1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia hợp đồng tiêu thụ lúa giữa nông dân và doanh nghiệp tại huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ

10 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 589,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả đề tài cho thấy các hộ tham gia hợp đồng có ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nhiều nhiều hơn và mang lại hiệu quả tài chính cao hơn những hộ không tham gia hợp đồng. Đề tài đã nêu được các vấn đề hiện nay trong hợp đồng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia hợp đồng của nông dân là có tham gia các tổ chức về sản xuất lúa ở địa phương, kinh nghiệm và diện tích sản xuất lúa. Qua đó, đề tài đề xuất một số giải pháp về sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và sự thực thi hợp đồng tiêu thụ lúa giữa nông dân và doanh nghiệp.

Trang 1

451

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA

HỢP ĐỒNG TIÊU THỤ LÚA GIỮA NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP

TẠI HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Trần Thanh Dũng Phạm Nguyễn Đăng Khoa

TÓM TẮT

Kết quả đề tài cho thấy các hộ tham gia hợp đồng có ứng dụng các tiến

bộ kỹ thuật nhiều nhiều hơn và mang lại hiệu quả tài chính cao hơn những hộ

không tham gia hợp đồng Đề tài đã nêu được các vấn đề hiện nay trong hợp

đồng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia hợp đồng của nông

dân là có tham gia các tổ chức về sản xuất lúa ở địa phương, kinh nghiệm và

diện tích sản xuất lúa Qua đó, đề tài đề xuất một số giải pháp về sự hỗ trợ của

chính quyền địa phương và sự thực thi hợp đồng tiêu thụ lúa giữa nông dân và

doanh nghiệp

Từ khóa: hiệu quả; hợp đồng; sản xuất; thực thi; tiêu thụ

ùng với sự phát triển nông nghiệp giá trị cao, sự phát triển của

hệ thống siêu thị, thực phẩm chế biến và nền nông nghiệp định hướng xuất khẩu đã cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của

việc sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng (Miyata et all., 2009) Hình thức hợp

đồng sẽ loại bỏ vai trò của các tầng lớp mua bán và làm dịch vụ trung gian như

người thu gom, cho vay lãi, cò mồi, trực tiếp bảo vệ người sản xuất, nhất là

người nghèo khi bán sản phẩm Hợp đồng sản xuất nông nghiệp cũng cho phép

xoá bỏ độc quyền dẫn đến hiện tượng chèn ép giá và bóc lột lợi nhuận của

người nông dân của các cơ sở chế biến và lưu thông, khiến họ trực tiếp quan

tâm đến khả năng giảm giá thành, tăng chất lượng của nông dân, bởi vậy hình

thành cơ chế chia sẻ lợi nhuận, tạo ra khả năng tăng thu nhập và tái sản xuất

mở rộng của nông dân (Đặng Kim Sơn, 2001) Hiện nay lúa gạo nước ta đã có

 Khoa Phát Triển Nông Thôn – Đại học Cần Thơ

 Khoa Phát Triển Nông Thôn – Đại học Cần Thơ

C

Trang 2

452

Lan, cho nên sản phẩm nông nghiệp theo hợp đồng đang được quan tâm Trong thời gian qua, đã có nhiều tỉnh, thành ở ĐBSCL nỗ lực thực hiện mô hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo qua hợp đồng và bước đầu đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và trở ngại trong quá trình thực hiện mô hình này Hầu hết nông dân vẫn chưa quen với phương thức sản xuất theo hợp đồng với doanh nghiệp, các yếu tố liên quan đến môi trường hoạt động của hợp đồng như thể chế thực thi hợp đồng vẫn còn yếu kém, sự kém ổn định về giá cả nông sản trên thị trường, lợi ích do hợp đồng mang lại chưa đủ

“hấp dẫn” đối với nông dân và doanh nghiệp cho nên mô hình này vẫn chưa phát huy hết hiệu quả (Trần Quốc Nhân, 2012) Vĩnh Thạnh là huyện sản xuất lúa hàng hóa trọng điểm của thành phố Cần Thơ nhưng nông dân nơi đây chưa

thực sự tha thiết sản xuất lúa theo hợp đồng Vì vậy đề tài “Phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến sự tham gia hợp đồng tiêu thụ lúa giữa nông dân và doanh nghiệp tại huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ” được thực hiện là rất cấp

thiết

1 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài nhằm đề xuất những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả sự tham gia sản xuất lúa theo hợp đồng, qua đó gián tiếp nâng cấp chuỗi giá trị lúa gạo; bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu đề tài còn là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách về việc sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong vùng

