud, 1998); nghiên cứu tổng hợp lãnh thổ dưới góc độ phân vùng và phân tích CQ (Viện Địa lý, 1994; V.T.Lập, 1995; N.T.Tiến, 1996; N.C Huần, P.Q.Anh và N.A.Thịnh, 2005)
Các công trình kể trên phần lớn nghiên cứu huyện Sa Pa trong phạm vi tỉnh Lào Cai hoặc lãnh thổ cấp lớn hơn (trên bản đồ tỷ lệ trung bình và nhỏ), chưa có công trình nào đặt kinh tế Sa Pa trong quan hệ liên ngành nông-lâm-du lịch Như vậy, tại lãnh thổ Sa Pa cần thiết có một công trình nghiên cứu tổng hợp theo hướng STCQ ở tỷ lệ lớn, có thể phân tích đồng bộ cả hai hệ thống tự nhiên-nhân văn đến PTBV nông, lâm nghiệp và du lịch
1.2 CÁC LUẬN ĐIỂM VỀ SINH THÁI CẢNH QUAN NHIỆT ĐỚI-GIÓ MÙA VIỆT NAM ỨNG DỤNG TRONG LUẬN ÁN
1.2.1 Hướng tiếp cận sinh thái cảnh quan
Trong nhiều cách tiếp cận nghiên cứu STCQ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, luận án chỉ lựa chọn những luận điểm “nghiên cứu sinh thái học của các CQ” phù hợp định hướng địa lý tổng hợp Do vậy, nghiên cứu của luận án dựa trên cơ sở gắn kết nền tảng lý luận sinh thái hóa CQ học với tiếp cận định lượng của Tây Âu, Bắc Mỹ:
- Tiếp cận sinh thái hóa CQ học thừa kế lý luận CQ phát sinh
của Liên Xô (cũ) và thực tiễn nghiên cứu CQ nhiệt đới-gió mùa ở Việt
Nam, chú trọng khía cạnh sinh thái học của CQ, ưu thế trong phân tích
cấu trúc của lãnh thổ
- Tiếp cận Zonneveld của trường phái STCQ Tây Âu là cách tiếp
cận cấu trúc đứng với đất đai (land) là đối tượng nghiên cứu trung tâm,
ưu thế đánh giá tiềm năng lãnh thổ phục vụ quy hoạch
- Tiếp cận Forman của trường phái STCQ Bắc Mỹ, thừa kế
thuyết địa sinh học đảo (McArthur và Wilson, 1967) và thuyết quần
Trang 4thể biến thái (Levins, 1969), phân tích định lượng các yếu tố cấu trúc
ngang của CQ là mảnh (patch), biên (edge), ranh giới (boundary),
hành lang (corridor) và kiểu khảm (mosaic), ưu thế nghiên cứu sinh
học bảo tồn, đa dạng CQ ở các Khu Bảo tồn
1.2.2 Các luận điểm về sinh thái cảnh quan nhiệt đới-gió mùa
- Quan niệm về STCQ: STCQ là một chuyên ngành khoa học
tổng hợp nghiên cứu tương tác giữa các điều kiện tự nhiên của đơn vị
CQ như các nhân tố sinh thái phát sinh có vai trò quyết định đến sự
hình thành, phát triển của quần xã sinh vật và ảnh hưởng đến phân bố
cùng các hoạt động kinh tế của cộng đồng cư dân trong đơn vị CQ đó
Theo quan niệm này, định hướng nghiên cứu STCQ tại lãnh thổ Sa Pa
chú trọng đến đặc trưng sinh thái và nhân văn của CQ (hình 1.2)
(3) (4)
(3) (5)
(c)
Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu CQ (a), địa-sinh thái (b) và STCQ (c).
(1)(2)(3): các nhân tố vô sinh, (4): sinh vật, (5): sinh vật và con người; (a) và (b) theo
quan điểm của các nhà khoa học thuộc Viện Địa lý Liên Xô cũ (1982).
