TÓM TẮT Chính sách tiền lương là một chính sách quan trọng đối với nhân sự công Vụ nói rrieeng và người lao động nói chung. Tiền lương phải được trả đúng người đúng việc để tình trạng “chiều cắp ô đi,Tối cắp ô về”. Để hệ thống chính sách tiền lương được tốt hơn thì những cải cách sách tiền lương đang được đưa ra và nghiên cứu thảo luận để có thể hoàn thiện hơn chính sách tiền lương giúp cuộc sống của người Lao động nói chung cũng như nhân sự công vụ nói riêng được tốt hơn. Tạo động lực cho họ. giyos nền kinh tế xã hội phát triển . 1. Đặt vấn đề Chính sách tiền lương là một chính sách đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế xã hội. Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và gia đình người hưởng lương; trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lương. Trong khu vực công, Nhà nước trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, phù hợp với nguồn lực của Nhà nước và nguồn thu sự nghiệp dịch vụ công, bảo đảm tương quan hợp lý với tiền lương trên thị trường lao động; thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng theo năng suất lao động, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Cải cách chính sách tiền lương có ý nghĩa quan trong đối với nền công vụ nói riêng và sự ổn định phát triển kinh tế xã hội nói chung. Cải cách chính sách tiền lương là một vấn đề không hề đễ dàng, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu và đưa ra một số chính sách cải cách tiền lương nhưng vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được những yêu cầu của thực thực tiễn , cuộc sống của nhân sự công vụ. Vì vậy các biện pháp cải cách khác lại được đề ra và mỗi nội dung cải cách lại có nhiều giải pháp khác nhau vì thế chúng ta cần làm gì để chọn ra những giải pháp phù hợp với những nội dung chính sách tiền lương cần cải cách nhất. Sau đây bài viết này sẽ phân tích làm rõ tính khả thi của từng cải cách và hệ thống lại những giải pháp chính để cải cách chính sách tiền lương cơ bản của nhân sự công vụ. 2. Cơ sở lý thuyết Khu vực công là gì? Khu vực công được định nghĩa bao gồm khu vực chính phủ và khu vực doanh nghiệp nhà nước. • Khu vực chính phủ bao gồm các đơn vị chính phủ hoặc đơn vị “vô vị lợi” do chính phủ kiểm soát với nhiệm vụ cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công phi thị trường. Khu vực này gồm: chính phủ trung ương, chính quyền địa phương và các quỹ bảo hiểm xã hội (gồm quỹ hưu trí cho công nhân viên nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội nói chung cho xã hội kể cả khu vực tư nhân như hưu trí, tuổi già, thất nghiệp, y tế). Cách phân tổ có thể mềm dẻo cho phép xếp các quỹ bảo hiểm vào thẳng chính phủ trung ương và địa phương thay vì xếp riêng rẽ, tùy thuộc vào khu vực chính phủ có trách nhiệm. Các quỹ hưu trí có thể xếp vào từng tiểu khu chính phủ, nhưng quỹ bảo hiểm xã hội (cho thất nghiệp và hưu trí hay người già) chung cho cả nền kinh tế, có đóng góp của cả khu vực tư nhân là trách nhiệm của chính phủ trung ương. • Khu vực doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực tài chính và phi tài chính là doanh nghiệp do nhà nước nắm trên một nửa cổ phần hoặc theo quy định của pháp luật có quyền quyết định chính sách và quyền bổ nhiệm hội đồng quản trị hoặc giám đốc. Chính sách tiền lương khu vực công là gì? • Khái niệm tiền lương: tiền lương là gía cả của sức lao động, được hình thành trên cơ sở thoã thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định tiền lương của pháp luật lao động. Tiền lương được người sự dụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định trong thời gian hợp đồng lao động (tháng, năm, tuần..) • Khái niệm tiền lương khu vực công: Tiền lương khu vực công là số tiền mà các cơ quan , tổ chức Nhà nước trả cho nhân sự công vụ theo cơ chế, chính sách của Nhà nước và được thể hiện trong hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định. Trong hoạt động công vụ, tiền lương đóng giữ vai trò đặc biệt quan trọng là trong những yếu tố tiên quyết thu hút và giữ được người tài tham gia thoạt động trong khu vực công, tránh hiện tượng chảy