1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi theo pháp luật việt nam hiện nay

116 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 565 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tàiBảo vệ quyền trẻ em là vấn đề pháp lý quan trọng trong quá trình xâydựng và phát triển đất nước và việc nuôi con nuôi được nhiều tác giả, các nhàkhoa học, các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG PHƯƠNG LINH

B¶O VÖ QUYÒN TRÎ EM TRONG LÜNH VùC NU¤I CON NU¤I

THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG PHƯƠNG LINH

B¶O VÖ QUYÒN TRÎ EM TRONG LÜNH VùC NU¤I CON NU¤I

THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM HIÖN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8380101.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Dương Phương Linh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI 6

1.1 Khái niệm quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em 6

1.1.1 Khái niệm trẻ em 6

1.1.2 Khái niệm quyền trẻ em 7

1.1.3 Khái niệm bảo vệ quyền trẻ em 10

1.2 Khái niệm con nuôi và nuôi con nuôi 11

1.2.1 Khái niệm về con nuôi 11

1.2.2 Khái niệm nuôi con nuôi 11

1.3 Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi 14

1.3.1 Nội dung bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi 14

1.3.2 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi .17

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nuôi con nuôi 18

1.3.4 Những điều kiện bảo đảm, bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi 25

Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CỦA TRẺ EM TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 31

2.1 Bảo vệ quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi .31

Trang 5

2.1.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền của trẻ em trong giải quyết việc

nuôi con nuôi 31

2.1.2 Yếu tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền của trẻ em trong việc nuôi con nuôi 36

2.1.3 Trình tự thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi 47

2.2 Bảo vệ quyền trẻ em trong quá trình nhận nuôi con nuôi 56

2.3 Bảo vệ quyền trẻ em khi chấm dứt việc nuôi con nuôi 62

2.3.1 Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi 62

2.3.2 Trình tự, thủ tục giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi 68

2.3.3 Hệ quả pháp lý của việc chấm dứt nuôi con nuôi 69

2.4 Bảo vệ quyền trẻ em trong trường hợp nuôi con nuôi thực tế .71

2.4.1 Khái niệm nuôi con nuôi thực tế 71

2.4.2 Tình hình việc nuôi con nuôi thực tế hiện nay 71

2.5 Bảo vệ quyền trẻ em trong trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 73

2.5.1 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 73

2.5.2 Các hình thức nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 74

2.5.3 Phương pháp điều chỉnh và nguồn pháp luật điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 76

2.5.4 Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tô nước ngoài .78

2.5.5 Tình hình thực tiễn việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam 78

Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 85

3.1 Quan điểm về tăng cường bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi ở Việt Nam hiện nay 85

3.1.1 Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi xuất phát từ

Trang 6

lợi ích tốt nhất của trẻ em 85

3.1.2 Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi xuất phát từ quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất trong môi trường gia đình 86

3.1.3 Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi nhằm thực thi quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị bệnh hiểm nghèo 86

3.1.4 Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi là trách nhiệm quản lý nhà nước về trẻ em 87

3.2 Giải pháp tăng cường bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi ở Việt Nam hiện nay 87

3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật 87

3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức cho các chủ thể liên quan .92

3.2.3 Nhóm giải pháp hỗ trợ trẻ em là nạn nhân 95

3.2.4 Một số giải pháp khác 97

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Lahay

Công ước La Hay số 33 ngày 29/5/1993 về Bảo vệ trẻ

em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế cóhiệu lực thi hành tại Việt Nam từ 01/02/2012

CRC Công ước quốc tế về Quyền trẻ em

Nghị định 19 Nghị định số 19/2011/ NĐ – CP quy định chi tiết thi

hành một số điều của Luật nuôi con nuôiNghị định 24 Nghị định số 24/2019/ NĐ – CP quy định sửa đổi

Nghị định 19/2011 hướng dẫn Luật Nuôi con nuôi

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội phổ biến đã có từ lâu trong lịch

sử và được nhiều quốc gia ghi nhận, pháp luật các nước điều chỉnh Hiện nay,việc nuôi con nuôi đã và đang trở thành mối quan tâm của cộng đồng quốc tếbởi chính ý nghĩa nhân văn, tình yêu thương giữa con người với con người,trách nhiệm của xã hội mang đến mái ấm gia đình cho những trẻ em có hoàncảnh đặc biệt cùng tình yêu thương của cha mẹ nuôi Luật Nuôi con nuôi số52/ 2010/ QH12 được Quốc hội khóa XII thông qua và có hiệu lực từ ngày 01tháng 01 năm 2011 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành khác đã thể hiệnmối quan tâm hoàn thiện nhằm đảm bảo thực hiện quyền trẻ em được chămsóc, nuôi dưỡng và giáo dục toàn diện trong môi trường gia đình

Trước tình hình hiện nay vấn đề bảo vệ quyền trẻ em đang trở thànhtâm điểm và ngày càng được quan tâm, và đặc biệt chú trọng Vì vậy, việcnghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu và toàn diện pháp luật về nuôicon nuôi và các hiệp định hợp tác nuôi con nuôi, các công ước quốc tế về nuôicon nuôi mà Việt Nam đã tham gia ký kết để hoàn thiện khung hành langpháp lý trong hoạt động bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực này Việc bảođảm quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi được đặt ra là vấn đề tất yếu

và cần được xem xét trên phương diện lý luận và thực tiễn để có thể đưa ranhững đánh giá, giải pháp toàn diện về việc bảo đảm quyền này ở Việt Nam

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn khách quan, tôi lựa chọn đề tài: “Bảo vệ

quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là đề tài luận văn với mong muốn góp phần tăng cường bảo đảm một

trong những quyền cơ bản của con người ở Việt Nam

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Bảo vệ quyền trẻ em là vấn đề pháp lý quan trọng trong quá trình xâydựng và phát triển đất nước và việc nuôi con nuôi được nhiều tác giả, các nhàkhoa học, các nhà quản lý quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ, cụ thể như:

Trước khi Luật Nuôi con nuôi ban hành, nhiều công trình nghiên cứu,sách chuyên khảo làm cơ sở nghiên cứu hoàn thiện pháp luật Nuôi con nuôi

như: Chuyên đề “Chế định nuôi con nuôi trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế” (năm 1998) của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài trước yêu cầu gia nhập Công ước La hay 1993 về bảo vệ trẻ

em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế” (năm 2005) do Tiến sĩ

Vũ Đức Long làm chủ nhiệm…

Sau khi Luật nuôi con nuôi 2010 được ban hành đến nay cũng có một

số đóng góp của các tác giả với: chuyên đề “Pháp luật về nuôi con nuôi” của

Tạp chí dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp (2011); đề tài nghiên cứu cấp bộ do

Tiến sĩ Dương Thị Thanh Mai làm chủ nhiệm về “Dự án điều tra cơ bản – Thực trạng nuôi con nuôi” (2012); luận văn “So sánh pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam” – Khoa Luật, Đại

học Quốc gia Hà Nội… Nhìn chung, các luận văn này tập trung nghiên cứumột vấn đề liên quan trực tiếp đến nuôi con nuôi trong nước hoặc nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật nước ta nhưng chưa đề cập đến việcbảo đảm quyền và chưa tiếp cận dựa trên cái nhìn phổ quát về quyền trẻ emđược nhận nuôi trong quan hệ nuôi con nuôi mà mới chỉ dừng lại ở vấn đềbảo vệ quyền trẻ em được nhận nuôi khi có yếu tố nước ngoài Do vậy, việclựa chọn đề tài nghiên cứu bảo đảm quyền của trẻ em trong lĩnh vực nuôi connuôi từ góc độ tiếp cận quyền đến việc thực thi quyền đó mang ý nghĩa thiết

Trang 10

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu tổng quát của Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề

lý luận cơ bản về bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi, đánh giánội dung các quy định của pháp luật Việt nam và thực tiễn thi hành từ góc độbảo vệ quyền trẻ em được nhận làm con nuôi Dựa trên những luận cứ khoahọc đó để đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả việc bảo vệ quyền trẻ emtrong lĩnh vực nuôi con nuôi hiện nay cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn vànâng cao tính hiệu quả của pháp luật chuyên ngành

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về việc bảo vệquyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi từ giai đoạn xác lập quan hệ nuôicon nuôi đến khi thực hiện và chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi Căn cứ vào đóchỉ rõ quy định phù hợp, chưa phù hợp của pháp luật cần thiết phải sửa đổi,

bổ sung để hoàn thiện cũng như những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễnthực hiện và nêu nguyên nhân của tình trạng này;

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phápluật về nuôi con nuôi nhằm đảm bảo quyền trẻ em trong lĩnh vực này

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

cứu pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam trong việc bảo đảmquyền của trẻ em được nhận làm con nuôi.

Qua đó, nhằm phân tích, đánh giá các tiêu chí, điều kiện bảo đảm choviệc thực thi quyền của trẻ em được nhận nuôi ở Việt Nam và nước ngoài

em và pháp luật liên quan khác

Luận văn còn nghiên cứu, phân tích, so sánh các quy định bảo vệ quyềncủa trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi tại các Công ước quốc tế mà Việt Nam

đã ký kết và pháp luật một số quốc gia có liên quan đến nội dung của đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nội dung cơ bản được nêu ra của đề tài, Luận văn

đã lựa chọn cách tiếp cận dựa trên quyền và sử dụng phương pháp nghiên cứu

đa ngành, gắn liền lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề

Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối,chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc đảm bảo thực thi quyền con ngườinói chung và quyền của trẻ em được nhận nuôi nói riêng

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên những phương pháp phântích và tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, …

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình chuyên khảo có hệ thống và toàn diện, góp phần

Trang 12

hệ thống hóa và làm rõ khái niệm, nội dung các quyền của trẻ em được nhậnnuôi và bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi.

