1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của cốm bụp giấm trên chuột nhắt trắng

9 73 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 587,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá độc tính cấp (xác định LD50 hoặc Dmax) và độc tính bán trường diễn của cốm Bụp giấm trên chuột nhắt trắng.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH CẤP VÀ BÁN TRƯỜNG DIỄN

CỦA CỐM BỤP GIẤM TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG

Lê Thị Lan Phương*, Nguyễn Phương Dung *

TÓM TẮT

Mở đầu: Cốm Bụp giấm là một loại chế phẩm dạng hạt hòa tan, bào chế từ nguồn nguyên liệu là bột sấy

phun đài hoa Bụp giấm (Hibiscus sabdariffa L Malvaceae) phối hợp với một số tá dược Trong các nghiên cứu trước, cốm Bụp giấm đã được xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và được chứng minh có hiệu quả điều trị rối loạn lipid máu trên thực nghiệm Đánh giá độc tính của chế phẩm trên động vật thử nghiệm là một trong những bước nghiên cứu quan trọng để tìm hiểu độc tính có thể có của chế phẩm, từ đó đưa ra khuyến cáo trước khi tiến hành những thử nghiệm kế tiếp trên lâm sàng, góp phần đưa chế phẩm vào sử dụng cho bệnh nhân

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá độc tính cấp (xác định LD 50 hoặc D max ) và độc tính bán trường diễn của cốm Bụp giấm trên chuột nhắt trắng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chế phẩm cốm Bụp giấm (BSP Bụp giấm, manitol, aspartam,

nước cất) được đóng gói kín, tránh ẩm và ánh sáng, khối lượng 2 g (± 5%), chứa 0,123% delphinidin-3-O-sambubiosid và 0,034% cyanidin-3-O-delphinidin-3-O-sambubiosid Nghiên cứu được thực hiện trên chuột nhắt trắng, cả giống đực và giống cái, chủng Swiss albino Trong nghiên cứu độc tính cấp, chuột thử nghiệm sử dụng chế phẩm với liều duy nhất, đường uống, tiến hành qua giai đoạn sơ khởi và giai đoạn xác định Trong nghiên cứu độc tính bán trường diễn, chuột thử nghiệm sử dụng cốm Bụp giấm đường uống, liều 0,4 g/kg (liều tối ưu có tác dụng), 0,8 g/kg và 4 g/kg trong 12 tuần liên tục, mỗi lô 20 chuột Đánh giá độc tính trên các biểu hiện hành vi, mức độ ăn, uống, cân nặng, chỉ số sinh hóa (AST, ALT, cholesterol toàn phần, triglycerid máu, creatinin huyết, acid uric, glucose), chỉ số huyết học (số lượng hồng cầu, hematocrit, hemoglobin, số lượng hemoglobin trung bình, nồng độ hemoglobin trung bình, thể tích trung bình của hồng cầu, số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu), chỉ số trọng lượng gan, thận, lách và vi thể gan, thận chuột

Kết quả: Liều tối đa của cốm Bụp giấm có thể cho động vật thử nghiệm uống mà không có động vật nào chết

(D max ) là 15 g/kg chuột Cốm Bụp giấm khi sử dụng 12 tuần liên tục ở cả 3 mức liều 0,4 g/kg, 0,8 g/kg và 4 g/kg đều làm giảm cân nặng chuột ở tuần thứ 5 và từ tuần thứ 8 đến tuần thứ 12 Lô chuột sử dụng cốm Bụp giấm liều 0,4 g/kg có chỉ số glucose giảm 14% (p < 0,05) sau 6 tuần và 13% (p < 0,01) sau 12 tuần, chỉ số MCH (số lượng hemoglobin trung bình) giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) sau 12 tuần Lô chuột sử dụng cốm Bụp giấm liều 4 g/kg có vi phẫu thận , 8/10 mẫu mức độ nhẹ, 2/10 mẫu mức độ trung bình so với lô chứng uống nước cất sau 12 tuần Các biểu hiện và chỉ số khác của các lô sử dụng cốm Bụp giấm khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với lô chứng uống nước cất

Kết luận: Cốm Bụp giấm có độ an toàn khá cao Tuy nhiên, khi sử dụng cốm Bụp giấm trong thời gian dài

có thể làm ảnh hưởng đến một số thông số như giảm cân nặng, giảm glucose máu và MCH Khi sử dụng cốm Bụp giấm liều cao (4 g/kg chuột) trong 12 tuần gây viêm mô kẽ thận mức độ nhẹ so với lô chứng uống nước cất

Từ khóa: Cốm Bụp giấm, Hibiscus sabdariffa L Malvaceae, D max , LD 50

* Khoa Y học cổ truyền - Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS.DS Lê Thị Lan Phương ĐT: 0907748591 Email: ltlphuong@ump.edu.vn