máu chất xám từ khu vực công ra khu vực tư. • Chính sách tiền lương : • Chính sách tiền lương là một hệ thống các nguyên tắc các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực tiền lương nhằm phát triển chính sách do nhà nước ban hành giải quyết các vấn đề tiền lương nhằm điều tiết quan hệ tiền lương, tiền thưởng và thu nhập đảm bảo lợi ích của người lao động thường xuyên cải thiện mức sống cho người lao động và phát huy vai trò kích thích của tiên lương đối với việc thúc đẩy các động lự phát triển Vai trò của chính sách tiền lương khu vực công đối với nhân sự công vụ Một nền công vụ trong quyết định trong lĩnh vực qunr lý hành chính khu vực công, chính sách tiền lương góp phần quan trọng trong việc hình thành một nền công vụ tốt.Tiền lương của nhân sự công vụ phải đặt trong mối quan hệ hàng đầu vì nó tác động trực tiếp đến đời sống đến mục tiêu hoàn thành công việc của công chức nên công vụ tốt tạo điều kiện phát triển nền kinh tế , xã hội ,phát triển nhà nước. Một chính sách tiền lương tốt và hợp lý sẽ làm kích thích, tạo động lực trong sản xuất kinh doanh. Khuyến khích nhân sự công vụ nhiệt tình và gắn bó hơn trong công việc. tạo động lực để họ làm việc và phấn đấu vì sự nghiệp đất nước. Chính sách tiền lương sẽ tác động đến việc cải thiện đời sống, từ đó kích thích sản xuất, dịch vụ toàn xã hội phát triển, tăng ngân sách nhà nước. Chính sách tiền lương cùng với tiền lương cơ sở kết hợp với tiền thưởng, phụ cấp hợp lý thì tạo nên một khu vực công được động viên và khuyến khích thõa đáng. Nhà nước ta sẽ bị hạn chế bay màu chất xám và thu hút chất xám.
Trang 1Tiền lương trong khu vực công Nguyễn Quốc Thắng
BÀN VỀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG
TRONG KHU VỰC CÔNG
Tiểu luận (hoặc tham luận): Cuối kì Giữa kì
Tiểu luận (hoặc tham luận) này được hoàn thành vào ngày 30/06/2019
Giám khảo 1 (Ký và ghi rõ họ tên)
Giám khảo 2 (Ký và ghi rõ họ tên)
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 06 NĂM 2019
Trang 3BÀN VỀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH
TIỀN LƯƠNG TRONG KHU VỰC CÔNG
Nguyễn Thị Hải Yến TÓM TẮT
Chính sách tiền lương là một chính sách quan trọng đối với nhân sự công Vụ nói rrieeng và người lao động nói chung Tiền lương phải được trả đúng người đúng việc
để tình trạng “chiều cắp ô đi,Tối cắp ô về” Để hệ thống chính sách tiền lương được tốt hơn thì những cải cách sách tiền lương đang được đưa ra và nghiên cứu thảo luận để
có thể hoàn thiện hơn chính sách tiền lương giúp cuộc sống của người Lao động nói chung cũng như nhân sự công vụ nói riêng được tốt hơn Tạo động lực cho họ giyos nền kinh tế xã hội phát triển
1 Đặt vấn đề
Chính sách tiền lương là một chính sách đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và gia đình người hưởng lương; trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lương Trong khu vực công, Nhà nước trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, phù hợp với nguồn lực của Nhà nước và nguồn thu sự nghiệp dịch vụ công, bảo đảm tương quan hợp lý với tiền lương trên thị trường lao động; thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng theo năng suất lao động, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động Cải cách chính sách tiền lương có ý nghĩa quan trong đối với nền công vụ nói riêng
và sự ổn định phát triển kinh tế - xã hội nói chung Cải cách chính sách tiền lương là một vấn đề không hề đễ dàng, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu và đưa ra một số chính sách cải cách tiền lương nhưng vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được những yêu cầu của thực thực tiễn , cuộc sống của nhân sự công vụ Vì vậy các biện pháp cải cách khác lại được đề ra và mỗi nội dung cải cách lại có nhiều giải pháp khác nhau vì thế chúng ta cần làm gì để chọn ra những giải pháp phù hợp với những nội dung chính sách tiền lương cần cải cách nhất Sau đây bài viết này sẽ phân tích làm rõ tính khả thi của từng cải cách và hệ thống lại những giải pháp chính để cải cách chính sách tiền lương cơ bản của nhân sự công vụ
Trang 42 Cơ sở lý thuyết
Khu vực công là gì?