Luận chứng một số giải pháp có tính khả thi cao trong việc tăng cườngthiết chế bảo đảm quyền trẻ em được nhận nuôi ở Việt Nam hiện nay

Từ việc nghiên cứu pháp luật về quyền trẻ em trong hệ thống pháp luậtquốc tế, pháp luật Việt Nam nhằm phân tích, đánh giá những mặt mạnh vàmặt hạn chế của pháp luật nuôi con nuôi Dưới góc độ bảo vệ quyền trẻ em,kết quả nghiên cứu luận văn góp phần nâng cao nhận thức về quyền trẻ em vànhu cầu bảo đảm quyền của trẻ em khi được nhận làm con nuôi hiện nay

Kết quả nghiên cứu luận văn có giá trị tham khảo trong việc xây dựng

và hoàn thiện pháp luật tương thích với thực tiễn công tác quản lý, cơ quanhữu quan, đơn vị đang trực tiếp thực thi pháp luật về trẻ em và quan hệ nuôicon nuôi hiện nay

7 Cơ cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nộidung của luận văn bao gồm 3 chương, bao gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực

nuôi con nuôi

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ quyền của trẻ em trong

lĩnh vực nuôi con nuôi và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Quan điểm, giải pháp tăng cường bảo vệ quyền trẻ em trong

lĩnh vực nuôi con nuôi ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRONG

LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI

1.1 Khái niệm quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em

1.1.1 Khái niệm trẻ em được phần lớn các nước định nghĩa dựa trên

dấu hiệu về tuổi dựa trên các yếu tố phát triển về tâm sinh lý, thể lực và trí tuệcủa mỗi người Do điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, cácgiai đoạn phát triển của các nước là không đồng đều nên mỗi quốc gia có quyđịnh về độ tuổi của trẻ em là không giống nhau

“Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều

1 – Công ước QTE được thông qua ngày 20/11/1989 tại Vience có hiệu lựcngày 02/2/1990) Công ước quyền trẻ em, trích Tuyên ngôn QTE cũng khẳng

định rằng: “…do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [41].

Theo đó, khái niệm trẻ em là những người dưới 18 tuổi, nhưng để tạođiều kiện mở cho các quốc gia thì công ước này và cũng không nêu ra đây làcăn cứ bắt buộc mà tùy từng quốc gia xem xét khả năng thực tế của mình vềbảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em để quy định độ tuổi của trẻ em cho phù hợp(Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc phê chuẩn Công ướcquốc tế về quyền trẻ em, phê chuẩn công ước vào ngày 20/2/1990 và đượcLiên hợp quốc công nhận phê chuẩn ngày 28/2/1990)

Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có quy định thống nhất về độ tuổi của trẻ

em và người chưa thành niên Theo Luật lao động năm 2012 quy định: “ Trẻ

em là người dưới 15 tuổi” [49]; Luật thanh niên, “áp dụng Công ước quốc tế

Trang 14

về quyền trẻ em đối với thanh niên từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi”, còn Luật trẻ em 2016 quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới

16 tuổi” ‘[56, Điều 1].

Theo quan điểm của học viên: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 18tuổi, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn chưa hoàn thiện đầy đủ,cần được sự bảo vệ, chăm sóc giáo dục của gia đình, nhà trường và toàn xãhội Trẻ em có đầy đủ các quyền con người về mọi mặt như dân sự, chính trị,kinh tế, xã hội, văn hóa, đồng thời các em có quyền đặc thù riêng tùy theo nhucầu phát triển ở các thời kỳ khác nhau của tuổi thơ

Đến 2015 đã có 193 quốc gia phê chuẩn Công ước QTE với thành viêntrẻ nhất là Somalia (phê chuẩn ngày 20.1.2015) còn Mỹ và South Sudan chưaphê chuẩn

1.1.2 Khái niệm quyền trẻ em

Quyền trẻ em trước hết là quyền con người nói chung Tuyên ngôn thếgiới về quyền con người 1948 khẳng định rằng quyền con người là những quyền

tự nhiên, vốn có Bản tuyên ngôn nhấn mạnh: “việc thưa nhận phẩm giá vốn có

và các quyền bình đẳng và bất di bất dịch của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới”, “mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền” Đây là quyền

cơ bản, mang tính phổ quát, không thể chuyển nhượng và được Nhà nướccông nhận và bảo đảm thực hiện

QTE là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em được hưởng, được tôntrọng và thực hiện nhằm đảm bảo sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện

QTE chính là biện pháp nhằm bảo đảm cho trẻ em không những làngười được nhận tình thương hay lòng tốt của bất cứ ai mà trở thành chủthể của quyền

Có thể nói QTE trước hết là một bộ phận của quyền con người, và là

Trang 15

“quyền con người của một chủ thể đặc biệt” là trẻ em Những quyền cơ bản

của trẻ em được Nhà nước, thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật

Thật vậy, theo Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận trong Điều 1:

“Tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, hoặc tôn giáo”, và điều này được

khẳng định rõ hơn ở tuyên ngôn về các quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên

hợp quốc thông qua 1959: “Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em điều tốt đẹp nhất” Điều 24 Công ước về các quyền chính trị, dân sự 1996 (Việt Nam gia nhập 1982) nêu rõ: “Mọi trẻ em đều có quyền được hưởng sự bảo hộ của gia đình, xã hội và nhà nước” Điều 10 công ước về các quyền kinh tế -

xã hội và văn hóa 1966 (Việt Nam gia nhập 1982 (quy định) “Thanh thiếu niên cần được bảo về và không bị bóc lột về kinh tế - xã hội, cấm bóc lột lao động trẻ em” Theo công ước về quyền trẻ em quy định:

Các thành viên phải tôn trọng và đảm bảo các quyền được nêu ratrong công ước này đối với mỗi trẻ em thuộc quyền tài phán của họ

mà không có một sự phân biệt đối xử nào, bất kể trẻ em, cha mẹhay người giám hộ pháp lý của trẻ em đó thuộc chủng tộc, màu da,giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến gì khác, nguồn gốc quốcgia, dân tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, xuất thân gia đình vànhững mối tương quan khác [41]

Cụ thể, quyền trẻ em được pháp luật bảo vệ dựa trên những nhóm quyền cơ bản sau:

Thứ nhất, nhóm quyền sống còn là quyền cơ bản của mỗi con người

đảm bảo quyền được sống và đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại Dođối tượng chủ thể quyền là trẻ em còn non nớt về cả thể chất và tinh thần,không thể tự nuôi sống bản thân nên trong nội dung công ước có ghi nhậnquyền được sống nhằm ngăn chặn các quốc gia có bất kỳ hành động tùy tiện

Trang 16

nào dẫn đến tước đoạt đi quyền sống của trẻ em tại điều 6: “Các quốc gia thành viên thừa nhận rằng mỗi trẻ em đều có quyền được sống” Theo đó,

việc đảm bảo sự sống còn của trẻ em không chỉ là việc đảm bảo về tính mạng

mà còn là việc bảo đảm cho trẻ em được cung cấp dinh dưỡng và sự chăm sóc

y tế ở mức độ cao nhất dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ theo điều

24: “quyền có sức khỏe và được chăm sóc sức khỏe”.

Thứ hai, nhóm quyền được bảo vệ là việc bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình

thức bị bỏ rơi, bị phân biệt đối xử, bị lạm dụng Việc bảo vệ trẻ em trongnhóm quyền này không chỉ là ngăn ngừa sự xâm hại về thể chất, tinh thần đốivới trẻ mà còn bao gồm cả các hoạt động, biện pháp ngăn ngừa, khắc phụcnhững điều kiện bất lợi đối với cuộc sống của trẻ em Cụ thể, bảo vệ trẻ emkhỏi mọi hình thức bị bỏ rơi bao gồm sự bỏ rơi của bố mẹ, xã hội, tước đi sựchăm sóc cơ bản về sức khỏe, giáo dục đối với trẻ

Đối với các tình huống nguy hiểm, thảm họa thiên nhiên và chiến tranh

có thể đe dọa khẩn cấp đối với sự sống còn và phát triển của trẻ em Trẻ em tịnạn, trẻ em sống trong hoàn cảnh xung đột vũ trang… đều có quy định cần cóbiện pháp bảo vệ đặc biệt Công ước bảo vệ cho trẻ em gái, trẻ em tàn tật, trẻ

em tị nạn, trẻ em vùng dân tộc thiểu số, trẻ em bản địa tránh khỏi bất cứ hìnhthức phân biệt đối xử nào và tạo điều kiện để các em có quyền được giáo dụchòa nhập bình đẳng như những trẻ em khác trong cộng đồng các em đang sinhsống Công ước cũng hướng tới quy định việc phục hồi và giúp tái hòa nhậpcho trẻ em là nạn nhân của sự lạm dụng, bóc lột, tình dục, bắt cóc, buôn bán

Thứ ba, nhóm quyền phát triển Đây là nhóm quyền cơ bản tạo điều

kiện đảm bảo cho trẻ em được phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thầntrên các phương diện về chăm sóc sức khỏe, giáo dục phổ cập, phát triển năngkhiếu và đảm bảo quyền vui chơi, giải trí, tham gia các hoạt động văn hóa,nghệ thuật, thể thao du lịch… phù hợp với lứa tuổi

Trang 17

Thứ tư, nhóm quyền tham gia là việc để trẻ em được bày tỏ ý kiến cá

nhân đối với các vấn đề liên quan đến bản thân và quyền được tiếp cận thôngtin, bày tỏ ý kiến, tham gia các hoạt động xã hội

QTE thực sự có hiệu lực chỉ khi chính trẻ em xác lập, thực hiện quyền

và nghĩa vụ của mình mà pháp luật không cấm Tuy nhiên trên thực tế, khôngmọi trường hợp trẻ em đều có thể tự mình thực hiện quyền này mà quyền trẻ

em được thực thi và bảo đảm thông qua người đại diện hoặc người giám hộ.Những cá nhân này thực hiện quyền và nghĩa vụ cho trẻ khi trẻ chưa có khảnăng thực thi quyền của mình khi tham gia vào các quan hệ xã hội đòi hỏinhững điều kiện nhất định hoặc khi bản thân trẻ không có đủ khả năng nhậnthức và điều khiển hành vi của mình… Bên cạnh đó, nhằm bảo đảm quyền trẻ

em được thực thi thì việc quy định trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổchức liên quan cần có nghĩa vụ để

Như vậy, quyền trẻ em chỉ được bảo đảm thực hiện khi và chỉ khi đượcpháp luật ghi nhận và đảm bảo quyền này thực thi trong thực tế Vì vậy,không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận các điều luật về quyền trẻ em mà pháp luậtcần có các biện pháp bảo đảm để các quyền đó được thực thi

1.1.3 Khái niệm bảo vệ quyền trẻ em

Như đã đề cập ở trên, quyền trẻ em được toàn thể cộng đồng quốc tế cũngquan tâm và bảo vệ Song, để đảm bảo thực thi các quyền của trẻ em lại phụthuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: điều kiện kinh tế xã hội, chế độ chính trị,phong tục tập quán, hệ tư tưởng, đạo đức của mỗi quốc gia, con người

“Xâm hại trẻ em có thể xảy ra ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào và chúng ta không thể biết trước được” Theo Liên minh các tổ chức cứu trợ trẻ em định

nghĩa bảo vệ quyền trẻ em là việc xây dựng hệ thống quản trị hiệu quả nhằmđảm bảo có hiệu quả trong việc phòng chống, can thiệp, giải quyết các tìnhtrạng, xâm hại, xao nhãng, bóc lột và bạo lực đối với trẻ em

Trang 18

Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” và ghi nhận tại điều 37: “… nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” Hơn nữa, “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em…” là một trong những

nguyên tắc cơ bản được đề cập tới của Luật hôn nhân và Gia đình 2014

Theo Luật trẻ em 2016 ghi nhận: “Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các

biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòngngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàncảnh đặc biệt” Hơn nữa, việc bảo vệ trẻ em phải đảm bảo tính hệ thống vàtính liên tục, cần có sự phối hợp đa ngành giữa các cơ quan, tổ chức, cơ sởgiáo dục, gia đình, cá nhân nhằm đảm bảo vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

1.2 Khái niệm con nuôi và nuôi con nuôi

1.2.1 Khái niệm về con nuôi

Con nuôi là: “người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký” (Điều 3 – Luật nuôi con nuôi

2010) Theo đó, đứa trẻ được nhận nuôi dưỡng, chăm sóc bởi người khôngphải cha mẹ đẻ và được pháp luật công nhận trên cơ sở mong muốn xác lậpquan hệ cha mẹ con

1.2.2 Khái niệm nuôi con nuôi

Khái niệm nuôi con nuôi được nhìn nhận trên hai phương diện là góc

độ xã hội và góc độ pháp lý

Dưới góc độ xã hội, nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội được thiết lập

giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi con nuôi để hình thành quan

hệ cha mẹ và con nhằm đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi đượcchăm sóc, trông nom phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội Quan hệ nuôicon nuôi dựa trên lợi ích và nhu cầu của hai bên bao gồm cả về lợi ích vật

Trang 19

chất và tinh thần như: nhận nuôi con nuôi vì không có con cái thờ cúng tổtiên, nối dõi; để có thêm lao động cho gia đình; để được cấp thêm đất đai;hoặc việc nuôi con nuôi xuất phát từ lòng trắc ẩn, sự cảm thông, hành độngcưu mang, giúp đỡ trẻ em có những hoàn cảnh đặc biệt Quan hệ giữa cha mẹnuôi và con nuôi được hình thành khi các bên thực hiện theo thủ tục quy địnhcủa pháp luật và được pháp luật bảo hộ hoặc chủ yếu dựa trên mối liên hệ tìnhcảm, đạo làm người và dư luận mà không cần được pháp luật công nhận đượcgọi là nuôi con nuôi thực tế.

Như vậy, những trẻ em phải chịu thiệt thòi, bất hạnh, vì nhiều lý dokhác nhau không thể sống và lớn lên trong gia đình gốc của mình khôngnhững cần phải được đảm bảo quyền chăm sóc như các trẻ em khác mà cònđược bảo vệ trong suốt quá trình nhận nuôi con nuôi

Khái niệm nuôi con nuôi dưới góc độ pháp lý

Thuật ngữ nuôi con nuôi đã xuất hiện và được ghi nhận trong pháp luậtcủa nhiều nước trên thế giới như:

Một trong những bộ luật thành văn cổ nhất trên thế giới đã có nhữngquy định về nuôi con nuôi với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là bộ luật

Hammurabi: “Trước khi đàn ông có thể nuôi một đứa trẻ bị bỏ rơi, ông ta phải tìm cha mẹ đẻ của nó, nếu tìm thấy thì phải trả đứa trẻ cho họ” Việc

nhận thức tầm quan trọng của gia đình gốc đối với sự phát triển của trẻ em đã

có từ lâu đời, vì vậy mà từ cổ xưa cho đến hiện đại, trẻ em luôn được ưu tiên

trước hết là “được chăm sóc bởi chính cha mẹ đẻ, được sống trong môi trường gia đình ruột thịt của mình” (Điều 3, Tuyên ngôn Liên Hợp Quốc).

Theo hệ thống pháp luật La Mã cổ đại thì việc nhận nuôi con nuôinhằm hướng tới việc duy trì dòng họ, thờ cúng tổ tiên và thừa kế tài sản

Thời kỳ cách mạng tư sản, việc nuôi con nuôi đã có những nhận thứcmang ý nghĩa về mặt xã hội, gia đình nào càng đông con thì gia đình đó

Trang 20

Thời kỳ lập pháp hiện đại, bộ luật dân sự Napoleon 1804 việc nuôi connuôi bị hạn chế khi xóa bỏ đối tượng con nuôi là trẻ vị thành niên và chỉ chophép con nuôi là người trưởng thành và đã được chăm sóc trong gia đình cha

mẹ nuôi 6 năm Người nhận nuôi phải từ 50 tuổi trở lên và không có con nốidõi Do vậy, việc nuôi con nuôi chỉ xảy ra khi cha mẹ nuôi không có ngườithừa kế, con nuôi được giữ cả quyền của họ trong gia đình gốc và hưởngquyền thừa kế tài sản của cha mẹ nhận nuôi [5]

Theo Điều 124 Bộ luật gia đình của Liên Bang Nga trích các quy định vềnuôi con nuôi, hình thức được ưu tiên trong việc thu xếp mái ấm cho những trẻ

em không được cha mẹ đẻ chăm sóc chính là việc nuôi con nuôi [15, tr.316]

Pháp luật Trung Quốc quy định: trẻ em dưới 14 tuổi bị mồ côi, bị bỏ

rơi, trẻ trong gia đình khó khăn không có khả năng nuôi dưỡng có thể đượccho làm con nuôi (Điều 4 Luật nuôi con nuôi của nước CHND Trung Hoangày 4/11/1998, có hiệu lực từ ngày 1/4/1999)

Pháp luật của Guatermala việc nuôi con nuôi được hiểu là việc trẻ

em được nhân làm con nuôi để bảo vệ theo quy định của pháp luật và sắc lệnhđược nhà nước giám sát theo đó một người nhận con ruột hoặc con của ngườikhác làm con nuôi (điều 2, Luật con nuôi)

Con nuôi quốc tế là việc nhận con nuôi mà đứa trẻ thường trú hợp pháptại Guatemala được đưa đến một nước khác làm con nuôi

Nuôi con nuôi trong nước: là cha mẹ nuôi và con nuôi là người thườngtrú hợp pháp tại quốc gia này [15, tr.315]

Pháp luật Việt Nam

Vấn đề nuôi con nuôi đã được đề cập tới trong pháp luật nước ta từ thờiphong kiến mà tiêu biểu kể đến là bộ Quốc triều hình luật và Hoảng việt luật lệ;

bộ Dân luật Bắc Kỳ thời Pháp thuộc, các bản Hiến pháp của nước ta từ năm

1945, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (nay đã được thay thế) và sau này

Trang 21

là Luật nuôi con nuôi ra đời 2010 là văn bản pháp lý chuyên ngành trong lĩnhvực nuôi con nuôi nhằm quy định chi tiết các nguyên tắc, điều kiện, thẩmquyền, trình tự thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi và hệ quả pháp lý của việc

cho nhận con nuôi dựa trên nền tảng “vì lợi ích tốt nhất” cho trẻ em Khoản 1 điều 3 Luật nuôi con nuôi quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ, con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi”.

1.3 Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi là xây dựng hệ thốngcác biện pháp, cơ chế, quản trị nhằm đảm bảo trẻ em được hưởng đầy đủquyền cơ bản của mình khi được nhận làm con nuôi từ giai đoạn xác lập, thựchiện và chấm dứt việc nuôi con nuôi

1.3.1 Nội dung bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Như đã đề cập ở trên, bảo vệ quyền trẻ em là việc được thực hiện liên tục

ở mọi quá trình từ khi xác lập đến khi thực hiện và chấm dứt việc nhận nuôi

- Bảo vệ quyền trẻ em khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi

Bảo đảm quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi có vai trò vô cùngquan trong Bởi lẽ, nuôi con nuôi là hành vi xác lập quan hệ cha, mẹ và conlâu dài, bền vững được xây dựng trên cơ sở tình cảm, sự nuôi dưỡng vì lợi íchtốt nhất cho trẻ được nhận nuôi Nuôi con nuôi không những mở ra một cơhội sống tốt đẹp hơn cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: bị bỏ rơi, mồ côi,hoặc trẻ em tuy có cha mẹ đẻ họ hàng nhưng không ai có khả năng đủ điềukiện nuôi dưỡng tốt Quan hệ nuôi con nuôi còn là một trong những biện phápthiết yêu phản ánh mức độ thực thi, bảo đảm quyền con người, tính nhân văncủa mỗi quốc gia Vì vậy, ngay từ giai đoạn bắt đầu xem xét giải quyết việcnuôi con nuôi cần sàng lọc kỹ lưỡng, phát hiện và ngăn chặn kịp thời vớinhững hành vi sai phạm, xâm hại trực tiếp tới quyền lợi của trẻ em Việc bảođảm tốt quyền được nhận làm con nuôi của trẻ em chính là bước nền tảng đầu

Trang 22

tư và phát triển cho chất lượng cuộc sống cho trẻ em có một gia đình thay thếphù hợp và giúp cho trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển toàn diện vềthể lực và trí tuệ, giúp cho thế hệ tương lai trở thành người có ích cho xã hội.

Tùy thuộc vào từng điều kiện hoàn cảnh mà có hình thức nuôi con nuôikhác nhau Tuy nhiên, để việc nuôi con nuôi được thực hiện trọn vẹn và đượcbảo hộ thì việc nuôi con nuôi phải được thực hiện, đăng ký tại cơ quan nhànước có thẩm quyền theo Luật nuôi con nuôi 2010 Chỉ sau khi hoàn tất cácthủ tục và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trao Giấy chứng nhận nuôi connuôi và tổ chức giao nhận con nuôi thì quan hệ nuôi con nuôi mới được thiếtlập và các bên mới phát sinh quyền và nghĩa vụ với nhau Từ đó, các cơ quan,

tổ chức xã hội mới có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện việc bảo đảm quyềntrẻ em được thực hiện; nhà nước mới có thể bảo hộ quyền và nghĩa vụ pháp lýgiữa cha mẹ nuôi với con nuôi và những người liên quan khác mới phát sinhtheo quy định của pháp luật có liên quan

- Bảo vệ quyền trẻ em trong quá trình thực hiện quan hệ nuôi con nuôi

Theo dõi tình hình phát triển của trẻ em là một trong những nguyên tắc

cơ bản của việc nuôi con nuôi nhằm bảo vệ quyền trẻ em được thực thi đúngđắn Theo dõi tình hình phát triển của trẻ em nhằm vì lợi ích tốt nhất của trẻ

em, bảo vệ trẻ em bị phân biệt đối xử, bị kỳ thị, bị xao nhãng, bị lợi dụngnhằm trục lợi cá nhân Việc bảo vệ quyền trẻ em trong quá trình thực hiệnquan hệ nuôi con nuôi là việc vô cùng cần thiết, đặc biệt đối với trẻ em đượcnhận nuôi ở nước ngoài Bộ Tư pháp gửi Quyết định cho trẻ em làm con nuôinước ngoài cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện của ViệtNam ở nước ngoài về việc trẻ em được nhận làm con nuôi để thực hiện biệnpháp bảo hộ trẻ em trong trường hợp cần thiết [48, Điều 37, Khoản 5] Quyđịnh này nằm duy trì quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích củatrẻ được nhận làm con nuôi được đảm bảo nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục tốt

Trang 23

Thời điểm thiết lập mối quan hệ cha mẹ con giữa người nhận nuôi vàcon nuôi cũng là lúc hai bên có quyền và nghĩa vụ của mình Khi đó, hình thứcnuôi con nuôi dẫn tới phát sinh đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cha

mẹ và con giữa người được nhận làm con nuôi, con nuôi có mọi quyền lợi nhưcon đẻ trong gia đình cha mẹ nuôi Dựa trên tinh thần đó nhằm hướng tới bảo

vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người nhận con nuôi và người được nhậnlàm con nuôi, đồng thời tránh những tranh chấp phát sinh

- Bảo vệ quyền trẻ em khi chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi

Luật nuôi con nuôi ghi nhận các dấu hiệu có thể thực hiện chấm dứtviệc nuôi con nuôi tại Điều 13 và Điều 25 như sau: một là: “Con nuôi đãthành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi”; hai là:

“cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi, ngược đãi, hành hạ con nuôi”; ba là:

“vi phạm các hành vi như: lợi dụng nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức laođộng, xâm hại tình dục, bắt cóc, mua bán trẻ em,…” Theo quy định tại Điều

26 Luật nuôi con nuôi thì nếu có một trong những dấu hiệu nêu trên thì cha

mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên, cha mẹ đẻ, hoặc người giám hộ của connuôi, Cơ quan lao động thương binh xã hội, Hội liên hiệp phụ nữ,… đều cóquyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

Thực tế, khi chấm dứt quan hệ cha mẹ và con nuôi trẻ em ở trong thế bịđộng, và hoàn toàn không nơi nương tựa, có sự tác động mạnh về tâm lý,quyền tài sản của trẻ bị tước đoạt và một trong những mối quan tâm hàng đầucủa đứa trẻ là cuộc sống tiếp theo đó như thế nào? Vì vậy cần hạn chế tối đaviệc chấm dứt nuôi con nuôi, và chỉ khi quyền và lợi ích của trẻ em bị xâmphạm nghiêm trọng thì quan hệ nuôi con nuôi cần phải chấm dứt và phải đượcbảo đảm về quyền nhân thân và quyền tài sản của trẻ em đó

Tuy nhiên, vấn đề về các căn cứ để chấm dứt, giải quyết và hệ quả pháp

Trang 24

ràng, dẫn đến nhiều tranh chấp hoặc quyền và lợi ích của trẻ được nhận nuôi

bị xâm phạm Nhưng dù giải quyết vấn đề như thế nào thì việc chấm dứt quan

hệ nuôi con nuôi cần đảm bảo cho đứa trẻ luôn được chăm sóc, nuôi dưỡng vàsống trong môi trường lành mạnh, được bảo vệ, được yêu thương

1.3.2 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Về mặt xã hội, việc bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôimang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện tình yêu thương, tương thân tương áiphù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa gia đình của dân tộc

ta Qua việc nuôi con nuôi, đặc biệt đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt như trẻ em bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị tật nguyền, trẻ em mắc bệnh hiểmnghèo… đã làm thay đổi cơ bản số phận của các em, giúp cho các em đượcsống trong môi trường gia đình an toàn, thuận lợi để phát triển hài hòa cả vềthể chất và tinh thần, nhằm hướng tới những giá trị đạo đức tốt đẹp “chân –thiện – mỹ” [34, tr.38] Đây là hành động thể hiện tinh thần nhân văn cao đẹpgiữa những người không cùng huyết thống, sự tiến bộ của nhận thức, gópphần tiến đến công bằng xã hội, xóa dần khoảng cách giàu nghèo để conngười có thể xích lại gần nhau hơn

Đối với nhà nước, việc việc bảo vệ quyền trẻ em được nhận nuôi sẽlàm giảm thiểu, khắc phục, ngăn chặn tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, bị xaonhãng, trẻ em lang thang, bị bóc lột sức lao động, bị buôn bán, bạo lực…khỏi con đường tội lỗi, lang thang cơ nhỡ, mắc các tệ nạn xã hội, vi phạmpháp luật Vì vậy, bảo vệ quyền trẻ em được nhận nuôi cũng là góp phần bảođảm ổn định trật tự xã hội và phát triển bền vững Hơn nữa, việc nhận connuôi sẽ làm giảm gánh nặng tài chính kinh tế cho ngân sách Nhà nước tạicác cơ sở bảo trợ xã hội mà vẫn đảm bảo lợi ích của trẻ em khi được sốngtrong gia đình thay thế

Đối với trẻ em khi được nhận nuôi đã mở ra cuộc sống mới cho các em

Trang 25

được sống trong gia đình an toàn, lành mạnh, được yêu thương, nuôi dưỡng

và giáo dục tốt trong gia đình đúng nghĩa, được hòa nhập với cộng đồng và cơhội phát triển tài năng của mình Đối với những trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo,trẻ em bị tàn tật…, các em có cơ hội được chữa trị, phục hồi chức năng vàđiều kiện sống tốt hơn, được kéo dài sự sống, và sống có ích hơn

Đối với người nhận nuôi cũng thỏa mãn những lợi ích, nhu cầu chínhđáng của mình Đặc biệt, trong thời đại hiện nay, rất nhiều cặp vợ chồng vôsinh, hiếm con; những phụ nữ đơn thân rất cần nhận nuôi con nuôi để có cơhội làm cha, làm mẹ một cách hợp pháp

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nuôi con nuôi

Việc bảo vệ trẻ em trong việc nhận nuôi con nuôi bị chi phối, chịu ảnhhưởng của rất nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố chủ quan và cả yếu tố khách quan

1.3.3.1 Các yếu tố khách quan

Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến việc nuôi con nuôi bao gồm yếu

tố tự nhiên và yếu tố xã hội

Yếu tố tự nhiên: là sự tác động của các hiện tượng tự nhiên tác động

tới cuộc sống của con người gây ra hậu quả trực tiếp tới cuộc sống của conngười, và ảnh hưởng nghiêm trọng tới trẻ em Có thể là các thảm họa tựnhiên, thiên tai, dịch bệnh,… khiến cho cuộc sống của trẻ em lâm vào tình thếcùng cực, mất đi cha mẹ, không còn người thân thích, cuộc sống của các emkhông còn nơi nương tựa, không nhà cửa, không có cơm ăn, áo mặc, các emkhông thể sống cuộc sống bình thường như các trẻ em khác do bị tàn tật, bệnhdịch… Các em sinh ra đã có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, là nạn nhân củanhững thảm họa thiên nhiên, vì vậy, việc nuôi con nuôi là nghĩa cử cao đẹp, làbiện pháp tối ưu để giúp các em có mái ấm gia đình, được quan tâm, bảo vệnhư những trẻ em khác

Trang 26

Yếu tố xã hội: bao gồm những yếu tố cơ bản sau đây:

Điều kiện chính trị, kinh tế xã hội:

Chính trị là một khái niệm rộng, bao gồm các vấn đề không chỉ liên

quan tới tổ chức thực hiện quyền lực, và điều hành bộ máy nhà nước của mỗiquốc gia mà còn là mối liên hệ đa quốc gia Chính trị đóng vai trò cơ bản, làđiều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người Một chế độ chính trị thiên

về chuyên chế, độc tài thường xâm hại nghiêm trọng tới quyền con người cơbản Một chế độ chính trị dân chủ, tiến bộ sẽ có xu hướng tôn trọng và đề caoquyền con người, hướng hệ thống pháp luật lấy con người làm trung tâm đểđảm bảo tối đa những quyền con người được thực hiện

Lĩnh vực nuôi con nuôi là lĩnh vực nhạy cảm và liên quan trực tiếp tớiquyền con người, quyền trẻ em, và có mối liên hệ với pháp luật chuyên ngànhkhác Vì vậy, để đảm bảo việc bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi connuôi được thực hiện toàn điện thì trước hết điều kiện chính trị phải được mởrộng hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật mang lại lợi ích tốt nhấtcho người được nhận làm con nuôi, cũng như việc trẻ em được tiếp cận tớiquyền được nhận làm con nuôi của mình và các cơ quan nhà nước có thẩmquyền cần thực thi trách nhiệm của mình trong việc giải quyết việc nuôi connuôi một cách minh bạch

Kinh tế cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới việc nuôi con

nuôi bởi kinh tế cung cấp cơ sở vật chất để đảm bảo thực thi quyền con người.Trong xu thế phát triển hiện nay, điều kiện kinh tế được đảm bảo, đáp ứngmục tiêu phát triển bền vững, an sinh xã hội được nâng cao, chất lượng cuộcsống ổn định,… quyết định nhiều tới việc đảm bảo thực thi quyền con ngườinói chung và quyền trẻ em được nhận làm con nuôi nói riêng

Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường là tác động tiêu cực tớihành vi của con người trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em Khi lợi ích cá

Trang 27

nhân được đưa lên hàng đầu, lợi ích vật chất làm mờ đi những giá trị nhân văncủa con người, lòng nhân ái, sự khoan dung, tình người dần mờ nhạt, trẻ em

có hoàn cảnh khó khăn mong muốn được sống trong gia đình hạnh phúc trởthành đối tượng thỏa mãn lợi ích của người khác trong quá trình giải quyếtviệc nuôi con nuôi Nếu xét ở phạm vi rộng hơn, thì các quốc gia không cótiềm lực kinh tế sẽ là nước cho con nuôi, còn các nước giàu là nước nhận connuôi Người nước ngoài đến với tiềm lực kinh tế mạnh thì có nhiều khả năngnhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi nhiều hơn là chính công dân Việt Namtrong nước Vì thế, ở nước ta đã có hiện tượng nhiều cơ sở nuôi dưỡng, cánhân có thẩm quyền vì lợi ích vật chất đó mà thực hiện việc nuôi con nuôi cóyếu tố nước ngoài, vi phạm nguyên tắc cơ bản của việc nuôi con nuôi đảmbảo quyền được sống trong gia đình nhận nuôi ở trong nước

Chiến tranh, xung đột vũ trang, sự bất ổn về chính trị xã hội cũng là

yếu tố ảnh hưởng tới việc nhận nuôi con nuôi Việt Nam là quốc gia hứngchịu hậu quả nặng nề của chiến tranh khiến nhiều trẻ em mất đi cha mẹ, ngườithân, thất lạc gia đình, không nơi nương tựa; nhiều trẻ em chịu ảnh hưởng của

di chứng chiến tranh vẫn còn đeo bám như chất độc màu da cam, tậtnguyền… Các em sinh ra bản thân đã chịu thiệt thòi về tinh thần và cả thểchất nên việc tìm kiếm một gia đình thay thế có thể mở ra cơ hội được chữabệnh, phục hồi chức năng, để các em được bảo đảm quyền sống của mình làđiều vô cùng cần thiết

Phong tục tập quán, truyền thống văn hóa dân tộc, đạo đức, lối sống

góp phần ảnh hưởng không nhỏ đến việc nhận nuôi con nuôi và hòa nhập môitrường sống mới của người được nhận nuôi con nuôi Người Việt Nam tasống trọng tình nghĩa, tương thân tương ái, với truyền thống văn hóa “lá lànhđùm lá rách” mà nhiều gia đình đã mở rộng vòng tay cưu mang, nuôi dưỡng,đùm bọc những trẻ em lang thang cơ nhỡ không nơi nương tựa Tuy nhiên,

Trang 28

một bộ phận không nhỏ người dân vẫn quan niệm rằng: “một giọt máu đàohơn ao nước lã” dẫn đến sự phân biệt đối xử giữa con nuôi và con đẻ Cónhững gia đình lợi dụng việc nuôi con nuôi để tăng thêm nhân lực lao động,nhằm bóc lột sức lao động, trẻ em nhận nuôi thường không được chăm sóc,nuôi dưỡng đúng với mục đích Hiện tượng này thường xảy ra trong cáctrường hợp nuôi con nuôi thực tế không qua đăng ký tại cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, vì vậy mà quyền trẻ em bị xâm phạm nghiêm trọng và khó pháthiện, xử lý kịp thời.

Có thể nêu một vài phong tục, tập quán ảnh hưởng đến việc thực hiệnpháp luật về nuôi con nuôi trong nước như:

Người Thái ở Điện Biên có phong tục, khi đứa trẻ không có cha, mẹnuôi dưỡng, thì anh chị lớn trong gia đình, trong dòng họ hoặc ông, bà nộingoại, cô, dì, chú, bác, cha dượng nuôi dưỡng Những người trực tiếp nuôidưỡng đứa trẻ đều được gọi là bố, mẹ (không kể trước đó về quan hệ họ hàngvới đứa trẻ có thể là anh, chị hay ông, bà) và con nuôi sẽ mang họ của ngườinuôi dưỡng Còn theo phong tục của người Thái, người anh cả trong gia đình

có trách nhiệm chăm sóc các em khi cha mẹ không còn và các em đều tôntrọng người anh cả như cha Đối với dân tộc Mông nếu anh hoặc em chết, concủa họ sẽ được các anh, em của mình nuôi dưỡng như con

Luật tục của các dân tộc thiểu số ở Phú Yên lại cho phép mọi người cóquyền nhận người khác làm con nuôi mà không phân biệt họ hàng, dân tộc vớingười con nuôi Chỉ cần có thoả thuận giữa họ hàng, bà con hai bên (ngườinuôi với người được nhận nuôi) là mặc nhiên được buôn làng chấp nhận

Đối với người dân tộc Tày ở Lạng Sơn, thì việc cho và nhận con nuôichủ yếu là do đứa trẻ khó nuôi Người Tày cũng vậy, hình thức nuôi con nuôilục so là hình thức nhận nuôi chính con mình sinh ra do đứa trẻ khó nuôi, nênphải nhờ thày cúng về làm lễ nhận con nuôi, sau khi làm lễ xong cho người

Trang 29

đàn bà khác địu đứa trẻ ra ngoài đường, sau đó quay trở lại, cha đứa trẻ đứngđầu ngõ nhận đứa con trở lại và coi như con nuôi Sau nghi thức nhận làm connuôi, đứa trẻ đi lại thăm hỏi cha mẹ nuôi như con cái trong gia đình [24].

Phong tục của người dân tộc Thái ở Lai Châu thường nhận cha mẹnuôi trong trường hợp đứa trẻ khó nuôi, gầy yếu, chậm lớn… gia đình đixem bói phải tìm cho con cha mẹ nuôi Chọn được tuổi cha mẹ nuôi, cha mẹ

đẻ chủ động đến gia đình cha mẹ nuôi đặt vấn đề, nếu cha mẹ nuôi đồng ý,cha mẹ đẻ dẫn con đến (làm lý) làm thủ tục thắp hương, lạy tổ tiên cha mẹnuôi xin mọi quyền lợi, nghĩa vụ của con nuôi được ngang bằng quyền lợi,nghĩa vụ của con đẻ

Truyền thống các dân tộc thiểu số ở Kon Tum đều có phong tục nhậnnuôi con nuôi Trước hết là nhận nuôi con của người ruột thịt (anh, chị, em…)

do chẳng may bố mẹ đứa trẻ qua đời hoặc bị một hoàn cảnh khó khăn nào đó;sau nữa là con cháu trong dòng họ, hiếm thấy việc nuôi con nuôi ngoài dòng

họ, ngoài dân tộc (việc cho và nhận con nuôi ngoài dòng họ, ngoài dân tộc chỉxảy ra khi người nhận nuôi có một mối quan hệ nào đó, như biết nhau từ nhỏ

Sự kết nghĩa này cũng chỉ dừng lại ở mức độ như là đỡ đầu

Tập tục giống nhau của hai cộng đồng dân tộc thiểu số Jrai và Bahnar ởGia Lai là trong trường hợp đứa trẻ không còn cha, mẹ, anh, chị, em, họ hànghoặc còn nhưng những người này không đủ khả năng nuôi, thì thông báotrước dân làng để mọi người biết và nhận làm con nuôi

Chính sách pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp tới việc nuôi con nuôi Bởi

lẽ, nhà nước đề ra chính sách, khung pháp lý có thể kìm hãm hoặc khuyến khíchviệc cho, nhận nuôi con nuôi Ở Việt Nam, nhận thức rõ ý nghĩa của việc nuôicon nuôi mà Nhà nước ta đã thay thế luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

2004 bằng Luật Nuôi con nuôi 2010, có giá trị áp dụng lâu dài, để thu hút sựquan tâm, ủng hộ giúp đỡ các trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt nhận được sự giúp

Trang 30

đỡ của xã hội Đặc biệt, tinh thần của Luật Nuôi con nuôi thể hiện rõ việc chonhận nuôi không phải bằng mọi giá mà việc cho nhận con nuôi phải đảm bảo tôntrọng quyền trẻ em, bảo đảm cho trẻ em lợi ích tốt nhất và khuyến khích cho trẻ

em được làm con nuôi trong nước và thực hiện việc con nuôi nước ngoài khi:

“không thể tìm gia đình thay thế ở trong nước” [48, Điều 4, Khoản 3]

Pháp luật còn là hình thức giáo dục thể hiện qua các chương trình tậphuấn, hỗ trợ nghiệp vụ trong lĩnh vực nuôi con nuôi cho cán bộ chuyên mônđược cập nhật, chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn làm việc Khichế tài xử phạt chưa được thắt chặt, năng lực cán bộ còn yếu kém, sự hướngdẫn còn hời hợt, quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi còn nhiều vướng mắchay quyền trẻ em bị xâm phạm nghiêm trọng không được xử lý nghiêm ngặtthì việc bảo vệ quyền trẻ em được nhận nuôi vẫn chưa được thực thi triệt để

Việc cha mẹ đẻ cho con làm con nuôi thông thường vì hai lý do cơ

bản sau: Một là, vì cha mẹ đẻ không có đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡngcon đẻ của mình do ốm đau, mắc bệnh hiểm nghèo, sinh con ngoài giá thú…Hai là, cha mẹ gây lỗi nghiêm trọng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ emnhư xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tính mạng, thân thể của con; đối xử tệbạc với con… nên cha mẹ đẻ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyếtđịnh tước bỏ quyền làm cha mẹ với con đẻ Trường hợp gần đây dậy sóngcộng đồng mạng khi chị Đoàn Thúy Hà (tên gọi khác: Bella) sau khi ra việnđiều trị bệnh tâm thần vào cuối tháng 8/2018 lại tiếp tục đưa con trai là cháuPeter đi phiêu bạt khắp nơi với chiếc xe đẩy Bà mẹ đơn thân Bella có những

Trang 31

hành vi gây nguy hại đến cháu bé như hút thuốc lá trong phòng có trẻ nhỏ,đưa con trai nhỏ tuổi đi phiêu bạt, không có đủ khả năng, nhận thức tỉnh táo

để nuôi dưỡng con Trong trường các hợp này, việc nuôi con nuôi là việc làmcần thiết đảm bảo cho trẻ em được nuôi dưỡng, trưởng thành Vì vậy mà hànhđộng của bà mẹ 4 con Hằng Túi (tên thật là Nguyễn Bích Hằng) đã có hànhđộng quyết liệt để đưa bé Peter thoát khỏi cảnh lang bạt và giúp em có mộtmôi trường phát triển tốt nhất

Việc nhận con nuôi trước hết nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích nhất định của người nhận nuôi và đây là nhân tố quyết định trực tiếp tới hành vi

thiết lập mối quan hệ cha mẹ và con lâu dài, bền vững Hơn nữa, việc bảo vệquyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi thực sự thành công thì người nhậnnuôi đóng vai trò to lớn tới việc đảm bảo các điều kiện cơ bản của quyền trẻ

em nhận nuôi được thực hiện Người nhận nuôi chủ động, tự nguyện thựchiện các thủ tục để được nhận con nuôi và hơn ai hết họ phải ý thức rõ ràngtrách nhiệm của mình với trẻ được nhận nuôi Nhưng trên thực tế, vẫn cònkhông ít cha mẹ nuôi chưa được tập huấn về cách làm cha mẹ, nên chưa xácđịnh rõ quyền và nghĩa vụ của mình với con nuôi Thêm vào đó, hiện tượng

vụ lợi cá nhân mà lợi dụng trẻ em cho con làm con nuôi của người có côngvới cách mạng để hưởng chính sách của nhà nước vẫn tồn tại Vì vậy mà quanniệm về nuôi con nuôi đã bị hiểu sai lệch, trái với tôn chỉ ban đầu như nuôicon nuôi lập tự, nuôi con nuôi để có thêm nhân lực lao động trong gia đình…Thực chất những hành vi này đi ngược lại với mục đích mang lại cho trẻ emmột mái ấm gia đình thực sự

Người được nhận làm con nuôi dù ở trong trường hợp nào vẫn luôn

ở thế bị động trong quan hệ cho – nhận con nuôi Mặc dù Luật Nuôi connuôi có quy định: “…trẻ em đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi phải được sựđồng ý của trẻ em đó” và các em hoàn toàn có quyền thể hiện tình cảm, tiếng

Trang 32

nói, mong muốn của mình khi được hỏi về việc nhận nuôi Nhưng trên thực

tế, dường như việc nhận nuôi con nuôi chủ yếu dựa trên sự chủ động quyếtđịnh của người lớn

Tóm lại, việc bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi chịu sựtác động của cả yếu tố khách quan và chủ quan Trong đó, yếu tố khách quanđóng vai trò thiết yếu, mang tính chi phối đến tính thực thi của quan hệ nuôicon nuôi Đây là vấn đề quan trọng cần nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháphoàn thiện chính sách pháp luật về quan hệ nuôi con nuôi ở nước ta

1.3.4 Những điều kiện bảo đảm, bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Việc bảo vệ quyền trẻ em được thực hiện cần có sự đảm bảo của nhiềuchủ thể tham gia, là trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội.Việc bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi là việc quy định cụ thể

về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan gồm: cha mẹ nuôi (là ngườinhận con nuôi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền), con nuôi (làngười được nhận làm con sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký và traoquyền nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi), họ hàng thân thích và toàn xã hội cùngvới các biện pháp xử lý vi phạm về quyền trẻ em Cụ thể như sau:

Một là, việc nuôi con nuôi phải đảm bảo cho trẻ được nuôi dưỡng, đón

nhận tình thương và chăm sóc từ gia đình cha mẹ nuôi của mình như gia đìnhruột thịt mà không có bất kỳ sự phân biệt nào giữa con đẻ và con nuôi, giữa

họ hàng ruột thịt và con nuôi “Gia đình với tư cách là nhóm xã hội cơ bản và

là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của tất cả thành viêngia đình, đặc biệt là trẻ em cần có sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết có thể đảmđương được đầy đủ cách trách nhiệm của mình trong cộng đồng Để đượcphát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởngthành trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương

Trang 33

và thông cảm” [41, lời nói đầu] đây được coi là tôn chỉ cho các hành vi xử sựcủa các chủ thể liên quan trực tiếp, gián tiếp đến việc giải quyết nuôi con nuôinhằm mang lại cho trẻ em lợi ích tốt nhất, đảm bảo cho trẻ em được nhận nuôiphát triển tốt nhất, được bảo vệ và thực thi đầy đủ các quyền của mình, hơnhết là quyền được sống trong gia đình gốc ruột thịt của mình.

Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) ghi nhận: “…trẻ em sẽ không bị buộc phải cách ly cha mẹ trái với ý muốn của cha mẹ trừ trường hợp sự cách ly là cần thiết cho những lợi ích tốt nhất của trẻ em” (Điều 9).

Thật vậy, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng cho trẻ phát triển toàn diện, là môitrường sống an toàn nhờ sự chăm sóc của cha mẹ đẻ Việc bảo đảm cho quyềncủa trẻ em được nhận nuôi ưu tiên sống trong gia đình gốc là cần thiết vì chỉkhi cha mẹ đẻ không thể thực hiện nghĩa vụ chăm sóc trẻ thì việc nhận nuôicon nuôi giữa những người họ hàng ruột thịt của trẻ được xem xét, giải phápsau cùng là tìm kiếm gia đình mở rộng cho trẻ Đây cũng là điều được nội luậthóa tại Điều 22 Luật trẻ em 2016: “trẻ em có quyền được sống chung với cha

mẹ, được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách lycha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em” [56,Điều 22] và “khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ

em được sống trong môi trường gia đình gốc” [48, Điều 4]

Tuy nhiên, trẻ em được nhận nuôi phải được đảm bảo những lợi ích tốtnhất của mình Đây là mối quan tâm hàng đầu đối với mọi chủ thể có hànhđộng, quyết định liên quan trực tiếp đến trẻ em Bởi lẽ, trẻ có thể không đượcsống trong gia đình ruột thị của mình vì nhiều lý do khác nhau, do hoàn cảnhkhách quan như thiên tai, địch họa, trẻ em bị bỏ rơi… mà không có gia đìnhhay do lỗi của cha mẹ đẻ có hành vi xao nhãng, xâm phạm đối với trẻ em và bị

cơ quan nhà nước có nhẩm quyền ra quyết định cách ly khỏi trẻ… hay đóinghèo là nguy cơ làm cho trẻ phải xa cha mẹ, hay những phụ nữ đơn thân phải

Trang 34

đối mặt với sự kỳ thị của cộng đồng do truyền thống văn hóa và quan điểm tôngiáo nên họ đã từ bỏ quyền nuôi con… Dù ở trong trường hợp nào trẻ em cũng

ở thế bị động rơi vào hoàn cảnh khó khăn Vì vậy, việc nuôi con nuôi mang

trách nhiệm là tìm cho đứa trẻ “một gia đình thường xuyên” [40, Điều 13] dành

cho trẻ em sự chăm sóc lâu dài, bền vững chứ không phải đơn thuần chỉ tìm giađình cho một đứa trẻ

Hai là, việc nuôi con nuôi là biện pháp tối ưu để bảo vệ, chăm sóc trẻ

em toàn diện hơn so với các hình thức khác Luật trẻ em quy định tại Điều 49:

Hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình của trẻ em đượctiếp cận chính sách trợ giúp xã hội và các nguồn trợ giúp khác nhằm

cải thiện điều kiện sống cho trẻ em và Nhà nước khuyến khích cơ

quan, tổ chức, gia đình, cá nhân hỗ trợ về tinh thần và vật chất đểtrợ giúp chăm sóc thay thế cho trẻ em [56, Điều 63]

Việc chăm sóc trẻ em theo hình thức tập thể tại các trung tâm nuôidưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hiện đang là hình thức phổ biến nhất.Song, hình thức này không có những đặc tính vượt trội so với hình thức nuôicon nuôi bởi sự chăm sóc, yêu thương của gia đình cha mẹ nuôi dành cho mộttrẻ em cụ thể, trẻ sẽ được sự chăm sóc thường xuyên như một thành viên củagia đình và tránh được sự mặc cảm về thân phận, đảm bảo cho trẻ sự pháttriển toàn diện, đây là điều mà các cơ sở nuôi dưỡng khó có thể làm được chomỗi trẻ Vì vậy mà việc nuôi con nuôi là hình thức đang được Nhà nước quantâm, khuyến khích cho các chủ thể tham gia hơn việc nuôi dưỡng trẻ theo tậpthể ở các trung tâm nuôi dưỡng trẻ em

Cần phân biệt hình thức giám hộ [52, Mục 4] và nuôi con nuôi Giám

hộ là việc cá nhân hoặc tổ chức được pháp luật quy định hoặc được cử đểchăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên hayngười mất năng lực hành vi dân sự Theo đó, mối quan hệ giữa người giám hộ

Trang 35

và người được giám hộ chỉ là chăm sóc, giáo dục dựa trên tài sản mà ngườiđược giám hộ sở hữu mà không tồn tại nghĩa vụ nuôi dưỡng cũng như quan

hệ cha, mẹ - con Trong khi đó, quan hệ nuôi con nuôi lại tồn tại cả nghĩa vụnuôi dưỡng, chăm sóc giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Ba là, nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài bền vững Việc nuôi con nuôi xét về quyền và lợi ích hợp pháp thì con nuôi hay con đẻ đều có quyền ngang nhau Sau khi được nhận làm con nuôi, trẻ em trở

thành một thành viên mới của gia đình cha mẹ nuôi Vì vậy, trẻ em có mốiquan hệ với tất cả các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi Trẻ emnhận nuôi và con đẻ đều có đầy đủ quyền và nghĩa vụ như nhau trên mọiphương diện về nhân thân, tình cảm, trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáodục của gia đình, họ hàng và bao gồm cả vấn đề đại diện, giám hộ, quyền

hưởng thừa kế tài sản theo quy định của pháp luật:“giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con” [51, Điều 68].

Theo CRC, Khoản 2 quy định:

Các quốc gia thành viên phải thi hành tất cả các biện pháp thích hợp

để đảm bảo cho trẻ em được bảo vệ tránh khỏi tất cả các hình thứcphân biệt đối xử hoặc trừng phạt trên cơ sở địa vị, hoạt động, những

ý kiến phát biểu hoặc tín ngưỡng của cha mẹ, người giám hộ pháp

lý, hoặc những thành viên khác của trẻ em

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tạo môi trường tự nhiên nhất chotrẻ em được nhận nuôi, Luật nuôi con nuôi đã nội luật hóa tư tưởng này quyđịnh trong các hành vi cấm phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi (Điều 13)nhằm xóa nhòa ranh giới khái niệm “con nuôi” và “con đẻ” giữa các thành viênkhác trong gia đình

Xuất phát từ ý niệm “vì lợi ích tốt nhất của trẻ em” mà tạo điều kiện đểtrẻ em làm “con nuôi” nên cần đảm quyền và lợi ích của “con nuôi” giống như

Trang 36

Mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi hoàn toàn có thể chấm dứt nếu quyềnđược đối xử như con đẻ của trẻ em được nhận làm con nuôi bị xâm phạm.

Bốn là, bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi là việc thực

hiện liên tục xuyên suốt từ khi xác lập, thực hiện và chấm dứt việc nuôi connuôi Khi mối quan hệ cha, mẹ và con được xác lập không có cùng huyếtthống thì rất cần thời gian gắn kết bằng tình cảm, trách nhiệm giữa hai bên

Tuy nhiên, trong cuộc sống gia đình hàng ngày, khi thực hiện quyền vànghĩa vụ giữa cha mẹ và con có nảy sinh những xung đột, mâu thuẫn khôngthể dung hòa được, thậm chí quyền trẻ em còn bị xâm phạm thì các cơ quan,

tổ chức xã hội có liên quan cần thực hiện ngay việc chấm dứt quan hệ nuôicon nuôi nhằm đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làmcon nuôi theo quy định của pháp luật, đồng thời phải thực hiện đầy đủ cácbiện pháp bảo đảm bảo vệ cho quyền nhân thân và quyền tài sản cho trẻ saukhi chấm dứt quan hệ với cha mẹ nuôi của mình

Công ước La Hay, Khoản 2, Điều 26 quy định rằng:

Nếu việc nuôi con nuôi dẫn đến việc chấm dứt mối quan hệ pháp lýtồn tại trước đó giữa trẻ em và cha mẹ đẻ thì trẻ em phải đượchưởng tại Nước nhận, và tại bất kỳ các Nước ký kết nào khác màcông nhận việc nuôi con nuôi đó, những quyền tương tự như nhữngquyền phát sinh do việc nuôi con nuôi có hệ quả như vậy tại mỗinước Và ở những nơi có việc nuôi con nuôi được Nước gốc cấpphép không có hệ quả chấm dứt mối quan hệ pháp lý tồn tại trước

đó giữa trẻ em và cha mẹ đẻ có thể chuyển thành việc nuôi con nuôi

có hệ quả như vậy tại Nước nhận, nơi mà công nhận việc nuôi connuôi theo Công ước (Khoản 1 điều 27, Công ước La Hay)

Như vậy, theo công ước La Hay thì quyền được yêu cầu chấm dứt nuôicon nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật nước nhận và sự cho

Trang 37

luật hóa trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 78 quy định: “…trong trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Tòa án thì quyền

và nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt, kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật”.

Tóm lại, trẻ em thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương cần được

bảo vệ, chăm sóc, và giáo dục trong môi trường gia đình, đặc biệt vớinhững trẻ em được nhận nuôi cần được đảm bảo thực thi các quyền cơ bảncủa trẻ em như những trẻ em khác Vì vậy, việc bảo vệ quyền trẻ em nóichung và bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi nói riêng nhằmthể hiện tính nhân văn cao đẹp, tình người giữa người với người và quantrọng hơn là bảo vệ những mầm non tương lai của đất nước, đem lại sựphát triển bền vững cho xã hội

Trang 38

Chương 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CỦA TRẺ EM TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Bảo vệ quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi

2.1.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền của trẻ em trong giải quyết việc nuôi con nuôi

Để bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi, trước hết, ngay từgiai đoạn xác lập quan hệ nuôi con nuôi cần có những nguyên tắc chung đảmbảo phù hợp với đường lối, chủ chương chính sách và pháp luật nhà nước vềcông tác bảo vệ trẻ em, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

Luật nuôi con nuôi 2010 đã đề cập tới các nguyên tắc tại Điều 4, nhữngnguyên tắc này sẽ là tư tưởng xuyên suốt, có sự ảnh hưởng tới toàn bộ quátrình giải quyết và thực hiện việc nuôi con nuôi tại Việt Nam Nội dung củacác nguyên tắc này bao gồm:

Một là, nguyên tắc “khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng

quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc”

Đây là nguyên tắc chung được cộng đồng quốc tế thừa nhận, bởi trẻ em

để phát triển đầy đủ và hài hòa, các em cần được sống trong môi trường giađình, sống trong hạnh phúc và được yêu thương Điều này đòi hỏi trước hếtcác em phải được cha mẹ đẻ chăm sóc, theo như ghi nhận trong Tuyên bốchung của Liên hợp quốc về các nguyên tắc pháp lý và xã hội liên quan đếnphúc lợi và bảo vệ trẻ em rằng mối “ưu tiên hàng đầu đối với trẻ em là đượccha mẹ đẻ chăm sóc” (Điều 3)

Đây cũng là sự tin tưởng được thể hiện trong lời nói đầu của công ướcLahay về việc nuôi con nuôi quốc tế: “mỗi nước cần phải ưu tiên tiến hànhcác biện pháp thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốccủa mình” Được sống trong môi trường gia đình gốc của mình là nguyên tắc

Trang 39

đảm bảo cao nhất thực hiện quyền sống của trẻ em và không ai có thể cách lytrẻ em khỏi cha mẹ đẻ của mình trừ khi: “…việc cách ly như vậy là cần thiếtcho lợi ích tốt nhất của trẻ em” [41, Điều 9, Khoản 1].

Để đảm bảo vệ quyền trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốckhi giải quyết việc cho – nhận trẻ em còn cha mẹ đẻ hoặc người thân thích đilàm con nuôi thì Luật nuôi con nuôi 2010 quy định tại Điều 20, và Điều 21,Điều 9 Nghị định số 19/2011/ NĐ – CP, cán bộ tư pháp hộ tịch khi giải quyết

hồ sơ cần tư vấn đầy đủ mục đích nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ của cácbên để trẻ em được tiếp tục chăm sóc trong môi trường điều kiện gia đình.Trong trường hợp những người liên quan có nhận thức chưa đầy đủ hoặc bịảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý nên đã đồng ý cho trẻ em làm con nuôi mà sau

đó muốn thay đổi ý kiến thì pháp luật cũng quy định quyền rút lại ý kiến trongthời hạn 15 ngày đối với nuôi con nuôi trong nước và 30 ngày đối với việcnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài kể từ ngày được lấy ý kiến theo Khoản 3,Điều 9 và Khoản 2, Điều 15, Nghị định 19/2011 Đây là quy định mới nhằmgiúp cha mẹ đẻ nhận thức rõ trách nhiệm của mình với con cái, tránh trườnghợp mang con đẻ của mình cho làm con nuôi của người khác và phát huy tối

đa quyền được sống trong gia đình gốc của trẻ

Chỉ khi sự chăm sóc của cha mẹ đẻ không được thực hiện thì sự chămsóc thay thế là cần thiết Khi đó, thứ tự hàng ưu tiên chăm sóc đứa trẻ là chínhgia đình họ hàng mở rộng của trẻ Nếu việc cho nhận con nuôi vẫn khôngđược thực hiện giữa những người họ hàng thân thích của trẻ thì mới xem xétđến việc cho trẻ em con nuôi ngoài gia đình ruột thịt của mình

Hai là, nguyên tắc: “Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích

hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tựnguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạođức xã hội”

Trang 40

Ngay tại Lời nói đầu, Điều 1 của công ước Lahay 1993 mối quan tâmhàng đầu đối với việc nuôi con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em bao gồm:lợi ích về mọi mặt của cuộc sống hàng ngày cho các em và còn là tương laicủa các em Các quyền và lợi ích hợp pháp của các em phải được đặt lên hàngđầu nhưng cũng cần quan tâm đến lợi ích của cha mẹ nuôi Mối quan hệ cóthể dung hòa về mặt lợi ích thì các bên mới có thể tồn tại cũng như việc phápluật thừa nhận quyền và lợi ích hợp pháp của cha mẹ nuôi thì họ mới có thểyên tâm thực hiện đầy đủ trách nhiệm làm cha, làm mẹ của mình đối với connuôi Xuất phát từ nguyên tắc này, việc nuôi con nuôi xác lập mối quan hệgiữa cha mẹ nuôi và con nuôi là mối quan hệ ràng buộc lâu dài, bền vững.

Để đảm bảo thực thi nguyên tắc này một cách trọn vẹn, ngay từ thờiđiểm trước khi đưa ra quyết định, các cơ quan có thẩm quyền cần có sự cânnhắc kỹ càng về điều kiện của cha mẹ nuôi để đảm bảo cho quyền lợi củatrẻ em được tốt nhất Đây cũng là tinh thần được công ước Lahay ghi nhậntại điều 4:

Những cá nhân, tổ chức và các nhà chức trách mà việc nuôi connuôi cần phải có sự đồng ý của họ đã được tham khảo ý kiến ở mức

độ cần thiết và được thông báo kỹ lưỡng về những hệ quả mà sựđồng ý của họ có thể đem lại… đã đồng ý một cách tự nguyện theonhững hình thức do pháp luật đòi hỏi… không có bất kỳ một sự trảtiền hay bồi thường nào để có được sự đồng ý nói trên

Nội luật hóa quy định này, Luật Nuôi con nuôi và nghị định 19/2011/

NĐ – CP đã quy định chi tiết về việc những cá nhân liên quan phải được lấy ýkiến thông báo, tư vấn đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các bên khi quan hệnuôi con nuôi được xác lập Sự tự nguyện đến từ các bên là yếu tố quan trọngảnh hưởng trực tiếp tới thân phận của người con nuôi và quyết định việc nuôicon nuôi có đúng với ý nghĩa của nó hay chỉ là hình thức

Ngày đăng: 09/01/2020, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngọc Anh (2011), “Đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Chuyên đề pháp luật về nuôi con nuôi), tr.132-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngọc Anh (2011), “Đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế”, "Tạp chí Dânchủ và Pháp luật
Tác giả: Ngọc Anh
Năm: 2011
2. Vũ Thị Kiều Anh (2014), So sánh pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Thị Kiều Anh (2014), "So sánh pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài của Việt Nam và một số nước trên thế giới – Bài học kinhnghiệm và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Kiều Anh
Năm: 2014
3. Nguyễn Văn Bình (2011), “Luật Nuôi con nuôi sự quan tâm lớn của nhà nước và xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (Chuyên đề pháp luật về nuôi con nuôi), tr.3-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Bình (2011), “Luật Nuôi con nuôi sự quan tâm lớn củanhà nước và xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh”, "Tạp chí dân chủ vàpháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 2011
4. Nông Quốc Bình (2006), Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông Quốc Bình (2006), "Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nướcngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Tác giả: Nông Quốc Bình
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
5. Bộ Tư pháp (2008), Bản tổng thuật Pháp luật một số nước về nuôi con nuôi, Tài liệu tham khảo của dự án luật Nuôi con nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2008), "Bản tổng thuật Pháp luật một số nước về nuôi connuôi
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
6. Bộ Tư pháp (2009), “Pháp luật về nuôi con nuôi”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2009), “Pháp luật về nuôi con nuôi”, "Tạp chí Dân chủ vàPháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2009
7. Bộ Tư pháp (2011), “Pháp luật về nuôi con nuôi”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2011), “Pháp luật về nuôi con nuôi”, "Tạp chí Dân chủ vàPháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
8. Bộ Tư pháp (2013), Quyết định số 378/QĐ-BTP, ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án triển khai Công ước La Hay giai đoạn 2012 – 2015 trong Ngành Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2013), "Quyết định số 378/QĐ-BTP, ban hành Kế hoạchthực hiện Đề án triển khai Công ước La Hay giai đoạn 2012 – 2015trong Ngành Tư pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2013
9. Bộ Tư pháp (2014), Quyết định số 376/QĐ-BTP, ban hành Quy chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan ở địa phương về giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2014), "Quyết định số 376/QĐ-BTP, ban hành Quy chếphối hợp liên ngành giữa các cơ quan ở địa phương về giải quyết việcnuôi con nuôi quốc tế
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2014
10. Bộ Tư pháp (2014), Tài liệu Hội nghị sơ kết 3 năm thi hành Luật Nuôi con nuôi và 02 năm thi hành Công ước Lahay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2014), "Tài liệu Hội nghị sơ kết 3 năm thi hành Luật Nuôicon nuôi và 02 năm thi hành Công ước Lahay 1993 về bảo vệ trẻ em vàhợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2014
11. Bộ Tư pháp (2016), Tài Liệu Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện Luật Nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP giai đoạn 2011- 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2016), "Tài Liệu Hội nghị đánh giá tình hình thực hiệnLuật Nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP giai đoạn 2011-2016
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2016
14. Bộ Tư pháp (2019), Văn bản hợp nhất số 951/VBHN – BTP quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Nuôi con nuôi ngày 21 tháng 3 năm 2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2019), "Văn bản hợp nhất số 951/VBHN – BTP quy địnhchi tiết thi hành một số điều Luật Nuôi con nuôi ngày 21 tháng 3 năm2019
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2019
15. Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi (2009), Pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam và một số nước trên thế giới, Nxb thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi (2009), "Pháp luật về nuôi con nuôi của ViệtNam và một số nước trên thế giới
Tác giả: Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi
Nhà XB: Nxb thời đại
Năm: 2009
16. Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi (2013), Hỏi đáp pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi (2013), "Hỏi đáp pháp luật Việt Nam về nuôicon nuôi
Tác giả: Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2013
17. Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi (2016), Tài liệu Hội nghị tổng kết 05 năm thi hành Luật Nuôi con nuôi và 04 năm thi hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi (2016), "Tài liệu Hội nghị tổng kết 05 nămthi hành Luật Nuôi con nuôi và 04 năm thi hành Nghị định số19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Nuôi con nuôi
Tác giả: Bộ Tư pháp, Cục Con nuôi
Năm: 2016
18. Chính phủ (2011), Nghị định số 19/2011/NĐ – CP ngày 21/3/2011 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2011), "Nghị định số 19/2011/NĐ – CP ngày 21/3/2011 vềquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
19. Chính phủ (2012), Quyết định số 1233/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án triển khai Công ước La Hay giai đoạn 2012-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2012), "Quyết định số 1233/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án triểnkhai Công ước La Hay giai đoạn 2012-2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
20. Chính phủ (2019), Nghị định số 24/2019/ NĐ – CP ngày 05/03/2019 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 19/2011/NĐ – CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Nuôi con nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2019), "Nghị định số 24/2019/ NĐ – CP ngày 05/03/2019 vềsửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 19/2011/NĐ – CP ngày21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều củaluật Nuôi con nuôi
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
22. Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp (2016), Số liệu thống kê đăng ký nuôi con Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp (2016)
Tác giả: Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp
Năm: 2016
23. Cục Con nuôi (2017), Số liệu thống kê tình hình nuôi con nuôi nước ngoài giai đoạn 2011 – 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Con nuôi (2017)
Tác giả: Cục Con nuôi
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w