Ứng dụng sản xuất nông nghiệp bền vững của nông hộ sẽ đảm bảo nâng cao thu nhập, cung ứng hàng nông sản chất lượng cho xã hội, gìn giữ môi trường sinh thái. Nghiên cứu này phân tích các yếu tố tác động đến hành vi lựa chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững của nông hộ sản xuất lúa dựa trên mô hình Binary Logistic và dữ liệu khảo sát 420 nông hộ ở đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu xác định (i) vốn con người; (ii) diện tích đất sản xuất; (iii) vốn xã hội; (iv) hoạt động khuyến nông và (v) khả năng tiếp cận thị trường là các yếu tố chi phối hành vi của nông hộ. Nghiên cứu cũng đưa ra các kịch bản và dự báo hành vi lựa chọn của nông hộ, tạo nền tảng khoa học cho việc hoạch định chính sách thúc đẩy ứng dụng sản xuất bền vững.
Trang 168
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI LỰA CHỌN ỨNG DỤNG CÁC BIỆN PHÁP SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG CỦA NÔNG HỘ (TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG)
PGS.TS Đinh Phi Hổ PGS.TS Võ Khắc Thường NCS Lưu Tiến Dũng
TÓM TẮT
Ứng dụng sản xuất nông nghiệp bền vững của nông hộ sẽ đảm bảo nâng cao thu nhập, cung ứng hàng nông sản chất lượng cho xã hội, gìn giữ môi trường sinh thái Nghiên cứu này phân tích các yếu tố tác động đến hành vi lựa chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững của nông hộ sản xuất lúa dựa trên mô hình Binary Logistic và dữ liệu khảo sát 420 nông hộ ở đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu xác định (i) vốn con người; (ii) diện tích đất sản xuất; (iii) vốn xã hội; (iv) hoạt động khuyến nông và (v) khả năng tiếp cận thị trường là các yếu tố chi phối hành vi của nông hộ Nghiên cứu cũng đưa ra các kịch bản và dự báo hành vi lựa chọn của nông hộ, tạo nền tảng khoa học cho việc hoạch định chính sách thúc đẩy ứng dụng sản xuất bền vững
Từ khóa: 1 Phải, 5 Giảm; IPM; hồi quy Binary Logistic; nông hộ sản
xuất lúa; nông nghiệp bền vững
ừ năm 2005, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới (sau Thái Lan), cho thấy khả năng phát triển bền vững đối với sản xuất lúa của Việt Nam Đóng góp vào thành tựu này, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giữ vai trò quyết định với 90% sản lượng
và 50% giá trị xuất khẩu cả nước (Tổng cục Thống kê, 2017) Trong thời đại công nghiệp 4.0, hòa nhập thị trường thế giới, biến đổi khí hậu toàn cầu, sản xuất lúa ở Việt nam phải thích ứng, nâng cao hiệu quả, đảm bảo an toàn vệ sinh
Giảng viên cao cấp, ĐH Kinh tế TP.HCM; P Hiêu trưởng ĐH Phan Thiết
Giảng viên cao cấp, ĐH Phan Thiết; Hiêu trưởng ĐH Phan Thiết
Giảng viên, ĐH Lạc Hồng, Đồng Nai
T
Trang 269
thực phẩm và không gây tổn thương môi trường Các biện pháp sản xuất nông
nghiệp bền vững chính là nông dân sản xuất lúa ứng dụng công nghệ mới nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế nhưng đảm bảo được gìn giữ môi trường tự nhiên và
cả môi trường sống
Tuy nhiên, thời gian qua, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện một
cách có hệ thống để giải thích các câu hỏi đặt ra: Yếu tố nào ảnh hưởng đến
quyết định áp dụng các công nghệ mới trong sản xuất lúa? Để nông dân áp
dụng các công nghệ mới trong điều kiện hội nhập quốc tế, cần phải giải quyết
những thách thức nào? Những vấn đề đặt ra cũng là những thách thức đối với
các nhà nghiên cứu và những nhà chính sách ở Việt Nam Bài viết này, tập
trung vào 3 nội dung chính: (1) Xác định các yếu tố tác động đến hành vi lựa
chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững; (2) Dự báo hành
vi lựa chọn ứng dụng các biện pháp này của nông hộ và (3) Gợi ý chính sách
nhằm tạo điều kiện cho nông dân ứng dụng công nghê mới trong nông nghiệp
1 Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm
Theo FAO (1989) các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững
(BPSXNNBV) phải đáp ứng hai tiêu chí hiệu quả kinh tế và sinh thái; chứa
đựng các thành phần (i) sử dụng hiệu quả nguồn lực và bảo vệ môi trường, (ii)
sử dụng công nghệ hiện đại, (iii) mang lại hiệu quả kinh tế cao và (iv) được xã
hội chấp nhận hay phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương Từ đó, việc
ứng dụng các biện pháp sản xuất bền vững sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền
vững trên cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất cũng như gìn giữ
sinh thái và môi trường
Theo D’Souza và cộng sự, (1993); Lee (2005); Kassie và cộng sự (2009);
Teklewold và cộng sự (2013); Wollni và Andersson (2014), các biện pháp sản
xuất bền vững được sử dụng phổ biến trong thực tiễn chính là sản xuất đáp ứng
tiêu chí sinh thái gồm bảo tồn nguồn tài nguyên đất- nước, giảm thiểu hoặc sử
dụng hợp lý phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trưởng, kháng
sinh, sử dụng phân bón hữu cơ, quản lý dịch hại cây trồng Đồng thời với tiêu
chí sinh thái, cần đảm bảo tiêu chí kinh tế bao gồm giá thành thấp, chất lượng
sản phẩm và tỷ suất lợi nhuận cao (Đinh Phi Hổ và Đoàn Ngọc Phả, 2011)
Ở Việt Nam, Chính phủ đã có nhiều chương trình, giải pháp công nghệ
đặt trọng tâm vào phát triển bền vững trên cơ sở đảm bảo tăng năng suất, hiệu
Trang 370
quả kinh tế và gìn giữ sinh thái, khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên Các mô hình tiêu biểu như “quản lý dịch hại tổng hợp; “3 phải 3 giảm”; “1 Phải
5 Giảm”
Theo Sandler và Hilary (2010), quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management, IPM) là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh
cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật
độ của các loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp bao gồm: (i) Trồng và chăm cây khoẻ; (ii) Thăm đồng thường xuyên; (iii) Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng; (iii) Phòng trừ dịch hại; (iv) Bảo vệ những sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt dịch hại
Theo Heong và cộng sự (1994); Huan NH và cộng sự (1999), kỹ thuật
“Ba giảm ba tăng” (3G3T) là: giảm lượng giống, giảm phân vô cơ, giảm thuốc trừ sâu bệnh; Ba tăng là: tăng năng suất, tăng chất lượng, tăng lợi nhuận Công nghệ “Một phải năm giảm” (1P5G) là sự mở rộng của “Ba giảm ba tăng”, thêm việc phải dùng giống xác nhận, giảm sử dụng nước tưới bằng cách áp dụng kỹ thuật tưới ướt khô xen kẽ (AWD-alternative wet and dry) và giảm thất thoát sau thu hoạch, chủ yếu là dùng máy gặt đập liên hợp và phơi, sấy đúng kỹ thuật Các công nghệ mới này giúp nông dân nâng cao hiệu quả kinh tế, gìn giữ sinh thái, khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên và sản phẩm đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm
Theo lý thuyết Hành động hợp lý (Fishbein và Ajzen, 1975; Ajzen, 1991), dựa trên giả định rằng con người đưa ra những quyết định hợp lí dựa trên những thông tin mà họ biết Taylor và Todd (1995) đưa ra lý thuyết Diễn dịch hành vi hoạch định nhấn mạnh vào thái độ, chuẩn chủ quan và sự kiểm soát Trong đó, thái độ được thể hiện thành 3 yếu tố: sự dễ sử dụng cảm nhận, ích lợi cảm nhận và sự tương thích; chuẩn chủ quan bao gồm 2 yếu tố niềm tin gồm ảnh hưởng của gia đình và ảnh hưởng của truyền thông đại chúng; sự kiểm soát được phân tách gồm 3 yếu tố: sự tự chủ, sự ủng hộ của chính phủ và hỗ trợ
về mặt công nghệ Rogers (1995) đưa ra lý thuyết Phổ biến Công nghệ, xem xét
sự ảnh hưởng của các yếu tố tính tương thích và lợi thế đối với việc chấp nhận ứng dụng một công nghệ mới Davis (1985) phát triển lý thuyết Chấp nhận công nghệ thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa tính hữu dụng và thái độ của người sử dụng khi tiếp cận công nghệ mới Venkatesh và cộng sự (2003) phát
Trang 471
triển lý thuyết Hợp nhất về Công nghệ tập trung nghiên cứu bốn nhân tố chính
ảnh hưởng đến sự chấp nhận và sử dụng công nghệ của con người gồm: kỳ
vọng về hữu dụng, kỳ vọng về sự cố gắng, ảnh hưởng xã hội; các điều kiện sẵn
có về nguồn lực; ảnh hưởng của các biến kiểm soát nhân khẩu học
Kết quả nghiên cứu của Rahm và Huffman (1984), Feder và Zilberman
(1985), D’Souza và cộng sự (1993), Chirwa (2005), Liu và cộng sự (2011),
Kassie và cộng sự (2013), Teklewold và cộng sự (2013) cho thấy quy mô diện
tích đất nông nghiệp và vốn con người tác động cùng chiều đến hành vi lựa
chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững Vốn con người
được thể hiện qua trình độ học vấn, trình độ kiến thức nông nghiệp, tuổi chủ
hộ, trong đó, tuổi chủ hộ tác động nghịch chiều đến hành vi lựa chọn ứng dụng
của nông hộ
Theo kết quả nghiên cứu của El-Osta và Morehart (1999); Haggblade và
Tembo (2003); Kabwe và Donovan (2005); Chirwa (2005); Teklewold và cộng
sự (2013), sự sẵn có về nguồn lực vật chất, khả năng tiếp cận tài chính có tác
động đến hành vi lựa chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền
vững của nông hộ
Nghiên cứu của Isham (2002), Haggblade và Tembo (2003), Bandiera và
Rasul (2006), Marenya và Barrett (2007), Kassie và cộng sự (2009), Wollni và
cộng sự (2010), Nyangena (2011) cho thấy vốn xã hội tác động đến hành vi lựa
chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững của nông hộ theo
nhiều hướng như gia tăng mức độ trao đổi thông tin, tiếp cận thị trường, trao
đổi nguồn lao động, tiếp cận nguồn vốn cũng như chống chọi với các rủi ro
Những nông hộ với vốn xã hội dồi dào hơn sẽ có xác suất lựa chọn ứng dụng
các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững cao hơn so với phần còn lại
Các nghiên cứu của Jedlicka A.D (1997), Rogers (2003), Jansen và c ộng
sự (2006), Liu và cộng sự (2011), Teklewold và cộng sự (2013) cho thấy thông
tin chính thống từ hoạt động khuyến nông sẽ làm giảm thiểu rủi ro, sự không
chắc chắn và qua đó đóng vai trò quan trọng đối với gia tăng tỷ lệ hộ nông dân
ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật nói chung và các biện pháp sản xuất
nông nghiệp bền vững nói riêng
Feder và O’Mara (1981), Feder và cộng sự (1985) cho thấy hành vi lựa
chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững của nông hộ bị tác
động bởi mức độ cảm nhận hữu dụng và sẵn sàng chấp nhận rủi ro của nông hộ
Trang 572
đối với việc ứng dụng biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững Những hộ tin tưởng vào lợi ích mà các biện pháp, kĩ thuật sản xuất nông nghiệp bền vững mang lại càng cao sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi ro hơn
Các nghiên cứu trước đây cho thấy tình trạng quyền sử dụng đất nông nghiệp theo luật định của nông hộ có ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn ứng dụng tiến bộ kĩ thuật cũng như các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững như Polson và Spencer (1991), Nkonya và cộng sự (1997), Carolan (2005), Chirwa (2005), Isgin và cộng sự (2008), Teklewold và cộng sự (2013)
Neill và Lee (2001), Dimara và Skuras (2002), Pretty (1999), Kassie và cộng sự (2013) cho thấy khả năng tiếp cận thị trường sẽ tác động trực tiếp đến chi phí giao dịch và sẽ trở thành rào cản đối với những nông hộ nhỏ, và là yếu
tố đứng sau thất bại thị trường ở các quốc gia đang phát triển, là yếu tố chi phối quan trọng đến hành vi lựa chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững
Dựa vào lý thuyết và kết quả các nghiên cứu trước đó, mô hình nghiên cứu như sau:
Hình 1: Các yếu tố tác động đến áp dụng biện pháp sản xuất bền vững
Áp dụng biện pháp sản xuất bền vững
Vốn con người
Qui mô diện tích đất nông nghiệp
Vốn vật chất
Vốn xã hội
Khuyến nông
Cảm nhận hữu dụng
Tình trạng chủ sử dụng đất
Khả năng tiếp cận thị trường
Trang 673
2.Mô hình định lượng
- Đo lường các biến
Bảng 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng biện pháp nông nghiệp bền
vững
Kỳ vọng
I Biến phụ thuộc
Y
Áp dụng biện pháp SXNN bền vững
Hộ áp dụng =1;
không áp dụng = 0
II Biến độc lập Vốn con
-
2
Học vấn (năm) Lớp 1 -12 tính theo năm học; số năm học trung cấp (14 năm), cao đẳng (15 năm), đại học (16
3
Kiến thức nông nghiệp (Trình độ kiến thức nông nghiệp chủ hộ là biến liên tục, đo lường thông qua số nguồn kiến thức nông nghiệp mà nông dân thường xuyên tiếp cận như từ cán bộ khuyến nông, sách báo nông nghiệp, tivi - đài phát thanh, hội thảo, lớp bổ sung kiến thức, internet, điện thoại
thông minh)
Điểm số từ 1 đến 5 Tiếp cận một nguồn =1; hai nguồn =2, ;5
nguồn: 5
Nguồn kiến thức nông hộ tham khảo +
Quy mô
diện tích
đất
4
Vốn vật
chất 5 Thu nhập ngoài nông nghiệp Có = 1; không = 0 +
6 Tiếp cận tín dụng nông nghiệp Có vay từ định chế tài chính chính thức=1;
Vốn xã hội 7 Tham gia tổ chức, đoàn thể địa
phương
Có =1; không = 0 +
8 Số doanh nghiệp giao dịch Số doanh nghiệp + Khuyến
Trang 774
Cảm nhận
hữu dụng 10 Cảm nhận hữu dụng ứng dụng Có =1; không = 0 +
Quyền sử
dụng đất 11
Tình trạng quyền sử dụng đất sản xuất
Chủ sử dụng đất = 1;
Thị trường
12 Khả năng tiếp cận thị trường
Khoảng cách trung bình từ nông hộ đến chợ trung tâm (km)
-
- Mô hình kinh tế lượng:
Dạng khái quát của mô hình hồi quy tuyến tính:
Xi: Các biến độc lập; i = 1 đến 12
Y: Biến phụ thuộc; u: Phần dư
Trong nghiên cứu này, biến phụ thuộc là biến giả (Y =1; Y=0)
Do đó, mô hình thích hợp là hồi quy Binary Logistic
Trong đó:
P(Y=1) = P0: Xác suất hộ áp dụng biện pháp nông nghiệp bền vững
P(Y = 0) = 1- P0: Xác suất hộ không áp dụng
Xi: Các biến độc lập (i: từ 1 đến 12); Ln: Log của cơ số e (e = 2,714)
Hệ số Odds (O 0):
Thế O0 vào phương trình (1):
LnO 0 = B 0 + B 1 X 1 + B 2 X 2 + B 3 X 3 +…+ B 12 X 12 (2)
Log của hệ số Odds là một hàm tuyến tính với các biến độc lập Xi (Cox, 1970)
Phương trình (2) có dạng hàm Logit, ước lượng các hệ số hồi quy bằng phương pháp Maximum Likelihood
Theo Agresti (2007), dạng dự báo của mô hình:
0
n i
1
Y
Y
0 0
0
O
( 1)
E (Y/Xi): Xác suất để Y = 1 xuất hiện khi biến độc lập X có giá trị cụ thể Xi
Trang 875
LnOdds = B 0 + B 1 X 1 + B 2 X 2 + B 3 X 3 +…+ B 12 X 12 (2)
E (Y/Xi) =
Theo Yamane (1967), cỡ mẫu tối thiểu cần có:
Trong đó:
Z: Chọn độ tin cậy là 95%, giá trị tra bảng phân phối Z = 1.96
P: Tỷ lệ ước lượng n thành công với P = 0.5
e: Sai số mẫu (sampling error) cho phép với +-0.05 (5%)
Cỡ mẫu tối thiểu là 385 quan sát Căn cứ vào khả năng nguồn lực cộng
tác viên khảo sát và tài chính cho phép, nhóm nghiên cứu chọn n = 420 quan
sát, phương pháp thu thập mẫu theo thuận tiện, địa bàn khảo sát trên 6 tỉnh đại
diện cho các tiểu vùng sinh thái ở ĐBSCL bao gồm: Long An, An Giang, Tiền
Giang, Đồng Tháp, kiên Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng Mỗi tỉnh chọn một
huyện đại diện cho sinh thái lúa bao gồm các huyện Tịnh Biên, Châu Thành,
Cai Lậy, Tam Nông, Gò Quao, Cờ Đỏ và Thạnh Trị Mỗi huyện chọn 1 xã để
khảo sát, thu thập dữ liệu
Bảng 2: Phân bổ mẫu nghiên cứu theo khu vực địa lý
sát
1 Xã Tân Lập (huyện Tịnh Biên - An Giang) 60
2 Xã Hòa Phú (huyện Châu Thành - Long An) 60
3 Xã Phú Nhuận, (huyện Cai Lậy - Tiền Giang) 60
4 Xã Phú Cường (huyện Tam Nông - Đồng
Tháp)
60
2 2
384.16 0.05
n
e
1
LnOdds
E Y Xi
LnOdds
e e
Trang 976
5 Xã Định Hòa (huyện Gò Quao, Kiên Giang) 60
6 Xã Thới Xuân (huyện Cờ Đỏ - Cần Thơ) 60
7 Xã Vĩnh Lợi (huyện Thạnh Trị - Sóc Trăng) 60
Công cụ thu thập dữ liệu được sử dụng là bảng hỏi cấu trúc phỏng vấn trực tiếp nông hộ Nội dung bảng hỏi bao gồm thông tin của nông hộ liên quan đến các yếu tố về vốn con người, diện tích đất sản xuất, vốn vật chất, vốn xã hội, tình trạng quyền sử dụng đất sản xuất theo luật định, cảm nhận hữu dụng
và khả năng tiếp cận thị trường
1 Kết quả và thảo luận
- Kết quả khảo sát
Trong mẫu khảo sát, tỷ lệ chủ hộ là nam chiếm 94%
6%
Hình 2: Giới tính của chủ hộ (%)
Bảng 3: Kiểm định t đối với mẫu độc lập
Ứng dụng biện pháp SXNNBV
Levene's Test t-test Mean
Mean Difference Sig Sig (2-tailed) (Age) Tuổi chủ hộ
Không 40.8 (Edu) Trình độ học
vấn
Không 6.9 (Kno) Kiến thức
nông nghiệp
Không 2.2 (Farsize) Diện tích
đất sản xuất
Không 3.0
Trang 1077
nghiệp, thương lái
(Mar) Khả năng tiếp
cận thị trường
Không 5.1 (Ext) Tiếp xúc cán
bộ khuyến nông
Không 2.2 Qua kiểm định Levene và kiểm định t với mức tin cậy trên 99%, Bảng 3
cho biết, những nông hộ có điều kiện nguồn lực tốt hơn gồm kiến thức nông
nghiệp, diện tích đất, số doanh nghiệp, thương lái giao dịch, tiếp cận thị trường,
tiếp xúc cán bộ khuyến nông sẽ lựa chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất bền
vững nhiều hơn những nông hộ không ứng dụng các biện pháp này Riêng trình
độ học vấn, khác biệt không có ý nghĩa
Bảng 4: Kiểm định Chi bình phương
(Y) Ứng dụng sản xuất nông nghiệp bền vững
Asymp
Sig (2-sided) (Finc) Tiếp cận tín dụng Không 32.5 11.2 0.000
(NonInc) Thu nhập khác
nông nghiệp
(Par) Tham gia các tổ chức,
đoàn thể
(Utility) Cảm nhận hữu dụng Không 40.6 18.1 0.000
(Own) Tình trạng quyền sử
dụng đất sản xuất
Qua kiểm định chi bình phương với mức tin cậy trên 99%, Bảng 4 cho
biết, những nông hộ có điều kiện nguồn lực tốt hơn gồm tiếp cận tín dụng, thu
nhập ngoài nông nghiệp, tham gia các tổ chức- đoàn thể, cảm nhận hữu dụng và
tình trạng quyền sử dụng đất sản xuất theo luật định sẽ lựa chọn ứng dụng các
biện pháp sản xuất bền vững nhiều hơn những nông hộ không ứng dụng các
biện pháp này
- Kết quả phân tích mô hình hồi quy Binary logistic