1.2 Nội dung nghiên cứu

- Hiện trạng sản xuất lúa trong địa bàn nghiên cứu: những thông tin về nông hộ, tình hình sản xuất, hiệu quả tài chính của nhóm hộ không và có tham gia hợp đồng

- Nhận ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia hợp đồng tiêu thụ lúa của nông dân

- Các giải pháp: tìm hiểu những vấn đề trong hợp đồng, những tích cực

và tồn tại, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hợp đồng

Trang 3

453

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Đề tài đã tiến hành khảo sát 60 hộ nông dân sản xuất lúa tại huyện Vĩnh

Thạnh (bao gồm 30 nông dân tham gia hợp đồng và 30 nông dân không tham

gia hợp đồng) Bên cạnh, đề tài còn phỏng vấn KIP 3 chuyên gia và 2 doanh

nghiệp đang hoạt động trên địa bàn nghiên cứu Số liệu thứ cấp của đề tài được

lấy từ các bản báo cáo tổng hợp của phòng Nông nghiệp huyện Vĩnh Thạnh,

niên giám thống kê, các bài báo, tạp chí, internet có uy tín

1.3.2 Phương pháp phân tích số liệu

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích như thống kê mô tả, kiểm định

T-test và mô hình hồi quy Binary Logistic

2 Kết quả nghiên cứu

2 .1 Hiện trạng sản xuất lúa trên địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Thông tin nông hộ

Nông dân trong vùng nghiên cứu có độ tuổi đủ lớn để có kinh nghiệm

cao trong sản xuất lúa Thêm vào đó là trình độ, diện tích canh tác của nông

dân nơi đây tương đối tốt để quản lý và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật

vào sản xuất lúa, cơ giới hóa tối đa nên không cần nhiều lao động tham gia

Bảng 1: Thông tin nông hộ

hợp đồng

Ngoài hợp đồng

Mức ý nghĩa

Lao động sản xuất lúa

Trang 4

454

nhóm hộ ngoại trừ diện tích đất lúa thì nông hộ có tham gia hợp đồng sở hữu nhiều ruộng hơn và sự khác biệt này thông qua kiểm định T-test bằng phép thử Duncan ở mức ý nghĩa 5% Sự khác biệt này cũng phần nào thể hiện điều kiện tham gia hợp đồng tiêu thụ lúa phải có diện tích tương đối lớn

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ

Do có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất lúa nên nông dân đã ý thức được việc sử dụng giống truy nguyên nguồn gốc và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, trong đó những hộ tham gia hợp đồng có phần cao hơn những hộ không tham gia hợp đồng Đặc biệt là tham gia vào các tổ chức sản xuất lúa ở địa phương như Hợp tác xã và Cánh đồng lớn được hộ tham gia hợp đồng quan tâm nhiều hơn Có lẻ đây cũng là yếu tố bước đầu để những hộ có tham gia vào

tổ chức sản xuất làm quen với hình thức tiêu thụ lúa có hợp đồng

Và hiển nhiên tất cả những nông dân có tham gia hợp đồng tiêu thụ lúa

sẽ sẵn sàng bán cho doanh nghiệp đã ký kết Tuy nhiên cũng còn có 13,33% nông dân tham gia hợp đồng lại bán cho thương lái hoặc qua cò là do một trong hai bên lợi dụng điểm hở trong nội dung hợp đồng mà không thực thi đúng theo hợp đồng trước đó Trong khi đó, những nông dân không tham gia hợp đồng không chủ động được đầu ra hầu hết đều bán cho thương lái hoặc qua cò, chỉ một số ít được bán cho doanh nghiệp là do nông hộ này có tham gia Hợp tác xã hoặc Cánh đồng lớn với việc sử dụng giống có xác nhận và áp dụng áp dụng quy trình kỹ thuật giống với hộ tham gia hợp đồng vì thế doanh nghiệp sẵn dịp thu mua cho đầy chuyến hàng

Bảng 2: Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa

Giống lúa

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật

Trang 5

455

Tham gia tổ chức sản xuất lúa

Đối tượng bán lúa

2.1.3 So sánh hiệu quả tài chính giữa hộ có và không tham gia hợp đồng

Trong sản xuất lúa các hộ phải bỏ ra những chi phí về tiền mặt bao gồm:

giống, làm đất, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, bơm nước, lao động làm thuê

và thu hoạch Các khoản chi phí trên hầu như các nông hộ đầu tư như nhau nên

tổng chi phí tiền mặt giữa hộ có và không tham gia hợp đồng chênh lệch không

đáng kể

Ngoài ra nông dân còn phải chịu thêm chi phí cơ hội bao gồm: công lao

động gia đình, lãi suất ngân hàng và tiền thuê đất Đây là loại chi phí mà đa

phần nông dân không nhắt đến, điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn cho nhà