Trang 2

ABSTRACT

STUDYING ACUTE TOXICITY AND SEMI-CHRONIC TOXICITY OF BUP GIAM GRANULES

IN MICE

Le Thi Lan Phương, Nguyen Phuong Dung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 22 - No 5- 2018: 25 – 33

Background: Bup giam granules are dissolving granules, made from dry powder of Bup giam (Hibiscus

sabdariffa L Malvaceae) calyx and some adjuvants In previous studies, quality standard of Bup giam granules was formulated and the efficacy in the treatment dyslipidemia of Bup giam granules in mice was proved Evaluating the toxicity of drug in animals is one of the important stages to investigate the possible toxicity of drug, thereby recommending precautions prior to conducting further clinical studies as well as contributing to the preparation of a new drug utilized in patients

Objectives: The study was undertaken to evaluate the acute toxicity (determine LD 50 or D max ) and semi-chronic toxicity of Bup giam granules in mice

Methods: Bup giam granules are prepared from dry powder of Bup giam calyx, manitol, aspartame and

distilled water The composition is sealed in a package in order to avoid moisture and light Each package weights 2 g (± 5%) and contains 0.123% delphinidin-3-O-sambubiosid and 0.034% cyanidin-3-O-sambubiosid This study was performed in white mice, both male and female, Swiss albino strain In the acute toxicity study, mice administered a single oral dose This research proceeded through the initial and definitive stages In the semi-chronic toxicity study, mice were given Bup giam granules at dose level of 0.4 g/kg (effective dose), 0.8 g/kg and 4 g/kg during 12 weeks, 20 mice each group Toxicity was measured through activities, eating and drinking capacity of mice, weight, biochemical tests (AST, ALT, total cholesterol, triglyceride, creatinine, uric acid, glucose) and hematology tests (hematocrit, hemoglobin, mean hemoglobin, mean hemoglobin concentration, average red cell volume, white blood cell count, platelet count), weight of liver, weight of kidney, weight of spleen, liver and kidney microscope

Results: The maximum recommended dose of Bup giam granules which were given to mice without any

death (D max ) was 15 g/kg Bup giam granules were used for 12 weeks at 3 doses of 0.4 g/kg, 0.8 g/kg and 4 g/kg all reduced the weight of mice after 5 th weeks and from 8 th weeks to 12 th weeks The mice received 0.4 g/kg of Bup giam granules had lower glucose level by 14% (p < 0.05) after 6 weeks and by 13% (p < 0.01) after 12 weeks MCH (mean number of hemoglobin) decreased significantly (p < 0.05) after 12 weeks The group used Bup giam granules at the dose of 4 g/kg showed indication of mild kidney inflammation after 12 weeks Other results were not statistically different compared to the control group

Conclusions: Bup giam granules are relatively safe However, using Bup giam granules in long-term may

cause some abnormal affects such as weight loss, reduction blood glucose level and reduction the number of MCH There was mild kidney inflammation in mice using Bup giam granules with high dose (4 g/kg mouse weight) during 12 weeks

Keywords: Bup giam granules, Hibiscus sabdariffa L Malvaceae, D max , LD 50

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bụp giấm (Hibiscus sabdariffa L Malvaceae) là

một loại dược thảo đang được sử dụng rộng rãi

không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới

như một dạng thực phẩm bổ sung và hướng đến

điều trị một số bệnh lý, trong đó có rối loạn lipid máu Dịch chiết đài hoa Bụp giấm khô ở liều 500

và 1,000 mg/kg được cho cùng với chế độ ăn giàu cholesterol trên chuột cống trong 6 tuần cho kết quả giảm đáng kể mức cholesterol huyết

Trang 3

thanh(5), dịch chiết nước từ đài hoa Bụp giấm cho

tác dụng chống oxy hoá trong quá trình oxy hoá

LDL và tác dụng giảm lipid máu(7,4) Hiện nay,

rối loạn lipid máu vẫn được xác định là một

trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh

mạch vành, có tỷ lệ gây tử vong cao ở cả nam và

nữ(2) Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã

tiến hành nghiên cứu bào chế cốm Bụp giấm, có

thành phần chính là bột sấy phun từ đài hoa Bụp

giấm và xây dựng tiêu chuẩn của chế phẩm

này(6) Liều tối ưu có tác dụng điều trị rối loạn

lipid máu của chế phẩm được xác định ở mức 0,4

g/kg chuột, tương đương 2 g (1 gói cốm) trên

người trưởng thành (nghiên cứu đã được báo

cáo giám định năm 2017 - Sở khoa học công nghệ

Thành phố Hồ Chí Minh)

Nhằm tạo cơ sở tiếp tục phát triển và nghiên

cứu chế phẩm cốm Bụp giấm trên lâm sàng,

đồng thời đưa ra những khuyến cáo về độc tính

của chế phẩm, trong nghiên cứu này, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đánh giá độc tính cấp và

bán trường diễn của cốm Bụp giấm trên chuột

nhắt trắng

PHƯƠNG TIỆN-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên vật liệu, trang thiết bị

