1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu phục vụ hội thảo Phát triển nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long từ thực tiễn đến thực tiễn

647 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 647
Dung lượng 13,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của tài liệu trình bày: chính sách phát triển mang tính đột phá để xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu hiện nay; phát triển nông nghiệp theo mô hình tăng trưởng xanh tại tiểu vùng duyên hải phía đông đồng bằng sông Cửu Long; vai trò của nhà nước trong xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc và Việt Nam: một cách đối sánh...

Trang 1

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TỪ THỰC TIỄN ÐẾN CHÍNH SÁCH

ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

TÀI LIỆU PHỤC VỤ HỘI THẢO

TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 10 năm 2018

ĐƠN VỊ TỔ CHỨC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***

TÀI LIỆU PHỤC VỤ HỘI THẢO

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)

TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 10 năm 2018

Trang 3

PGS.TS Ngô Thị Phương Lan

Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn

Giám đốc Trung tâm Phát triển Nông thôn Saemaul Undong,

BAN NỘI DUNG HỘI THẢO

PGS.TS Ngô Thị Phương Lan GS.TS Võ Văn Sen

TS Lưu Văn Quyết

TS Phạm Thanh Duy

Trang 4

1

MỤC LỤC

PHẦN I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÔNG THÔN

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MANG TÍNH ĐỘT PHÁ ĐỂ XÂY DỰNG

NỀN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

QUỐC TẾ VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY 9

PGS.TS Vũ Trọng Khải

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

XANH TẠI TIỂU VÙNG DUYÊN HẢI PHÍA ĐÔNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

LONG 15

TS Diệp Thanh Tùng - TS Lê Thị Thu Diềm

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở

HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAM: MỘT CÁCH ĐỐI SÁNH 31

TS Lê Tùng Lâm

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ

ĐẦU THẾ KỶ XXI ĐẾN NAY THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ KHUYẾN NGHỊ 48

NCS Huỳnh Tâm Sáng - Hoàng Văn Tuấn

LỰA CHỌN ỨNG DỤNG CÁC BIỆN PHÁP SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

BỀN VỮNG CỦA NÔNG HỘ (TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG) 68

PGS.TS Đinh Phi Hổ - PGS.TS Võ Khắc Thường

NCS Lưu Tiến Dũng

LIÊN KẾT KHÔNG GIAN DU LỊCH PHÍA TÂY ĐỒNG BẰNG SÔNG

CỬU LONG - HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 87

Th.S Phan Thị Hồng Cúc - ThS Phan Thị Hồng Dung

CÁCH TIẾP CẬN CHUỖI GIÁ TRỊ ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH HÀNG

NÔNG SẢN:MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

LONG 104

Trang 5

2

PGS.TS Huỳnh Tường Huy

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT, NÂNG CAO Ý THỨC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG THÔN THẾ KỶ XXI 118

Hà Triệu Huy

TỪ GÓC NHÌN VỀ GIÁO DỤC, LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 127

PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 143

ThS Ngô Hoàng Đại Long

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SINH THÁI VÀ NHÂN VĂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 158

TS Đỗ Thị Hiện

PHỤ NỮ VÀ DU LỊCH NÔNG THÔN: ĐỒNG HÀNH CÙNG PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CỒN SƠN, CẦN THƠ) 189

TS Ngô Thanh Loan - ThS Trần Thị Tuyết Vân

HVCH Trương Hoàng Tố Nga

Trang 6

3

PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP KIỂU MỚI Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY 205

Th.S Nguyễn Quang Trung

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THÍCH

ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: QUAN ĐIỂM VÀ HƯỚNG ĐI MỚI 215

TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn - Đặng Kim Khôi

Lê Thị Hà Liên - Phạm Đức Thịnh

NGUỒN NHÂN LỰC Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY TỪ

CHIỀU KÍCH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 225

ThS Nguyễn Quang Giải - ThS Đỗ Kim Dung

VẤN ĐỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆC

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG

CỬU LONG 236

TS Nguyễn Ngọc Phúc -TS Phan Thị Thúy Vân

YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

LONG TRƯỚC BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 247

ThS Nguyễn Thị Diễm My

DI CƯ DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, ÁP LỰC MÔI TRƯỜNG: CÂU

CHUYỆN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

NHÌN TỪ CỘNG ĐỒNG GỐC CỦA NHỮNG NGƯỜI DI CƯ (Nghiên cứu trường

hợp vùng thượng nguồn xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang) 252

Nguyễn Văn Bình

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP KHÔNG ĐỀU GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG

TRONG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 271

TS Phạm Ngọc Đỉnh

CHỢ NỔI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: TỪ THỰC TIỄN ĐẾN

CHÍNH SÁCH 277

Th.S Trần Thị Bích Thủy

Trang 7

CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GẮN VỚI PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI 343

UBND tỉnh Hậu Giang

MÔ HÌNH VĂN HÓA TIÊU BIỂU TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI: NHÌN TỪ HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN 349

NCS Trương Đức Thuận

VẤN ĐỀ “THAM GIA” TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÀ VINH THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 359

NCS Đoàn Thị Nguyệt Minh - PGS.TS Nguyễn Ngọc Đệ

TỪ THỰC TẾ KHAI THÁC DU LỊCH NÔNG THÔN BƯỚC ĐẦU ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÙ LAO AN BÌNH - TỈNH VĨNH LONG 371

Nguyễn Diễm Phúc - Nguyễn Thị Kiều Nga -Nguyễn Duy Thành

Trang 8

5

NÂNG CẤP CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH BẠC LIÊU GẮN VỚI ĐỊNH

HƯỚNG LIÊN KẾT NGÀNH VÀ LIÊN KẾT VÙNG 391

PGS.TS Nguyễn Xuân Hương - TS Tạ Duy Linh ThS Dương Đức Minh - Nguyễn Thái Ngọc Hà

NHÌN TỪ THỰC TIỄN KHAI THÁC PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỀ XUẤT

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CÁC MÔ HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI

QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ 414

PGS.TS Nguyễn Xuân Hương - TS Tạ Duy Linh

ThS Dương Đức Minh

KHAI THÁC TRI THỨC BẢN ĐỊA ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH

THÁI CỘNG ĐỒNG Ở XÃ THẠNH PHONG (HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH

BẾN TRE) 431

Nguyễn Thanh Lợi

SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ TRÁI CÂY TẠI TỈNH BẾN TRE: TIỀM

NĂNG VÀ THÁCH THỨC PHÁT TRIỂN 439

ThS Nguyễn Thị Vân

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA HỢP

ĐỒNG TIÊU THỤ LÚA GIỮA NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP TẠI HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 451

Trần Thanh Dũng - Phạm Nguyễn Đăng Khoa

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

VÙNG VEN BIỂN TỈNH BẾN TRE – THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP

NÂNG CAO NĂNG LỰC THÍCH ỨNG CHO CỘNG ĐỒNG 461

ThS Nguyễn Thị Thu Thủy

QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:

THỰC TIỄN TỪ DỰ ÁN “SMART FARMING” ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI TRƯỜNG

ĐẠI HỌC TRÀ VINH 480

Phạm Vũ Bằng - TS Diệp Thanh Tùng

Trang 9

HVCH Đinh Văn Mãi

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG NHU CẦU SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA TIỀN GIANG 512

ThS Võ Văn Sơn - ThS Lương Hồng Thanh

NÉT PHONG PHÚ VÀ ĐẶC THÙ TRONG VĂN HÓA CHĂM Ở AN GIANG: NÉT PHONG PHÚ VÀ ĐẶC THÙ TRONG VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 521

ThS Nguyễn Văn Trang

GIÁ TRỊ TÁC PHẨM ĐỜI SỐNG MỚI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở AN GIANG HIỆN NAY 530

Th.S Huỳnh Ngọc An VẬN DỤNG HÀNH LANG PHÁP LÝ - LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở AN GIANG 538

ThS Nguyễn Minh Diễm Quỳnh

SỰ GIAO LƯU VÀ BẢO TỒN BẢN NGỮ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở KHU VỰC AN GIANG……… ……… … 548

Trang 10

7

Phạm Văn Luân

VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH TRONG VIỆC ĐÀO

TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO TIỂU VÙNG DUYÊN

HẢI PHÍA ĐÔNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 578

TS Lê Thị Thu Diềm - ThS Nguyễn Thiện Thuận NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN BẾN TRE VỀ SỨC KHỎE CỘNG

ĐỒNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (Điển cứu: xã Tân Trung,

huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre) 598

Th.S Nguyễn Thị Thanh Tùng - Th.S Nguyễn Thị Thu Hiền

CẤU TRÚC GIỚI TRONG GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG Ở NÔNG THÔN

TỈNH TIỀN GIANG 618

Th.S Trần Khánh Hưng

Trang 11

8

Trang 12

9

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN MANG TÍNH ĐỘT PHÁ

ĐỂ XÂY DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TRONG

BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY

PGS TS Vũ Trọng Khải

rong suốt 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhất là từ sau khi

có Nghị quyết 10 (4/1988) của Bộ Chính trị về “Đổi mới quản lý nông nghiệp”, nền nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến khá dài Nhưng hiện nay, những yếu tố tạo thành nền nông nghiệp Việt Nam đã

đạt “ngưỡng phát triển tới hạn” Nền nông nghiệp nước ta tuy chỉ còn chiếm

khoảng 18% GDP của nền kinh tế, nhưng vẫn phải sử dụng gần 50% lực lượng

lao động xã hội và nuôi sống khoảng 70% dân cư; Nông nghiệp vẫn lạc hậu,

nông thôn vẫn nghèo, nông dân còn cực khổ; Nông sản không bảo đảm tiêu

chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn được sản xuất, buôn bán, tiêu thụ hợp

pháp, phổ biến, đang đầu độc cả dân tộc Để tiếp tục phát triển có hiệu quả và

bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường trước các cơ hội và thách thức to

lớn của bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và trước các

thách thức không lường trước được của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu,

nền nông nghiệp Vệt Nam phải ứng dụng công nghệ cao, từ cung ứng giống và

các loại vật tư, trang thiết bị đầu vào, đến canh tác, chăn nuôi, nuôi trồng, khai

thác, đánh bắt, chế biến, bảo quản, vận chuyển, tiêu thụ nông sản trên thị

trường trong và ngoài nước (không phải tạo ra các khu nông nghiệp công nghệ

cao để triển lãm)

Để xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, trước hết, cần có những

đổi mới căn bản về tư duy và hoạch định các chính sách phát triển mang tính

đột phá cao

1 Về đổi mới tư duy

Hiện nay người ta nói nhiều đến “Tái cơ cấu nền nông nghiệp gắn với

T

Trang 13

10

xây dựng nông thôn mới” như là giải pháp phát triển mang tính quyết định

Tái cấu trúc chỉ là sự sắp xếp lại các yếu tố cấu thành hiện có của một hệ thống (ở đây là nền nông nghiệp Việt Nam) sao cho hợp lý hơn để tiếp tục phát triển Điều này chỉ có thể thực hiện được khi và chỉ khi các yếu tố cấu thành của hệ thống đó còn nhiều “dư địa” phát triển Nhưng hiện nay, các yếu tố cấu thành nền nông nghiệp Việt Nam đã đạt đến “ngưỡng phát triển tới hạn” Do vậy, phải tạo ra các yếu tố mới về chất cấu thành nên nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cả trong sản xuất và quản trị, dẫn đến sự phát triển có hiệu quả và bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường Đó chính là tiến trình xây dựng lại nền nông nghiệp, chứ không phải là tái cấu trúc

Mặt khác, tiến trình xây dựng lại nền nông nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ cao trong sản xuất và quản trị, là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất của công cuộc xây dựng nông thôn mới Cho nên, xây dựng lại nền nông nghiệp

và xây dựng nông thôn mới không phải là hai khái niệm đồng đẳng, không phải

là hai nội dung cùng diễn tiến đồng thời và gắn kết với nhau Nói cách khác, xây dựng nông thôn mới, mà thực chất là phát triển nông thôn toàn diện và bền vững, đã bao hàm nội dung của tiến trình xây dựng lại nền nông nghiệp dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ cao, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và trước các thách thức to lớn, khó lường của tình trạng biến đổi khí hậu

2 Chính sách phát triển biến nông dân thành thị dân

Cần có chính sách phát triển công nghiệp và đô thị đúng đắn để biến nông dân thành thị dân một cách bền vững, làm giảm dân cư và sức lao động nông nghiệp, tạo ra nguồn “cung” đất nông nghiệp cho thị trường, nhằm thúc đẩy tiến trình tích tụ và tập trung ruộng đất, tạo lập các trang trại sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn, đủ năng lực ứng dụng công nghệ cao Đáng tiếc là, trên thực tế, trong suốt 30 năm đổi mới, chúng ta đã không thực hiện được điều này Chính sách phát triển nền công nghiệp gia công, lắp ráp, có giá trị gia tăng thấp, dựa trên “ưu thế” sức lao động giá rẻ, chỉ cần “cơ bắp”, và dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên, chấp nhận tình trạng ô nhiễm môi sinh nghiêm trọng để đổi lấy tăng trưởng kinh tế Do vậy, người nông dân rời bỏ đồng ruộng

để làm công nhân trong các khu công nghiệp buộc phải chấp nhận thu nhập thấp, điều kiện lao động xấu, buộc phải làm tăng ca để bảo đảm mức sống tối

Trang 14

11

thiểu; chấp nhận sử dụng thực phẩm giá rẻ không đảm bảo vệ sinh an toàn thực

phẩm, mua từ các “chợ cóc” Vì thế, khi tuổi chưa già và cũng không còn trẻ để

có thể chuyển đổi nghề, họ đã không còn đủ sức khỏe theo yêu cầu của công

việc Lúc đó, họ sẽ phải tự xin nghỉ việc, hoặc bị giới chủ sa thải, nên chỉ còn

cách trở lại quê hương, chia lại việc làm vốn đã ít, trên mảnh ruộng nhỏ bé của

mình

Mặt khác, chúng ta chỉ xây dựng các khu công nghiệp để tạo việc làm,

mà không xây dựng khu dân sinh với các tiện ích công cộng, như nhà ở xã hội

có điện, nước sạch, nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, nhà văn hóa,mang

internet,cap truyen hinh, đường giao thông,co kết nối với hệ thống quốc gia…

Hơn nữa, các khu công nghiệp thường phổ biến xây dựng ở các đô thị đã có, tạo

ra các siêu thành phố với những vấn nạn về kinh tế - xã hội và môi trường,

không thể giải quyết được

Cho nên, người nông dân ra thành phố làm công nhân trở thành công dân

hạng 2, sống trong các nhà ổ chuột, không được hưởng các tiện ích công cộng

như cư dân đô thị Con cái của họ sinh ra phải gửi về quê cho ông bà nuôi dạy

và để học “đúng tuyến” Đó là chỉ báo cho sự thất bại của chính sách phát triển

công nghiệp Người nông dân ra thành phố làm công nhân trong điều kiện

“không an cư, nên không lạc nghiệp”, họ không thể trở thành thị dân Làm công

nhân chỉ là tạm bợ và luôn sống trong tâm thế sẵn sàng trở về quê làm nông dân

khi có những biến động bất lợi trong đời sống Do vậy, họ không sẵn sàng bán

hay cho thuê lâu dài số đất nông nghiệp ít ỏi của mình ở quê hương Điều đó đã

không tạo ra nguồn “cung” cho thị trường đất nông nghiệp Vì thế, cần phải

thay đổi căn bản tư duy và chính sách phát triển công nghiệp và đô thị, tạo lập

nhiều khu đô thị có đủ tiện ích văn minh ở vùng kinh tế - sinh thái để thu hút

sức lao động dư thừa từ nông nghiệp, nông thôn, biến nông dân thành thị dân

một cách thực sự và bền vững

3 Chính sách đào tạo đội ngũ nông dân chuyên nghiệp

Nền nông nghiệp truyền thống tồn tại dựa trên những “lão nông tri điền”,

những nông dân “cha truyền con nối”, nên không thể sản xuất hàng hóa quy mô

lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và quản trị

Vì vậy, một mặt, phải có chính sách đầu tư đào tạo một đội ngũ “thanh

nông tri điền”, những nông dân chuyên nghiệp, đủ năng lực quản lý các trang

Trang 15

12

trại gia đình sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, thực hiện GlobalGap và đủ năng lực thành lập và quản lý hợp tác xã (HTX) kiểu mới theo Luật HTX 2012 Cả hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nông, lâm, ngư nghiệp dày đặc trong cả nước phải được Nhà nước giao nhiệm vụ và cấp kinh phí để đào tạo lớp thanh niên nông thon thành nông dân chuyên nghiệp Chỉ khi có đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, “cầu” trên thị trường đất nông nghiệp mới hình thành và phát triển, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, tạo lập các trang trại ứng dụng công nghệ cao, tham gia vào chuỗi giá trị ngành hàng nông sản trên thị trường trong và ngoài nước

4 Chính sách phát triển các HTX và doanh nghiệp đóng vai trò

“nhạc trưởng” trong chuỗi giá trị ngành hàng ở mỗi vùng nông nghiệp sinh thái

Các trang trại gia đình sản xuất hàng hóa ứng dụng công nghệ cao chỉ có

ưu thế trong các khâu sản xuất mang tính sinh học trên từng thửa ruộng, vườn cây, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và ao nuôi trồng thủy hải sản, và đóng vai trò chủ thể quan trọng đầu tiên trong chuỗi giá trị ngành hàng nông sản Nhưng để áp dụng công nghệ cao trong toàn chuỗi giá trị ngành hàng nông sản, tạo dựng thương hiệu, chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước, cần có vai trò “nhạc trưởng” của các doanh nghiệp và HTX bảo đảm cung ứng dịch vụ đầu vào – đầu ra bằng công nghệ cao cho các trang trại Một mặt, các doanh nghiệp và HTX cung ứng giống xác nhận theo yêu cầu chủng loại, phẩm chất của thị trường, cung ứng các trang thiết bị và vật tư nông nghiệp, hướng dẫn kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, nuôi trồng theo GlobalGap cho các trang trại Mặt khác, các doanh nghiệp và HTX phải bảo đảm chế biến, bảo quản, phân phối, tiêu thụ nông sản, xây dựng thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường Ba vấn đề

mà các trang trại không thể tự giải quyết là: thị trường và thương hiệu, ứng dụng công nghệ cao, vốn sản xuất Ba vấn đề này phải do các doanh nghiệp và HTX đảm trách Khi đó, về pháp lý các trang trại có quyền tự chủ kinh doanh, nhưng trên thực tế, chỉ là đơn vị sản xuất gia công cho các doanh nghiệp, HTX

ở những khâu sản xuất mang tính sinh học

Do vậy, cần có chính sách đào tạo một đội ngũ doanh nhân, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật đủ năng lực khởi nghiệp và phát triển các doanh nghiệp và HTX đóng vai trò “nhạc trưởng” trong chuỗi giá trị của mỗi ngành hàng nông

Trang 16

13

sản trên mỗi vùng sinh thái nông nghiệp

Đồng thời, cần có chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tài trợ kinh phí

khuyến nông, tài trợ vốn khởi nghiệp và lãi suất tín dụng cho các dự án ứng

dụng công nghệ cao của các doanh nghiệp và HTX đảm nhiệm vai trò “nhạc

trưởng” trong chuỗi giá trị ngành hàng nông sản

5 Chính sách hình thành và phát triển thị trường đất nông nghiệp

Nếu còn áp dụng chính sách đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước có

quyền thu hồi đất đai, đền bù giá trị quyền sử dụng đất theo khung giá do chính

minh quy định, thì không những không tạo lập được thị trường đất đai lành

mạnh và nền nông nghiệp công nghệ cao mà còn tiếp tục tạo ra xung đột xã hội

gay gắt và cơ hội cho tham nhũng đất đai ngày càng trầm kha, bất khả khắc

phục

Trước mắt, cần bỏ ngay quyền thu hồi, đền bù giá trị quyền sử dụng đất

theo giá quy định của các cấp chính quyền, thiết lập thị trường mua bán “quyền

sử dụng đất” Nhà nước cần có đất vì mục tiêu lợi ích công cộng hay an ninh

quốc gia, cũng phải mua quyền sử dụng đất hay trưng mua quyền sử dụng đất

của người dân theo giá thị trường

Dựa trên thị trường đất đai, các nông dân chuyên nghiệp có nhu cầu và

khả năng, có thể mua hoặc thuê lâu dài đất nông nghiệp của những nông dân đã

trở thành thị dân, để tạo lập các trang trại sản xuất nông sản quy mô lớn, ứng

dụng công nghệ cao, tham gia chủ động, tích cực vào chuỗi giá trị ngành hàng,

mà không bị bất kỳ ai ép giá, ép cấp phẩm chất nông sản Các doanh nghiệp có

nhu cầu và khả năng cũng có thể làm như vậy để tạo ra chuỗi giá trị ngành hàng

nông sản ứng dùng công nghệ cao, quy mô lớn Nhưng đối với các khâu sản

xuất mang tính sinh học, các doanh nghiệp vẫn cần “khoán” cho các hộ nông

dân thực hiện, mà thực chất là tái lập “các trang trại gia đình, dự phần”

(affiliated farm household) trong chuỗi giá trị do doanh nghiệp tạo dựng và

quản lý (Lưu ý là trong chuỗi này, các hộ nông dân nhận khoán không phải là

công nhân làm thuê, hưởng lương, mà là chủ các trang trại dự phần, hưởng thu

nhập từ thành quả thực hiện các khâu sản xuất mang tính sinh học do các doanh

nghiệp giao cho)

Trang 17

Do đó, Chính phủ phải vạch ra chiến lược sản phẩm nông nghiệp quốc gia ở mỗi vùng kinh tế - sinh thái và lập quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ cho việc thực thi chiến lược sản phẩm đó Đó chính là giải pháp phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng, theo vùng sinh thái, khắc phục mâu thuẫn lợi ích giữa các tỉnh trong vùng

Dựa trên cơ sở đó, các trang trại, HTX và doanh nghiệp trong mỗi vùng

sẽ tổ chức sản xuất – kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị ngành hàng nông sản, ứng dụng công nghệ cao

7 Chính sách đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao (R/D) trong tất cả các khâu của chuỗi giá trị ngành hàng nông sản ở mỗi vùng nông nghiệp sinh thái

Nhà nước tài trợ cho các viện, trường, các doanh nghiệp, HTX có dự án khả thi trong việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, không phân biệt tổ chức đó thuộc nhà nước hay tư nhân

Hiện nay, chính phủ đã ban hành cả một “rừng” các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhưng việc thực thi không được bao nhiêu, vì bản thân các chính sách này không mang tính đột phá và thiếu tính khả thi, vì bộ máy công quyền tham nhũng, xách nhiễu làm nản lòng các nhà đầu tư, doanh nhân và công dân, các nhà quản trị HTX…

Cần tổng kết đánh giá toàn diện các chính sách phát triển hiện hành để giải đáp câu hỏi vì sao chúng không được thực thi Trên cơ sở đó, Chính phủ hoạch định lại căn bản hệ thống các chính sách phát triển nông nghiệp quốc gia ứng dụng công nghệ cao để giành thắng lợi toàn diện, bền vững cả về kinh tế –

xã hội và môi trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và trước các thách thức của biến đổi khí hậu toàn cầu./

Trang 18

tế khá cao so với trung bình vùng trong những năm gần đây (năm 2017 tăng

trưởng kinh tế của Trà Vinh là 12,09%, Tiền Giang là 7,4%, Bến Tre là 7,23%,

Vĩnh Long là 5,62%)1 Đây là những tỉnh có thế mạnh về phát triển nông

nghiệp2, được thiên nhiên ưu đãi với gần 70% diện tích đất phù sa, hệ thống

sông ngòi nối liền các tỉnh, là cửa ngõ ra biển đông, với tổng dân số hơn 5 triệu

người và có tổng diện tích gần 8.788,9km2, chiếm 21,5% tổng diện tích đất tự

nhiên, 20% tổng diện tích đất nông nghiệp của toàn vùng ĐBSCL Trong đó có

tới trên 85% diện tích đất là dùng trong sản xuất nông nghiệp (NGTK, 2016)

Hơn nữa, Tiểu vùng DHPĐ dẫn đầu cả vùng ĐBSCL về sản lượng thu hoạch

cây ăn quả, số lượng vật nuôi cũng khá phát triển và đóng vai trò quan trọng

cho ngành chăn nuôi ĐBSCL

Tuy nhiên, vấn đề sử dụng các nguồn lực đang có dấu hiệu suy giảm và

được đánh giá là chưa hiệu quả Các yếu tố đầu vào qui trình sản xuất nông

nghiệp và thủy sản chưa mang tính bền vững Bên cạnh đó, các tỉnh Tiểu vùng

DHPĐ còn đương đầu với khó khăn, thách thức do biến đổi khí hậu, từ đó sản

xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản bị đe dọa và đời sống nông dân nghèo

trong khu vực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Có thể thấy rõ, do việc xây dựng

các đập thủy điện của các nước thượng nguồn như: Campuchia, Lào, Thái Lan

và Trung Quốc nên nguồn nước ngọt đổ về từ thượng nguồn sông Mekong hạn

 Trưởng khoa Kinh tế, Luật – Đại học Trà Vinh

1 Tác giả tổng hợp từ báo cáo năm 2017 của các tỉnh thuộc tiểu vùng

2 Niên giám thống kê 2016: Khu vực kinh tế nông-lâm-thủy sản chiếm 34,2% GDP toàn tiểu

vùng Duyên Hải Phía Đông

T

Trang 19

16

chế gây ra tình trạng hạn hán Tình trạng đất nhiễm mặn ngày càng nghiêm trọng ở một số tỉnh Tiểu vùng DHPĐ, điển hình, tại tỉnh Trà Vinh hiện nay, nước mặn dâng cao trên sông Tiền và sông Hậu và xâm nhập sâu hơn 60km và toàn tỉnh bị nước mặn 6 - 8% bao vây1; nước trong nội đồng đang cạn kiệt, không đủ bơm tát trong khi ban ngày nắng gắt kéo dài đã khiến nhiều diện tích lúa bị chết khô, ngộ độc hữu cơ Đến nay toàn tỉnh đã có gần 3.000ha lúa bị mất trắng, trong khi 38.000ha đông xuân không đủ nước bớm tát Còn tại Bến Tre, nước ngọt là vấn đề khó khăn nhất hiện nay, hiện địa phương có trên 60.000 hộ dân phải dùng nước sinh hoạt nhiễm mặn Nhiều nghiên cứu của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường chỉ ra tình trạng suy giảm về nguồn nước ngầm và sụt lún đất, thách thức về môi trường diễn ra phổ biến ở các tỉnh Tiểu vùng DHPĐ

Xuất phát từ những thách thức trong quá trình phát triển nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu quá, biến đổi khí hậu, thách thức môi trường của Tiểu vùng DHPĐ, cho thấy cần thiết phải có phương án sử dụng các nguồn lực nhằm đảm bảo hiệu quả, năng suất và chất lượng hơn trong tương lai, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp Vì thế, tác giả thực hiện bài viết nhằm phân tích những thách thức trong phát triển nông nghiệp hiện nay, qua đó đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp theo mô hình tăng trưởng xanh tại Tiểu vùng DHPĐ

1 Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng xanh và mô hình tăng trưởng xanh trong nông nghiệp

Tăng trưởng xanh là một vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới bởi đây được xem là mô hình tăng trưởng của tương lai Khái niệm “tăng trưởng xanh” có nguồn gốc từ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Tăng trưởng xanh được định nghĩa là kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với sự bền vững môi trường, đồng thời nâng cao hiệu quả sinh thái của tăng trưởng kinh tế và tăng cường sự phối hợp giữa yếu tố kinh tế và môi trường (UNDESA, 2012) Năm 2009, nước thành viên OECD đã thông qua tuyên bố nhận định rằng xanh hóa (green) và tăng trưởng (growth) có thể đi cùng với nhau, theo đó chiến lược tăng trưởng xanh mà có thể tích hợp các khía

1 Theo trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Trà Vinh Trích: vinh-ben-tre-no-luc-tiep-nuoc-khac-phuc-han-man-489516.vov

Trang 20

https://vov.vn/tin-24h/tra-17

cạnh kinh tế, môi trường, công nghệ, tài chính và phát triển vào một khuôn khổ

toàn diện Tại Việt Nam, Hội nghị cấp cao ASEAN năm 2010 đã thông qua

chính sách phục hồi và phát triển bền vững, trong đó nhấn mạnh đến chiến lược

dài hạn nhằm đảm bảo sự bền vững về môi trường và sử dụng tài nguyên thiên

nhiên nhằm đa dạng hóa và bảo đảm khả năng phục hồi kinh tế Theo quan

điểm của World Bank (2012), tăng trưởng xanh là mô hình tăng trưởng hiệu

quả, sạch và có tính đàn hồi (resilient) – hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên

thiên nhiên, sạch trong giảm thiểu tác động gây ô nhiễm môi trường, và có tính

đàn hồi, chống chịu được trước các thiên tai, thảm họa thiên nhiên (natural

hazards) do tôn trọng giới hạn tuyệt đối của môi trường sinh thái Nhìn chung,

các định nghĩa đều nhấn mạnh đến phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo môi

trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên, đối phó với biến đổi khí hậu, cộng hưởng

các công nghệ và dịch vụ, sản phẩm xanh từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản

xuất và chất lượng xã hội

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO, 2012),

khái niệm tăng trưởng xanh trong nông nghiệp được xem xét trong khuôn khổ

của Xanh hóa nền kinh tế với Nông nghiệp (Greening the Economy with

Agriculture - GE) Theo đó, xanh hóa nền kinh tế với Nông nghiệp (GEA) bao

gồm các nội dung: (i) đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng thông qua sự

cân bằng thích hợp giữa sản lượng sản xuất và thương mại, (ii) đảm bảo sinh kế

ở khu vực nông thôn, (iii) sử dụng kiến thức truyền thống và khoa học để duy

trì bền vững các hệ sinh thái

Nghiên cứu mô hình tăng trưởng xanh trong nông nghiệp được thực hiện

nhiều tại Việt Nam Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Chỉnh (2010) đã đưa ra

các giải pháp đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững, khía cạnh này chỉ

mới đề cập đến việc sử dụng hiệu quả tài nguyên trong nông nghiệp nhằm tạo

ra hiệu quả cho khu vực nông nghiệp tốt hơn Tương tự Lê Thu Hoa (2011)

cũng nghiên cứu mô hình sản xuất và tiêu thụ bền vững liên quan đến biến đổi

khí hậu ở Việt Nam, về nội dung vẫn chỉ dừng lại ở phát triển bền vững và biến

đổi khí hậu là hệ quả theo xu thế phát triển chung, chưa đề cập nhiều đến tăng

trưởng xanh một cách cụ thể Nghiên cứu của Nguyễn Mậu Dũng (2010) về

biến đổi khí hậu và sản xuất vùng đồng bằng sông Hồng đã nêu ra tầm quan

trọng cho ngành nông nghiệp của một vùng, và đây là một trong những gợi ý

quan trọng cho các vùng đồng bằng khác như là ĐBSCL về tính bền vững trong

quá trình phát triển Nguyễn Trọng Hoài và các tác giả (2013) nghiên cứu đề

Trang 21

18

xuất khung phân tích tăng trưởng xanh cho vùng ĐBSCL dựa trên các chỉ tiêu phổ quát nhất, đồng thời đưa ra các định hướng chung cho từng khu vực nông nghiệp, công nghiệp và hộ nông dân (sản xuất nông nghiệp và hành vi tiêu dùng) Khung phân tích đề xuất từ nghiên cứu này có thể vận dụng cho một địa phương thuộc vùng ĐBSCL

Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước trong thời gian gần đây vẫn chỉ

đề cập đến các phân tích về phát triển bền vững, sinh thái, chính sách môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, kiểm soát ô nhiễm trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, tuy nhiên, chưa mang tính cập nhật hay có thể vận dụng vào thực tiễn theo các vùng đặc thù, và phù hợp với cơ chế chính sách phát triển từng thời kỳ

Qua các lược khảo một lần nữa cho thấy việc nghiên cứu mô hình tăng trưởng xanh trong nông nghiệp trong bối cảnh hiện nay là thật sự cần thiết, góp phần điều chỉnh trong sử dụng nhân lực, nguồn lực tài chính trong ngắn hạn, đồng thời có tác động tích cực trong củng cố về môi trường bền vững, tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội trong dài hạn

2 Thực trạng và những thách thức trong phát triển nông nghiệp theo

mô hình tăng trưởng xanh

Tiểu vùng DHPĐ là nơi có sản lượng lúa và thủy sản lớn nhất vùng ĐBSCL Tiểu vùng DHPĐ cũng đã chủ động xây dựng, thực hiện các quy hoạch phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, vùng sản xuất lúa, chiến lược phát triển nông thôn, chương trình nông thôn mới… Đến nay Tiểu vùng DHPĐ đã đạt được những kết quả đáng tự hào như: thuộc nhóm các địa phương dẫn đầu ĐBSCL về sản lượng cây ăn trái, sản lượng thủy sản nuôi trồng, và giá trị xuất khẩu hàng nông thủy sản.Về trồng trọt, vùng DHPĐ đóng góp 3.487 ngàn tấn (khoảng 14% sản lượng ĐBSCL), cây ăn quả có diện tích 157 ngàn ha (chiếm 51% tổng diện tích trồng ĐBSCL), dừa có sản lượng 1.014 ngàn trái (chiếm 94% tổng sản lượng ĐBSCL) Lĩnh vực chăn nuôi của Tiểu vùng DHPĐ cũng khá phát triển, chiếm 50% sản lượng heo, 45% sản lượng gia cầm, 64% sản lượng bò trong ngành chăn nuôi của ĐBSCL Về thủy sản, sản lượng khai thác đạt 347 ngàn tấn (chiếm 27% sản lượng ĐBSCL) và sản lượng nuôi trồng

Trang 22

19

đạt 613 ngàn tấn (15% sản lượng ĐBSCL)1 Tuy nhiên, đi kèm với những thành

tựu trên là những thách thức về môi trường, cùng những áp lực từ tình trạng

biến đổi khí hậu đang diễn ra, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển

nông nghiệp và chất lượng cuộc sống của người dân Tiểu vùng DHPĐ

Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là quá trình nhiệt độ tăng lên, thay đổi mực nước biển,

sự suy giảm tổng lượng mưa, sẽ dẫn đến gia tăng quá trình xâm nhập mặn, từ

đó các vấn đề cấp thoát nước, xử lý môi trường gặp khó khăn

Bảng: Nhiệt độ trung bình khá cao các tháng trong năm tại ĐBSCL

Nguồn: Bộ Khoa học và Công Nghệ (2016)

Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-350C lên

35-370C, cụ thể như hình sau:

Đông”

Trang 24

21

Hình: Sự suy giảm tổng lượng mưa thập niên 2030 so với thập niên 1980

Việc suy giảm trữ lượng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là

trong điều kiện nắng nóng kéo dài, nhu cầu nước của cây trồng cao, cùng với

tác động của nước biển dâng lên, ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và chất

lượng cây ăn quả, lúa, và nuôi trồng thủy sản Như hình… cho thấy lượng mưa

đầu vụ Hè Thu sẽ giảm chừng 10-20% (Lê Anh Tuấn, 2009)

Tác động của biến đổi khí hậu đến đời sống người dân và phát triển kinh

tế xã hội sẽ được thể hiện qua sơ đồ sau:

Hình: Chuỗi dây chuyền tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu lên hệ sinh

thái, sản xuất và đời sống (Lê Anh Tuấn, 2009)

Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không bền vững với môi trường

Trong sản xuất nông nghiệp, một trong những vấn đề nổi cộm là việc sử

dụng thuốc bảo vệ thực vật không bền vững với môi trường Hàng năm có hàng

chục ngàn tấn thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng vùng ĐBSCL Tuy nhiên, tỷ

lệ hấp thụ qua cây trồng chỉ khoảng 20%, bốc hơi 15-20%, còn lại thấm vào đất

và hòa vào nước, gây ra ô nhiễm môi trường trầm trọng (Bộ TN&MT, 2012)

Đối với người nông dân trực tiếp phun xịt, việc tiếp xúc cường độ cao với

thuốc bảo vệ thực vật mà thiếu các biện pháp bảo hộ lao động cần thiết gây

nguy cơ nhiễm độc, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, có thể dẫn đến các bệnh

như ung thư, rối loạn nội tiết tố, bệnh ngoài da, bệnh phổi, v.v Một bộ phận

nông dân thường có xu hướng sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật không rõ

Trang 25

22

nguồn gốc với giá rẻ và công dụng mạnh mà ít quan tâm đến tính an toàn cho nông sản, bản thân, và môi trường (Bộ TN&MT, 2010)

Ô nhiễm nguồn nước

Nước thải từ sản xuất công nghiệp phần lớn chưa được xử lý, làm cho sông rạch gần các đô thị vùng ĐBSCL như An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long An, Hậu Giang, Cà Mau, đều có hàm lượng các chất thải BOD, SS, N-NH3, amoniac, coliforms, cao hơn tiêu chuẩn cho phép, làm ô nhiễm nghiêm trọng các sông, kênh rạch ĐBSCL(TTXVN, 2013)

Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường còn gia tăng do hoạt động nông nghiệp Mỗi năm, nông dân ĐBSCL sử dụng đến hàng ngàn tấn thuốc bảo vệ thực vật, lượng phân bón dư thừa trong sản xuất lúa tại ĐBSCL đã phát thải gần 140.000 tấn/năm và ô nhiễm môi trường trong ngành thủy sản cũng đang ở mức báo động với khoảng 5.000ha mặt nước nuôi cá tra, ước tính mỗi năm có gần 1 triệu tấn chất thải có nguồn gốc từ thức ăn nuôi cá trong các ao thải ra môi trường, đã ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, sức khỏe của chính bà con1

Thêm vào đó, nguồn nước dưới đất có vai trò đặc biệt trò quan trọng cho cấp nước sinh hoạt đô thị, nông thôn, công nghiệp ở ĐBSCL (80% dân số nông thôn sử dụng nguồn nước dưới đất, nhiều đô thị phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước dưới đất, như các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Trà Vinh….) Tuy nhiên, việc tiếp cận các nguồn nước sạch của người dân ĐBSCL còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn với tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước mưa làm nguồn nước ăn uống chính chiếm đến 14,6% (cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước 12,8%) Ngoài ra, có 17,9% hộ gia đình chọn nguồn nước sinh hoạt khác, chủ yếu trong bối cảnh ĐBSCL là nước từ sông, kênh rạch không đảm bảo vệ sinh (Tổng Cục Thống kê, 2010)

Suy giảm chất lượng nguồn nước ngầm

Hiện trạng sử dụng nước ngầm tại Trà Vinh cho các hoạt động nông nghiệp (canh tác hoa màu) chăn nuôi heo, thu ỷ sản (nuôi tôm), công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp (chế biến thuỷ sản, nước lọc, nước đá); dịch vụ (nhà hàng, khách sạn) và sinh hoạt (bệnh viện, trường học, cơ quan, ) cho thấy nguồn

http://vtv.vn/trong-nuoc/o-nhiem-moi-truong-do-hoat-dong-nong-nghiep-o-dbscl-20170704101130785.htm

Trang 26

23

nước ngầm được người dân khai thác liên tục trên khu vực đất giồng cát trong

thời gian khoảng 6 tháng mùa khô cho thâm canh màu đang ở mức báo động

Số lượng nước ngầm khai thác cho sinh hoạt và dịch vụ liên tục tăng hàng năm

Kết quả nghiên cứu của (Nguyễn Văn Sánh, 2010) cho thấy lượng nước sử

dụng trong năm 2004 là khoảng 80.000 m3 /tháng và lượng nước tiêu thu liên

tục tăng trung bình/tháng là 180.000 m3 /tháng và hơn 200.000 m3 /tháng tương

ứng với năm 2006 và năm 2008 Tốc độ gia tăng khai thác và sử dụng nước

ngầm tăng gấp 10 lần trong khoảng 2 năm 2004-2006 Tổng khối lượng nước

sinh hoạt của cả năm 2004 là 1 triệu m3 /năm, trong khi đó lượng nước sinh

hoạt năm 2008 là hơn 2.5 triệu m3 /năm Chất lượng nước ngầm đối với các chỉ

tiêu hóa lý đều đạt tiêu chuẩn (TCVN 5944-1995) Tuy nhiên, trong nước ngầm

tại hầu hết các điểm trên địa bàn tỉnh đều nhiễm vi sinh vật Coliform khá cao

Công tác quản lý và sử dụng nguồn nước ngầm đối với chính quyền địa phương

chưa chặt chẽ do nhiều vướng mắc trong tổ chức thực hiện và quản lý Hiện tại

và tương lai các thách thức cho người dân đó là sự sụt giảm mực nước ngầm do

khai thác gần như quá mức Người dân cần thiết được tiếp cận với các biện

pháp kỹ thuật nhằm giảm chi phí bơm tưới và tiết kiệm nước nhằm bảo về tài

nguyên nước ngầm bền vững (Nguyễn Văn Sánh, 2010)

Thách thức về đất nhiễm mặn

Vùng DHPĐ là vùng có tài nguyên đất đai đa dạng với tỷ trọng đất phù

sa chiếm 26,4% tổng diện tích đất tự nhiên toàn vùng ĐBSCL Tuy nhiên, diện

tích đất nhiễm mặn của tiểu vùng cũng khá lớn, tập trung tại Bến Tre (24,1%),

Tiền Giang (14,6%) và Trà Vinh (25,7%) Bên cạnh đó, đất phèn cũng khá lớn,

chiếm khoảng 17,8% diện tích toàn vùng (trong đó Vĩnh Long (29,7%), Tiền

Giang (19,4%) và Trà Vinh (18%) Trong đó, toàn ĐBSCL có đến 92 ngàn ha

diện tích rừng ngập mặn (Cà Mau chiếm 70,2%, còn lại phân bố rải rác dọc

theo ven biển các tỉnh Long An, Bến Tre, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng,

Bạc Liêu và Tiền Giang) (Tổng Cục Thống kê, 2017) Việc tăng diện tích đấ

nhiễm mặn sẽ dẫn đến giảm hiệu suất sử dụng đất cũng như làm gia tăng tăng

giá thành chi phí cho cải tạo đất Bên cạnh đó, xâm nhập mặn cũng làm biến

đổi hệ sinh thái ven biển

Trang 27

24

Nguồn: Viện Thủy Lợi Việt Nam (2016)

Thực tiễn trên cho thấy thách thức về môi trường và sự suy giảm về chất lượng các nguồn lực tự nhiên đã kéo theo là môi trường sống của người dân ngày càng suy thoái trầm trọng Thật vậy, sự ô nhiễm này thách thức chất lượng tăng trưởng, chất lượng cuộc sống người dân và tính bền vững của môi trường

Vì vậy, để thúc đẩy phát triển bền vững nông nghiệp thì rất cần có các giải pháp để nhân rộng mô hình tăng trưởng xanh trong nông nghiệp

Qua phân tích thực trạng về phát triển nông nghiệp như trên cho thấy tiểu vùng DHPĐ đang theo đuổi mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào là đất đai, nguồn nước sông Mekong, nguồn lực tự nhiên, bên cạnh điều kiện sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào tự nhiên, giá cả các nguyên liệu đầu vào biến động theo xu hướng ngày càng tăng, qui trình sản xuất nông nghiệp và thủy sản chưa mang tính bền vững, khả năng gây phương hại môi trường còn cao đã bộc lộ quá nhiều bất cập trong khi những sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản thế mạnh của tiểu vùng DHPĐ đang phải chịu sức ép lớn từ cạnh tranh ở cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế Điều này tạo áp lực đòi hỏi tiểu vùng DHPĐ phải chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, hiệu quả và bền vững hơn cho tỉnh, một mô hình tăng trưởng theo chiều sâu theo điều kiện đặc thù của tỉnh

Trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế và đổi mới môi hình tăng trưởng, tiểu vùng DHPĐ cũng phê duyệt các đề án tái cơ cấu ngành, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Chương trình

Trang 28

25

hành động số 604/CTr-UBND thực hiện đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển

đổi mô hình tăng trương theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực

cạnh tranh tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020, tỉnh Vĩnh Long ban hành kế

hoạch thực hiện Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long theo

hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2017-2020,

tầm nhìn đến năm 2030, UBND tỉnh Tiền Giang đã có Kế hoạch hành động

83/KH-UBND tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng xác định sản phẩm chủ

lực, có lợi thế để tập trung đầu tư về khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng, hạ

tầng kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất, hình thành chuỗi giá trị các ngành hàng để

tạo bước đột phá về sức cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền

vững, góp phần xây dựng nông thôn mới và tỉnh Trà Vinh cũng ban hành kế

hoạch thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị

gia tăng và phát triển bền vững Tuy nhiên, các đề án trên chỉ mới dừng lại ở

việc thúc đẩy dịch chuyển tỷ trọng đóng góp về lượng giữa các ngành mà chưa

đề cập đến mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, gắn với những thách thức về

biến đổi khí hậu Do đó, việc đề xuất các giải pháp để thúc đẩy phát triển nông

nghiệp theo mô hình là thật sự cần thiết và qua đó đảm bảo phát triển nông

nghiệp bền vững của tiểu vùng DHPĐ trong điều kiện thích ứng với biến đổi

khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan, đó là mô hình tăng trưởng xanh

4 Kết luận và giải pháp phát triển nông nghiệp theo mô hình tăng

trưởng xanh

Những thách thức trên đặt ra yêu cầu phải hướng đến một nền sản xuất

nông nghiệp xanh hơn, bền vững hơn, và hướng đến tất cả mọi người Theo

“Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến

2050” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2012, tập trung vào 3 nhiệm

vụ chiến lược: (i) giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng

năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; (ii) xanh hóa sản xuất; (iii) xanh hóa lối

sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững Trên cơ sở chiến lược quốc gia về tăng

trưởng xanh và những thách thức trong phát triển nông nghiệp của Tiểu vùng

DHPĐ, bài viết này xin đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển

nông nghiệp theo mô hình tăng trưởng xanh, cụ thể như sau:

4.1 Nhóm giải pháp thể chế, chính sách, quản lý nhà nước

Về thể chế, chính sách, quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững

Trang 29

26

nông nghiệp theo mô hình tăng trưởng xanh, một số giải pháp đề xuất như sau:

- Tăng cường hợp tác toàn diện, liên tỉnh trong tiểu vùng DHPĐ, vùng ĐBSCL và toàn khu vực phía nam trên nhiều mặt, trên cơ sở tài nguyên nước, đảm bảo cân bằng nước phù hợp với các xu thế diễn biến nguồn nước trong tương lai và phải bảo đảm tính tổng thể, thống nhất Gỉai pháp cấp nước quy

mô vùng bằng cách kết hợp giữa các nhà máy cấp nước ở các tỉnh, đảm bảo hài hòa, phù hợp với điều kiện nguồn nước của khu vực

- Thực hiện rà soát lại các quy hoạch liên quan bao gồm các quy hoạch

hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biến, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành nghề Cụ thể rà soát thống nhất quản lý giữa lâm nghiệp, thủy lợi, đê điều, thủy sản; đánh giá thực trạng phát triển các ngành nghề nuôi trồng thủy sản ở các vùng ven biển như nuôi sò, vạng, các loài có giá trị kinh tế cao

để dần thay thế nghề nuôi trồng thủy, hải sản trong vùng rừng ngập mặn; đánh giá thực trạng nông nghiệp hiện tại về nguồn lực, năng suất và tiềm năng tương lại; đánh giá các nguồn tài nguyên kinh tế, các tác động tới môi trường của các

mô hình kinh tế nông nghiệp đã thực hiện trước đây nhằm rút ra bài học kinh nghiệp, tập trung thực hiện, phát triển những mô hình hiệu quả, xóa bỏ, thay thế những mô hình kém hiệu quả

- Tăng cường công tác quản lý sản xuất, cụ thể có kế hoạch chủ động trong bố trí mùa vụ phù hợp trên cơ sở các kịch bản ứng phó biến đổi khí và các dự báo đánh giá tác động của môi trường lên vùng sản xuất nông nghiệp

- Có chính sách ưu tiên, phát triển, khuyến khích hộ dân tham gia các mô hình liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm cây trồng sạch, theo các tiêu chí GAP (Global Gap) Hỗ trợ khuyến khích phát triển các hợp tác xã nông nghiệp xanh, liên kết hợp tác giữa các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh, trong tiểu vùng, trên cơ

sở chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp thế mạnh của từng địa phương cũng như của toàn tiểu vùng Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, mạnh

mẽ, là trung gian kết nối giữa nông dân và nông dẫn, giữa nông dân và doanh nghiệp, đảm bảo hoạt động ổn định của các mắc xích trong chuỗi cung ứng, chuỗi liên kết giữa các hợp tác xã, các đối tượng xã hội tham gia phát triển nông nghiệp theo mô hình tăng trưởng xanh Theo Tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam, liên kết "4 nhà" để đáp ứng các điều kiện cần và đủ xây dựng nền nông nghiệp hiện đại

- Tập trung rà soát lại hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển sản

Trang 30

27

xuất nông nghiệp Đặc biệt, cần hướng tới những công trình đảm bảo được mục

tiêu phát triển nông nghiệp xanh, sạch Có kế hoạch xây dựng hạ tầng đảm bảo

phục vụ phát triển sản xuất hiện đại, tăng năng xuất, chất lượng theo hướng

xanh, chuẩn quốc tế

- Quy hoạch một cách đồng bộ, hoàn chỉnh trong khâu bố trí, xây dựng

các khu công nghiệp, sao cho đảm bảo không gây ra những hậu quả với môi

trường

- Đưa ra các quy định chế tài xử lý những đối tượng cố tình gây ô

nhiễm, nhất là các cơ sở sản xuất cố tình không chịu xử lý nước thải trước khi

đổ ra sông, rạch

- Có kế hoạch đào tạo, nâng cao năng lực kỹ thuật chuyên môn cho cán

bộ quản lý, đáp ứng kịp thời nhu cầu trong phát triển nền sản xuất nông nghiệp

xanh

- Có kế hoạch tài chính nhằm đảm bảo đủ nguồn ngân sách trong các

chương trình mục tiêu cho phát triển nông nghiệp xanh

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin cho các hoạt động tăng trưởng

xanh, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tăng trưởng xanh đến các cơ quan,

công sở, các tổ chức xã hội đại diện cho các nhóm cộng đồng trong xã hội

- Tạo trang web, cung cấp thông tin các dữ liệu được thu thập về sản xuất

nông nghiệp xanh trong đó bao gồm các dữ liệu về phía cung, cầu trong phát

triển nông nghiệp xanh Cụ thể cung cấp các thông tin liên quan về đất, nước,

phân bón, giống, kỹ thuật sản xuất, phương pháp nuôi trồng, các mô hình sản

xuất hiệu quả, thông tin của các doanh nghiệp thu mua, đầu ra, các doanh

nghiệp cung ứng các dịch vụ nông nghiệp Coi đây như một diễn đàn, đóng vai

trong cung cấp thông tin, kết nối tất cả các nhà trong nền sản xuất của cách

mạng 4.0

- Xây dựng các kế hoạch về thông tin, truyền thông nhằm tuyên truyền,

nâng cao nhận thức, đưa thông tin về tình trạng biến đổi khí hậu, về tăng trưởng

xanh đến toàn bộ các tầng lớp xã hội

4.2 Nhóm giải pháp đối với các hộ dân sản xuất nông nghiệp

- Nâng cao nhận thức của các hộ dân về biến đổi khí hậu, nông nghiệp

xanh Cụ thể hóa các chương trình hành động về các hoạt động nông nghiệp

xanh qua các hội chợ, hội thảo, buổi sinh hoạt hợp tác xã, các buổi tiếp xúc trực

Trang 31

28

tiếp của các cấp quản lý chính quyền với người dân Phổ biến về thực trạng biến đổi khí hậu, hậu quả, diễn biến thiên tai, các hậu quả môi trường do các phương thức sản xuất truyền thống và truyền bá những nhận thức mới về nâng cao chất lượng đời sống, bảo vệ môi trường, tăng chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập qua các mô hình sản xuất theo phương pháp xanh trong tăng trưởng xanh

- Mở các lớp tập huấn miễn phí, khuyến khích các nhóm hộ dân tham gia

để nâng cao nhận thức, kiến thức về các phương pháp sản xuất xanh

- Đẩy mạnh liên kết cộng đồng trong các sản xuất, liên kết giữa các hộ nông dân nhằm chia sẻ thông tin, nhân rộng các mô hính sản xuất xanh

- Hỗ trợ các hộ dân tham gia các chương trình ưu đãi vay vốn, ưu đãi chính sách trong mô hình tăng trưởng xanh về thuốc bảo vệ thực vật, về nước,

về đất, về phân bón, giống và phương thức sản xuất

4.3 Nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp

- Đẩy mạnh thu hút đầu tư, có chính sách ưu đãi về thuế, về vay vốn đối với các ngành nghề liên quan trong chuỗi giá trị nông nghiệp như các dự án sản xuất chế biến nông sản, các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ nông nghiệp, bao tiêu sản phẩm, phát triển thị trường nông nghiệp

- Có các chương trình liên kết, mang doanh nghiệp với hộ nông dân trực tiếp làm việc với nhau, nhằm rút ngắn các giai đoạn trung gian trong chuỗi cung ứng, giảm giá thành sản phẩm nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế Đặc biệt ưu tiên tổ chức các chương trình hội thảo, tọa đàm và ra mắt các sản phẩm nông nghiệp xanh

đã liên kết với doanh nghiệp phát triển sản xuất lúa hữu cơ mang lại hiệu quả

kinh tế cao

- Trong lĩnh vực chăn nuôi, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán từng bước

Trang 32

29

chuyển sang chăn nuôi tập trung, trang trại theo quy hoạch Ngành cũng khuyến

khích chăn nuôi tập trung an toàn sinh học để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi

trường và kiểm soát được dịch bệnh… /

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2010) Tác động biến đổi

khí hậu ở các tỉnh ĐBSCL (

https://www.mard.gov.vn/Pages/tac-dong-bien-doi-khi-hau-o-cac-tinh-dbscl-1538.aspx)

2 Bộ Khoa học và Công Nghệ (2016) Xâm nhập mặn tại Đồng Bằng

Sông Cửu Long, nguyên nhân, tác động và các giải pháp ứng phó

3 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010) Báo cáo môi trường quốc gia

năm 2010 - Tổng quan môi trường Việt Nam

4 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012) Thuốc bảo vệ thực vật – mối

nguy hại lớn tới môi trường và sức khỏe

5 Dự thảo tầm nhìn chiến lược Đề án “Liên kết phát triển bền vững tiểu

vùng Duyên Hải Phía Đông”

6 FAO (Food and agriculture organization of the United Nations)

(2012) Greening the economy with agriculture

7 Hoàng Thị Chỉnh (2010) Để nông nghiệp VN phát triển bền vững

Tạp chí Phát triển Kinh tế, số 273

8 Lê Trung Kiên (2009) Lựa chọn nào đối với phát triển bền vững

trong du lịch ở Việt Nam Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 148

9 Lê Thu Hoa (2011) Mô hình sản xuất và tiêu thụ bền vững trong

chiến lược phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam Tạp

chí Kinh tế và Phát triển, số 173

10 Lê Anh Tuấn (2009) Tác động của biến đổi khí hậu lên hệ sinh thái

và phát triển nông thôn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Viện nghiên cứu Biến

đổi Khí Hậu, Đại học Cần Thơ

11 Ngô Thắng Lợi (2010) Đô thị hoá ở Hà Nội nhìn từ góc độ phát

triển bền vững Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 160

12 Nguyễn Mậu Dũng (2010) Biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp

vùng đồng bằng sông Hồng: Thực trạng và giải pháp Tạp chí Kinh tế và Phát

triển, số 159

13 Nguyễn Trọng Hoài và các tác giả (2013) Tiếp cận tăng trưởng xanh

cho cho khu vực ĐBSCL

14 Nguyễn Văn Sánh (2010) Nghiên cứu tài nguyên nước Trà Vinh:

Trang 33

16 Parry, M L và cộng sự (2007) Contribution of Working Group II to

the Fourth Assessment Report on Climate Change, 2007 Cambridge University

Press, Cambridge, UK

17 Tổng Cục Thống kê (2010) Khảo sát mức sống Hộ gia đình Việt

Nam (VHLSS) 2010

18 Tổng cục thống kê Việt Nam (2017) Niên giám thống kê

19 Thông tấn xã Việt Nam (2013) Đồng bằng sông Cửu Long suy thoái

môi trường ở mức đáng báo động

20 World Bank (2012) Inclusive green growth: The pathway to

sustainable development Washington D.C - The Worldbank

21 UNDESA (UN Department of Economic and Social Affairs) (2012)

A guidebook To The Green Economy Issue 1: Green Economy, Green Growth, and Low-Carbon Development -history, definitions and a guide to recent publications Division for Sustainable Development, UNDESA

22 Viện Thủy Lợi Việt Nam (2016) Dự báo xâm nhập mặn tại các cửa

sông vùng ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đề Xuất các giải pháp chống hạn

Trang 34

31

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAM: MỘT CÁCH ĐỐI SÁNH

TS Lê Tùng Lâm

TÓM TẮT

Việt Nam và Hàn Quốc đều có điểm xuất phát là những quốc gia nông

nghiệp Thế nhưng, từ đầu thập niên 70 của thế kỉ XX, Hàn Quốc thực hiện

Phong trào Làng mới (Saemaul Undong), nền nông nghiệp phát triển nhanh

chóng, góp phần tạo ra “kì tích Hàn giang”, đưa Hàn Quốc trở thành một trong

số ít quốc gia hàng đầu châu Á Việt Nam cũng đã tiến hành công cuộc đổi mới

từ năm 1986, nền nông nghiệp của Việt Nam có sự chuyển biến vẫn chưa phát

huy hết được những lợi thế của mình Từ năm 2010, Việt Nam cũng bắt đầu

thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao đời sống của

nông dân Tuy nhiên, đến nay Việt Nam vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn

Sự thành công trong nông nghiệp nói chung và Phong trào Làng mới của Hàn

Quốc đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng về vai trò lãnh đạo của

nhà nước đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới cho Việt Nam trong giai

đoạn hiện nay

Từ khóa: Việt Nam, Hàn Quốc, Nông thôn mới, Làng mới, Nhà nước

ừ những năm 70 của thế kỉ XX, Hàn Quốc đã thực hiện thành công Phong trào Làng mới và đưa nông nghiệp Hàn Quốc phát triển vượt bậc Vậy sự thành công của Hàn Quốc đã gợi mở những bài học kinh nghiệm gì cho Nhà nước trong chiến lược xây dựng nông

thông mới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Dẫu biết mọi sự so sánh có thể

khập khiễng nhưng thành công của Hàn Quốc cũng sẽ gợi mở cho Việt Nam

một số vấn đề nhất định Bài viết muốn góp một phần tìm hiểu kinh nghiệm

quản lý của nhà nước để đưa nông nghiệp nói chung và Chương trình xây dựng

nông thôn mới nói riêng của Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng vốn

Khoa Sư phạm Khoa học xã hội, Trường Đại học Sài Gòn

T

Trang 35

Lên cầm quyền bằng một cuộc đảo chính quân sự và trong hoàn cảnh đất nước vô cùng khó khăn, Tổng thống Park Chung Hee cho rằng “Nhân dân Á châu sợ hãi đói nghèo hơn là sợ chế độ độc tài…, và thứ ngọc thiếu ánh sáng được gọi là chế độ dân chủ thì vô nghĩa đối với người dân đang chết đói và tuyệt vọng”1 Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền là phải đưa nhân dân khỏi tình trạng đói khổ kéo dài Chính phủ Park đã thực hiện nhiều chương trình để cải cách nông nghiệp Từ năm 1970, Chính phủ Park Chung Hee tiến

hành chương trình Phong trào Làng mới (Saemaul Udong) với phương châm

hiện đại hóa và công nghiệp hóa nền nông nghiệp quốc gia Tổng thống Park Chung Hee đã nêu rõ rằng “Phong trào làng mới thể hiện nỗ lực cải thiện, hiện đại hóa làng của chúng ta với tinh thần tự lực và độc lập Chính phủ triển khai cuộc vận động này với sự tin tưởng chắc chắn rằng cuộc vận động sẽ làm cho mỗi làng ở Hàn Quốc thành một nơi thịnh vượng, sung túc để sinh sống” 2

Chính phủ đã tiến hành hoạch định các kế hoạch phát triển chung cho toàn dân và khuyến khích nông dân cùng chung vai với nhà nước thực hiện các

dự án phát triển nông nghiệp Chính phủ Park ưu tiên tập trung đưa máy móc

Trang 36

33

hiện đại vào sản xuất nông nghiệp như máy xới, máy kéo, máy cấy lúa, máy

gặt… Đặc biệt, việc cung cấp nhiều phân bón hóa học cùng việc đưa những

giống mới có năng suất cao vào sản xuất đã làm cho nền nông nghiệp Hàn Quốc

tăng nhanh đáng kể Tổng số gạo được sản xuất tăng từ 3 triệu tấn (năm 1962)

lên 5,9 triệu tấn (năm 1989)1 Sự thành công trong lĩnh vực nông nghiệp đã đưa

nhân dân thoát khỏi cảnh đói nghèo thường xuyên Thu nhập bình quân của

người nông thôn còn cao hơn cả dân cư thành thị Ba năm sau khi thực hiện

phong trào làng mới, thu nhập bình quân của hộ gia đình sống ở khu vực nông

thôn là 674.000 Korean won, trong khi đó thu nhập bình quân của hộ gia đình

sống ở khu vực đô thị chỉ là 644.000 Korean won2 Đây là kết quả rất quan

trọng đối với nhân dân Hàn Quốc nói riêng và tấm gương để các nước khác noi

theo

Chìa khóa thành công của phong trào Làng mới là thúc đẩy các cộng

đồng nông thôn theo hướng tự giúp đỡ và hợp tác Saemaul Undong gồm ba

thành phần: tinh thần, hành vi và môi trường Các chiến dịch về tinh thần bao

gồm việc cải thiện quan hệ với các nước láng giềng, phát huy truyền thống đạo

đức, và tăng cường ý thức của cộng đồng3 Từ đó, đời sống của nông dân đã

được cải thiện và làm biến đổi toàn diện nông thôn Hàn Quốc Ý thức của nông

dân về vai trò, trách nhiệm đối với đất nước cũng được nâng cao hơn Một quan

chức Hàn Quốc từng rất tự hào khi cho rằng “Saemaul Udong đã thay đổi nông

thôn Căn bản là khôi phục ý thức xấu hổ và tranh đua của nông dân”4 Chính ý

thức tự hào truyền thống dân tộc là chất xúc tác thức tỉnh nhân dân Hàn Quốc

đứng dậy sau những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua trong

những năm 50 của thế kỉ XX Thông qua phong trào Saemaul Udong, “những

mái tranh nhà ở nông thôn miền Nam Triều Tiên đã được thay thế bằng những

ngôi nhà được xây dựng bằng gạch và xi măng; sản lượng nông nghiệp nông

thôn đạt mức chưa từng có Năm 1974, thu nhập nông thôn đã vượt qua thu

nhập thành thị Năm 1978, 98% nông thôn Hàn Quốc đã có thể tự lực cánh

sinh”5 Sự chuyển biến của nông thôn đã góp vai trò quan trọng vào sự chuyển

1 Andrew C Nahm (2001), Lịch sử và văn hóa bán đảo Triều Tiên, NXB VHTT, Hà Nội,

tr.371

4 Brian Kelly and Mark London (1989), The Four Little Dragons: Inside Korea, Taiwan,

Hong Kong and Singapore at the Dawn of the Pacific Century, New York: Simon a nd Schuster, p.46

Trang 37

34

mình, cất cánh chung của Hàn Quốc trong những năm 70 của thế kỉ XX

Sự thành công trong nông nghiệp của Hàn Quốc đã được cộng đồng quốc

tế đánh giá rất cao Nó cũng đã để lại rất nhiều bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng và phát triển nền nông nghiệp một số nước trên thế giới Khi nhận định về sự thành công của phong trào Saemaul, Tổng thống Senegal Leopold Sedar Senghor cho rằng “Hiện nay, Senegal đang tiến hành một cuộc cách mạng nông nghiệp, nên đặc biệt tôi rất cảm kích trước sự phát triển của Hàn Quốc qua phong trào Saemaul”, còn Chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Quốc hội Guatemala Joseluis Cruz Salazar nhấn mạnh rằng: “Saemaul là một phong trào đặc biệt Tôi sẽ cố gắng áp dụng hệ thống và phương pháp này vào Guatemala”, Thứ trưởng Nội vụ Thái Lan Winyu Ankara thì xem “Saemaul là một phong trào thành công nhất trong các chương trình loại này mà tôi đã thấy trên khắp thế giới”1 Rõ ràng, thành công của Hàn Quốc đã nhận được sự ngưỡng mộ, khâm phục từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các quốc gia đang trên đường phát triển Vì vậy, Việt Nam cũng cần có những nhìn nhận, đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm từ sự thành công của Hàn Quốc để phát triển hơn nữa nền nông nghiệp của nước nhà

2 Một số vấn đề về vai trò của nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam (đối sánh với Hàn Quốc)

Việt Nam là quốc gia có nhiều lợi thế để phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp Từ sau Đại hội VI (tháng 12-1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới đất nước Từ thập niên 90 của thế kỉ XX, quá trình xây dựng, đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp

đã được đẩy mạnh Tuy nhiên, kết quả thu được không như mong muốn Vì vậy, từ đầu thế kỉ XXI, Đảng và Nhà nước dành nhiều sự quan tâm hơn nữa đối với nông nghiệp Trong đó, có chương trình xây dựng nông thôn mới

Ngày 4-6-2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định 800 QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 với mục tiêu “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn

Textbook Co., p.72

Trang 38

35

nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông

thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc

văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ

vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao;

theo định hướng xã hội chủ nghĩa”1 Như vậy, mục tiêu quan trọng của chương

trình xây dựng nông thôn mới của Việt Nam là nâng cao đời sống nông dân về

cả vật chất, tinh thần và phục vụ sự nghiệp phát triển chung của đất nước Từ

khi thực hiện chương trình, chúng ta đã đạt được một số kết quả bước đầu quan

trọng như:

- Về phát triển giao thông nông thôn, chương trình đã xây dựng được

trên 5 nghìn công trình với khoảng 700.000km đường giao thông nông

thôn Đến nay, đã có 23,3% số xã đạt tiêu chí giao thông, dự kiến đến hết

năm 2015 đạt 35,3%

- Trên lĩnh vực thủy lợi, hiện có 44,5% số xã đã đạt tiêu chí, dự kiến đến

hết năm 2015 đạt 52,7%; 75,6% xã đạt tiêu chí về điện, dự kiến hết năm

2015 đạt 80,9%

- Tỷ lệ cơ giới hóa của các khâu này tăng từ 40% - 50% lên 80 - 90% như

các tỉnh: Thái Bình, Hà Tĩnh, An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp2

- Mức thu nhập bình quân đầu người vùng nông thôn đã đạt 24,4 triệu

đồng/năm (tăng khoảng 1,9 lần so với năm 2010); số hộ nghèo ở nông

thôn giảm mạnh, còn 8,2%.3

Có thể thấy, những con số trên là tính hiệu khả quan trong quá trình hiện

đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam Tuy nhiên, công cuộc xây dựng

nông thôn mới hiện nay vẫn chưa thật sự đạt được kết quả mong muốn và tồn

tại nhiều khó khăn Nó đòi hỏi Nhà nước cần phải tăng cường hơn nữa sự lãnh

đạo để phát huy hiệu quả của chương trình Nhiều vấn đề về vai trò của nhà

nước cần phải giải quyết hiệu quả để thực hiện thành công chương trình xây

quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020

2 Phạm Tất Thắng (5-11-2015), Xây dựng nông thôn mới: một số vấn đề đặt ra, nguồn:

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet

-nam-tren-duong-doi-moi/2015/35998/Xay-dung-nong-thon-moi-mot-so-van-de-dat-ra.aspx

3 Tổng kết 5 năm, thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai

đoạn 2010-2015, nguồn:

http://www.bienphong.com.vn/tong-ket-5-nam-thuc-hien-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung-nong-thon-moi/

Trang 39

36

dựng nông thôn mới như:

2.1 Vai trò của nhà nước trong việc sử dụng, huy động nguồn vốn cho chương trình xây dựng nông thôn mới

Vốn đầu tư là nhân tố quyết định đến thành công hay thất bại trong chương trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Ở Hàn Quốc, nhà nước và nhân dân cùng thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp Nhà nước hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn để cải tiến chất lượng sống của nông dân Chính phủ Hàn Quốc “vạch ra chương trình công nghiệp hoá, chương trình xuất khẩu, chương trình làng mới ở nông thôn nhưng rất ít khi nhà nước Hàn Quốc dùng doanh nghiệp nhà nước để giải quyết vấn đề”1 Vì vậy, tính hiệu quả của các dự án đã được nâng cao rõ rệt Chính phủ đã khéo léo trao trách nhiệm và uy tín trong công việc cho nhân dân và các doanh nghiệp tư nhân Điều này đã góp một phần quan trọng vào tránh sự lãng phí, thất thoát vốn đầu tư của nhà nước

Ở Việt Nam, chính phủ cũng thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” khi xác định Nhà nước hỗ trợ đầu tư một phần, phần còn lại do nhân dân đóng góp Để xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, Thủ tướng yêu cầu “huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để

tổ chức triển khai Đồng thời, huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và huy động các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân”2 Đồng thời, Nhà nước cũng tăng cường nguồn vốn đầu tư cho chương trình Từ năm 2016-2020, dự kiến tổng mức vốn thực hiện từ ngân sách nhà nước tối thiểu là 193.155,6 tỷ đồng, trong

đó, ngân sách trung ương 63.155,6 tỷ đồng, ngân sách địa phương 130.000 tỷ đồng3 Có thể thấy, đây là động lực quan trọng để thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới sớm đạt được kết quả Tuy nhiên, vấn đề là hiệu quả việc sử dụng nguồn vốn của Việt Nam chưa cao Các công ty trúng thầu trong việc xây dựng các công trình nông thôn hầu hết là doanh nghiệp nhà nước Chất lượng các công trình nông thôn không đáp ứng được yêu của xã hội Các công trình

Trang 40

37

xây dựng ở Việt Nam thường không đạt chất lượng và xuống cấp rất nhanh

Thực trạng này gây ra lãng phí rất lớn ngân sách của nhà nước và tiền của nhân

dân Chưa có số liệu thống kê chính thức về sự thiếu trách nhiệm, kém chất

lượng trong các công trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam nhưng thực tế

thì ai cũng biết Nguyên nhân của tình trạng này thì chỉ có những người trong

cuộc mới biết

Thực trạng này gây ra hệ quả rất quan trọng là niềm tin của nhân dân,

của doanh nghiệp vào chủ trương của nhà nước bị giảm sút Nhà nước rất khó

huy động doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia vào quá trình xây dựng nông

thôn mới Chính phủ đã ban hành Nghị định 61/NĐ-CP về chính sách khuyến

khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Nhưng từ khi triển

khai thực hiện, sự biến chuyển không đáng kể Vì vậy, chúng ta cần công khai,

minh bạch trong đầu tư xây dựng phát triển nông thôn mới Quan trọng hơn,

Nhà nước cần ban hành cơ chế trách nhiệm đối với xã hội của các doanh nghiệp

tham gia xây dựng nông thôn mới Có như thế, hiệu quả việc sử dụng nguồn

vốn đầu tư mới được nâng cao và thu hút được nguồn vốn từ nhân dân, doanh

nghiệp vào xây dựng nông thôn mới

2.2 Nhà nước phải xây dựng ý thức trách nhiệm cộng đồng trong

nhân dân để thực hiện thành công chương trình nông thôn mới

Ý thức trách nhiệm cộng đồng là chúng tôi muốn đề cập đến ý thức của

nhân dân, doanh nghiệp và nhà nước trong thực hiện chương trình mục tiêu

quốc gia xây dựng nông thôn mới

Ở Hàn Quốc, công cuộc xây dựng “Làng mới” gắn liền với quá trình

“phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển

sản xuất để tăng thu nhập cho nông dân; đào tạo cán bộ phát triển nông thôn;

phát huy dân chủ để phát triển nông thôn; phát triển kinh tế hợp tác từ phát

triển cộng đồng; phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh

toàn dân”1 Cụ thể, để nâng cao chất lượng hoạt động, trình độ chuyên môn của

cán bộ phát triển nông thôn, năm 1972 Chính phủ đã thành lập “Viện đào tạo

lãnh đạo Saemaul”, sau này trở thành “Học viện trung ương bồi dưỡng cán bộ

lãnh đạo đổi mới nông thôn” Đây là cơ quan phụ trách việc đào tạo cán bộ lãnh

đạo phong trào xây dựng làng mới từ trung ương xuống địa phương Ở Việt

1 Phạm Xuân Liêm (2014), “Phong trào Saemaulundong và mô hình làng m ới ở Hàn Quốc”,

Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 5/2014

Ngày đăng: 09/01/2020, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương, 2016, Tài liệu nghiên cứu Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập (15 tập) xuất bản lần thứ 3, 2011, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập (15 tập) xuất bản lần thứ 3
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
5. Số 04-CTr/TU, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh An Giang thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2016 – 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w