quản lý trong quá trình tính toán giá thành sản xuất mà đề xuất giá lúa sàn hợp

lý cho nông dân có lời Theo định hướng của ngành nông nghiệp thì giá lúa sàn

như hiện nay đảm bảo cho người nông dân lời 30% Trong khi kết quả đề tài

này chi phí cơ hội lên đến xấp xỉ 30% đối với hộ tham gia hợp đồng và 31% đối

với hộ không tham gia hợp đồng Như vậy rõ ràng người trồng lúa chỉ ăn vào

mảnh đất, sức lao động và tiền vốn mình bỏ ra chứ không thu lợi gì từ việc

trồng lúa Kết quả đề tài cho thấy chi phí cơ hội của hộ có tham gia ít hơn hộ

không tham gia hợp đồng thông qua kiểm định T-test, phép thử Duncan ở mức

ý nghĩa 5% Sự chênh lệch này chủ yếu là do công lao động gia đình ở hộ

không tham gia hợp đồng bỏ ra quá nhiều đáng kể so với hộ có tham gia hợp

đồng Như đã phân tích phần trên, những hộ tham gia hợp đồng có diện tích

canh tác lớn hơn nhiều so với những hộ không tham gia, do đó khả năng áp

dụng cơ giới hóa vào sản xuất được dễ dàng hơn, làm giảm công lao động gia

Trang 6

456

Mặc dù năng suất lúa hộ có tham gia hợp đồng cao hơn không nhiều so với hộ không tham gia hợp đồng nhưng giá bán lúa giữa hai nhóm hộ lại khác biệt có ý nghĩa thông kê 5%, thông qua kiểm định T-test, với phép thử Duncan Nông hộ tham gia hợp đồng bán lúa với giá cao là do đa phần họ bán trực tiếp cho doanh nghiệp; trong khi hộ không tham gia hợp đồng thì phần đông bán cho thương lái hay qua cò, mất nhiều khâu trung gian

Chính những điều đó làm cho những hộ tham gia hợp đồng có hiệu quả cao hơn hộ không tham gia hợp đồng cả về lợi nhận, hiệu quả đồng vốn và hiệu

quả lao động ở mức ý nghĩa 5% thông qua phép thử Duncan, kiểm định T-test

Bảng 3: Hiệu quả tài chính của nông hộ

đồng

Ngoài hợp đồng

Mức ý nghĩa

(1000đ/ngày công)

Trang 7

457

Nhìn chung, những hộ tham gia hợp đồng có điều kiện sản xuất, áp dụng

tiến bộ kỹ thuật đồng bộ, bán giá cao và đạt hiệu quả tài chính tốt hơn những hộ

không tham gia hợp đồng

2 2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia hợp đồng

Căn cứ vào số liệu thu thập và tài liệu tham khảo có liên quan thì mô

hình được xây dựng theo phương trình như sau:

Trong đó: Y là biến nhị phân, thể hiện kết quả thực hiện hợp đồng được

đo lường bằng hai giá trị 1 và 0 (1 là có tham gia hợp đồng, 0 là không tham

gia hợp đồng)

Các biến X1, X2, X3 là các biến độc lập được giải thích trong Bảng 4

Bảng 4: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình Logicstic

X1: Tham gia tổ chức sản

xuất lúa (có hoặc

không)

Biến giả, nhận hai giá trị đại diện: 1 có tham gia, 0 không tham gia hợp đồng

(năm)

Kinh nghiệm sản xuất lúa của chủ hộ

X3: Diện tích sản xuất lúa

(ha)

Diện tích đất sản xuất lúa của nông hộ

Kết quả nghiên cứu cho thấy Giá trị - 2LL = 40,188 đủ nhỏ để để mô

hình tổng thể phù hợp với mức dự đoán đúng của mô hình là 78,3%

Các biến được giải thích như sau: các biến về sự tham gia tổ chức sản

xuất ở địa phương (có, không), kinh nghiệm làm ruộng (năm) và diện tích sản

xuất (ha) đã ảnh hưởng thuận đối với sự tham gia sản xuất lúa theo hợp đồng

Như vậy các biến có tham gia tổ chức sản xuất lúa ở địa phương, kinh

3 3 2 2 1 1 0

) 0 (

) 1 ( log B B X B X B X

Y P

Y P

Trang 8

458

chính sách địa phương cần thiết phải xem xét các yếu tố này

Bảng 5: Kết quả phân tích hồi quy Binary Logicstic

g

Ex p(B) Tham gia tổ chức sản xuất lúa (có, không) 1,2

05

0,

040

3,

336

03

0,

000

18 ,232

80

0,

043

1,

083

-7,910

0,

003

0,

000

-2 Log likelihood (-2LL): 40,188 Xác suất dự đoán đúng: 78,3%

2.3 Những vấn đề trong hợp đồng

Nông dân tham gia hợp đồng đạt được nhiều mặt khả quan như: đầu ra ổn định với giá nông sản cao vì giá được đảm bảo theo giá thị trường cộng thêm phần chênh lệch, cắt nhiều khâu trung gian, nông dân được ứng trước vật tư, hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí tạo lợi nhuận cho nông dân Doanh nghiệp dễ dàng thu mua với sản phẩm chất lượng đồng loạt, chủ động vùng nguyên liệu cung ứng ra thị trường