Cốm Bụp giấm

Chế phẩm cốm Bụp giấm (cốm BG) có thành

phần gồm cao khô Bụp giấm, manitol, aspartam,

nước cất Chế phẩm được đóng gói kín, tránh ẩm

và ánh sáng, mỗi gói 2 g ± 5% Mỗi gói cốm chứa

0,123% delphinidin-3-O-sambubiosid và 0,034%

cyanidin-3-O-sambubiosid, đạt tiêu chuẩn về độ

ẩm, độ hòa tan, độ đồng đều khối lượng của

thuốc cốm theo Dược điển Việt Nam IV

Động vật thử nghiệm

Chuột nhắt trắng cả 2 giống đực và cái,

trưởng thành (5 – 6 tuần tuổi), chủng Swiss abino,

nặng 18 – 22 g được cung cấp bởi viện Pasteur,

Tp Hồ Chí Minh Chuột được nuôi ở nhiệt độ

phòng với chu kỳ 12 giờ sáng/tối, mỗi lồng 8 – 10

chuột, sử dụng thức ăn là cám viên với thành

phần bột gạo, bột bắp, carbohydrat và vitamin trong suốt thử nghiệm

Hóa chất, trang thiết bị

Thuốc thử định lượng sinh hóa, huyết học máu: Chema Diagnostica - Ý Hóa chất formol, ethanol, loại tinh khiết do công ty Xilong Chemicals, Trung Quốc sản xuất Trang thiết bị: Máy sinh hóa DIRUI DR- 7000 - Trung Quốc, lồng chuyển hóa, cân phân tích Sartorius, kính hiển vi soi nổi, dụng cụ phẫu thuật và một số dụng cụ thí nghiệm khác

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế thực nghiệm

Đánh giá độc tính cấp của cốm Bụp giấm trên chuột nhắt trắng (4,10)

Nghiên cứu độc tính cấp trên động vật thí nghiệm, chủ yếu là xác định liều chết trung bình nếu có (liều làm chết 50% số con vật thí nghiệm, gọi là LD50: lethal dose 50%) trong những điều kiện nhất định Chuột nhắt chia thành các lô tương tự, những chuột ở cùng một lô sẽ nhận cùng một liều chất khảo sát Sự đánh giá dựa vào phản ứng toàn ứng hay bất ứng (sống hay chết) nhận thấy ở mỗi chuột trong nhóm sau 72 giờ Chuột được tiếp tục theo dõi sau 14 ngày uống

để ghi nhận những triệu chứng bất thường (nếu có) Trong trường hợp sau khi cho chuột uống mẫu thử, số chuột trong lô thử nghiệm vẫn bảo toàn, ta có thể xác định liều cao nhất có thể bơm qua kim mà không làm chết chuột (Dmax)và liều tương đối an toàn dùng trong các thực nghiệm dược lý có thể bằng 1/5 Dmax hoặc lớn hơn

Thử nghiệm được tiến hành qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (sơ khởi), sử dụng 6 chuột (50% đực, 50% cái ở mỗi liều), giai đoạn 2 (xác định), trong trường hợp tìm LD50, số lượng chuột mỗi lô là 10 chuột và 12 – 20 chuột ở liều gần LD50, trong trường hợp xác định Dmax, số lượng chuột là 20 con (50% đực, 50% cái)

Trang 4

Đánh giá độc tính bán trường diễn của cốm

Bụp giấm trên chuột nhắt trắng (9,10)

Chuột thử nghiệm được nuôi ổn định 1 tuần,

cân trọng lượng, xét nghiệm các thông số sinh

hóa và huyết học ban đầu, chia ngẫu nhiên

thành 4 lô, mỗi lô 20 con (10 đực, 10 cái):

Lô chứng: Uống nước cất

Lô thử 1: Uống cốm Bụp giấm (BG) 0,4 g/kg

(liều tối ưu có tác dụng điều trị)

Lô thử 2: Uống cốm Bụp giấm (BG) 0,8 g/kg

(liều gấp 2 lần liều có tác dụng điều trị)

Lô thử 3: Uống cốm Bụp giấm (BG) 4,0 g/kg

(liều gấp 10 lần liều có tác dụng điều trị)

Các thông số đánh giá hàng tuần: Hành vi

(tăng đi lại, giảm đi lại, nằm im, run rẩy, co giật),

lông (mượt, rụng ), biểu hiện của các cơ quan;

cân nặng, tính chất phân, nước tiểu

Mức độ ăn, uống được đánh giá tại thời

điểm ban đầu, sau 6 tuần và sau 12 tuần bằng

cách nhốt riêng mỗi chuột vào lồng chuyển hóa,

cho chuột làm quen lồng trong ngày thứ nhất,

cân lượng cám và lượng nước uống đã sử dụng

trong 24 giờ tiếp theo

Sau 6 tuần thử nghiệm, tiến hành lấy máu

đuôi chuột và xét nghiệm các thông số: Sinh hóa

(AST, ALT, cholesterol toàn phần, triglycerid

máu, creatinin huyết, acid uric, glucose), huyết

học (số lượng hồng cầu - RBC, hematocrit - HCT,

hemoglobin - HGB, số lượng hemoglobin trung

bình - MCH, nồng độ hemoglobin trung bình -

MCHC, thể tích trung bình của hồng cầu - MCV,

số lượng bạch cầu - WBC, số lượng tiểu cầu -

PLT)

