1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Xây dựng quy trình khảo sát đột biến gen ABCD1 trong bệnh loạn dưỡng chất trắng thượng thận (Adrenoleukodystrophy)

5 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 297,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh loạn dưỡng chất trắng thượng thận (LDCTTT) thuộc nhóm bệnh di truyền thoái hóa thần kinh, với tần suât mắc bệnh trong khoảng 1/20000 đến 1/50000 trẻ. Nguyên nhân bệnh thường do bởi những đột biến trên gen ABCD1, nằm trên nhiễm sắc thể X mã hóa cho protein ALD, một protein vận chuyển trên màng peroxisome.

Trang 1

XÂY DỰNG QUY TRÌNH KHẢO SÁT ĐỘT BIẾN GEN ABCD1

TRONG BỆNH LOẠN DƯỠNG CHẤT TRẮNG THƯỢNG THẬN

(ADRENOLEUKODYSTROPHY)

Nguyễn Thế Vinh * , Hoàng Anh Vũ *

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh loạn dưỡng chất trắng thượng thận (LDCTTT) thuộc nhóm bệnh di truyền thoái hóa thần kinh, với tần suât mắc bệnh trong khoảng 1/20000 đến 1/50000 trẻ Nguyên nhân bệnh thường do bởi những đột biến trên gen ABCD1, nằm trên nhiễm sắc thể X mã hóa cho protein ALD, một protein vận chuyển trên màng peroxisome Những đột biến này gây ra sự tích tụ acid béo bão hòa chuỗi rất dài ảnh hưởng đến myelin trong hệ thần kinh trung ương, vỏ thượng thận, tế bào Leydig tinh hoàn Sử dụng công cụ sinh học phân tử trong việc chẩn đoán bệnh LDCTTT đưa ra những đánh giá chính xác, nhanh chóng giúp bệnh nhân nhận được chế độ điều trị thích hợp, làm chậm quá trình bệnh và kéo dài thời gian sống

Mục tiêu: Xây dựng được quy trình ứng dụng kỹ thuật giải trình tự khảo sát đột biến trên gen ABCD1 Đối tượng và phương pháp: Tiến hành trên một bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng mắc LDCTTT, tách chiết DNA từ máu bệnh nhân và thực hiện kỹ thuật giải trình tự gen, phân tích đột biến gen ABCD1

Kết quả: Thiết kế thành công 5 cặp mồi và quy trình PCR khuếch đại 10 exon gen ABCD1 Phát hiện đột biến dịch khung p.Q472fsX554

Kết luận: Nghiên cứu đã hoàn thiện quy trình và ứng dụng thành công kỹ thuật giải trình tự trong chẩn đoán đột biến gen ABCD1

Từ khóa: loạn dưỡng chất trắng thượng thận, gen ABCD1, kỹ thuật giải trình tự

ABSTRACT

DEVELOP A PROTOCOL FOR SCREENING ABCD1 MUTATIONS IN ADRENOLEUKODYSTROPHY

Nguyen The Vinh, Hoang Anh Vu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 1 - 2016: 376 - 380

Background: Adrenoleukodystrophy is a genetic degenerative disorder of nervous system with an incidence estimated between 1/20000 to 1/50000 children The cause of disease come from the mutations on ABCD1 gene located on X chromosome, that encodes for ALD protein which is transporter protein on peroxisome membrane These mutations lead to the accumulation of very long chain fatty acid that affects the myelin in the central nervous system, the adrenal cortex and the Leydig cells in the testes Using biomolecular engineering in adrenoleukodystrophy prognosis gives results correctly and fast, so the patient would be treated appropriately and disease process could be slowed down

Objective: Develop a sequencing protocol for ABCD1 mutations screening

Method: Sequence and screen for ABCD1 mutations using DNA from blood of OI patients diagnosed clinically

Results: Successfully designed 5 pairs of primer and PCR protocol that amplifies 10 exons of ABCD1 Identified a frameshift mutation p.Q472fsx55

* Trung tâm Y sinh học Phân tử, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

Trang 2

Conclusion: Our research has developed and applied successfully a sequencing protocol to identify mutations of ABCD1

Keywords: Adrenoleukodystrophy, ABCD1, sequencing

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh loạn dưỡng chất trắng thượng thận