- Mô hình cấu trúc STCQ nhiệt đới-gió mùa ứng dụng cho lãnh
thổ Sa Pa: trên cơ sở thừa nhận tính phân vị chặt chẽ và tính sinh thái
của từng bậc phân loại CQ trong quan niệm STCQ nhiệt đới-gió mùa
Việt Nam (P.H.Hải, 1992), luận án bổ sung ba đặc trưng về mô hình
cấu trúc STCQ lãnh thổ nghiên cứu, bao gồm: (i) tính phát sinh sinh
thái giữa các yếu tố thành tạo CQ; (ii) đặc trưng hình thành các ưu
hợp, phức hợp trong cấu trúc tổ thành loài của CQ; (iii) phân hóa địa
phương đa dạng do tương tác hoàn lưu-địa hình ở lãnh thổ miền núi
Trong mô hình cấu trúc STCQ lãnh thổ Sa Pa, CQ là đơn vị
phân kiểu, tiểu vùng STCQ là đơn vị phân vùng Tổ hợp các nhân tố
phát sinh là sinh thái cảnh (ecotope, là phức hợp các yếu tố vô cơ)
quyết định cho thuộc tính đặc thù của cấp đơn vị CQ; nhân tố hệ quả là
tổ hợp kiểu thảm thực vật + cộng đồng cư dân Cấu trúc “Sinh thái cảnh + Quần xã Sinh vật + Cộng đồng Cư dân” tương đồng với cấu trúc Hệ Sinh thái Nhân văn Tổng thể (THE) của Egler (1964) và Hệ
Kinh tế Sinh thái (SEES) của P.Q Anh (1996)
1.3 QUAN ĐIỂM, HỆ PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH KHÁI NIỆM
- Các quan điểm nghiên cứu: quan điểm hệ thống và tổng hợp,
quan điểm phát triển bền vững, tiếp cận đa tỷ lệ-đa thời gian
- Phương pháp nghiên cứu: (i) hệ phương pháp nghiên cứu CQ:
tổ chức và chuẩn hóa tư liệu; lát cắt CQ; khảo sát địa thực vật; quan trắc và xử lý số liệu vi khí hậu; đánh giá nhanh nông thôn (RRA); (ii)
hệ phương pháp bản đồ và GIS; (iii) hệ phương pháp địa lý định lượng
- Mô hình khái niệm: thể hiện nội dung của luận án, gồm 7
bước: (1) xác định tính cấp thiết, tổng quan và lý luận; (2) chuẩn hóa các lớp thông tin GIS về STCQ; (3) phân tích các nhân tố tự nhiên và nhân văn; (4) đánh giá CQ; (5) định hướng chiến lược; (6) định hướng
sử dụng hợp lý CQ; (7) đề xuất xây dựng mô hình hệ KTST
Chương 2 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA CÁC CẢNH QUAN LÃNH THỔ HUYỆN SA PA
2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC HỢP PHẦN TRONG CẤU TRÚC SINH THÁI CẢNH QUAN HUYỆN SA PA
Huyện Sa Pa có diện tích 678,64 km2, gồm 17 xã và 1 thị trấn Với vị trí địa lý ở sườn Đông dãy Hoàng Liên Sơn, các nhân tố thành
tạo CQ có những đặc trưng sau: (1) Sinh thái cảnh: thuộc khối núi địa
lũy trên đá biến chất Proterozoi, Paleozoi và đá granit phức hệ Pò Sen,
Yê Yên Sun Khí hậu phân hóa thành 11 kiểu đặc trưng riêng về tổ
Trang 5hợp nhiệt độ, lượng mưa trung bình năm, độ dài mùa lạnh và mùa khô
Thổ nhưỡng phân hóa theo đai cao gồm: đất feralit đỏ vàng núi thấp
(<700m), đất mùn đỏ vàng núi trung bình (700-1700m), đất mùn alit
núi cao (1700-2800m), đất mùn thô than bùn núi cao (>2800m); (2)
Thảm thực vật: vị trí địa lý Sa Pa là nơi tiếp nhận được yếu tố di lưu
Himalaya-Vân Quý, đan xen với yếu tố bản địa Việt Bắc-Hoa Nam
Chính vì vậy, 4 kiểu thảm thực vật nguyên sinh trong lãnh thổ điển
hình về độ đa dạng sinh học cao, cấu thành từ yếu tố Châu Á nhiệt đới
và á nhiệt đới với 1287 loài chiếm ưu thế trên 63,6% tổng số loài.; (3)
Các hoạt động khai thác tài nguyên: được tổng kết thành 8 dạng, vai
trò duy trì CQ bảo tồn, thành tạo CQ rừng thứ sinh và CQ nông
nghiệp
2.2 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC CẢNH QUAN LÃNH THỔ HUYỆN SA
PA THEO HƯỚNG SINH THÁI HỌC
2.2.1 Hệ thống phân loại cảnh quan áp dụng cho thành lập bản đồ
sinh thái cảnh quan huyện Sa Pa tỷ lệ lớn
Bản đồ STCQ là kết quả từ phân tích cấu trúc STCQ của lãnh
thổ, trong đó chỉ rõ phân bố không gian và quy luật phát sinh của
các đơn vị CQ Trên cơ sở phân tích tính ưu việt của nhiều hệ thống
phân loại CQ (Ixatrenkô, 1976; Armand, 1983; P.Q.Anh, 1985, 1996;
Viện Địa lý, 1993), hệ thống của P.H.Hải (1993, 2006) có ưu thế thể
hiện rõ nhất đặc điểm sinh thái của các đơn vị CQ nên được luận án
lựa chọn làm căn cứ xây dựng phù hợp với điều kiện cụ thể của lãnh
thổ Sa Pa, bao gồm 6 cấp: lớp ® phụ lớp ® kiểu ® phụ kiểu ® loại
® dạng CQ Trong đó, cấp phụ lớp thể hiện sự phân hóa lãnh thổ theo
đai cao; cấp loại phản ánh trạng thái hiện tại của CQ trong diễn thế
sinh thái; cấp dạng là đơn vị hình thái phản ánh sự phân hoá chi tiết
trong cấp loại CQ, là đối tượng cơ sở đánh giá và kiến nghị sử dụng hợp lý CQ
2.2.2 Đặc điểm sinh thái của các đơn vị phân loại cảnh quan
Nằm trong hệ CQ nhiệt đới-gió mùa, lãnh thổ Sa Pa thuộc phụ
hệ CQ nhiệt đới-gió mùa có mùa đông lạnh, được đặc trưng bởi tổ
hợp quần xã thực vật bản địa khu hệ Việt Bắc-Hoa Nam và cộng đồng
cư dân Tày, Giáy thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái
Lớp CQ núi: đặc trưng bởi tổ hợp sinh thái cảnh vùng núi ưu
thế quá trình bóc mòn, quần xã thực vật tự nhiên giao thoa giữa yếu tố bản địa á nhiệt đới Việt Bắc-Hoa Nam với luồng di lưu Himalaya-Vân Quý, tập hợp đa dạng giữa các nhóm cư dân ngôn ngữ Tày-Thái (ngữ
hệ Nam Á) cư trú từ hàng nghìn năm với nhóm di trú ngôn ngữ H’mông-Dao (ngữ hệ H’mông-Dao), Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng)
và Việt-Mường (ngữ hệ Nam Á)
3 phụ lớp CQ (núi thấp, núi trung bình và núi cao), gồm 8
kiểu và 11 phụ kiểu CQ
- Phụ lớp CQ núi thấp (<700m) do diện tích hạn chế, nên chỉ
gồm 1 kiểu CQ rừng kín thường xanh cây lá rộng hơi nóng ẩm (K1)
- Phụ lớp CQ núi trung bình (700-1700m) gồm 2 kiểu và 3 phụ
kiểu CQ: kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng mát rất ẩm
(K2); kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng mát ẩm (K3)
- Phụ lớp núi cao (>1700m) gồm 5 kiểu và 7 phụ kiểu CQ: kiểu
rừng kín lùn thường xanh cây lá rộng rét ẩm (K4); kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim rất lạnh rất ẩm (K5); kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim rất lạnh ẩm (K6); kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim lạnh rất ẩm (K7); kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim lạnh ẩm (K8)
Trang 687 dạng CQ được hình thành do diễn thế sinh thái, được xác
định là đơn vị lãnh thổ cơ sở đánh giá cho các mục đích phát triển
2.2.3 Đặc điểm các tiểu vùng sinh thái cảnh quan
Nằm trong vùng STCQ Hoàng Liên Sơn, 20 tiểu vùng STCQ
trong lãnh thổ Sa Pa được phân chia dựa trên dấu hiệu đồng nhất
tương đối của yếu tố sinh thái cảnh, đặc điểm chủ đạo của kiểu thảm
thực vật ưu thế và cộng đồng cư dân Lãnh thổ Sa Pa được chia ra: 4
tiểu vùng STCQ núi cao Hoàng Liên Sơn; 3 tiểu vùng STCQ núi trung
bình Bản Khoang-Tả Phìn; 4 tiểu vùng STCQ núi trung bình Sa Pa-Sa
Pả; 4 tiểu vùng STCQ núi trung bình Lao Chải-Tả Van; 3 tiểu vùng
STCQ núi trung bình Nậm Sài-Nậm Cang; tiểu vùng STCQ núi thấp
Bản Hồ và tiểu vùng STCQ núi trung bình Thanh Kim-Bản Phùng
2.3 NGHIÊN CỨU DIỄN THẾ SINH THÁI THỨ SINH PHỤC HỒI
RỪNG TRÊN CÁC CẢNH QUAN ĐIỂN HÌNH
Đặc điểm loạt diễn thế sinh thái thứ sinh tự nhiên:
- Trên phụ lớp CQ núi thấp: rừng nguyên sinh đã bị tàn phá
Trên CQ trảng cỏ thứ sinh sau nương rẫy, hình thành quần xã rừng tiên
phong ưu thế màng tang (Lisea cubeba), ba soi, huday (Commersonia
spp.) Sau đó là các quần xã thay thế: trảng cây bụi thứ sinh ưu thế cỏ
lào (Eupatorium odaratum), cỏ tranh (Imperata cylindrica); quần hợp
vầu; rừng thứ sinh ưu thế phay, trám trắng (Canarium album), sơn
(Rhus succedanea), dường, giang, sui, vải rừng, nứa (Hình 2.4a)
Hình 2.4a Phẫu đồ CQ trong loạt diễn thế sinh thái
thứ sinh hồi phục rừng trên phụ lớp CQ núi thấp (<700m)
- Trên phụ lớp CQ núi trung bình: rừng thứ sinh trên CQ có thổ
nhưỡng chưa bị phá hủy sẽ khép tán sau 5-7 năm Trên CQ thoái hóa
do xói mòn đất, thời gian khép tán >10 năm do trải qua giai đoạn trảng
cỏ chịu hạn, trảng cây bụi Sau khi hình thành cấu trúc rừng thứ sinh,
xuất hiện các loài cây bản địa định vị thuộc họ Dẻ (Fagaceae), Mộc lan (Magnoliaceae), Bồ đề (Styracaceae) (hình 2.4b)
Trang 7Hình 2.4b Phẫu đồ CQ trong loạt diễn thế sinh thái thứ sinh
hồi phục rừng trên phụ lớp CQ núi trung bình (700-1700m)
- Trên phụ lớp CQ núi cao: trên CQ trảng cỏ thứ sinh sau phá
rừng hoặc cháy rừng, hình thành trảng cây bụi tiên phong ưu thế
Dương xỉ (Polipodiaceae), tế, mua Sau đó, được thay thế bởi quần xã
rừng thứ sinh ưu thế các loài bản địa Dẻ (Castanopsis spp.), Mộc lan
(Magnolia spp.), Đỗ quyên (Rhododendron spp.) Các loại CQ trong
loạt diễn thế sinh thái thứ sinh có đặc tính giống nhau về thổ nhưỡng,
tầng đất dày trung bình, giầu mùn
Đặc điểm loạt phục hồi sinh thái nhân tác:
- Phục hồi sinh thái do khoanh nuôi rừng kết hợp với trồng bổ
sung: các CQ cây bụi thứ sinh và rừng thứ sinh non có khả năng tái
sinh trung bình ưu thế dẻ, vối thuốc, chắp tay, de Quần hợp trồng bổ
sung pơmu + sa mu + tống quá sủ (loài phụ)
- Phục hồi sinh thái do trồng mới rừng phòng hộ: quần xã rừng
phòng hộ trồng mới có quần hợp hỗn giao theo các công thức: sa mu
(Cunninghamia lanceolata) + vối thuốc (Eugenia operculatus) + tống
quá sủ (Alnus nepalensis), sa mu + tống quá sủ + đào ghép (Prunus persica), chè Shan (Camellia sinensis) + sa mu + tống quá sủ + vối thuốc; vối thuốc + chắp tay + sơn tra (Crataegus azerolus)
- Phục hồi sinh thái do trồng mới rừng kinh tế: hình thành quần hợp chè Shan (Camellia sinensis), mỡ (Manglietia insignis), bồ đề (Styrax tonkinensis) từ CQ trảng cỏ ưu thế tế + cỏ rác
- Phục hồi sinh thái do trồng mới rừng phong cảnh: hình thành quần hợp pơmu (Fokienia hodginsii) và sa mu
Mối quan hệ giữa sự biến đổi cấu trúc thảm thực vật với môi trường đất trong diễn thế sinh thái được nghiên cứu ở 2 khía cạnh:
- Xói mòn đất tiềm năng và thực tế: mô hình hóa GIS để giải
phương trình mất đất phổ dụng của Wischmeier và Smith, đã xác định xói mòn tiềm năng trên lãnh thổ là 288,5 tấn/ha/năm, xói mòn thực tế
45 tấn/ha/năm Xói mòn thực tế trên CQ trảng cỏ sau nương rẫy 120 tấn/ha/năm; CQ rừng nguyên sinh và thứ sinh làm giảm độ xói mòn đất xuống <4 tấn/ha/năm, trong khi đó CQ rừng trồng chỉ làm giảm còn 15 tấn/ha/năm (hiệu quả 87,5%)
- Biến đổi đặc tính lý, hóa học của đất: các CQ rừng trồng làm
nâng cao độ xốp và độ mùn của đất: hàm lượng mùn tổng số tăng
11-16 tấn, độ chua cao hơn do liên quan đến độ giàu mùn, Ca và Mg trao đổi cao hơn, độ bão hòa bazơ cao hơn nhưng không đáng kể
Trang 8Chương 3
ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG-LÂM-DU LỊCH HUYỆN SA PA
3.1 ĐÁNH GIÁ KINH TẾ SINH THÁI CÁC CẢNH QUAN CHO MỤC
ĐÍCH PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH
3.1.1 Bài toán ENTROPY cảnh quan đánh giá khả năng ưu tiên
bảo vệ và phát triển rừng
a) Nội dung bài toán: Khái niệm entropy được ứng dụng để mô
hình hóa đặc điểm đa dạng CQ theo công thức Shannon-Weaver:
å
=
-=
i
i
p SDI
V
H
1 2 log )
m
p p SEI
m
i
i i
ln
ln
1
å
=
-=
Trong đó: H(V) là entropy do hoạt động phát triển V gây ra; SDI là chỉ số đa dạng
Shannon-Weaver; SEI là chỉ số trơn Shannon-Shannon-Weaver; pi là xác suất xuất hiện của cảnh quan thứ i
b) Kết quả giải bài toán entropy CQ:
Hoạt động bảo tồn và phát triển rừng ở huyện Sa Pa đạt được
những hiệu quả sinh thái sau: (i) Tăng độ che phủ rừng: chỉ số tổng
diện tích CQ rừng (chỉ số TLA) tăng 15690,08; (ii) Tăng độ liên kết
giữa CQ rừng thứ sinh, rừng trồng và rừng nguyên sinh: giá trị kích
thước trung bình CQ (MPS) tăng (417,79 so với 183,35); (iii) Tăng
diện tích lõi của CQ rừng: giá trị mật độ biên CQ (ED) giảm (22,97 so
với 31,6), đồng nghĩa với tăng không gian sinh sống của động vật
rừng; (iv) Giảm độ đa dạng CQ do các hoạt động phát triển: trong khi
tổng các hoạt động phát triển làm tăng độ đa dạng CQ rất cao (SDI =
2,27), các hoạt động trồng rừng làm giảm độ đa dạng CQ (SDI =
1,71), hoạt động tái sinh (1,68), trồng rừng kết hợp với tái sinh (1,85)
Phân tích nhóm đã xác định được:
- Nhóm CQ thích hợp bảo vệ và tái sinh rừng (G1): phân bố ở 4
xã Bản Hồ, Tả Van, San Sả Hồ và Nậm Cang (Bản Hồ, Tả Van và San
Sả Hồ thuộc vùng lõi Vườn Quốc gia Hoàng Liên), các CQ có độ che phủ rừng cao (TLA = 4996,91), mức độ liên kết cao (MPS = 272,46)
- Nhóm CQ thích hợp trồng rừng và tái sinh rừng (G2): phân bố
ở 14 xã còn lại, có độ che phủ rừng trung bình đến thấp (TLA = 703,29), diện tích lõi của các khoảnh rừng thấp (MPS = 77,77)
Kết hợp với nghiên cứu diễn thế sinh thái, kết quả này được ứng
dụng đề xuất biện pháp ưu tiên bảo vệ và phát triển rừng (bảng 3.3)
Bảng 3.3 Biện pháp ưu tiên bảo vệ và phát triển rừng huyện Sa Pa
Stt Tiểu vùng STCQ
Vị trí phòng hộ
Diễn thế sinh thái (*)
Nguy
cơ xói mòn (**)
Xói mòn thực
tế (**)
Biện pháp ưu tiên bảo vệ và phát triển rừng
1 I.1(HLSon) rất xung yếu 1 574,4 26,3 Bảo vệ rừng phòng hộ
2 I.2(OQHo) xung yếu 4,5,6,7 358,6 99,9
Trồng rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung
3 I.3(TGPhin) rất xung yếu 1,2,3 419,7 58,3 Bảo vệ rừng phòng hộ
4 I.4(BHNCang) rất xung yếu 1 473,9 23,1 Bảo vệ rừng phòng hộ
5 II.1(Bkhoang) xung yếu 3,4,7 256,5 61,8
Trồng rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung
6 II.2(Tphin) ít xung yếu 3,4,7 184,6 46,9 Trồng rừng kinh tế
7 II.3(Tchai) xung yếu 5,6,7 260,6 58,4 Trồng rừng phòng hộ
8 III.1(Ttran) ít xung yếu 6,7 193,9 43,7 Trồng rừng phong cảnh
9 III.2(Suoiho) xung yếu
trung bình 6, 7 228,6 40,7 Trồng rừng kinh tế
10 III.3(Sapa) xung yếu 5,6,7 261,9 13,8 Trồng rừng phòng hộ
11 III.4(Lchai) xung yếu
Trồng rừng kinh tế, trồng rừng phong cảnh
12 IV.1(Ssaho) rất xung yếu 3,6,7 488,9 59,8 Khoanh nuôi tái sinh rừng
13 IV.2(Tvan) xung yếu 3,4,5,7 392,2 48,4
Trồng rừng phòng hộ, tái sinh kết hợp trồng bổ sung
14 IV.3(Hthao) xung yếu
trung bình 5,7 382,3 80,5 Trồng rừng kinh tế
15 IV.4(Cthang) xung yếu 3,4 392,4 47,3 Khoanh nuôi tái sinh rừng
16 V.1(Ttrungho) xung yếu 1,3 402,7 69,5 Bảo vệ rừng phòng hộ
17 V.2(Ncang) xung yếu 1,3,7 414,2 97,9 Bảo vệ rừng phòng hộ
18 V.3(Sthau) xung yếu 1,5,7 256,5 56,2 Bảo vệ và trồng rừng
phòng hộ
19 VI.1(Bho) ít xung yếu 7 253,3 122,6 Trồng rừng kinh tế
20 VII.1(Bphung) xung yếu 3,5,7 348,3 48,1 Trồng rừng phòng hộ
(Chú thích: (*) 1, ,7 là tổ hợp kiểu thảm thực vật ưu thế trong loạt diễn thế sinh thái trên các
tiểu vùng: (1), (2): kiểu nguyên sinh khí hậu và nguyên sinh khí hậu - thổ nhưỡng; (3) phụ kiểu
rừng thứ sinh; (4) phụ kiểu trảng cây bụi thứ sinh nhân tác; (5) phụ kiểu trảng cỏ thứ sinh nhân
Trang 9tác; (6) phụ kiểu rừng nuôi trồng nhân tạo; (7) các phụ kiểu nông quần hợp (**) Đơn vị xói
mòn: tấn/ha/năm)
3.1.2 Đánh giá CQ phục vụ phát triển cây trồng nông, lâm nghiệp
a) Mô hình đánh giá: đánh giá CQ theo tiếp cận KTST với bản
chất xem xét tổng hợp tính thích nghi sinh thái, tính bền vững môi
trường, tính hiệu quả kinh tế và tính bền vững xã hội Mô hình tích
hợp Hệ thống Đánh giá Đất đai Tự động và Hệ Thông tin Địa lý
(ALES-GIS) đánh giá thích nghi CQ theo phương pháp điều kiện hạn
chế (FAO, 1976) Sau đó, đánh giá hiệu quả kinh tế bằng mô hình
phân tích chi phí-lợi ích trên từng mức thích nghi của CQ
b) Các bước thực hiện đánh giá và kết quả:
- Đánh giá thích nghi sinh thái: 16 chỉ tiêu được lựa chọn:
lượng mưa trung bình năm, nhiệt độ trung bình năm, độ dài mùa lạnh,
độ dài mùa khô, tầng dày đất, thành phần cơ giới, độ dốc, N tổng số, P
tổng số, N dễ tiêu, P dễ tiêu, K dễ tiêu, độ mùn, dung tích hấp phụ,
mức độ glêy và độ che phủ Số lượng chỉ tiêu phụ thuộc đặc tính sinh
thái của từng loại cây trồng: 14 chỉ tiêu cho actiso; chè Shan (10); đào,
lê, mận (14); su su (12); thảo quả (10); tống quá sủ (9) Kết quả đánh
giá theo mô hình tích hợp ALES-GIS đã xác định được hạng thích
nghi đối với cây actisô là 19.294ha (28,4% tổng diện tích), chè
49.557ha (73,02%), cây ăn quả 21.956ha (32,35%), su su 55.224ha
(81,3%), thảo quả 34.182ha (50,4%) và tống quá sủ 44.967ha (66,3%)
- Đánh giá hiệu quả kinh tế: actiso và su su có giá trị NPV rất
cao (>50 triệu đồng/ha/năm), được chuyên canh trong các mô hình hệ
KTST trang trại nông lâm kết hợp của nhóm người Kinh Thảo quả,
cây ăn quả á nhiệt đới (đào, lê, mận) (NPV=20¸30 triệu đồng/ha/năm)
được trồng trong các trang trại nông-lâm nghiệp hoặc lâm nghiệp (mô
hình vườn-rừng) của dân tộc Dao, H’Mông, Giáy và Kinh
- Đánh giá tác động môi trường: CQ trồng cây ăn quả có hàm
lượng chất hữu cơ của đất khá (4,22-4,69), các chất tổng số và dễ tiêu đạt trung bình Đối sánh với CQ trảng cỏ thứ sinh sau nương rẫy: nghèo hữu cơ (1,07-2,59), nghèo chất tổng số và dễ tiêu
- Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội: phù hợp với chính
sách phát triển nông, lâm nghiệp của tỉnh và huyện, giải quyết việc làm, tạo nguồn nông sản quan trọng cho công nghiệp chế biến
- Đánh giá tổng hợp CQ: mặc dù huyện Sa Pa có diện tích tự
nhiên lớn (678,64km2) nhưng do lãnh thổ miền núi độ dốc cao, khí hậu cực đoan xảy ra thường xuyên nên diện tích thực sự thuận lợi để phát
triển cây trồng nông nghiệp rất hạn chế Cây actisô, thảo quả và chè
Shan có nhiều tiềm năng phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tạo
vùng nguyên liệu tập trung Cây ăn quả á nhiệt đới phát triển theo hướng trang trại nông, lâm nghiệp phục vụ du lịch sinh thái (DLST)
3.1.3 Đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Nằm trong hệ CQ nhiệt đới-gió mùa, trong các dạng tài nguyên
du lịch của Sa Pa, tài nguyên khí hậu được quan tâm hàng đầu Khí hậu mát mẻ là lý do chính mà người Pháp chọn Sa Pa, Đà Lạt và Tam Đảo để xây dựng những điểm nghỉ dưỡng đầu tiên ở Việt Nam Do vậy, các chỉ tiêu phân loại khí hậu đối với sức khỏe (Đào Ngọc Phong, 1984; Nguyễn Khanh Vân, 2005) được sử dụng đánh giá mức độ thích hợp của khí hậu ở cấp phụ lớp CQ đối với hoạt động du lịch và nghỉ
dưỡng Kết quả đã xác định được: điều kiện khí hậu ở phụ lớp CQ núi
thấp thuận lợi phát triển du lịch trong tháng 4-10; phụ lớp CQ núi trung bình thích hợp với các hoạt động nghỉ dưỡng và du lịch ngoài
trời vào tháng 5-10; phụ lớp CQ núi cao lạnh quanh năm, mưa nhiều,
thời tiết cực đoan không thích hợp với các hoạt động du lịch và nghỉ dưỡng
Trang 10Đánh giá tổng hợp lãnh thổ cho phát triển DLST dựa trên các
kết quả đánh giá CQ cho phát triển nông, lâm nghiệp Đánh giá 14
dạng tài nguyên, bao gồm tài nguyên tự nhiên (khí hậu, địa hình, nước,
thực vật) và tài nguyên nhân văn (di tích lịch sử-văn hóa, lễ hội, đối
tượng du lịch gắn với dân tộc học) đã phân chia ra 3 bậc thuận lợi
(A1 3) đối với các tiểu vùng STCQ đã sử dụng phát triển du lịch, 4
bậc triển vọng (P1 N) đối với các tiểu vùng STCQ chưa phát triển du
lịch
Kết quả đánh giá CQ được kiểm nghiệm bằng số liệu điều tra
khách du lịch tại các điểm du lịch hiện đang được khai thác Các điểm
du lịch ở khu du lịch trung tâm thị trấn Sa Pa, thôn Cát Cát, xã Tả Van
và xã Tả Phìn thu hút đến 68% khách Trong khi đó, khách Việt Nam
tập trung chủ yếu ở các điểm du lịch Hàm Rồng, chợ Sa Pa, thác Bạc
(72%) do có đường giao thông tốt, gần thị trấn Các tuyến du lịch thể
thao leo núi Fanxipăng được khách quốc tế ưu tiên lựa chọn (3,3%)
3.1.4 Đánh giá CQ cho phát triển liên ngành nông-lâm-du lịch
Hệ số chức năng kinh tế của CQ thể hiện khả năng sử dụng các
dạng hoạt động phát triển khác nhau trên CQ, theo công thức:
) , , ,
f C
C K
fm
fp
Trong đó: Kt là hệ số chức năng của một tiểu vùng STCQ, Cfm là tổng số chức
năng của toàn bộ lãnh thổ huyện Sa Pa, C fp là tổng số chức năng của một tiểu vùng
STCQ E: chức năng liên ngành; A: chức năng nông nghiệp; F: chức năng lâm nghiệp;
T: chức năng du lịch
Giá trị Kt cho phép xác định được những thế mạnh riêng về tiềm
năng tự nhiên và kinh tế xã hội để phát triển một hay nhiều ngành kinh
tế trong tiểu vùng STCQ Trong lãnh thổ Sa Pa, tiểu vùng III1(Ttran)
có khả năng cao nhất để phát triển hướng liên ngành (Kt(E) = 0,73)
dựa trên ngành nông nghiệp đặc sản và DLST (Kt(A) = Kt(T) = 1,0)
Các tiểu vùng núi trung bình ở lân cận có khả năng phát triển liên
ngành cao (Kt(E) = 0,35¸0,5) do tiềm năng phát triển nông nghiệp cao (Kt(A) = 0,2¸1,0) và phát triển lâm nghiệp trong Vườn Quốc gia (VQG) Hoàng Liên (Kt(F) = 0,2¸0,4), đồng thời ảnh hưởng phát triển
du lịch từ tiểu vùng đô thị trung tâm (Kt(T) = 0,4¸0,6)
3.2 PHÂN TÍCH SỰ BIẾN ĐỔI CẢNH QUAN VĂN HÓA VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM NGHIỆP, DU LỊCH TẠI LÃNH THỔ SA PA
- Đặc điểm phân bố tộc người theo đai cao trong mối quan hệ với hình thành các CQ văn hóa: dân tộc Tày và Xá Phó cư trú ở đai núi thấp (<700m), dân tộc H’Mông, Dao, Giáy và Kinh ở đai núi trung bình và cao (>700m) Tính đặc thù hình thành CQ văn hóa của các nhóm dân tộc này được khảo sát bằng phân tích tương quan: người Kinh (biến KINH) gắn liền với sự hình thành các CQ đô thị có cơ sở
hạ tầng thuận lợi Người H’mông (MONG) gắn liền với sự hình thành các CQ nông nghiệp ruộng bậc thang và thảo quả Người Dao (DAO) gắn liền với CQ nương rẫy và ruộng bậc thang Người Giáy gắn liền với CQ lúa nước và nương rẫy quy mô nhỏ Người Tày (TAY), người
Xá Phó (XAPHO) cư trú ở đai núi thấp, gắn liền với CQ lúa nước
- Sự hình thành và biến đổi cảnh quan nông lâm và du lịch
trong lịch sử: quan hệ với các phương thức canh tác trên đất dốc và
thực hiện các chính sách phát triển nông, lâm nghiệp, du lịch tại lãnh thổ Sa Pa từ đầu thế kỷ XX cho đến nay: chặt phá rừng làm nương rẫy
đã làm giảm độ che phủ rừng còn 28,5% (năm 1987) và 23,5% (1990), hiện nay đã tăng 50,6% do hiệu quả của các dự án bảo tồn (tại VQG Hoàng Liên) và phát triển rừng (dự án 327, 661) Tăng diện tích CQ ruộng bậc thang (510ha năm 1960 lên 2.225ha năm 2005), giảm diện tích CQ nương rẫy kém hiệu quả và gây suy thoái môi trường (200ha năm 1995 xuống 80ha năm 2005) Các CQ cây ăn quả phát triển theo