Sau 12 tuần thử nghiệm, tiến hành lấy máu

đuôi chuột và xét nghiệm các thông số: Sinh hóa

(AST, ALT, cholesterol toàn phần, triglycerid

máu, creatinin huyết, acid uric, glucose), huyết

học (số lượng hồng cầu - RBC, hematocrit - HCT,

hemoglobin - HGB, số lượng hemoglobin trung

bình - MCH, nồng độ hemoglobin trung bình -

MCHC, thể tích trung bình của hồng cầu - MCV,

số lượng bạch cầu - WBC, số lượng tiểu cầu -

PLT) Gây mê, mổ quan sát đại thể gan, thận, tim, lách, phổi, dạ dày, ruột Xét nghiệm vi thể gan, thận (lấy ngẫu nhiên 50% số động vật) Cân trọng lượng gan, thận, lách chuột xác định: Chỉ số trọng lượng gan = (trọng lượng gan / trọng lượng cơ thể chuột) x 100%

Chỉ số trọng lượng thận = (trọng lượng thận / trọng lượng cơ thể chuột) x 100%

Chỉ số trọng lượng lách = (trọng lượng lách / trọng lượng cơ thể chuột) x 100%

Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

Tất cả dữ liệu được biểu diễn dưới dạng trung bình ± sai số chuẩn (M ± SD) Dùng phép kiểm t-test và Anova một chiều, một yếu tố với phần mềm Minitab 16.0 và Microsoft Excel 2017 để thống kê dữ liệu và vẽ đồ thị

KẾT QUẢ

Độc tính cấp của cốm Bụp giấm trên chuột nhắt trắng

Bảng 1 Kết quả thử nghiệm độc tính cấp của cốm

Bụp giấm

Thử nghiệm

Liều dùng (g/kg chuột)

Số chuột

Số chuột chết trong lô

Phân suất tử vong

Trong suốt thời gian 72 giờ đầu tiên và 2 tuần quan sát tiếp theo, không ghi nhận được bất

kỳ dấu hiệu bất thường nào xảy ra trên chuột thử nghiệm Tất cả các chuột đều ăn uống và hoạt động bình thường, không có chuột chết, cân nặng khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các lô Do đó, không tìm được LD50 vì lô chuột uống 15 g/kg là liều tối đa thuốc phân tán vào nước có thể qua đầu kim để cho uống được mà vẫn không có chuột chết

Quan sát đại thể: Sau 2 tuần theo dõi, mổ

chuột ở tất cả các lô để quan sát đại thể các phủ tạng của chuột Kết quả: Tất cả các chuột thực nghiệm không thấy bất kỳ thay đổi bệnh lý nào

Trang 5

về hình thái đại thể của tim, gan, thận, bàng

quang và hệ thống tiêu hóa

Độc tính bán trường diễn của cốm Bụp giấm

trên chuột nhắt trắng

Trong suốt thời gian cho uống thuốc (12

tuần), động vật lô uống thuốc thử nghiệm liều 1

(0,4 g/kg) và liều 2 (0,8 g/kg) có mức ăn uống, đi

lại bình thường, tình trạng phân, lông và các biểu hiện bên ngoài bình thường so với lô chứng uống nước cất Động vật lô uống thuốc thử nghiệm liều 3 (4 g/kg) có biểu hiện đi phân mềm (phân ướt hơn so với phân của lô chứng và không định hình) từ tuần thứ 6 trở đi

Bảng 2 Kết quả theo dõi cân nặng của các lô trong thử nghiệm độc tính bán trường diễn

Lô 1

(nước cất)

18,95

± 1,28

21,75

± 1,59

23,05

± 2,16

23,30

± 2,72

25,70

± 2,87

27,30

± 3,05

26,50

± 2,54

Lô 2

(BG 0,4 g/kg)

18,90

± 0,85

21,70

± 1,63

22,65

± 1,95

23,60

± 2,48

25,10

± 2,49

24,45**

± 2,74

26,10

± 3,13

Lô 3

(BG 0,8 g/kg)

18,70

± 0,92

20,90

± 2,00

22,90

± 1,92

22,80

± 1,88

24,85

± 2,25

24,40**

± 2,30

25,85

± 3,05

Lô 4

(BG 4 g/kg)

18,90

± 1,07

21,80

± 1,88

22,85

± 2,23

22,60

± 1,90

24,95

± 1,50

24,30***

± 1,84

26,60

±2,30

Lô 1

(nước cất)

27,15

± 2,72

30,20

± 3,07

30,30

± 3,10

31,05

± 2,61

31,35

± 2,35

31,40

± 2,35

Lô 2

(BG 0,4 g/kg)

26,00

± 4,03

27,10**

± 3,77

27,75*

± 4,25

27,85**

± 3,56

28,45**

± 3,89

28,55**

± 3,17

Lô 3

(BG 0,8 g/kg)

25,35

± 3,22

26,15***

± 3,05

26,15***

± 3,22

26,65***

± 2,98

27,05***

± 2,80

26,95***

± 2,93

Lô 4

(BG 4 g/kg)

26,30

± 2,20

26,30***

± 3,15

26,30***

± 3,25

25,50***

± 3,49

25,00***

± 3,21

24,30***

± 3,11

Cân nặng chuột của lô thử nghiệm uống cốm

BG 0,4 g/kg giảm ở tuần thứ 5 (p < 0,01), tuần thứ

8 (p < 0,01), tuần thứ 9 (p < 0,05), tuần thứ 10 (p <

0,01), tuần thứ 11 (p < 0,01) và tuần thứ 12 (p <

0,01) so với lô chứng uống nước cất

Cân nặng chuột của lô thử nghiệm uống cốm

BG 0,8 g/kg giảm ở tuần thứ 5 (p < 0,01), tuần thứ

8 (p < 0,001), tuần thứ 9 (p < 0,001), tuần thứ 10 (p

< 0,001), tuần thứ 11 (p < 0,001) và tuần thứ 12 (p

< 0,001) so với lô chứng uống nước cất

Cân nặng chuột của lô thử nghiệm uống cốm

BG 4 g/kg giảm ở tuần thứ 5 (p < 0,001), tuần thứ

8 (p < 0,001), tuần thứ 9 (p < 0,001), tuần thứ 10 (p

< 0,001), tuần thứ 11 (p < 0,001) và tuần thứ 12 (p

< 0,001) so với lô chứng uống nước cất

Hình 1 Lượng nước uống của các lô chuột trong thử

nghiệm độc tính bán trường diễn (ml)

Lượng nước và lượng thức ăn tiêu thụ của chuột giữa các lô khác biệt nhau không có ý nghĩa thống kê tại các thời điểm: Ban đầu, sau 6 tuần và sau 12 tuần thử nghiệm

Trang 6

Hình 2 Lượng thức ăn của các lô chuột trong thử

nghiệm độc tính bán trường diễn (g)

Chỉ số xét nghiệm sinh hóa

Chỉ số sinh hóa của chuột giữa các lô trong

thử nghiệm khác biệt nhau không có ý nghĩa

thống kê tại thời điểm ban đầu

Sau 6 tuần thử nghiệm, so với lô chứng uống

nước cất: Lô uống cốm BG 0,4 g/kg có chỉ số acid

uric, creatinin, AST, ALT, cholesterol toàn phần,

triglycerid khác biệt không có ý nghĩa thống kê, glucose giảm 14% (p < 0,05) Lô uống cốm BG 0,8 g/kg và 4 g/kg có chỉ số acid uric, creatinin, glucose, AST, ALT, cholesterol toàn phần, triglycerid khác biệt không có ý nghĩa thống kê

(Bảng 3)

Sau 12 tuần thử nghiệm, so với lô chứng uống nước cất: Lô uống cốm BG 0,4 g/kg có chỉ

số acid uric, creatinin, AST, ALT, cholesterol toàn phần, triglycerid khác biệt không có ý nghĩa thống kê, glucose giảm 13% (p < 0,01) Lô uống cốm BG 0,8 g/kg và 4 g/kg có chỉ số acid uric, creatinin, glucose, AST, ALT, cholesterol toàn phần, triglycerid khác biệt không có ý nghĩa

thống kê (Bảng 4)

Bảng 3 Chỉ số xét nghiệm sinh hóa sau 6 tuần của các lô chuột trong thử nghiệm độc tính bán trường diễn

(n = 20)

Uric (mg/d)

Creatinin (mg/dL)

Glucose (mg/dL)

ALT (U/I)

AST (U/I)

Cholesterol

TP (mg/dl)

Triglycerid (mg/dl)

Bảng 4 Chỉ số xét nghiệm sinh hóa sau 12 tuần của các lô chuột trong thử nghiệm độc tính bán trường diễn

(n = 20)

Uric (mg/d)

Creatinin (mg/dL)

Glucose (mg/dL)

ALT (U/I)

AST (U/I)

Cholesterol

TP (mg/dl)

Triglycerid (mg/dl)

Lô 2 (BG 0,4 g/kg) 7,19 ± 1,46 0,37 ± 0,07 75,17 ± 10,67 42,00 ± 14,84 75,75 ± 16,97 80,88 ± 15,87 114,80 ± 28,71

Lô 3 (BG 0,8 g/kg) 7,39 ± 1,29 0,39 ± 0,11 85,64 ± 13,24 45,80 ± 12,65 78,20 ± 25,22 74,79 ± 13,18 120,56 ± 20,27

Chỉ số xét nghiệm huyết học

Chỉ số huyết học của chuột giữa các lô trong

thử nghiệm khác biệt nhau không có ý nghĩa

thống kê tại thời điểm ban đầu

Chỉ số huyết học của chuột giữa các lô trong

thử nghiệm khác biệt nhau không có ý nghĩa

thống kê sau 6 tuần Sau 12 tuần thử nghiệm, lô uống cốm Bụp giấm liều 0,4 g/kg có chỉ số MCH giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với lô chứng uống nước cất Các chỉ số khác khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với lô chứng uống

nước cất (Bảng 5, Bảng 6)

Bảng 5 Chỉ số xét nghiệm huyết học sau 6 tuần của các lô chuột trong thử nghiệm độc tính bán trường diễn

Lô 1

(nước cất)

6,24

± 1,85

5,56

± 0,57

12,41

± 1,21

32,90

± 6,21

59,67

± 3,95

23,05

± 3,85

37,08

± 1,17

903,45

± 191,10

Trang 7

Lô (n = 20) WBC 10^9/L RBC 10^12/L HGB g/L HCT % MCV fL MCH pg MCHC g/L PLT 10^9/L

Lô 2

(BG 0,4 g/kg)

6,53

± 1,57

6,03

± 1,00

13,42

± 1,93

34,65

± 6,10

58,42

± 3,74

21,50

± 2,24

36,74

± 2,89

993,95

± 230,26

Lô 3

(BG 0,8 g/kg)

6,55

± 1,67

5,42

± 1,07

12,85

± 1,82

31,55

± 6,92

58,05

± 3,25

22,17

± 1,90

37,69

± 1,19

946,50

± 323,83

Lô 4

(BG 4 g/kg)

6,75

± 2,75

5,82

± 0,88

13,14

± 2,06

33,93

± 6,19

58,70

± 4,17

22,36

± 3,11

37,17

± 1,47

1007,95

± 226,90

Bảng 6 Chỉ số xét nghiệm huyết học sau 12 tuần của các lô chuột trong thử nghiệm độc tính bán trường diễn

Lô 1

(nước cất)

6,43

± 1,85

6,38

± 0,87

13,66

± 1,87

39,27

± 5,42

62,30

± 3,17

24,14

± 3,14

36,42

± 3,59

991,25

± 155,48

Lô 2

(BG 0,4 g/kg)

6,70

± 1,85

6,63

± 0,68

14,64

± 1,49

38,52

± 6,00

61,26

± 3,37

22,08 *

± 1,12

36,09

± 1,14

965,85

± 224,26

Lô 3

(BG 0,8 g/kg)

6,44

± 2,02

6,48

± 0,55

13,94

± 1,70

38,84

± 3,87

60,06

± 7,33

22,63

± 1,26

36,54

± 0,86

982,35

± 275,78

Lô 4

(BG 4 g/kg)

6,64

± 2,12

6,41

±0,82

14,16

± 1,64

39,37

± 4,98

60,03

± 9,23

22,68

± 3,62

36,24

± 1,15

941,90

± 243,62

Kết quả giải phẫu quan sát đại thể và vi thể

Sau 12 tuần uống thuốc, chuột được gây mê,

giải phẫu, quan sát tim, phổi, gan, thận, lách,

ruột, bàng quang Kết quả bình thường, không

khác biệt so với lô uống nước cất (Hình 3)

Chỉ số trọng lượng gan, thận, lách của chuột

giữa các lô trong thử nghiệm khác biệt nhau

không có ý nghĩa thống kê sau 12 tuần

Kết quả giải phẫu bệnh gan, thận được gửi

xét nghiệm tại bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố

Hồ Chí Minh, Việt Nam Sau 12 tuần thử

nghiệm, so với lô chứng uống nước cất: Lô uống

cốm Bụp giấm 0,4 g/kg và 0,8 g/kg 10/10 mẫu có

hình ảnh vi phẫu gan, thận không khác biệt

nhau Lô uống cốm Bụp giấm 4 g/kg có hình ảnh

vi phẫu gan không khác biệt, vi phẫu thận có

viêm mô kẽ thận, 8/10 mẫu mức độ nhẹ, 2/10

mẫu mức độ trung bình (Hình 4, Hình 5)

Hình 3 Chỉ số trọng lượng gan, thận, lách của các lô

chuột trong thử nghiệm độc tính bán trường diễn (%) n=20 cho mỗi lô

Hình 4: Hình ảnh vi thể gan của các lô thử nghiệm độc tính bán trường diễn

Trang 8

Hình 5: Hình ảnh vi thể thận của các lô thử nghiệm độc tính bán trường diễn

BÀN LUẬN

Độc tính cấp của cốm Bụp giấm trên chuột nhắt

trắng

Cốm Bụp giấm không thể hiện độc tính cấp

đường uống với liều tối đa có thể bơm qua đầu

kim để cho chuột uống là 15 g/kg, tương đương

với 75 g/người 60 kg (bảng quy đổi liều(9)), gấp

32,5 lần liều dự kiến sử dụng hàng ngày là 2 g

cốm Như vậy, cốm Bụp giấm sử dụng trong thử

nghiệm có độ an toàn khá cao và có Dmax = 15

g/kg Kết quả của các nghiên cứu đã công bố trên

thế giới về độc tính cấp của Bụp giấm cũng cho

thấy độ an toàn cao của Bụp giấm khi sử dụng

đường uống Liều LD50 trên chuột nhắt (trọng

lượng 30 g) được báo cáo là khoảng 0,4 - 0,6 ml

(tiêm phúc mô, i.p.) nước sắc Bụp giấm 30%

(Bụp giấm được ngâm trong nước cất 30 phút,

lấy dịch chiết)(7)

Độc tính bán trường diễn của cốm Bụp giấm

trên chuột nhắt trắng

Cốm Bụp giấm sử dụng trong nghiên cứu

không làm ảnh hưởng đến lượng thức ăn, nước

uống tiêu thụ ở chuột và các biểu hiện hành vi

khi sử dụng dài ngày Tuy nhiên, theo công bố

của Iyare năm 2008 và 2010, dịch chiết nước Bụp

giấm làm giảm lượng thức ăn, nước uống tiêu

thụ ở chuột cống cái và tác dụng này phụ thuộc

liều Tác giả giải thích sự giảm lượng thức ăn và

nước uống tiêu thụ ở chuột có thể là do chúng

không thích mùi vị của Bụp giấm(3) Như vậy, có

thể do cốm Bụp giấm đã cải thiện được mùi, vị

của dược liệu nhờ bổ sung thêm mannitol và

aspartam nên không làm ảnh hưởng đến các chỉ

số này

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy có sự giảm trọng lượng chuột ở lô uống cốm Bụp giấm so với lô chuột uống nước cất ở tuần thứ 5, 8, 9, 10,

11 và 12 trong khi lượng thức ăn và nước uống

sử dụng không khác biệt Những nghiên cứu được tổng hợp đến năm 2014 đều không cho thấy sự giảm trọng lượng đáng kể gây ra bởi Bụp giấm trên động vật bình thường(3) Do đó, tác động đối với trọng lượng cần được đánh giá thêm trong những nghiên cứu tiếp theo để làm

rõ hơn về lợi ích và nguy cơ

Nồng độ glusose trong máu của lô uống cốm Bụp giấm (0,4 g/kg) giảm có ý nghĩa thống kê so với lô chứng uống nước cất sau 6 tuần và sau 12 tuần thử nghiệm Tuy nhiên, ảnh hưởng này lại không xuất hiện ở lô sử dụng liều cao hơn (0,8 g/kg và 4 g/kg) Như vậy, tác động trên glucose máu của cốm Bụp giấm phụ thuộc liều sử dụng

Về tác động trên đường huyết, Bụp giấm cho hiệu quả ức chế α-amylase tụy(1); ở liều 200 mg/kg, Bụp giấm chống đề kháng insulin, làm giảm sự tăng đường huyết và sự tăng insulin trong máu trên chuột cống(8) Do đó, trong các nghiên cứu tiếp theo, cần đánh giá thêm khả năng gây giảm đường huyết trên đối tượng bình thường

Lô uống cốm Bụp giấm liều 0,4 g/kg có chỉ

số MCH giảm so với lô chứng uống nước cất sau 12 tuần thử nghiệm Tuy nhiên, tác động này lại không xảy ra khi sử dụng cốm Bụp giấm ở liều cao (0,8 g/kg và 4 g/kg) Chỉ số MCH thấp có thể do lượng sắt thấp trong

Trang 9

máu Cơ thể sử dụng sắt để tạo ra huyết sắc tố,

nếu như cơ thể hết chất sắt, thiếu máu do

thiếu sắt gây ra có thể làm giảm MCH Trong

nghiên cứu sơ bộ về việc sử dụng nước sắc

Bụp giấm như là một nguồn thay thế sắt trong

điều trị thiếu máu và một số bệnh khác do

thiếu hụt chất khoáng, kết quả cho thấy đài

hoa khô Bụp giấm thúc đẩy khả năng sử dụng

chất khoáng(3) Như vậy, có thể do khả năng

tăng cường sử dụng chất khoáng trong thời

gian dài đã dẫn đến sự thiếu hụt sắt trên chuột

thí nghiệm với khẩu phần ăn tiêu chuẩn Sự

giảm MCH không gặp phải khi sử dụng Bụp

giấm ở liều cao có thể do sự bù đắp chính từ

Bụp giấm vì trong thành phần của nó có chứa

khoáng chất

Lô uống cốm Bụp giấm 4 g/kg có dấu hiệu đi

phân mềm từ tuần thứ 6 trở đi có thể do ảnh

hưởng của lượng acid ascorbic và một số acid

hữu cơ cao trong Bụp giấm Hiện tượng viêm

mô kẽ thận ở lô này sau 12 tuần thử nghiệm cần

được đánh giá thêm về nguyên nhân và mức độ

cũng như sự liên quan đến liều sử dụng trong

các nghiên cứu tiếp theo để làm sáng tỏ hơn

Từ những kết quả thu được trong nghiên

cứu này, chúng tôi đưa ra khuyến cáo cho các

nghiên cứu sau cần chú ý theo dõi cân nặng,

đánh giá lợi ích và nguy cơ; các thông số đường

huyết (tình trạng giảm đường huyết ở đối tượng

bình thường), MCH (tình trạng thiếu máu liên

quan đến liều) và nên đánh giá chức năng thận

khi sử dụng chế phẩm dài ngày với liều cao

KẾT LUẬN

Cốm Bụp giấm có Dmax = 15 g/kg, thể hiện độ

an toàn cao khi sử dụng Tuy nhiên, cốm Bụp

giấm sử dụng ở cả ba mức liều 0,4 g/kg, 0,8 g/kg

và 4 g/kg đều làm giảm trọng lượng chuột ở tuần

thứ 5 và từ tuần thứ 8 đến tuần thứ 12 Chuột

nhắt được cho uống cốm Bụp giấm ở liều tối ưu

có tác dụng điều trị (0,4 g/kg), không bị thay đổi

hầu hết các chỉ số sinh học, nhưng có giảm

glucose 14% sau 6 tuần và 13% sau 12 tuần, giảm

MCH 8,5% sau 12 tuần Chuột nhắt uống cốm

Bụp giấm liều gấp đôi liều tối ưu có tác dụng điều trị (0,8 g/kg), không bị thay đổi các chỉ số sinh học Chuột nhắt sử dụng cốm Bụp giấm liều gấp 10 lần liều tối ưu có tác dụng điều trị (4 g/kg) không bị thay đổi hầu hết các chỉ số sinh học nhưng có biểu hiện đi phân mềm từ tuần thứ 6 trở đi và có biểu hiện viêm mô kẽ thận mức độ nhẹ trên vi phẫu

Lời cảm ơn : Nhóm nghiên cứu xin cảm ơn sự hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Adisakwattana S et al (2012) “In vitro inhibitory effects of

plant-based foods and their combinations on intestinal inverted question mark-glucosidase and pancreatic inveerted question

mark amylase” BMC Complementary and Alternative Medicine;

12(1): 110

2 Benjamin EJ et al (2017) "Heart Disease and Stroke Statistics -

2017 Update: A Report from the American Heart Association"

Circulation; 135(10): e146-e603

3 Da-costa-Rocha I et al (2014) “Hibiscus sabdariffa L - A

phytochemical and pharmacological review” Food Chemistry;

165: 424 - 443

4 Đỗ Trung Đàm (1996) Phương pháp xác định độc tính của

thuốc Nhà xuất bản Y học, tr 7 - 24, 50 - 57

5 Hainida E et al (2008) “Effects of defatted dried roselle (Hibiscus

sabdariffa L.) seed powder on lipid profiles of

hypercholesterolemia rats” Journal of the Science of Food and

Agriculture; 88:1043-1050

6 Lê Thị Lan Phương, Huỳnh Trần Quốc Dũng, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Phương Dung (2017) “Xây dựng quy trình định

lượng đồng thời delphinidin-3-O-sambubiosid và

cyanidin-3-O-sambubiosid trong cốm Bụp giấm bằng phương pháp HPLC”

Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh; 21(6): 81 - 86

7 Ochani PC and D’Mello P (2009) “Antioxidant and

antihyperlipidemic activity of Hibiscus sabdariffa Linn leaves and calyces extracts in rats” Indian Journal of Experimental Biology; 47:

276 - 282

8 Peng CH et al (2011) “Hibiscus sabdariffa polyphenolic extract

inhibits hyperglycemia, hyperlipidemia, and glycation-oxidative

stress while improving insulin resistance” Journal of Agricultural

and Food Chemistry; 59(18): 9901 - 9909

9 Sharaf A (1962) “The pharmacological characteristics of Hibiscus

sabdariffa L.” Planta Medica; 10: 48 - 52

10 Viện Dược liệu (2006) Phương pháp nghiên cứu tác dụng dược

lý của thuốc từ dược thảo Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr

311 - 313

11 Yang MY et al (2010) “The Hypolipidemic Effect of Hibiscus

sabdariffa Polyphenols via Inhibiting Lipogenesis and Promoting

Hepatic Lipid Clearance” Journal of Agricultural and Food

Chemistry; 58: 850 - 859

Ngày nhận bài báo: 25/04/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/06/2018 Ngày bài báo được đăng: 20/09/2018

Ngày đăng: 09/01/2020, 18:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w