(LDCTTT), tên tiếng anh

Adrenoleukodystrophy, là một nhóm bệnh di

truyền thoái hóa thần kinh được mô tả lần đầu

vào năm 1913 bởi Schilder(1) Tần suất mắc bệnh

LDCTTT trong khoảng 1/20000 đến 1/50000

trẻ(16) Bệnh ảnh hưởng đến tính ổn định của

myelin trong não và dây thần kinh ngoại vi do

sự khiếm khuyết quá trình beta oxi hóa chất béo

của peroxisome Các biểu hiện lâm sàng thường

gặp là rối loạn thị giác, thoái hóa thần kinh vận

động và nhận thức, suy chức năng vỏ thượng

thận… Bệnh nhân có thể nhập viện với tổn

thương hệ thần kinh trung ương tiến triển

nhanh hoặc có thể có các triệu chứng tương tự

như một số rối loạn tâm thần, có thể gây chẩn

đoán sai(9)

Ở các bệnh nhi, LDCTTT tiến triển nhanh,

dẫn đến tình trạng hôn mê dài hạn khoảng 2

năm sau khi các triệu chứng hệ thần kinh phát

triển, các hình thức khác của bệnh này nhẹ hơn

Ba phương pháp điều trị thường sử dụng cho

bệnh nhân LDCTTT: điều chỉnh chế độ ăn uống

ít mỡ, sử dụng một số loại thuốc (Lorenzo(11),

Lovastatin(13)…), cấy ghép tế bào gốc(2)

ABCD1 nằm trên NST Xq28, và trên những

bệnh nhân LDCTTT thường phát hiện đột biến

trên gen này ABCD1 thuộc siêu họ protein vận

chuyển bám ATP Siêu họ này gồm các protein

màng vận chuyển nhiều loại cơ chất từ ngoài vào

trong tế bào, bao gồm nhiều loại sản phẩm biến

dưỡng, lipid, sterol và thuốc(4) ABCD1 biểu hiện

một nửa protein vận chuyển trên peroxisome(14)

Sự đột biến trên gen ABCD1 gây ra LDCTTT

ngăn cản sự hình thành protein ALD ở khoảng

75% bệnh nhân mắc hội chứng này Ở một số

bệnh nhân khác việc tạo protein ALD vẫn xảy ra

nhưng các protein không có chức năng Với một

ít protein ALD hoặc hoàn toàn không, các acid

béo chuỗi rất dài không bị phân hủy và tích tụ trong cơ thể Việc tích tụ này gây độc cho tuyến thượng thận và myelin bao quanh các dây thần kinh ở khắp cơ thể Nhiều nghiên cứu cho rằng

sự tích tụ acid béo chuỗi rất dài dẫn đến sự khởi phát đáp ứng viêm ở não, dẫn đến sự phá hủy myelin, gây ra các triệu chứng của LDCTTT(5)

Đột biến trên ABCD1 thường là những biến

đổi nhỏ gây ra đột biến sai nghĩa, vô nghĩa, mất một hoặc một vài acid amin, dịch khung đọc mã, đột biến tại vùng cắt nối exon-intron(10) Phổ đột

biến ABCD1 trải dài trên khắp gen, do đó sử

dụng phương pháp giải trình tự Sanger rất thích hợp cho việc tìm kiếm đột biến trên gen này Việc xác định sớm và tư vấn di truyền cho các bậc cha mẹ có tiền sử gia đình mắc LDCTTT

là cần thiết, nhằm dự đoán tình trạng bệnh con cái họ cũng như hạn chế biến chứng xảy ra nếu con cái họ mắc LDCTTT Phát hiện tình trạng bệnh sớm nhất có thể đưa ra những biện pháp chữa trị hợp lý giảm nguy cơ mất chức năng

tuyến thượng thận Nếu đột biến ABCD1 ở bệnh

nhân có tính gia đình, phương pháp xét nghiệm sinh học phân tử có thể đánh giá được nguy cơ bệnh trên người thân và họ hàng của bệnh nhân Hiện nay vẫn chưa thấy có báo cáo nào tại Việt Nam nghiên cứu về những đột biến gen

ABCD1 trong bệnh LDCTTT Ứng dụng các

phương pháp xét nghiệm gen trong y sinh học phân tử trong việc chẩn đoán bệnh LDCTTT, cũng như các bệnh di truyền khác sẽ cho kết quả chính xác, nhanh chóng Đồng thời giúp chẩn đoán sớm bệnh ở các bệnh nhi có biểu hiện triệu chứng bệnh chưa rõ ràng, cũng như tiềm năng trong các ứng dụng chẩn đoán tiền sinh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Mẫu genomic DNA được thu nhận từ máu bệnh nhân được chẩn đoán bệnh loạn dưỡng

Trang 3

chất trắng thượng thận Mẫu máu bệnh nhân

được đánh mã số ALD-10

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm

Y Sinh học Phân tử - Đại học Y Dược TP.HCM

Mẫu xét nghiệm là mẫu máu được ly trích

DNA và giải trình tự DNA toàn bộ 10 exon

gen ABCD1

Tách chiết genomic DNA từ mẫu máu: Tiến

hành lấy 2 ml máu tĩnh mạch, cho vào ống chống

đông có EDTA, lắc đều nhẹ nhàng Genomic

DNA được tách chiết trong vòng 24 giờ bằng bộ

kit illustra blood genomicPrep Mini Spin Kit (GE

Healthcare, Anh) theo hướng dẫn sử dụng của

nhà sản xuất

Thiết kế mồi cho 10 exon của gene ABCD1:

Sử dụng phần mềm CLC main workbench tải

trình tự gene ABCD1 của người từ NCBI

(NG_009022.2 ), sau đó sử dụng công cụ thiết kế

mồi sẵn có của phần mềm để thiết kế mồi PCR

cho các exon của gene ABCD1

Thiết lập điều kiện cho PCR khuếch đại toàn

bộ chiều dài gen ABCD1: Mỗi tube PCR có thể

tích 15 l chứa các thành phần: 1,5μl PCR buffer

10X; 1,5μl dNTP 2,5mM; 0,75μl mỗi mồi xuôi và

ngược (10nM/μl), 0,1μl TaKaRa TaqTM HotStart

Polymerase (Takara, Nhật Bản), 2μl genomic

DNA (20-50ng/μl) và 8,4μl nước cất 2 lần khử

ion Các phản ứng luôn kèm theo một chứng âm

không chứa DNA để kiểm soát ngoại nhiễm

Chu trình luân nhiệt cho PCR được thực hiện

trên máy Mastercycler@Pro S (eppendorf, Đức)

Chu kỳ nhiệt: khởi đầu tại 98oC trong 3 phút, tiếp

theo với 40 chu kỳ lặp lại các bước 98oC : 10 giây,

60oC : 20 giây, 72oC : 1 phút 30 giây; kế tiếp với bước 72oC : 2 phút Trữ sản phẩm PCR tại 4oC Kiểm tra sản phẩm PCR bằng điện di trên thạch agarose: Trên thạch agarose 2% có nhuộm ethium bromide và quan sát với hệ thống chụp ảnh điện di Geldoc-ItTM (UVP, Mỹ)

Tinh sạch sản phẩm: Trường hợp có băng phụ xuất hiện, sản phẩm PCR mong muốn được cắt từ gel và tinh sạch Sản phẩm PCR trực tiếp hoặc cắt từ gel sau đó được tinh sạch bằng illustraTM GFXTM PCR DNA and Gel Band Purification Kit (GE Healthcare) theo hướng dẫn

sử dụng của nhà sản xuất

Giải trình tự bằng phương pháp Sanger: Sản phẩm PCR đã được tinh sạch sẽ được thực hiện phản ứng cycle sequencing với BigDye® Terminator v3.1 Cycle Sequencing kit (Applied Biosystems, Mỹ) theo hai chiều xuôi

và ngược Sản phẩm sau đó được kết tủa bằng ethanol tuyệt đối, lạnh, với sự hỗ trợ tủa bằng muối NH4OAC, hòa tan trong Hi-Di formaldehyde, biến tính ở 96C trước khi làm lạnh đột ngột ở 4oC Trình tự DNA được đọc bằng máy ABI 3130 Genetic Analyzer, với POP-7 polymer và capillary 50 cm (Applied Biosystems, Mỹ)

Phân tích kết quả giải trình tự: Kết quả giải trình tự sẽ được phân tích bằng phần mềm CLC Main Workbench, so sánh với trình tự chuẩn của

ABCD1 tham khảo từ ngân hàng trình tự gene

trên website NCBI

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả thiết kế mồi được trình bày trong bảng 1:

Bảng 1: Trình tự 11 cặp mồi sử dụng khuếch đại 10 exon gen ABCD1 và thông số

phẩm (bp)

Vùng exon khuếch đại

Trang 4

STT Mồi xuôi (5’-3’) Mồi ngược (5’-3’) Kích thước sản

phẩm (bp)

Vùng exon khuếch đại

Kết quả PCR: Để giảm chi phí nghiên cứu

cũng như tiết kiệm thời gian, thiết kế phản ứng

PCR khuếch đại các vùng trên gen ABCD1 có

mang nhiều exon nằm gần nhau theo bảng 2

Bảng 2: Các phản ứng khuếch đại exon gen ABCD1

DNA từ máu bệnh nhân

Chứng âm (nước cất 2 lần khử ion)

Kích thước vùng khuếch đại (bp)

Hình 1: Kết quả điện di sản phẩm PCR Giếng 1, 2

(mồi ABCD1_1F/1R, 1460bp), giếng 3, 4(mồi

ABCD1_2F/2R, 633bp), giếng 5, 6(mồi ABCD1_3F/5R,

1470bp), giếng 7, 8 (mồi ABCD1_6F/7R, 2172bp), giếng 9,

10 (mồi ABCD1_8F/10R, 1633bp)

Nhận xét: kết quả điện di cho thấy giếng số

1, 3, 5, 7, 9 cho sản phẩm có kích thước mong

muốn Các giếng chứng âm 2, 4, 6, 8, 10 không có

sản phẩm khuếch đại, chứng tỏ phản ứng PCR

thành công không xảy ra hiện tượng nhiễm chéo

Kết quả giải trình tự

Trên 10 exon được khảo sát của gen ABCD1

ở bệnh nhân, phát hiện được đột biến đồng hợp

tử, mất 2 nucleotide (c.1415-1416delAG) trên

exon 5 gen ABCD1 Đột biến làm lệch khung

dịch mã, thay đổi trình tự chuỗi acid amin protein ALD, tạo stop codon tại vị trí acid amin

số 554

Hình 2: Kết quả giải trình tự exon 5 trên gen ABCD1

ở bệnh nhân

BÀN LUẬN

Kết quả điện di cho thấy phản ứng PCR xảy

ra tốt, các băng sản phẩm khuếch đại đặc hiệu không có băng phụ xuất hiện, có thể kết luận các mồi thiết kế hoạt động tốt, khuếch đại chính xác, không tự bắt cặp tạo primer dimer Các giếng chứng âm âm tính cho thấy phản ứng không bị ngoại nhiễm, thao tác và quy trình thí nghiệm chặt chẽ, chuẩn xác

Gen ABCD1 có 10 exon, nhưng thiết kế 11

cặp mồi vì trên gen có một số đoạn giàu G/C hoặc A/T có thể gây khó khăn cho việc PCR và giải trình tự Sanger, do đó một số cặp được thiết kế dự phòng và được kết hợp lẫn nhau

để tìm ra cặp mồi tối ưu khuếch đại vùng exon mong muốn

Như kết quả PCR đưa ra, mặc dù có 10 exon nhưng chỉ cần 5 phản ứng PCR đủ để khuếch đại toàn bộ Như vậy, so với dự tính thiết kế mồi ban đầu, chúng tôi đã tiết kiệm tối

đa số phản ứng PCR cần thực hiện để khuếch

đại toàn bộ 10 exon gen ABCD1, giảm 50%

Trang 5

lượng hóa chất và công sức để thực hiện phản

ứng PCR

Theo một số báo cáo trên thế giới phát hiện

có nhiều đoạn giả gen của gen ABCD1 trên các

vùng NST khác ( NST 2 – 2p11, NST 10 – 10p11,

NST 16 – 16p11 và NST 22- 22q11)(15) Những

đoạn giả gen mang trình tự giống các vùng exon

8, 9, 10 trên gen ABCD1 được lấy từ NCBI với

mã tương ứng với các đoạn trên NST 2, 10, 16, 22

như sau: U90288, U90289, U90290, U90291(6) Sử

dụng các trình tự này để thiết kế các mồi cho

exon 8, 9, 10 sao cho các mồi tránh khuếch đại

các vùng giả gen, làm sai kết quả chẩn đoán

Theo kết quả giải trình tự Sanger, phát

hiện đột biến mất 2 nucleotide A, G tại vị trí

17312 và 17313, đột biến này đã được báo cáo

trên nhiều bài báo trên thế giới(3,7,12), một thống

kê trên những bệnh nhân LDCTTT tại miền

nam Trung Quốc cho thấy đột biến này xuất ở

tần suất khá cao 26%(8) Đột biến gây ra sự lệch

khung dịch mã, làm thay đổi trình tự chuỗi

acid amin của protein ALD , tạo stop codon ở

vị trí 554 Sự biến đổi này ảnh hưởng đến các

domain của protein như domain vận chuyển

acid béo chuỗi rất dài, domain ATPase làm

mất chức năng protein này

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã thiết lập thành công quy

trình phát hiện đột biến trên 10 exon gen

ABCD1 bằng phương pháp giải trình tự chuỗi

Sanger Điều này có ý nghĩa quan trọng trong

việc chẩn đoán sớm để đưa ra phương pháp

trị liệu thích hợp cho bệnh nhân, giảm thiểu

hậu quả xấu do bệnh gây ra

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Benke PJ, Reyes PF, Parker Jr JC (1981) New form of

adrenoleukodystrophy Human genetics, 58(2):204-208

2 Cartier N, Aubourg P (2010) Hematopoietic Stem Cell

Transplantation and Hematopoietic Stem Cell Gene Therapy in

X-Linked Adrenoleukodystrophy Brain Pathology,

20(4):857-862

3 Chiu HC, Liang JS, Wang JS, Lu JF (2006) Mutational analyses

of Taiwanese kindred with X-linked adrenoleukodystrophy

Pediatric neurology, 35(4):250-256

4 Dean M, Hamon Y, Chimini G (2001) The human ATP-binding cassette (ABC) transporter superfamily Journal of lipid research, 42(7):1007-1017

5 Dumser M, Bauer J, Lassmann H, Berger J, Forss-Petter S (2007) Lack of adrenoleukodystrophy protein enhances oligodendrocyte disturbance and microglia activation in mice with combined Abcd1/Mag deficiency Acta neuropathologica, 114(6):573-586

6 Eichler EE, Budarf ML, Rocchi M, Deaven LL, Doggett NA, Baldini A, Nelson DL, Mohrenweiser HW (1997) Interchromosomal duplications of the adrenoleukodystrophy locus: a phenomenon of pericentromeric plasticity Human molecular genetics, 6(7):991-1002

7 Finsterer J, Lässer S, Stöphasius E (2013) Dementia from the ABCD1 mutation c 1415-1416delAG in a female carrier Gene, 530(1):155-157

8 Jiang MY, Cai YN, Liang CL, Peng MZ, Sheng HY, Fan LP, Lin

RZ, Jiang H, Huang Y, Liu L (2015) Clinical, biochemical, neuroimaging and molecular findings of X-linked Adrenoleukodystrophy patients in South China Metabolic brain disease, 30(6):1439-1444

9 Kitchin W, Cohen-Cole SA, Mickel SF (1987) Adrenoleukodystrophy: frequency of presentation as a psychiatric disorder Biological psychiatry, 22(11):1375-1387

10 Ligtenberg M, Kemp S, Sarde CO, van Geel BM, Kleijer WJ, Barth PG, Mandel JL, van Oost BA, Bolhuis PA (1995) Spectrum of mutations in the gene encoding the adrenoleukodystrophy protein American journal of human genetics, 56(1):44

11 Moser HW, Moser AB, Hollandsworth K, Brereton NH, Raymond GV (2007) “Lorenzo’s Oil” Therapy for X-linked Adrenoleukodystrophy: Rationale and Current Assessment of Efficacy Journal of Molecular Neuroscience, 33(1):105-113

12 Niu YF, Ni W, Wu ZY (2013) ABCD1 mutations and phenotype distribution in Chinese patients with X-linked adrenoleukodystrophy Gene, 522(1):117-120

13 Pai GS, Khan M, Barbosa E, Key LL, Craver JR, Curé JK, Betros

R, Singh I (2000) Lovastatin therapy for X-linked adrenoleukodystrophy: clinical and biochemical observations

on 12 patients Molecular genetics and metabolism,

69(4):312-322

14 Shani N, Valle D (1996) A Saccharomyces cerevisiae homolog

of the human adrenoleukodystrophy transporter is a heterodimer of two half ATP-binding cassette transporters Proceedings of the National Academy of Sciences,

93(21):11901-11906

15 Smith KD, Kemp S, Braiterman LT, Lu JF, Wei HM, Geraghty

M, Stetten G, Bergin JS, Pevsner J, Watkins PA (1999) X-linked adrenoleukodystrophy: genes, mutations, and phenotypes Neurochemical research, 24(4):521-535

16 Takemoto Y, Suzuki Y, Tamakoshi A, Onodera O, Tsuji S, Hashimoto T, Shimozawa N, Orii T, Kondo N P(2002) Epidemiology of X-linked adrenoleukodystrophy in Japan Journal of human genetics, 47(11):0590-0593

Ngày nhận bài báo: 20/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016

Ngày đăng: 09/01/2020, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w