Khu vực công được định nghĩa bao gồm khu vực chính phủ và khu vực doanh nghiệp nhà nước
• Khu vực chính phủ bao gồm các đơn vị chính phủ hoặc đơn vị “vô vị lợi” do chính phủ kiểm soát với nhiệm vụ cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công phi thị trường Khu vực này gồm: chính phủ trung ương, chính quyền địa phương và các quỹ bảo hiểm xã hội (gồm quỹ hưu trí cho công nhân viên nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội nói chung cho xã hội kể cả khu vực tư nhân như hưu trí, tuổi già, thất nghiệp, y tế) Cách phân tổ có thể mềm dẻo cho phép xếp các quỹ bảo hiểm vào thẳng chính phủ trung ương và địa phương thay vì xếp riêng rẽ, tùy thuộc vào khu vực chính phủ có trách nhiệm Các quỹ hưu trí có thể xếp vào từng tiểu khu chính phủ, nhưng quỹ bảo hiểm xã hội (cho thất nghiệp và hưu trí hay người già) chung cho cả nền kinh tế, có đóng góp của cả khu vực tư nhân là trách nhiệm của chính phủ trung ương
• Khu vực doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực tài chính và phi tài chính là doanh nghiệp do nhà nước nắm trên một nửa cổ phần hoặc theo quy định của pháp luật có quyền quyết định chính sách và quyền bổ nhiệm hội đồng quản trị hoặc giám đốc
Chính sách tiền lương khu vực công là gì?
• Khái niệm tiền lương:
tiền lương là gía cả của sức lao động, được hình thành trên cơ sở thoã thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định tiền lương của pháp luật lao động Tiền lương được người sự dụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định trong thời gian hợp đồng lao động (tháng, năm, tuần )
• Khái niệm tiền lương khu vực công:
Tiền lương khu vực công là số tiền mà các cơ quan , tổ chức Nhà nước trả cho nhân sự công vụ theo cơ chế, chính sách của Nhà nước và được thể hiện trong hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định
Trong hoạt động công vụ, tiền lương đóng giữ vai trò đặc biệt quan trọng là trong những yếu tố tiên quyết thu hút và giữ được người tài tham gia thoạt động trong khu vực công, tránh hiện tượng chảy máu chất xám từ khu vực công ra khu vực tư
• Chính sách tiền lương :
Trang 5• Chính sách tiền lương là một hệ thống các nguyên tắc các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực tiền lương nhằm phát triển chính sách do nhà nước ban hành giải quyết các vấn đề tiền lương nhằm điều tiết quan hệ tiền lương, tiền thưởng và thu nhập đảm bảo lợi ích của người lao động thường xuyên cải thiện mức sống cho người lao động và phát huy vai trò kích thích của tiên lương đối với việc thúc đẩy các động lự phát triển
Vai trò của chính sách tiền lương khu vực công đối với nhân sự công vụ
Một nền công vụ trong quyết định trong lĩnh vực qunr lý hành chính khu vực công, chính sách tiền lương góp phần quan trọng trong việc hình thành một nền công vụ tốt.Tiền lương của nhân sự công vụ phải đặt trong mối quan hệ hàng đầu vì nó tác động trực tiếp đến đời sống đến mục tiêu hoàn thành công việc của công chức nên công vụ tốt tạo điều kiện phát triển nền kinh tế , xã hội ,phát triển nhà nước
Một chính sách tiền lương tốt và hợp lý sẽ làm kích thích, tạo động lực trong sản xuất kinh doanh Khuyến khích nhân sự công vụ nhiệt tình và gắn bó hơn trong công việc tạo động lực để họ làm việc và phấn đấu vì sự nghiệp đất nước
Chính sách tiền lương sẽ tác động đến việc cải thiện đời sống, từ đó kích thích sản xuất, dịch vụ toàn xã hội phát triển, tăng ngân sách nhà nước Chính sách tiền lương cùng với tiền lương cơ sở kết hợp với tiền thưởng, phụ cấp hợp lý thì tạo nên một khu vực công được động viên và khuyến khích thõa đáng Nhà nước ta sẽ bị hạn chế bay màu chất xám và thu hút chất xám
Những nội dung chính trong chính sách tiền lương khu vực công gồm:
• Tiền lương tối thiểu (cơ sở):
Tiền lương cơ sở là một mức lương thấp nhất theo quy định của Luật lao động do Quốc hội Việt Nam ban hành Đó là số tiền trả cho người lao động làm công việcgiản đơn nhất trong xã hội với điều kiện làm việc và cường độ lao động bình thường,lao động chưa qua đào tạo nghề Số tiền đó đủ để người lao động tái sản xuất giản đơnsức lao động, đóng bảo hiểm tuổi già và nuôi con Mức lương tối thiểu này được dùnglàm
cơ sở để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụcấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật
• Hệ thống thang bảng lương:
Hệ thống thang, bảng lương năm 2004 áp dụng trong khu vực công vẫn dựa theo thâm niên là chủ yếu, người nhiều tuổi làm việc nhiều năm nhận lương cao hơnngười ít tuổi
Hệ thống thang, bảng lương hiện hành chưa được xây dựng dựa trên giátrị công việc thực tế của từng cơ quan, đơn vị mà chỉ có thang, bảng lương áp dụng cho toàn bộ hệ thống
Trang 6• Thang lương: dùng để xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa những công nhân cùng nghề khi họ đảm nhiệm những công việc có mức độ phức tạp khác nhau Mỗi thang lương gồm các bậc lương nhất định và các hệ số lương phù hợp với các bậc lương ấy Thông thường, số bậc của thang lương và hệ số lương giữa các bậc phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất (mức độ phức tạp công việc, trình độ lành nghề công nhân, yếu tố trách nhiệm, điều kiện lao động) Hệ số mức lương: chỉ rõ rằng lao động của công nhân bậc nào đó phải được trả cao hơn mức lương tối thiểu bao nhiêu lần ( Bảng lương: theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang)
• Cách trả lương:
Cơ chế trả lương hiện hành là trả lương theo hệ thống tháng bảng lương của Nhà nước quy định Vì thế đã không tạo ra sự khác biệt trong cơ chế trả lương cho các loại công nhân việc chức khác nhau Hiện nay, cứ có bằng đại học là hưởng lương chuyên viên và tương đương và định kỳ là 3 năm được tăng lương một lần Trong quá trình cải cách hệ thống chính sách tiền lương khu vực hành chính, sự nghiệp trong thời gian qua, việc trả lương theo kết quả công việc đã được đặt ra, song thực tế thực hiện vẫn theo cách thức cũ, người làm ít vẫn nhận lương cơ bản như người làm nhiều Cơ chế trả lương và tăng lương dựa chủ yếu theo “thâm niên” Những vấn đề này đang được xem là điểm yếu căn bản nhất và là rào cản lớn nhất trong chế độ tiền lương hiện hành Phương thức này không còn phù hợp với xu hướng trả lương được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng là trả lương theo vị trí công việc và kết quả hoàn thành nhiệm
vụ của cán bộ, công chức, viên chức
• Phụ cấp lương:
Phụ cấp lương là khoản tiền bổ sung cho lương cấp bậc, lương cấp hàm khi điều kiện lao động , mức độ phức tạp của công việc và điều kiện sinh hoạt có các yếu
tố không ổn định
Trang 7Bao gồm các loại phụ cấp sau:
• Phụ cấp chức vụ lãnh đạo đối với cán bộ, công chức, viên chức;
• Phụ cấp thâm niên vượt khung;
• Phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo;
• Phụ cấp khu vực;
• Phụ cấp đặc biệt;
• Phụ cấp thu hút;
• Phụ cấp lưu động;
• Phụ cấp độc hại, nguy hiểm;
• Các chế độ phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc công việc: thâm niên nghề, ưu đãi nghề, trách nhiệm theo nghề; trách nhiệm theo công việc
• Quản lý nhà nước về tiền lương
Thời điểm áp dụng Mức lương cơ sở
(đồng/tháng)
Căn cứ pháp lý
Từ 01/10/2004 đến hết tháng
Từ 01/10/2005 đến hết tháng
Từ 01/10/2006 đến hết tháng 12/2007
450.000 Nghị định 94/2006/NĐ-CP
Từ 01/01/2008 đến hết tháng
Từ 01/05/2009 đến hết tháng 4/2009
650.000 Nghị định 33/2009/NĐ-CP
Từ 01/05/2010 đến hết tháng
Từ 01/05/2011 đến hết tháng
Từ 01/05/2012 đến hết tháng 6/2013
1.050.000 Nghị định 31/2012/NĐ-CP
Từ 01/07/2013 đến hết tháng
Từ 01/05/2016 đến hết tháng 6/2017
1.210.000 Nghị định 47/2016/NĐ-CP
Từ 01/07/2017 đến hết tháng
Từ 01/07/2018 đến hết tháng
Nghị quyết 70/2018/QH14
Bộ máy quản lý tiền lương khu vực công ở Việt Nam gồm : khu vực hành
Trang 8chính, khu vực sự nghiệp có thu, khu vực lực lượng vũ trang Mỗi khu vực phân ra 3 cấp để quản lý:
• Bộ máy quản lý tiền lương khu vực công hành chính: Bộ Nội Vụ, Sở Nội Vụ, Phòng Nội Vụ
• Bộ máy quản lý tiền lương khu vực công sự nghiệp có thu: Bộ Lao động thương binh xã hội, Sở Lao động thương binh xã hội, Phòng Lao động thương binh xã hội
• Bộ máy quản lý tiền lương khu vực công lực lượng vũ trang: Bộ Quốc Phòng – Bộ Công An, Ban chỉ huy quân khu – Sở Công An, Ban chỉ huy quân sự cấp huyện, xã
3 Thực trạng về các cải cách của chính sách tiền lương khu vực công hiện nay tại Việt Nam
Tình hình thực hiện chính sách tiền lương tại khu vực công hiện nay tại Việt Nam
Việc chính phụ ban hành các Nghị định, quy định về hệ thống thang bảng lương, mức lương cơ sở, mức phụ cấp, quy định xếp lương và phụ cấp, quy định về nâng bậc lương, nguyên tắc trả lương, chế độ trả lương, nguồn trả, có sự quản lý cuả nhà nước thông qua các quy định, nghị định của chính sách tiền lương được thể hiện như sau:
• Tiền lương cơ sở hiện nay Tiền lương cơ sở qua các năm nay luôn có sự thay đổi theo nền kinh tế phát triển thig tiền lương cơ sở cũng thay đổi và tăng theo Có thể thấy Nhà nước ta đang dần chú trọng hơn đến đời sống của người lao động nói chung và nhân sự công vụ nói riêng Theo Nghị định 72/2018/NĐ-CP, từ ngày 01/07/2018, mức lương cơ sở là 1,39 triệu đồng/tháng, thay cho mức 1,3 triệu đồng/tháng hiện nay Và bắt đầu từ 1/07/2019 tiền lương cơ sở sẽ tăng thêm 100.000đ thành 1,49 triệu theo Nghị định 70/2018/QH14 Dưới đây là tổng hợp mức lương cơ sở qua các năm:
Bảng 1: Mức lương cơ sở từ năm 2004 – 2019
Nguồn: LuatVietNam tổng hợp.
Tiền lương cơ sở có vai trò rất quan trong đối với chính sách tiền lương khu vực công
nó là căn cứ để tính tiền lương cho nhân sự công vụ Khi tiền lương cơ sở cao thì đồng thời tiền lương trả cho nhân sự công vụ cũng sẽ nhiều hơn
Thực trạng các cải cách chính sách tiền lương khu vực công:
Trang 9Nước ta đã trải qua 4 lần cải cách chính sách tiền lương vào các năm 1960, năm 1985, năm 1993 và năm 2003 Kết luận Hội nghị Trung ương 8 khoá IX về Đề án cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2003
- 2007 đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện theo chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng các khoá X, XI, XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá X, đặc biệt là các Kết luận số 23-KL/TW, ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 và Kết luận số 63-KL/TW, ngày 27/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 khoá XI Nhờ đó, tiền lương trong khu vực công của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã từng bước được cải thiện, nhất là ở những vùng, lĩnh vực đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao đời sống người lao động Mới đây tại Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp Hành Trung Ương khóa XII “VỀ CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP” đã đưa ra các nội dung cải cách tiền lương đối với nhân sự thuộc khu vực công như sau:
- Thiết kế cơ cấu tiền lương mới gồm: Lương cơ bản (chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương) và các khoản phụ cấp (chiếm khoảng 30% tổng quỹ lương) Bổ sung tiền thưởng (quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương của năm, không bao gồm phụ cấp)
- Nội dung 1: Xây dựng, ban hành hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế hệ thống bảng lương hiện hành; chuyển xếp lương
cũ sang lương mới, bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng, gồm:
• Xây dựng 1 bảng lương chức vụ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo (bầu cử và bổ nhiệm) trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp xã theo nguyên tắc: (1) Mức lương chức vụ phải thể hiện thứ bậc trong hệ thống chính trị; giữ chức vụ lãnh đạo nào thì hưởng lương theo chức
vụ đó, nếu một người giữ nhiều chức vụ thì hưởng một mức lương chức vụ cao nhất; giữ chức vụ lãnh đạo tương đương nhau thì hưởng mức lương chức vụ như nhau; mức lương chức vụ của người lãnh đạo cấp trên phải cao hơn mức lương chức vụ của người lãnh đạo cấp dưới; (2) Quy định một mức lương chức
vụ cho mỗi loại chức vụ tương đương; không phân loại bộ, ngành, ban, uỷ ban
và tương đương ở Trung ương khi xây dựng bảng lương chức vụ ở Trung ương; không phân biệt mức lương chức vụ khác nhau đối với cùng chức danh lãnh đạo theo phân loại đơn vị hành chính ở địa phương mà thực hiện bằng chế độ phụ cấp Việc phân loại chức vụ lãnh đạo tương đương trong hệ thống chính trị
để thiết kế bảng lương chức vụ do Bộ Chính trị quyết định sau khi đã báo cáo Ban Chấp hành Trung ương
Trang 10• Xây dựng 1 bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ theo ngạch công chức và chức danh nghề nghiệp viên chức áp dụng chung đối với công chức, viên chức không giữ chức danh lãnh đạo; mỗi ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức có nhiều bậc lương theo nguyên tắc: Cùng mức độ phức tạp công việc thì mức lương như nhau; điều kiện lao động cao hơn bình thường và ưu đãi nghề thì thực hiện bằng chế độ phụ cấp theo nghề; sắp xếp lại nhóm ngạch
và số bậc trong các ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức, khuyến khích công chức, viên chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Việc bổ nhiệm vào ngạch công chức hoặc chức danh nghề nghiệp viên chức phải gắn với vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức do cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức, viên chức thực hiện
• Xây dựng 3 bảng lương đối với lực lượng vũ trang, gồm: 1 bảng lương sĩ quan quân đội, sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ công an (theo chức vụ, chức danh và cấp bậc quân hàm hoặc cấp hàm); 1 bảng lương quân nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật công an và 1 bảng lương công nhân quốc phòng, công nhân công an (trong đó giữ tương quan tiền lương của lực lượng vũ trang so với công chức hành chính như hiện nay)
• Nội dung 2: Xác định các yếu tố cụ thể để thiết kế bảng lương mới:
• Bãi bỏ mức lương cơ sở và hệ số lương hiện nay, xây dựng mức lương cơ bản bằng số tiền cụ thể trong bảng lương mới
• Thực hiện thống nhất chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động (hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ) đối với những người làm công việc thừa hành, phục vụ (yêu cầu trình độ đào tạo dưới trung cấp), không áp dụng bảng lương công chức, viên chức đối với các đối tượng này
• Xác định mức tiền lương thấp nhất của công chức, viên chức trong khu vực công là mức tiền lương của người làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp (bậc 1) không thấp hơn mức tiền lương thấp nhất của lao động qua đào tạo trong khu vực doanh nghiệp
• Mở rộng quan hệ tiền lương làm căn cứ để xác định mức tiền lương cụ thể trong
hệ thống bảng lương, từng bước tiệm cận với quan hệ tiền lương của khu vực doanh nghiệp phù hợp với nguồn lực của Nhà nước
• Hoàn thiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang phù hợp với quy định của bảng lương mới
• Nội dung 3: Sắp xếp lại các chế độ phụ cấp hiện hành, bảo đảm tổng quỹ phụ cấp chiếm tối đa 30% tổng quỹ lương:
• Tiếp tục áp dụng phụ cấp kiêm nhiệm; phụ cấp thâm niên vượt khung; phụ cấp khu vực; phụ cấp trách nhiệm công việc; phụ cấp lưu động; phụ cấp phục vụ an