1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá thành phần dưỡng chất và hoạt tính sinh học của rễ cây Bồ công anh Việt Nam (Lactuca indica L.)

10 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 512,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với loài Bồ công anh Việt Nam được thu hái tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam. Nội dung của nghiên cứu này là phân tích, đánh giá một số chỉ tiêu về thành phần dưỡng chất và hoạt tính sinh học.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN DƯỠNG CHẤT VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC

CỦA RỄ CÂY BỒ CÔNG ANH VIỆT NAM (Lactuca indica L.)

Tôn Nữ Liên Hương1, Huỳnh Văn Lợi1, Lê Thị Hồng Diễm1, Huỳnh Thị Quỳnh Mai1

1 Trường Đại học Cần Thơ

Thông tin chung:

Ngày nhận bài: 26/10/2017

Ngày nhận kết quả bình duyệt:

18/11/2017

Ngày chấp nhận đăng: 12/2017

Title:

An analysis on the nutrients

composition and the biological

activities of the root extracts of

Lactuca indica L

Keywords:

Lactuca indica L., nutritional

ingredients, biological activity,

toxicity on cancer cells

Từ khóa:

Bồ công anh Việt Nam,

thành phần dưỡng chất,

hoạt tính sinh học, gây độc

tế bào ung thư

ABSTRACT

The study was conducted through Lactuca indica L., collected in Da Lat city, Lam Dong province, Viet Nam The study aims to analyze and assess the nutrition and biological activity of the roots of these species The findings show that roots of these species have many nutrition values such as 56,37 μg/100 g carotenoid; 6,19 g/100 g crude protein; 67,73 g/100 g neutral detergent fiber, 41,37 g/100 g acid detergent fiber; 14,3 g/100 g total minerals; 200 mg/100 g phosphorus These root extracts, including the crude extract and Ext-n-Hex, Ext-DC, Ext-EA have weak biological activities with microbial organism The extracts as Ext-n-Hex and Ext-DC have citoxicity on Hela cancer cells, with in turn IC 50 (μg/mL) 71,6; 65,2 In addition, the extracts n-Hex, DC,

Ext-EA have in turn IC 50 value of 93,7; 98,1 and 96,2 on the A549 cancer cells

TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện với loài Bồ công anh Việt Nam được thu hái tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam Nội dung của nghiên cứu này là phân tích, đánh giá một số chỉ tiêu về thành phần dưỡng chất và hoạt tính sinh học Kết quả cho thấy, rễ cây Bồ công anh Việt Nam mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng như: carotenoid 56,37 μg/100 g (nguyên liệu); protein thô 6,189 g/100 g; xơ trung tính 67,728 g/100 g; xơ acid 41,372 g/100 g; khoáng tổng 14,277 g/100 g; phosphorus 200 mg/100 g Các cao chiết (cao tổng, n-Hex, DC, EA) từ

rễ của loài này có hoạt tính sinh học thấp trên các chủng vi sinh vật khảo sát Các cao n-Hex và cao DC có khả năng gây độc dòng tế bào ung thư cổ tử cung HeLa, với IC 50 là 71,6 và 65,2 (μg/mL) Ngoài ra, cao n-Hex, cao DC và cao

EA có khả năng độc tế bào ung thư phổi người A549 với IC 50 lần lượt là 93,7; 98,1 và 96,2 (μg/mL)

1 GIỚI THIỆU

Bồ công anh là tên gọi của ít nhất 3 loài cây có ở

nước ta: Bồ công anh Việt Nam (Lactuca indica

L.), Bồ công anh Trung Quốc (Taraxacum

officinale Wigg.) và cây Chỉ thiên (Elephantopus

scaber L.) Nghiên cứu này, tập trung vào loài Bồ

công anh Việt Nam, Lactuca indica L., với phần

rễ cây đang phát triển, có hoa

Bồ công anh Việt Nam được biết đến là một loài rau ăn giàu giá trị dinh dưỡng, được thu hái rất dễ dàng Nhân dân ta thường dùng lá, lá có thể dùng tươi hoặc phơi khô, một số người hái cả cây cả rễ cắt nhỏ, phơi khô để dùng Trong y học dân gian,

Bồ công anh Việt Nam có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm tán kết và được sử dụng trong điều trị một số bệnh

Trang 2

như: mụn nhọt, ăn uống khó tiêu, đau dạ dày,

viêm tuyến sữa ở phụ nữ,… (Đỗ Huy Bích & cs.,

2006; Đỗ Tất Lợi, 1999; Hội đồng dược điển Việt

Nam, 2009)

Trên thế giới đã có những công bố về nghiên cứu

các bộ phận cây Lactuca indica L phía trên mặt

đất, về khả năng ức chế tế bào ung thư gan

Hep-G2 (Kim, Ki Hyun & cs., 2007; 2010), ức chế tế

bào ung thư máu HL-60 (Petra Lüthje & cs.,

2011b; Sheng-Yang Wang & cs., 2003), ngăn cản

tiến triển ung thư bàng quang bởi nhiễm trùng

Escherichia coli (Petra Lüthje, 2011a),… Những

năm gần đây, người dân truyền tai nhau nhiều

thông tin về khả năng thần kỳ của dịch chiết từ rễ

của Bồ công anh Việt Nam có thể tiêu diệt các

dòng tế bào ung thư, đặc biệt là tế bào ung thư

gan Nhiều bệnh nhân ung thư gan, sau khi sử

dụng dịch chiết từ rễ của loài này cũng đã nhận

định rằng: sức khỏe có tiến triển, cơ thể dần hồi

phục, ăn uống ngon miệng,… Trước đó, khả năng

chữa bệnh ung thư của cây Bồ công anh cũng

được nhắc tới khi các nhà khoa học tại Đại học

Windsor (Canada) nghiên cứu và phát hiện chiết

xuất từ rễ loài cây này khiến cho các tế bào ung

thư gan bị suy yếu và chết (P Ovadje & cs.,

2010) Tuy nhiên, loài Bồ công anh được nhắc

đến trong nghiên cứu trên là loài Taraxacum

officinale Wigg thay vì là loài Lactuca indica L

như trong nhân dân truyền tai nhau Mặt khác,

trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu

về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của

cây Bồ công anh Việt Nam, nhưng ở nước ta vẫn

chưa có công trình nghiên cứu nào về thành phần

hóa học và tiềm năng sinh học của cây được công

bố

Nghiên cứu này nhằm bước đầu đánh giá về giá

trị dinh dưỡng, khả năng chữa bệnh của rễ Bồ

công anh Việt Nam được thu hái tại thành phố Đà

Lạt, tỉnh Lâm Đồng, cũng như đóng góp vào

nguồn kiến thức dược liệu về đối tượng này

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nguyên vật liệu và hóa chất

2.1.1 Nguyên liệu

Rễ cây Bồ công anh Việt Nam (Lactuca indica L.)

được thu tại khu vực Trại Mát, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam, được chọn lọc từ những cây có chiều cao 60 - 80 cm, đang ra hoa

và có tuổi từ 3 - 4 tháng sinh trưởng Nguyên liệu được nhóm thu hoạch từ tự nhiên vào tháng 6 năm

2017 Vùng đất bazan và khí hậu của cao nguyên Langbiang là điều kiện để cây phát triển tốt nhất

2.1.2 Dụng cụ

Tủ sấy Ecocell, máy cô quay chân không Heidolph, máy đo quang phổ JASCO V-730, hệ thống Kjeldahl, cân phân tích OHAUS PA214 và cân kỹ thuật GM 612, bản mỏng silica gel 60 F254

Merck, becher, bình lóng, bình cô quay, fritted glass (crucible), máy hút chân không,…

2.1.3 Hóa chất

- Dung môi hữu cơ (Chemsol, Việt Nam): n-henxane (n-Hex), dichloromethane (DC), ethyl

acetate (EA), methanol (Me), acetone, petroleum ether (PE),…

cetyltrimethylammonium bromide, triethylene glycol, DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl), Vitamin C, H2SO4, HClO4, NaOH, H3BO3, EDTA,…

2.2 Phương pháp chiết tách

Rễ cây Bồ công anh Việt Nam (Lactuca indica L.)

sau khi thu hoạch được rửa sạch, loại bỏ những phần hư, úa, đem phơi gió đến gần khô, rồi sấy ở nhiệt độ 50 oC đến khô Sau đó, xay nhuyễn thu được mẫu nguyên liệu

Bột cây được chiết trong ethanol bằng phương pháp ngâm dầm, mỗi lần ngâm khoảng 24 giờ, lọc, thu được dịch chiết Tiến hành cô quay, đuổi dung môi thu được cao tổng Tiếp tục điều chế

các cao phân đoạn n-Hex, DC, EA bằng phương

pháp chiết lỏng - lỏng

2.3 Khảo sát thành phần dưỡng chất

2.3.1 Hàm lượng carotenoid

Sử dụng phương pháp đo độ hấp thu quang tại bước sóng 510 nm của dung dịch chứa carotenoid

Trang 3

(N.M Sachindra & cs., 2005; TCVN

9042-2:2012, ISO 6558-2:1992)

Mẫu nguyên liệu được ngâm dầm trong acetone

và tiến hành chiết rắn - lỏng, Dung dịch acetone

sau đó được thêm vào một lượng nước cất với tỉ lệ

1:1 rồi chiết lỏng - lỏng với dung môi petroleum

ether Cô đuổi dung môi, thu được cao PE Hòa

tan cao thu được trong petroleum ether và tiến

hành đo mật độ quang OD ở bước sóng 510 nm để

xác định hàm lượng carotenoid Kết quả được tính

bằng công thức:

Trong đó: AC: hàm lượng carotenoid (μg/g), A0:

giá trị mật độ quang của mẫu trắng, A: giá trị mật

độ quang của dung dịch, V: thể tích của dịch trích

(mL), d: hệ số pha loãng dịch trích, W: trọng

lượng mẫu (g), 0,25: hệ số hiệu chỉnh đối với

carotenoid

2.3.2 Hàm lượng protein thô

Sử dụng phương pháp Kjeldahl là phương pháp

tiêu chuẩn dùng để xác định hàm lượng nitrogen

trong mẫu, từ đó tính được hàm lượng protein thô

(TCVN 10791:2015)

Mẫu nguyên liệu được vô cơ hóa bằng acid mạnh,

được xử lý bằng hệ thống Kjeldalh Và sử dụng

dung dịch H2SO4 0,1 N để chuẩn độ, chuẩn độ

đến khi màu xanh chuyển thành màu hồng thì

dừng lại (tương tự đối với mẫu trắng) Hàm lượng

Nitrogen tổng được tính toán và chuyển về phần

trăm khối lượng prtotein thô bằng các công thức:

Trong đó: N%: tỷ lệ % của nitrogen có trong mẫu,

V1: thể tích H2SO4 dùng cho định phân mẫu (mL),

V0: thể tích H2SO4 dùng trong sự định phân mẫu

trắng (mL), N: độ nguyên chuẩn của dung dịch

H2SO4 dùng trong định phân (N), W: trọng lượng

mẫu (g), 0,014: hệ số tính ra N

CP% = N%×6,25 Trong đó: CP%: phần trăm khối lượng protein thô

(%), 6,25: hệ số thích hợp với tất cả thức ăn xanh

2.3.3 Hàm lượng xơ trung tính

Hàm lượng xơ trung tính (NDF) được xác định

theo quy trình do Van Soest và cs đề nghị (1991),

được cải tiến theo quy trình của Chai và Udén (1998)

Mẫu nguyên liệu được xử lý bằng 100 mL dung dịch NDS (18,61 g EDTA; 6,81 g

Na2B4O7.10H2O; 4,56 g Na2HPO4; 30 g sodium lauryl sulfate; 10 mL triethylene glycol định mức đến thể tích 1000 mL bằng nước cất), đậy kín bằng giấy nhôm, ủ ở nhiệt độ 90 oC trong 12 giờ Mẫu được lọc qua chén crucible và rửa nhiều lần bằng nước cất nóng, acetone; Sấy trong chén ở

100 oC trong 4 giờ; Tiếp tục nung chén trong 1 giờ ở nhiệt độ 500 oC Hàm lượng xơ trung tính được tính bằng công thức:

Trong đó: NDF: Hàm lượng xơ trung tính (%), P1: Trọng lượng chén và mẫu sau khi sấy ở 100 oC (g), P2: Trọng lượng chén và mẫu sau khi nung ở

500 oC (g), W: Khối lượng mẫu (g)

2.3.4 Hàm lượng xơ acid

Hàm lượng xơ trung tính (ADF) được xác định theo quy trình do Van Soest và cs đề nghị (1991), được cải tiến theo quy trình của Chai và Udén (1998)

Mẫu nguyên liệu được xử lý bằng 100 mL dung dịch ADS (20 g cetyltrimethylammonium bromide trong 1000 mL dung dịch H2SO4 1,0 N), đậy kín bằng giấy nhôm, ủ ở nhiệt độ 90 oC trong

12 giờ Mẫu được lọc qua chén crucible và rửa nhiều lần bằng nước cất nóng, acetone; Sấy trong chén ở 100 oC trong 4 giờ; Tiếp tục nung chén trong 1 giờ ở nhiệt độ 500 oC Hàm lượng xơ acid được tính bằng công thức:

Trong đó: ADF: Hàm lượng xơ trung tính (%), P1: Trọng lượng chén và mẫu sau khi sấy ở 100 oC (g), P2: Trọng lượng chén và mẫu sau khi nung ở

500 oC (g), W: Khối lượng mẫu (g)

Trang 4

2.3.5 Hàm lượng khoáng tổng

Mẫu khảo sát sau khi thiêu cháy ở nhiệt độ 550 –

600 oC chất hữu cơ sẽ bị hủy hết, chất còn lại là

tro thô hay khoáng tổng (TCVN 4327:2007)

Mẫu nguyên liệu được làm ẩm bằng dung dịch

HCl đậm đặc, sau đó nung ở nhiệt độ 550 - 600

oC Để nguội trong lò cho đến khi nhiệt độ chỉ ít

hơn 200 oC, đem đặt vào bình hút ẩm và cân Hàm

lượng khoáng tổng được xác định bằng công thức:

Trong đó: Ash: phần trăm khối lượng khoáng tổng

(%), P1: trọng lượng chén sứ (g), P2: trọng lượng

chén sứ và mẫu đã được nung (9), W: khối lượng

mẫu ở trạng thái khô không khí (g)

2.3.6 Hàm lượng phosphorus

Sử dụng phương pháp đo độ hấp thu quang của

dung dịch chứa hàm lượng chất cần xác định tại

bước sóng 720 nm (TCVN 8940:2011)

Mẫu nguyên liệu được vô cơ hóa bằng acid mạnh,

đun đến khi mẫu trắng và dung dịch trong Lọc

vào bình định mức 1 và định mức đến vạch (V1)

Lấy V ml vào bình định mức, thêm 30 mL nước

cất và vài giọt chỉ thị 2,4-dinitrophenol 1% Trung

hòa acid dư bằng NH4OH 10% đến khi dung dịch

có màu vàng, sau đó acid hóa bằng H2SO4 10%

đến khi dung dịch hết màu vàng; Thêm 8 mL hỗn

hợp khử tạo màu và định mức đến vạch (V2); Lắc

đều dung dịch Sau khoảng 20 phút, tiến hành đo

mật độ quang OD ở bước sóng 720 nm (tương tự

với mẫu trắng bằng cát thạch anh) Hàm lượng

phosphorus được tính bằng công thức:

P =

Trong đó: A0: giá trị mật độ quang của mẫu trắng,

A: giá trị mật độ quang của dung dịch cần định

lượng, V: thể tích dung dịch mẫu sau lọc dùng

định mức (mL), V1: thể tích bình định mức 1

(mL), V2: thể tích bình định mức 2 (mL), W: khối

lượng mẫu (g)

2.4 Khảo sát hoạt tính sinh học

2.4.1 Khả năng kháng oxy hóa DPPH

Khả năng kháng oxy hóa của cao chiết dựa trên sự thay đổi độ hấp thu của dung dịch DPPH ở bước sóng 517 nm (Liu, Xiaoli et al, 2008) với đối chứng dương là vitamin C

Mẫu thử là dung dịch cao chiết hoặc dung dịch chất đối chứng (vitamin C) với các nồng độ khác nhau được chuẩn bị từ các dung dịch đã pha sẵn vào các eppendorf đã được bọc kín để tránh ánh sáng, sau đó thêm 40 μL dung dịch DPPH nồng

độ 1 mg/mL (1000 μg/mL) để thu được thể tích cuối là 1 mL Hỗn hợp phản ứng được giữ trong tối, 30 phút, ở nhiệt độ phòng, sau đó được đo mật

độ quang ở bước sóng 517 nm Hiệu suất kháng gốc tự do DPPH được tính bằng công thức:

Trong đó: H: phần trăm ức chế (%), AC: giá trị mật độ quang của dung dịch DPPH, AS: giá trị mật độ quang của dung dịch cao chiết với DPPH

2.4.2 Khả năng kháng khuẩn, nấm và gây độc tế bào ung thư

Do điều kiện nuôi cấy các chủng khuẩn, nấm và tế bào ung thư cần phải được chuyên môn hoá và

kiểm định nghiêm ngặt, nên thử nghiệm in vitro

gây độc tế bào được tiến hành ở Viện Hoá học, thuộc Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam và Viện học Tự nhiên, Trường Đại học Dược Toyama, Nhật Bản

Các chủng khuẩn S aureus, B subtilis, L

fermentum, S enterica, E coli, P aeruginosa, K pneumoniae, chủng nấm Candida albican dùng

trong khảo sát kháng vi sinh vật Việc khảo sát khả năng ức chế ung thư được sử dụng trên các dòng tế bào HeLa (ung thư cổ tử cung), A549 (ung thư phổi), PANC-1 (ung thư tuyến tụy) và

Hep-G2 (ung thư gan)

2.5 Xử lý số liệu Các số liệu sau quá trình khảo sát được thu thập

và xử lý thống kê bằng phần mềm tin học Microsoft Excel 2013

Trang 5

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần dưỡng chất

Mẫu nguyên liệu sau khi được xử lý, tiến hành khảo sát các chỉ tiêu thành phần dinh dưỡng, kết quả được tóm tắt trong Bảng 1 như sau:

Bảng 1 Kết quả khảo sát thành phần dưỡng chất

Từ bảng số liệu kết quả khảo sát thành phần

dưỡng chất cho thấy, rễ cây Bồ công anh Việt

Nam mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng (tính trên

100 g nguyên liệu khô): hàm lượng carotenoid

56,37 μg/100 g; protein thô 6,19 g/100 g; xơ trung

tính 67,73 g/100 g; xơ acid 41,37 g/100 g; khoáng

tổng 14,3 g/100 g; và phosphorus 200 mg/100 g

Đối với mẫu Rễ bồ công anh, hàm lượng protein

thô cao gấp 7,7 lần, khoáng tổng cao gấp 11,9 lần

và phosphorus gấp 4 lần hàm lượng các thành

phần dưỡng chất tương tự ở khoai lang được thể hiện trong bảng thành phần thực phẩm Việt Nam (Nguyễn Công Khẩn & cs., 2007)

3.2 Hoạt tính sinh học

3.2.1 Khả năng kháng oxy hóa DPPH

Kết quả khả năng kháng oxy hóa DPPH của đối

chứng vitamin C và các cao chiết (cao tổng,

n-Hex, DC, EA) lần lượt được thể hiện qua các Biểu

đồ 1, 2, 3, 4, 5 như sau:

Biểu đồ 1 Khả năng kháng oxy hóa DPPH của vitamin C

Trang 6

Biểu đồ 2 Khả năng kháng oxy hóa DPPH của cao tổng

Biểu đồ 3 Khả năng kháng oxy hóa DPPH của cao n-Hex

Biểu đồ 4 Khả năng kháng oxy hóa DPPH của cao DC

Trang 7

Biểu đồ 5 Khả năng kháng oxy hóa DPPH của cao EA

Từ kết quả, ta thu được đường thẳng tuyến tính biểu diễn khả năng ức chế của các cao chiết, từ đó suy ra giá trị IC50 được biểu diễn trong Bảng 2

Bảng 2 Kết quả khảo sát khả năng kháng oxy hóa DPPH

Gốc tự do

DPPH

Giá trị IC50 của các cao chiết (μg/mL)

Từ bảng số liệu kết quả khảo sát khả năng kháng

oxy hóa DPPH cho thấy, các cao phân đoạn có

khả năng kháng oxy hóa ở mức độ trung bình,

thấp Các giá trị tương ứng với cao tổng, n-Hex,

DC, EA lần lượt là: 69,53; 36,38; 83,38 và 28,79

μg/mL

So sánh với vitamin C thì nồng độ có thể ức chế

50% góc tự do DPPH của các cao chiết (cao tổng,

n-Hex, DC, EA) lần lượt cao gấp 17,5; 9,2; 21 và

7,3 lần

3.2.2 Khả năng kháng khuẩn, nấm

Kết quả: các cao chiết từ rễ Bồ công anh Việt

Nam không kháng các chủng vi sinh vật đã kiểm

định ở nồng độ thử 128 μg/mL, tuy có diệt

khuẩn và nấm ở nồng độ mẫu thử cao hơn, nên xem là không có giá trị ứng dụng

3.2.3 Khả năng gây độc tế bào ung thư

Các cao chiết được thử nghiệm in vitro độc tính

với các tế bào ung thư ở người gồm: Hela (ung thư cổ tử cung), A549 (ung thư phổi), PANC-1 (ung thư tuyến tuỵ) và Hep-G2 (ung thư gan); sử dụng đối chứng dương là Ellipticine trong thí nghiệm với Hep-G2 và 5-Fluorouracil đối với các thí nghiệm còn lại

Trang 8

Bảng 3 Kết quả khảo sát khả năng gây độc tế bào ung thư

TT Các dòng ung

thư

Giá trị IC50 của các cao chiết (μg/mL) Đối chứng

dương (μM)

Ghi chú: c 5-Fluorouracil; d Ellipticine

Từ bảng số liệu nồng độ có thể diệt 50% tế bào

với các dòng tế bào ung thư được thử nghiệm nói

trên, rõ ràng các cao của rễ cây Bồ công anh có

khả năng ức chế một cách chọn lọc đến sự phát

triển ung thư ở người, tuy nhiên kết quả ở mức

trung bình yếu Kết quả có sự chọn lọc như: chỉ

gây độc tế bào ung thư HeLa - cổ tử cung và

A549 - phổi: cao chiết n-Hex và DC có khả năng

gây độc tế bào ung thư HeLa, A549 với IC50 lần

lượt là 71,6 và 65,2 μg/mL, cũng 2 loại cao chiết

này gây độc tế bào ung thư phổi với IC50 lần lượt

là 93,7 và 98,1 μg/mL Riêng cao chiết EA chỉ

diệt 50% tế bào ung thư A549 ở nồng độ 96,2

μg/mL

Các cao có khả năng gây độc yếu với tế bào ung

thư tuyến tuy và gan, vì IC50 lớn hơn 100 μg/mL

3.3 Thảo luận

Các cao của Lactuca indica có tác dụng bảo vệ

gan (Kim Ki Hyun & cs., 2007; 2008; 2010) Cao

của cây cũng đã thể hiện tính kháng oxy hoá tốt

(Wang, Sheng-Yang & cs 2003) Yi-Hsuan Chen

và cs (2007) đã đánh giá tác dụng của dịch chiết

ethanol của Lactuca indica với dòng tế bào HL-60

gây ung thư bạch cầu ở người Từ giá trị IC50 là

313 µg/mL, bài báo đánh giá là dịch chiết có tác

dụng gây độc mạnh đối với tế bào HL-60 Dịch

chiết này chứa 5% các hợp chất phenolic, như

quercetin, acid caffeic, rutin, và acid chlorogenic

Dịch chiết của rễ cây Lactuca indica thử nghiệm

về khả năng gây hiện tượng apoptosis trên tế bào

leukemia, dẫn đến có thể trị được ung thư bạch

cầu (Ovadje, P & cs., 2010)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, rễ cây Bồ công anh Việt Nam có khả năng ức chế yếu trên tế bào

ung thư cổ tử cung và phổi Cao chiết n-Hex có

khả năng diệt 50% tế bào ung thư HeLa, A549 ở giá trị nồng độ lần lượt là 71,6; 93,7 μg/mL Cao chiết DC có khả năng diệt 50% tế bào ung thư HeLa, A549 ở giá trị nồng độ lần lượt là 65,2; 98,1 μg/mL Cao chiết EA có khả năng diệt 50%

tế bào ung thư A549 ở nồng độ 96,2 μg/mL Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây trên thế giới và là đóng góp mới của nhóm Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các cao chiết phân cực khác nhau của Bồ công anh thu tại Đà lạt có giá trị không cao về hoạt tính sinh học, vẫn

có hoạt tính ức chế tế bào ung thư phát triển, nhất

là ung thư cổ tử cung Kết quả này cần được khảo sát tiếp thêm về tách chất và thử hoạt tính trên từng chất cụ thể Tuy là nguyên liệu rễ cây, Bồ công anh vẫn bao hàm lượng dinh dưỡng đáng kể, giúp nâng cao thể trạng người sử dụng, có thể với

lý do này giúp người bệnh chịu đựng được các đợt trị liệu hoá học và xạ trị, phần nào giải thích về khả năng thần kỳ trị ung thư như những thông tin

mà nhân dân đã truyền tai nhau trong thời gian qua

Nguyên liệu cho đề tài là cây thu hoạch ở thời kỳ đang phát triển, đang có hoa Nghiên cứu chỉ thực hiện trên nguyên liệu được thu hái trong khu vực thành phố Đà Lạt vào thời gian mùa mưa, là mùa cây phát triển dễ Do những điều kiện khác nhau

về thổ nhưỡng cũng như thời tiết cho nên vẫn chưa thể đánh giá được rễ Bồ công anh Việt Nam

là có hoạt tính yếu

Trang 9

4 KẾT LUẬN

Từ kết quả của nghiên cứu cho thấy, rễ Bồ công

anh Việt Nam mang đến nhiều giá trị dinh dưỡng

như: carotenoid 56,37 μg/100 g; protein thô 6,19

g/100 g; xơ trung tính 67,73 g/100 g; xơ acid

41,37 g/100 g; khoáng tổng 14,3 g/100 g;

phosphorus 200 mg/100 g

Các cao chiết (cao tổng, n-Hex, DC, EA) có nồng

độ ức chế gốc tự do DPPH thấp Các cao không

kháng các dòng khuẩn (Staphylococcus aureus,

Bacillus subtilis, Lactobacillus fermentum,

Pseudomonas aeruginosa và nấm Klebsiella

pneumoniae, Candida albican) ở mức nồng độ

thấp hơn 128 μg/mL nên chúng tôi xem là cây Bồ

công anh không có khả năng kháng vi sinh kiểm

định có thể ứng dụng

Cao của rễ cây Bồ công anh có hoạt tính gây độc

chọn lọc các dòng tế bào ung thư: ức chế trung

bình yếu tế bào ung thư cổ tử cung - Hela, ức chế

yếu với tế bào ung thư phổi - A649 Các loại tế

bào ung thư tuyến tuỵ và gan có thử nghiệm chưa

thể ứng dụng

Rõ ràng Bồ công anh Việt Nam là một thảo dược

có ứng dụng tốt trong lĩnh vực thực phẩm và chế

biến thực phẩm chức năng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ văn bản – pháp quy: Các tiêu chuẩn Việt Nam,

gồm:

- TCVN 8940:2011 Chất lượng đất - Xác

định Phospho tổng số - Phương pháp so

màu

- TCVN 9042-2:2012, ISO 6558-2:1992

Rau quả và sản phẩm rau quả - Xác định

hàm lượng caroten - Phần 2: Phương pháp

thông dụng

- TCVN 10791:2015 Malt - Xác định hàm

lượng Nitơ tổng số và tính hàm lượng

protein thô - Phương pháp Kjeldahl

- TCVN 4327:2007 Thức ăn chăn nuôi -

Xác định tro thô

Chai, W., & Udén, P (1998) An alternative oven method combined with different strengths in

the analysis of neutral detergent fibre Animal

Feed Science and Technology, 74 (4), 281 -

288

Choi, Chang Ik., & Eom, Hee Jeong., & Kim, Ki

Hyun (2016) Antioxidant and α-glucosidase Inhibitory Phenolic Constituents of Lactuca

indica L Russian Journal of Bioorganic Chemistry, 42 (3), 310 - 315

Đỗ Huy Bích., Đặng Quang Chung., Bùi Xuân Chương., Nguyễn Thượng Dong., Đỗ Trung Đàm., Phạm Văn Hiển., Vũ Ngọc Lộ., Phạm Duy Mai., Phạm Kim Nhã., Đoàn Thị Thu., &

Trần Đoàn (2006) Cây thuốc và động vật làm

thuốc ở Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa

học và Kỹ thuật

Đỗ Tất Lợi (1999) Những cây thuốc và vị thuốc

Việt Nam (Xuất bản lần thứ 8) Hà Nội: Nhà

xuất bản Y học

Hội đồng dược điển Việt Nam (2009) Dược

Điển Việt Nam IV Hà Nội: Nhà xuất bản Hà

Nội

Kim, Ki Hyun., & Kim, Young Ho., & Lee, Kang

Ro (2007) Isolation of quinic acid derivatives

and flavonoids from the aerial parts of Lactuca

indica L and their hepatoprotective activity in vitro Bioorganic & Medicinal Chemistry Letters, 17 (24), 6739 - 6743

Kim, Ki Hyun., & Lee, Kyu Ha., & Choi, Sang Un., & Kim, Young Ho., & Lee, Kang Ro (2008) Terpene and Phenolic Constituents of

Lactuca indica L Archives of Pharmacal Research, 31 (8), 983 – 988

Kim, Ki Hyun., & Kim, Young Ho., & Lee, Kang

Ro (2010) Isolation of Hepatoprotective

Phenylpropanoid from Lactuca indica Natural

Product Sciences, 16, 6 - 9

Liu, Xiaoli., & Zhoa, Mouming., & Wang, Jinshui., & Yang, Bao., & Jiang, Yueming (2008) Antioxidant activity of methanolic

extract of emblica fruit (Phyllanthus emblica

Trang 10

L.) from six regions in China Journal of Food

Composition and Analysis, 21 (3), 219 - 228

Lüthje, Petra., & Dzung, Dang Ngoc., & Brauner,

Annelie.(2011a) Lactuca indica extract

interferes with uroepithelial infection by

Ethnopharmacology, 135 (3), 672 - 677

Nguyễn Công Khẩn & Nguyễn Thị Lâm & Hà

Thị Anh Đào & Lê Hồng Dũng & Lê Bạch

Mai & Nguyễn Văn Sĩ (2007) Bảng thành

phần thực phẩm Việt Nam (Vietnamese food

composition table) Hà Nội: Nhà xuất bản Y

học

Ovadje, P., & Chatterjee, S., & Grifin, C., & Tran,

C., & Hamm, C., & Pandey, S (2010)

Selective induction of apoptosis through

activation of caspase-8 in human leukemia

cells (Jurkat) by dandelion root extract

Journal of Ethnopharmacology, 133 (1), 86 -

91

Sachindra, N.M., & Bhaskar, N., & Mahendrakar,

N.S (2005) Recovery of carotenoids from

shrimp waste in organic solvents Waste

Management, 26 (10), 1092 - 1098

Van Soest, P.J., & Robertson, J.B., & Lewis B.A (1991) Methods for dietary fiber, neutral detergent fiber, and non-starch polysaccharides in relation to animal nutrition

Journal of Dairy Science, 74 (10), 3583 -

3497

Wang, Sheng-Yang., & Chang, Hsing-Ning., & Lin, Kai-Ti., Lo, Chiu-Ping., & Yang, Ning-Sun., & Shyur, Lie-Fen (2003) Antioxidant Properties and Phytochemical Characteristics

of Extracts from Lactuca indica Journal of

Argicultural and Food Chemistry, 51 (5), 1506

- 1512

Yi-Hsuan Chen, & Hui-Yin Chen, & Chin-Lin Hsu, & Gow-Chin Yen (2007) Induction of

Apoptosis by the Lactuca indica L in Human

Leukemia Cell Line and Its Active

Components Journal of Agriculture and Food

Chemítry, 55 (5), 1743 – 1749

Ngày đăng: 09/01/2020, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w