Bên cạnh mặt tích cực, sản xuất theo hợp đồng tại huyện Vĩnh Thạnh còn nhiều vấn đề quan tâm Mặc dù đa số hợp đồng là văn bản giấy nhưng cũng số đông nông dân ký trực tiếp với doanh nghiệp mà không có sự chứng kiến của chính quyền địa phương làm giảm tính hiệu lực trong hợp đồng Thêm vào đó

là nội dung văn bản được doanh nghiệp soạn thảo nên rất nhiều nông dân mặc

dù biết nhưng chưa rõ các điều khoản trong hợp đồng Nông dân cũng chưa

Trang 9

459

quen với hình thức ràng buộc kỹ thuật, ghi chếp sổ sách Bên cạnh đó, vẫn còn

doanh nghiệp thu mua không đúng ngày hợp đồng làm ảnh hưởng đến năng suất

và chất lượng lúa Doanh nghiệp còn phân nhiều loại nông sản với chất lượng

khác nhau nên giá mua cũng khác nhau Ngược lại cũng có nông dân không bán

cho doanh nghiệp như đã ký kết, không trung thực trong quá trình sản xuất, bảo

quản lúa Đây là những lý do ảnh hưởng đến kết quả thực thi hợp đồng giữa

nông dân và doanh nghiệp

2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả hợp đồng tiêu thụ lúa

Từ những tồn tại trên, đề tài đề xuất một số giải pháp như sau:

Cần thiết sự quan tâm và tham gia của chính quyền đìa phương vào hợp

đồng cho nông dân tin tưởng và cho tính hiệu lực hợp đồng nâng Bên cạnh còn

thông tin, khuyến khích nông hộ tham gia hình thức tổ chức này

Nông dân cần nâng cao trình độ thông qua cách quản lý sổ sách, ứng

dụng Tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, dồn điền đổi thửa, mạnh dạn, chủ động

tham gia hợp đồng, quan tâm và hiểu hết điều khoản trước khi ký hợp đồng

Cần ràng buộc giữa CẦN và LỢI (nhu cầu và lợi ích) giữa nông dân và

doanh nghiệp một cách lâu dài và hài hóa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau, cùng

chia sẽ quyền lợi và trách nhiệm trên sản phẩm cuối cùng có như thế thì khả

năng thực thi hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân được thực hiện tốt hơn

3 Kết luận

Kết quả đề tài cho thấy nông dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất

khi biết áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Nhất là hộ tham gia hợp

đồng biết tham gia tổ chức sản xuất lúa tại địa phương và cắt nhiều khâu trung

gian khi tiêu thụ lúa trực tiếp với doanh nghiệp Hiệu quả tài chính của hộ tham

gia hợp đồng hơn hẳn hộ không tham gia hợp đồng khi mà lợi nhuận, hiệu quả

đồng vốn và hiệu quả lao động chênh lệch đáng kể Đề tài còn phân tích rõ chi

phí cơ hội chiếm khoảng 30% vốn đầu tư cho nhà quản lý có thêm cơ sở định

giá lúa sàn cho nông dân có lợi nhuận cao

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia trong hợp đồng tiêu thụ lúa gạo là

có tham gia tổ chức sản xuất lúa địa phương, có kinh nghiệm và diện tích đất

lúa Đề tài còn đề xuất các giải pháp về sự tham gia và khuyến khích của chính

quyền địa phương, nâng cao trình độ sản xuất và quản lý của nông dân, hài hòa

Trang 10

460

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Miyata, S., N Minot, D Hu, (2009) Impact of contract farming on

income: Linking small farmers, packers, and supermarkets in China , World

Development 37

2 Đặng Kim Sơn, (2001) Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, NXB Nông

nghiệp Hà Nội

3 Trần Quốc Nhân, (2012) “Phân tích nguyên nhân dẫn đến việc thực thi hợp đồng tiêu thụ nông sản kém giữa nông dân và doanh nghiệp ở Việt

Nam”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Số 10(7), 8 trang: 1069-1077

Ngày đăng: 09/01/2020, 17:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm