1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nhân giống cây dâu tây nhật (Fragaria ananassa “Penihuble”) từ nuôi cấy đỉnh sinh trưởng

9 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 417,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khảo sát khả năng nhân giống dâu tây Nhật “Penihuble”. Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng từ các ngó dâu tây đạt tỷ lệ sống 93,33%, hình thành mô sẹo 60%, phôi sinh dưỡng (5,33 phôi/mẫu) trên môi trường MS bổ sung 0,2 mg/l NAA, 0,5 mg/l BA.

Trang 1

NHÂN GI ỐNG CÂY DÂU TÂY NHẬT (FRAGARIA ANANASSA “PENIHUBLE”)

T Ừ NUÔI CẤY ĐỈNH SINH TRƯỞNG

Trần Thị Ngọc Lan1

1 Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Lâm đồng

Thông tin chung:

Ngày nh ận bài: 18/01/2018

Ngày nhận kết quả bình duyệt:

18/02/2018

Ngày chấp nhận đăng: 04/2018

Title:

The process of

micropropagation of Fragaria

ananassa “Penihuble” through

apical meristem culture

Keywords:

α-naphtaleneacetic acid (NAA),

6-benzyladenine (BA), Apical

meristem, Fragaria ananassa

“Penihuble”, somatic embryos

Từ khóa:

α-naphtaleneacetic acid

(NAA), 6-benzyladenine

(BA), cây dâu tây, đỉnh sinh

trưởng, Fragaria ananassa

“Penihuble”, phôi sinh

dưỡng

ABSTRACT

A regeneration system was carried out to examine the competence of micropropagation from apical meristem culture of strawberry Fragaria ananassa “Penihuble” The results showed that calli and somatic embryos were formed from apical meristem culture of runner tips on the MS medium supplemented with 30 g/l sucrose, 7 g/l agar, 0.2 mg/l NAA, 0.5 mg/l BA (with the highest survival rate of 93.33%, the best induction callus rate of 60%, 5.33 somatic embryos/sample) Calli which was multiplied with 8.56 - fold fresh mass, formed somatic embryos with 15.78 embryos/initial callus when they were subcultured on the MS medium supplemented with 30 g/l sucrose, 7 g/l agar, 0.5 mg/l BA These embryos converted into normal plants on the ½ MS medium with the best regeneration rate of 100% without plant growth regulators Histological observation showed that these calli contained embryogenic cells In the ex-vitro culture, the highest survival rate was observed with mixture of Tribat substrate and rice husk ash in the ratio of 1:1 (72.33%) and no morphological variations were observed in these plantlets

TÓM T ẮT

Nghiên c ứu khảo sát khả năng nhân giống dâu tây Nhật “Penihuble” Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng từ các ngó dâu tây đạt tỷ lệ sống 93,33%, hình thành mô sẹo 60%, phôi sinh dưỡng (5,33 phôi/mẫu) trên môi trường MS bổ sung 0,2 mg/l NAA, 0,5 mg/l BA Mô sẹo được tiếp tục nhân lên đạt tỷ lệ tăng trưởng 8,56 lần, hình thành phôi sinh dưỡng (15,78 phôi/mẫu) trên môi trường MS bổ sung 30 g/l sucrose, 7 g/l agar, 0,5 mg/l BA Môi trường ½ MS là phù hợp cho phôi sinh dưỡng phát triển thành cây với tỷ lệ 100% mà không cần bổ sung chất điều hòa sinh trưởng thực vật Quan sát mô học mô sẹo cho thấy có nhiều tế bào có tiềm năng phát sinh phôi Cây con trồng trong tự nhiên với giá thể thích hợp là hỗn hợp đất sạch Tribat và trấu hun (tỷ lệ 1:1), tỷ lệ sống 72,33% Không có các sai hình nào được ghi nhận từ những cây này sau 30 ngày nuôi trồng

1 GI ỚI THIỆU

Cây dâu tây (Fragaria ananassa) thuộc họ Hoa

hồng (Rosaceae) là loại cây cho quả ngon, màu

sắc và hương thơm quyến rũ, được sử dụng làm

thực phẩm với nhiều món ăn ngon, đa dạng Quả

của cây dâu tây giàu chất khoáng, các hợp chất nhóm flavonoid chống oxi hóa, giàu các loại vitamin nhóm B và đặc biệt là lượng vitamin C khá cao, cao hơn cả cam, dưa hấu Đây là đặc điểm ưu việt của quả dâu tây, giúp tăng sức đề

Trang 2

kháng, chống nhiễm trùng, nhiễm độc, cảm cúm,

tốt cho tim mạch và chống stress Quả dâu tây

cũng chứa nhiều acid ellagic, được xem là chất

2005) Vì vậy, đây là loại quả có tiềm năng kinh

tế lớn Trong các giống dây tây, giống dâu tây

Nhật nhập nội cho quả to, màu sắc đỏ, đẹp, đặc

biệt có độ ngọt và mùi hương hấp dẫn Tuy nhiên,

trong nhân giống dâu tây, phương pháp nhân

giống sinh dưỡng từ ngó dâu thường dễ nhiễm

bệnh và thoái hóa giống, phương pháp gieo hạt

thường cho cây biến dị, quả nhỏ

Trên thế giới đã có các công bố về vi nhân giống

dâu tây Wang, Wergin và Zimmerman (1984),

nuôi cấy các phôi chưa trưởng thành của quả dâu

tây để tạo phôi sinh dưỡng Hassan và cs (2010),

nhân giống các mắt đốt dâu tây Fragaria x

ananassa Duch trên môi trường MS bổ sung 1

mg/l BA và 0,1 mg/l NAA để nhân chồi, ra rễ trên

môi trường MS bổ sung 0,1 mg/l IAA và cho

thấy sử dụng GA3 hay nước dừa không ảnh hưởng

đáng kể đến quá trình nhân chồi của dâu tây Mir

và cs (2010), nhân chồi từ các mắt đốt dâu tây

trên môi trường MS bổ sung 2 mg/l BA và 0,5

mg/l NAA Moradi, Otroshy và Azimi (2011),

nhân giống các mắt đốt của cây dâu tây gieo hạt in

vitro trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l BA và

0,2 mg/l kinetin để nhân chồi, ra rễ trên môi trường MS bổ sung 0,1 mg/l BA và 0,2 mg/l IBA Ashrafuzzaman và cs (2013) đã nhân giống chồi

từ các ngó dâu tây trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l BA, ra rễ trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l IBA Husaini và cs (2008) đã có công

bố về sự hình thành phôi sinh dưỡng từ mô sẹo dâu tây được hình thành từ những mẫu lá trên môi trường MS bổ sung 4 mg/l TDZ Tuy nhiên, phương pháp tạo phôi sinh dưỡng từ nuôi cấy đỉnh sinh trưởng thì chưa được đề cập Đây cũng

là phương pháp hữu hiệu trong nhân giống và gia tăng tỷ lệ không nhiễm virus Vì vậy, trong nghiên cứu này, mục tiêu mà chúng tôi hướng đến là nhân giống hàng loạt cây con từ nuôi cấy đỉnh sinh trưởng qua con đường phát sinh phôi sinh dưỡng với giống dâu tây Nhật nhập nội có giá trị kinh tế cao

2 V ẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

C ỨU 2.1 V ật liệu

Đối tượng nghiên cứu: các ngó của giống dâu tây

(Fragaria ananassa “Penihuble”), có xuất xứ từ Nhật, là các giống dâu cho trái to, ngọt và đẹp được nhập nội (Hình 1a, 1b) Trên thị trường tại

Đà lạt, 1 kg dâu tây loại này có giá khoảng

400000 Việt Nam đồng

Hình 1 Cây dâu tây (Fragaria ananassa “Penihuble”)

a Cây mang qu ả b Một đoạn ngó dâu tây

Trang 3

Môi trường nuôi cấy cơ bản: MS (Murashige,

Skoog, 1962), pH được điều chỉnh 5,7, hấp vô

trùng ở 121 οC, 1 atm

2.2 Phương pháp

2.2.1 Kh ảo sát ảnh hưởng của chất điều hòa

sinh trưởng thực vật lên quá trình nuôi

c ấy đỉnh sinh trưởng cây dâu tây

X ử lý nhiệt chồi dâu tây

Các ngó dâu tây được bỏ các lá ngoài, có chiều

dài từ 1 cm – 1,25 cm, rửa sạch dưới vòi nước

đang chảy, rửa lại bằng nước rửa chén Sunlight,

rửa lại dưới vòi nước đang chảy, khử trùng trong

tủ cấy bằng ethanol 900, rửa nước đã hấp vô trùng,

khử trùng tiếp bằng HgCl2 0,1% trong 6 phút, bỏ

bớt các lá ngoài, chỉ còn lại các chồi mang từ 4 - 5

lá non, rửa nước đã hấp vô trùng 3 lần Nuôi cấy

các chồi này trong môi trường MS bổ sung 30 g/l

sucrose, 7 g/l agar, cường độ ánh sáng 2000 lux

và độ ẩm không khí 70%, ủ trong điều kiện chiếu

sáng 16/24 giờ ở 37 οC trong 7 ngày nhằm tiêu

diệt virus (nếu có) Nuôi cấy 1 mẫu/bình có thể

tích 250 ml với 20 ml môi trường nuôi cấy

Nuôi c ấy đỉnh sinh trưởng

Các chồi đã được nuôi in vitro như trên được tách

tiếp các lá bao chồi, rửa nước đã hấp vô trùng 3

lần, dùng dao và kẹp tách lấy đỉnh sinh trưởng

mang từ 2 - 3 lá sơ khởi (thao tác được thực hiện

dưới kính lúp, Hình 2a1.) và cấy vào môi trường

MS bổ sung BA (0, 0,5 hoặc 1 mg/l), có kết hợp

hay không kết hợp NAA (0, 0,2 mg/l), 30 g/l

sucrose và 7 g/l agar Mỗi nghiệm thức gồm 5

mẫu Nuôi cấy 1 mẫu/bình có thể tích 250 ml với

20 ml môi trường nuôi cấy Theo dõi sự sống sót,

sự phát sinh mô sẹo, phôi sinh dưỡng hay chồi

của mẫu cấy sau 15 ngày và 30 ngày nuôi cấy

2.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của NAA và BA lên

sự tăng trưởng của mô sẹo và hình thành

phôi sinh dưỡng dâu tây có nguồn gốc từ

nuôi c ấy đỉnh sinh trưởng

Các mô sẹo dâu tây hình thành từ nuôi cấy đỉnh

sinh trưởng (50 mg/mẫu) được nuôi cấy tiếp tục

trên môi trường MS bổ sung 30 g/l sucrose, 7 g/l

agar và các nồng độ khác nhau của BA (0, 0,5 mg/l) và NAA (0, 0,2 mg/l) Nuôi cấy 5 mẫu có khối lượng 50 mg/bình, thể tích 250 ml với 40 ml môi trường nuôi cấy Mỗi nghiệm thức gồm 5 bình Quan sát và thu nhận số liệu về tỷ lệ tăng trưởng (khối lượng mô sẹo sau nuôi cấy/khối lượng mô sẹo trước nuôi cấy), số phôi sinh dưỡng trung bình hình thành sau 30 ngày nuôi cấy

2.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ môi trường MS lên sự sinh trưởng của phôi sinh dưỡng cây dâu tây

Các phôi sinh dưỡng thu nhận từ các thí nghiệm trên được nuôi cấy trên 3 loại môi trường: MS ¾

MS và ½ MS bổ sung 20 g/l sucrose, 1 g/l than

hoạt tính (AC) và 7 g/l agar để khảo sát sự sinh trưởng, hình thành cây và phát triển của các phôi này Nuôi cấy 20 mẫu/bình có thể tích 500 ml với

70 ml môi trường nuôi cấy Quan sát và thu nhận

số liệu về tỷ lệ hình thành cây con (số phôi hình thành cây con trên số phôi nuôi cấy *100), chiều cao, màu sắc của cây, số lá, số rễ và chiều dài rễ trung bình/cây sau 30 ngày nuôi cấy

2.2.4 Kh ảo sát ảnh hưởng của giá thể môi trường lên khả năng sống sót và sinh trưởng của cây dâu tây sau 30 ngày nuôi trồng trong điều kiện ex vitro

Cây con từ nuôi cấy in vitro được giữ nguyên

trong bình, chuyển ra ngoài vườn ươm trong 1 tuần để thích ứng Sau đó, cây con được lấy ra,

rửa sạch môi trường bám lên rễ, trồng trong các

loại giá thể: vỏ trấu hun, đất sạch (Tribat 10 kg/bao) hay hỗn hợp tro trấu hun và đất sạch (tỷ lệ 1:1), có độ ẩm 85% Cây được trồng trong các bầu

nhựa polyethylene, đường kính bầu 8 cm; tưới cây

2 lần/ngày Quan sát sự sống sót và sự sinh trưởng của cây dâu tây Số liệu được thu nhận sau 30 ngày nuôi trồng

2.2.5 Quan sát mô h ọc

Làm các loại tiêu bản về mô sẹo với việc cắt lát theo chiều ngang mẫu mô sẹo cần quan sát, ngâm trong dung dịch javel 10% trong 15 phút, rửa nước, ngâm trong dung dịch acid acetic 45% trong 15 phút, rửa nước, nhuộm màu bằng thuốc

Trang 4

nhuộm hai màu đỏ carmin và xanh iod trong 15

phút, rửa nước và quan sát trên kính hiển vi quang

học Olympus, Nhật với độ phóng đại 40 - 400 lần

Quan sát đỉnh sinh trưởng cây dâu tây ở độ phóng

đại 100 lần

2.2.6 Điều kiện thí nghiệm

Tất cả các thí nghiệm nhân giống in vitro và ex

vitro được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, lặp lại ba

lần Nhiệt độ phòng nuôi: 25 οC ± 1 οC, cường độ

ánh sáng 2000 lux và độ ẩm không khí 70% Chu

kỳ chiếu sáng trong ngày: 16 giờ sáng và 8 giờ

tối Trong thí nghiệm khảo sát sự thích nghi của

cây con trong điều kiện ex vitro thì sử dụng vườn

ươm (có lưới che 50% ánh sáng trong 15 ngày

đầu), có nhiệt độ dao động ngày đêm là 17 οC –

25 οC ± 1 οC, cường độ ánh sáng: 7000 lux và độ

ẩm không khí: 80%

2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu

Các thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn

toàn ngẫu nhiên, mỗi thí nghiệm được lặp lại 3

lần Các số liệu thu được là giá trị trung bình của

3 lần lặp lại Số liệu thu thập được xử lý trên phần

mềm Excel 2010 và được phân tích thống kê bằng

phép thử Duncan (sự khác biệt có ý nghĩa ở mức

xác suất P < 0,05) với phần mềm xử lý thống kê SPSS (Statistical Program Scientific System) 16.0

3 K ẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của NAA và BA lên quá trình nuôi c ấy đỉnh sinh trưởng cây dâu tây

Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng cây dâu tây với việc bổ sung các nồng độ khác nhau của NAA và BA, kết quả nhận được thể hiện qua Bảng 1

Quan sát mẫu đỉnh sinh trưởng cây dâu tây trên kính hiển vi có hình vòm (Hình 2a1) Đây là nơi

chứa các tế bào mô phân sinh với những tế bào kích thước nhỏ, nhân to và có tiềm năng phân chia mạnh mẽ Có thể gọi đỉnh sinh trưởng là nơi chứa các tế bào gốc, nơi biệt hóa các cơ quan sau này Thông thường, các virus di chuyển dễ dàng trong

cơ thể thực vật thông qua hệ thống mạch dẫn, là cấu trúc mà ở đỉnh phân sinh không có Chính vì

vậy, mô phân sinh đỉnh thường khó nhiễm virus (Morel, 1960) Hơn nữa, hoạt tính trao đổi chất cao trong quá trình phân chia của các tế bào mô phân sinh cũng như nồng độ auxin nội sinh cao ở trong các đỉnh chồi có thể ức chế sự sinh sản, sao chép của virus

B ảng 1 Ảnh hưởng của NAA và BA lên quá trình nuôi cấy đỉnh sinh trưởng cây dâu tây sau 30 ngày nuôi cấy

Môi trường nuôi cấy bổ

(%)

T ỷ lệ hình thành mô s ẹo (%)

S ố phôi/mẫu T ỷ lệ hình

thành ch ồi (%)

NAA(mg/l) BA(mg/l)

Chú thích: *: Các mẫu tự khác nhau (a,b, ) trong cùng một cột biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa với P <0,05 bằng phép thử Duncan

Đỉnh sinh trưởng có thể hình thành phôi sinh

dưỡng với tiềm năng nhân phôi IAA được hình

thành từ đỉnh sinh trưởng làm cho môi trường

nuôi cấy nếu có bổ sung IAA sẽ làm giảm khả

năng nhân lên của phôi, vì vậy, nghiệm thức chỉ

bổ sung 0,2 mg/l NAA là không khả thi Ở nghiệm thức bổ sung 0,2 mg/l NAA và 0,5 mg/l

BA cho tỷ lệ sống sót cũng như tỷ lệ hình thành

mô sẹo và phôi sinh dưỡng là cao hơn cả (tương ứng lần lượt là 93,33% và 60% với số phôi trung

Trang 5

bình đạt 5,33 phôi/mẫu) Mô sẹo phôi màu vàng

đã hình thành sau 15 ngày nuôi cấy (Hình 2a2)

Mô sẹo hình thành và các phôi phát triển độc lập

sau 30 ngày nuôi cấy (Hình 2b)

Các auxin như NAA cần kết hợp với IAA nội sinh

ở mô phân sinh đỉnh chồi, kích thích tế bào cảm

ứng thành phôi (Jiménez & Thomas, 2005) Đây

cũng có thể là yêu cầu chủ yếu trong quá trình

phát sinh phôi Sự kết hợp giữa NAA và BA làm

tế bào mô phân sinh dãn vách, tăng kích thước,

tăng khả năng phân chia, giúp tế bào sống sót và

biệt hóa khả năng tế bào gốc của mình để hình

thành phôi sinh dưỡng Sự tham gia tuy với nồng

độ thấp của NAA đã phối hợp với BA gia tăng

khả năng phân bào của các phôi sinh dưỡng Sự

kết hợp giữa NAA và BA trong nuôi cấy phôi

thường áp dụng trong nuôi cấy nhân phôi họ Lan

(Orchidaceae) hay nhân chồi từ các đoạn thân như

công bố của Mir và cs (2010) trên đối tượng dâu

tây Fragaria x ananassa

Sự hình thành phôi sinh dưỡng từ phôi non của cây dâu tây đã được báo cáo bởi Wang và cs (1984) Tuy nhiên, sự biệt hóa từ phôi non thường

có kiểu di truyền không giống với cây mẹ Nhân giống tạo phôi sinh dưỡng từ nuôi cấy đỉnh sinh trưởng thường cho thế hệ cây con tương đồng về

kiểu di truyền với cây mẹ Đây cũng là ưu thế của việc nuôi cấy đỉnh sinh trưởng (Morel, 1964)

3.2 Ảnh hưởng của NAA và BA lên lên sự

tăng trưởng của mô sẹo, hình thành phôi sinh dưỡng có nguồn gốc từ nuôi cấy đỉnh sinh trưởng dâu tây

Các mẫu mô sẹo tiếp tục nuôi cấy sẽ tăng trưởng

và hình thành phôi sinh dưỡng (Hình 2c, 2e) Các

số liệu về sự tăng trưởng của mô sẹo và sự hình thành phôi sinh dưỡng dâu tây được trình bày qua Bảng 2

B ảng 2 Ảnh hưởng của NAA và BA lên quá trình nhân lên của phôi sinh dưỡng có nguồn gốc từ nuôi cấy đỉnh sinh trưởng cây dâu tây sau 30 ngày nuôi cấy

Môi trường nuôi cấy bổ sung T ỷ lệ tăng trưởng của

Chú thích: *: Các m ẫu tự khác nhau (a, b, ) trong cùng một cột biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa với P <0,05 bằng phép thử Duncan

Các nghiên cứu nhân giống dâu tây từ ngó của

Moradi và cs (2011) hoặc của Nayem và cs

(2011) cho thấy, ngoài 0,5 mg/l BA, cần bổ sung

vào môi trường nuôi cấy từ 0,2 mg/l – 2 mg/l

kinetin để nhân chồi nhưng trong nghiên cứu này

chỉ cần bổ sung 0,5 mg/l BA là đủ để mô sẹo phát

triển với tỷ lệ tăng trưởng gấp 8,56 lần so với khối

lượng ban đầu và số phôi hình thành/mẫu đạt cao

nhất trong các nghiệm thức (15,78 phôi/mẫu)

Điều này cho thấy, tiềm năng phát sinh phôi khi

nuôi cấy đỉnh sinh trưởng dâu tây, chỉ cần 1 lượng

vừa đủ chất điều hòa sinh trưởng thực vật

(CĐHSTTV) là đủ để chúng phát sinh phôi và biệt hóa thành cây Trong nghiên cứu sự hình thành phôi sinh dưỡng, sự giảm nồng độ auxin và bổ sung hàm lượng citokinin thường kích thích các

mô sẹo hình thành phôi Sự bổ sung chỉ BA trong nghiên cứu này một lần nữa đã khẳng định điều này Sự quan trọng của BA trong việc nhân chồi dâu tây cũng đã được trình bày ở một số nghiên cứu (Adel & Sawy, 2007; Biswas & cs., 2007; Hasan, Nigar, Rabby, Mizan & Rahman, 2010)

Trang 6

3.3 Ảnh hưởng của nồng độ môi trường MS

lên s ự sinh trưởng của phôi sinh dưỡng

dâu tây

Nồng độ các chất dinh dưỡng ảnh hưởng đến khả

năng biệt hóa và phát triển thành cây của phôi

sinh dưỡng dâu tây với các kết quả nhận được, thể

hiện qua Bảng 3

Tỷ lệ hình thành cây con đạt cao nhất trên môi

trường ½ MS (100%) Tỷ lệ hình thành cây con

trên hai môi trường còn lại có thấp hơn do một

phần số phôi tiếp tục nhân lên (Hình 2f) Điều này

cho thấy, bản chất nhân phôi của các phôi sinh

dưỡng dâu tây trên môi trường đủ dinh dưỡng

mặc dù không bổ sung CĐHSTTV Trên môi

trường MS, phôi phát triển thành cây con nhưng

cây cao, lá mọng, xanh không đậm Trên môi

trường ½ MS tuy chiều cao cây có thấp hơn hai môi trường còn lại nhưng cây cho lá xanh đậm, cứng cáp với số rễ và chiều dài rễ đạt tương đương với hai môi trường trên (Bảng 3, Hình 2g) Các nghiên cứu của Adel và Sawy (2007) hay Ashrafuzzaman và cs (2013) đã sử dụng IBA để kích thích ra rễ các chồi dâu tây in vitro, trong nghiên cứu của chúng tôi đã không sử dụng CĐHSTTV nhưng các phôi dâu vẫn phát triển, hình thành cây con hoàn chỉnh, minh chứng cho

bản chất tự lập của phôi sinh dưỡng dâu tây

Việc sử dụng than hoạt tính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của rễ nhờ hấp phụ các chất thải có tính ức chế do cây tiết ra; đồng thời làm giảm cường độ ánh sáng đến môi trường vùng

rễ

nuôi c ấy

Môi trường

nuôi c ấy

T ỷ lệ hình thành cây con (%)

Chi ều cao cây

r ễ (cm)

Chú thích: *: Các m ẫu tự khác nhau (a, b, ) trong cùng một cột biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa với P <0,05 bằng phép thử Duncan

3.4 Ảnh hưởng của giá thể môi trường lên

kh ả năng sống sót và sinh trưởng của cây

dâu tây sau 30 ngày nuôi tr ồng

Nuôi cấy cây con dâu tây trong điều kiện ex vitro

thường khó, tỷ lệ chết rất cao do cây mọng nước,

dễ nhiễm khuẩn Chính vì vậy, giá thể nuôi trồng

là yếu tố quan trọng trong sự sống sót và phát triển của cây trong điều kiện ex vitro

B ảng 4 Ảnh hưởng của giá thể môi trường lên khả năng sống sót và sinh trưởng của cây dâu tây sau 30 ngày nuôi

tr ồng

Giá th ể môi trường T ỷ lệ cây sống

sót (%)

cây (cm)

m ới/cây Hình thái c ủa cây

không đậm, rễ phát triển kém

Cây có chiều cao vừa phải, lá

cứng cáp, xanh đậm, rễ phát triển

Trang 7

Giá th ể môi trường T ỷ lệ cây sống

sót (%)

cây (cm)

m ới/cây Hình thái c ủa cây

Hỗn hợp đất sạch

Tribat và trấu hun (tỷ

lệ 1:1)

xanh đậm, rễ phát triển

Chú thích: *: Các mẫu tự khác nhau (a, b, ) trong cùng một cột biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa với P <0,05 bằng phép

th ử Duncan

Giai đoạn đầu (15 ngày), khi mới đưa ra vườn

ươm, cây rất dễ mất nước nên cây được trồng

trong điều kiện che sáng 50% Sau đó, cây được

trồng trong vườn ươm có giàn che polyethylene

Các kết quả khảo sát nhận được thể hiện qua Bảng

4

Từ Bảng 4 cho thấy, việc sử dụng giá thể đất sạch

Tribat hay hỗn hợp đất sạch Tribat và trấu hun

đều cho tỷ lệ sống sót khá cao (tương ứng lần lượt

70,33% và 72,33%), cây cho lá xanh đậm, hình

thành rễ mới, phát triển tốt sau 30 ngày nuôi trồng

(Hình 2h) Tuy nhiên, sử dụng hỗn hợp đất sạch

Tribat và trấu hun sẽ có giá thành thấp hơn so với

việc sử dụng giá thể đất sạch Tribat

Các nghiên cứu về trồng cây dâu vi nhân giống

trong điều kiện ex vitro trong và ngoài nước hầu

hết đều sử dụng giá thể là đất sạch đóng gói sẵn

hay hỗn hợp than bùn và vermiculite (Moradi &

cs., 2011) Vì vậy, việc sử dụng bổ sung trấu hun

(một vật liệu dễ kiếm và rẻ tiền) trong trồng cây

dâu con có lẽ là hữu hiệu và khả thi

3.5 Quan sát mô h ọc

Quan sát các tiêu bản vi phẫu mô sẹo cho thấy có

sự phân chia vô tổ chức của các tế bào mô sẹo,

tồn tại các tế bào đẳng kính, nhân to là những tế

bào có khả năng hình thành phôi (Hình 2d) Nuôi

cấy tiếp tục các mô sẹo này trên môi trường

không bổ sung CĐHSTTV, chúng sẽ biệt hóa

thành các phôi sinh dưỡng Các phôi tiếp tục phát

triển và hình thành cây con, phát triển độc lập mà không liên kết với mẫu mô mẹ (Hình 2b, 2e) Vì vậy, nhân giống dâu tây qua con đường phát sinh phôi sinh dưỡng có nguồn gốc từ đỉnh sinh trưởng

là biện pháp hữu hiệu và khả thi

4 K ẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 4.1 K ết luận

Qua con đường vi nhân giống cây dâu tây cho thấy, nuôi cấy đỉnh sinh trưởng cây dâu tây đã hình thành mô sẹo (tỷ lệ đạt 60%) trên môi trường

MS bổ sung 0,2 mg/l NAA, 0,5 mg/l BA Các mô

sẹo này được nhân lên với tỷ lệ tăng trưởng đạt 8,56 lần, hình thành phôi sinh dưỡng với số phôi trung bình là 15,78 phôi/mẫu trên môi trường MS

bổ sung 0,5 mg/l BA Môi trường ½ MS là phù

hợp cho các phôi dâu tây phát triển thành cây con với tỷ lệ hình thành cây con đạt 100% mà không cần bổ sung CĐHSTTV Trong nuôi trồng ex

vitro, hỗn hợp đất sạch Tribat và trấu hun (tỷ lệ 1:1) là giá thể thích hợp để trồng cây trong điều kiện tự nhiên, tỷ lệ sống sót đạt 72,33%

4.2 Khuy ến nghị

Cần có các khảo sát về sự sinh trưởng và phát triển của những cây dâu con này để có thể áp dụng trong nhân giống đại trà giống cây có giá trị này (Thực tế, những cây dâu trong ống nghiệm này đã được bán cho bà con nông dân đường Đa Phú, phường 7, thành phố Đà lạt Đến nay, cây đã cho quả đạt chất lượng)

Trang 8

Hình 2 Nhân gi ống cây dâu tây (Fragaria ananassa “Penihuble”) qua con đường nuôi cấy đỉnh sinh trưởng

a 1 Đỉnh sinh trưởng; a 2 Mô sẹo hình thành từ nuôi cấy đỉnh sinh trưởng (mũi tên) sau 15 ngày nuôi cấy; b Sự hình thành phôi sinh dưỡng (mũi tên liền), mô sẹo mang phôi (mũi tên ngắt quãng) và cây con sau 30 ngày nuôi cấy; c Sự nhân lên của mô sẹo; d Tiêu bản nhuộm màu mẫu mô sẹo có khả năng phát sinh phôi; e Sự hình thành cây con từ phôi sinh dưỡng;

f Phát sinh cây con từ mô sẹo cây dâu tây; g Các cây con dâu tây hình thành và phát triển từ phôi sinh dưỡng; h Trồng

cây con trong điều kiện vườn ươm

L ỜI CẢM ƠN

Tác giả trân trọng cảm ơn Trường Cao đẳng Kinh

tế Kỹ thuật Lâm Đồng đã tạo điều kiện vật chất

cho nghiên cứu này

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

Adel, E.L & Sawy, M (2007) Somaclonal

variation in micro-propagated strawberry

detected at the molecular level International

Journal of Agricultural Biology, 9, 720 - 725

Ashrafuzzaman, M., Faisal, S., Yadav, M.,

Khanam, D & Raihan, F (2013)

Micropropagation of strawberry (Fragaria

ananassa) through runner culture Bangladesh Journal of Agricultural, 38(3), 467 - 472

Biswas, M.K., Hossain, M., Ahmed, M.B., Roy, U.K., Karim, R., Razvy, M.A., Salahin M & Islam, R (2007) Multiple shoots regeneration

of strawberry under various colour

illuminations American-European Journal of

Science Res, 2, 133 -135

Hasan, M.N., Nigar, N., Rabbi, M.A.K., Mizan,

Micropropagation of strawberry (Fragaria x

Trang 9

ananassa Duch.) Int Journal Sustain Crop

Pro, 5(4), 36 - 41

Husaini, C.A., Samina, A., Mukhtar, B.,

Tabassum, Q & Malik, Z.A (2008) A high

efficiency direct somatic embryogenesis

system for strawberry (Fragaria x ananassa

Duch.) cultivar Journal Crop Science

Biotechnology, 11 (2), 100 - 107

ICAR News (2005) Indian council of agriculture

research, 11(4) New Delhi, India

Jiménez, V.M & Thomas, C (2005)

Participation of plant hormones in

determination and progression of somatic

embryogenesis In: Somatic embryogenesis,

Mujib, A., Šamaj, J (eds.) Plant Cell Monogr,

Springer-Verlag Berlin Heidelberg,103 - 118

Mir, J.I., Ahmed, N., Rizwan, R., Shabir H.,

Hidayatullah, M & Sheikh, M.A (2010)

Micropropagation of strawberry (Fragaria x

ananassa) Crop Improvement, 37 (2), 153

-156

Moradi, K., Otroshy, M & Azimi, M.R (2011)

Micropropagation of strawberry by multiple

shoots regeneration tissue cultures Journal

Agricultural Technology, 7(6), 1755 - 1763

Morel, G.M (1960) Producing virus-free

Cymbidium Am Orchid Society Bull, 29, 495 -

497

Morel, G.M (1964) Tissue culture − A new means of clonal propagation of orchids

American Orchid Society Bull, 33, 473 - 478

Murashige, T & Skoog, F (1962) A revised medium for rapid growth and bioassays with

tobaco tissue culture Physiology Plant, 15,

473 - 497

Nayem, Z., Shamsul, H., Saif, U., Fazle, A & Ashrafuzzaman, M (2011) Study

of shoot multiplication of strawberry

(Fragaria ananassa) Int J Agri Res Innov

Tech, 1 (1 & 2), 69 - 72

Wang, D.Y., Wergin, W.P & Zimmerman, R.H (1984) Somatic embryogenesis and plant regeneration from immature embryo of

strawberry Horticulture Science, 19, 71 - 72

Website (2004)

http://www.dricolls.com/strawberries/nutrition html

Ngày đăng: 09/01/2020, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm