1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Vấn đề sở hữu ruộng đất ở huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên nửa đầu thế kỷ XIX qua nghiên cứu tư liệu địa bạ năm Minh Mạng thứ 17 (1836)

14 40 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 674,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua khai thác và nghiên cứu nguồn tư liệu địa bạ huyện Hà Châu, tác giả đã phân tích và làm nổi bật một số vấn đề cơ bản về sở hữu ruộng đất nơi đây. Ngoài ra, bài viết còn có ý nghĩa trong việc gợi mở nghiên cứu mới về xác lập chủ quyền lãnh thổ ở vùng biên giới Tây Nam trong mối quan hệ giữa Đại Nam và Chân Lạp ở thế kỉ XIX.

Trang 1

VẤN ĐỀ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở HUYỆN HÀ CHÂU, TỈNH HÀ TIÊN

NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX QUA NGHIÊN CỨU TƯ LIỆU ĐỊA BẠ

NĂM MINH MẠNG THỨ 17 (1836)

Bùi Hoàng Tân1

1 Trường Đại học Cần Thơ

Thông tin chung:

Ngày nhận bài: 06/02/2018

Ngày nhận kết quả bình duyệt:

08/05/2018

Ngày chấp nhận đăng:

06/2018

Title:

Towards the land ownership in

Ha Chau district, Ha Tien

province in the first half of the

nineteenth century through

cadastral registers of Minh

Mang dynasty 17 (1836)

Keywords:

Ha Chau district, Ha Tien

province, the land ownership,

cadastral register, Minh Mang

dynasty

Từ khóa:

Huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên,

sở hữu ruộng đất, địa bạ,

Minh Mạng

ABSTRACT

Ha Chau district, Ha Tien province in the first half of the 19 th century was one of the new lands to be explored Although the land area is quite large, but not much for the cultivation Basically, the ownership of land in Ha Chau district is small and fragmented, not similar to other areas in the South of Vietnam Basing on the data shown in the cadastral register of Ha Chau district, the author has analyzed and highlighted some basic issues of land ownership in Ha Chau In addition, this paper would give a recommendation for further studying on the national sovereignty in the Southwest frontier in the relationship between Dai Nam and Chan Lap in the nineteenth century

TÓM TẮT

Huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên ở nửa đầu thế kỉ XIX là một trong những vùng đất mới được khai phá, tuy có diện tích lãnh thổ tương đối lớn nhưng diện tích canh tác thực sự chưa nhiều Về cơ bản, sở hữu ruộng đất ở huyện Hà Châu với quy mô nhỏ lẻ và manh mún, chưa đạt mức độ cực đại về tập trung ruộng đất như các khu vực khác ở Nam bộ Thông qua khai thác và nghiên cứu nguồn tư liệu địa bạ huyện Hà Châu, tác giả đã phân tích và làm nổi bật một số vấn đề cơ bản về sở hữu ruộng đất nơi đây Ngoài ra, bài viết còn có

ý nghĩa trong việc gợi mở nghiên cứu mới về xác lập chủ quyền lãnh thổ ở vùng biên giới Tây Nam trong mối quan hệ giữa Đại Nam và Chân Lạp ở thế

kỉ XIX

1 GIỚI THIỆU

Sở hữu ruộng đất là một trong những nội dung

quan trọng của nghiên cứu lịch sử Việt Nam, bởi

nó chứa đựng những biến động to lớn và sâu sắc

về sự phát triển lãnh thổ và văn hóa dân tộc Đối

với huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên ở nửa đầu thế

kỷ XIX có nhiều điểm khác biệt trong sở hữu

ruộng đất do những đặc trưng về điều kiện tự

nhiên và tình hình chính trị - xã hội Do vậy, nghiên cứu về vấn đề sở hữu ruộng đất ở huyện

Hà Châu nửa đầu thế kỷ XIX không chỉ nhằm làm

rõ những đặc điểm trong sở hữu ruộng đất ở một địa phương Nam bộ mà còn góp phần làm sáng tỏ những điểm nổi bật của quá trình quản lý và thực thi chủ quyền lãnh thổ của triều Nguyễn ở vùng đất biên giới trọng yếu này

Trang 2

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp

phương pháp logic, tác giả đã tiếp cận, đối chiếu

và phân tích nguồn sử liệu triều Nguyễn và tư liệu

địa bạ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I – Hà Nội,

đặc biệt là 44 đơn vị địa bạ huyện Hà Châu[1]

được lập vào năm Minh Mạng thứ 17 Thông qua

đó, từng bước cung cấp các luận cứ khoa học để

đem lại kết quả nghiên cứu học thuật mang tính

khách quan nhất

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Khái quát về huyện Hà Châu nửa đầu thế

kỷ XIX

Trước thế kỷ XIX, vùng đất Hà Châu thuộc địa

phận của vương quốc Phù Nam, sau khi vương

quốc Phù Nam sụp đổ đã bị người Chân Lạp tiếp

quản Song, họ chưa thực sự làm chủ và tổ chức

hoạt động canh tác ở nơi này và cơ bản đây vẫn là

vùng đất hoang Đến khoảng đầu thế kỷ XVIII,

Mạc Cửu và dòng họ Mạc đến định cư và mở

mang đất Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau và Phú

Quốc, bao gồm cả phần đất đai thuộc Hà Châu sau

này Năm 1708, Mạc Cửu đã quy phục chính

quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong Từ đây toàn

bộ đất đai ở trấn Hà Tiên, bao gồm cả phần đất Hà

Châu chính thức thuộc chủ quyền của Việt Nam

dưới thời chúa Nguyễn Cuối thế kỷ XVIII, dưới

sự tác động từ tình hình bất ổn về chính trị trong

nước, đặc biệt là cuộc nội chiến Tây Sơn với

chính quyền chúa Nguyễn thì Hà Châu thuộc

quyền kiểm soát của chính quyền Tây Sơn

Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Ánh đã khôi phục lại

triều Nguyễn, khi đó đã “lấy Mạc Tử Thiêm làm

cai Cai cơ trấn thủ trấn Hà Tiên, lại ở trấn ấy Sai

gọi nhân dân về ở, tha bớt cho thuế đinh điền”

(Trịnh Hoài Đức, 1998, tr 135) Như vậy, dưới

thời vua Gia Long, đất Hà Châu vẫn thuộc quyền

quản lý của trấn Hà Tiên Năm 1825, vua Minh

Mạng cho bỏ cấp đạo và đặt đơn vị hành chính

huyện Hà Tiên quản lý hai tổng Hà Thanh và tổng

Hà Nhuận “bắt đầu đặt huyện Hà Tiên, lĩnh 2 tổng

(Hà Thanh và Hà Nhuận)” (Quốc Sử quán triều

Nguyễn, 2006, Đại Nam thực lục [ĐNTL], t 2, tr 462) Năm 1826 cho sáp nhập huyện Hà Tiên vào

phủ An Biên Năm 1832, đổi tên phủ An Biên thành phủ Khai Biên đồng thời đổi tên huyện Hà Tiên thành huyện Hà Châu và giao cho phủ Khai Biên quản lý “tỉnh Hà Tiên: thống trị phủ Khai Biên

và 3 huyện Hà Châu, Long Xuyên, Kiên Giang Phủ Khai Biên nguyên là phủ An Biên đổi ra; huyện Hà Châu nguyên là huyện Hà Tiên đổi ra” (Quốc Sử

quán triều Nguyễn, 2006, ĐNTL, t 3, tr 394)

Địa danh Hà Châu được ghi nhận lầu đầu tiên trong

sử sách triều Nguyễn năm 1832 Căn cứ vào ghi

chép của Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC), địa

giới của huyện Hà Châu ở nửa đầu thế kỷ XIX

“huyện Hà Châu: đông tây cách nhau 27 dặm, nam bắc cách nhau 42 dặm, phía đông đến địa giới huyện

Hà Âm tỉnh An Giang 25 dặm, phía tây giáp biển 2 dặm, phía nam giáp địa giới huyện Kiên Giang 22

dặm, phía bắc đến địa giới Cao Miên 20 dặm” (Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2006, ĐNNTC, t 5,

tr 8) Kết hợp với ghi chép trong 44 tập địa bạ huyện Hà Châu, có thể xác định địa hạt quản lý của huyện Hà Châu gồm 5 tổng: Hà Nhuận, Hà Thanh, Nhuận Đức, Thanh Di và Phú Quốc, trong đó Phú Quốc là tổng hải đảo duy nhất Năm 1867, khi Pháp chiếm 3 tỉnh Nam Kỳ, đồng nghĩa đất đai ở

Hà Châu nằm trong tay thực dân Pháp

Căn cứ vào cách xác định “tứ cận giáp giới” kết hợp với bản đồ [2], địa phận huyện Hà Châu nửa đầu thế

kỷ XIX về cơ bản tương ứng với địa giới của thị

xã Hà Tiên, huyện Kiên Lương và huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang ngày nay; phần đất các tổng Hà Nhuận và Nhuận Đức tương ứng với địa giới các huyện Banteay Meas, Kampong Trach của tỉnh Kampot, huyện Kiri Vong của tỉnh Takéo

và thành phố Keb thuộc lãnh thổ Campuchia hiện nay

3.2 Sở hữu ruộng đất ở huyện Hà Châu, tỉnh

Hà Tiên nửa đầu thế kỷ XIX

3.2.1 Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước

* Về phân loại

Trang 3

Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước ở huyện Hà

Châu bao gồm quan điền, quan thổ và công điền,

công thổ Trong đó:

Quan điền, quan thổ là loại ruộng đất thuộc sở

hữu công do nhà nước trực tiếp quản lý Quan

điền do các cơ binh đồn trú khai khẩn, chủ yếu là

quan sơn điền Quan thổ chủ yếu là đất trồng tiêu

của tư nhân bị bỏ hoang

Công điền, công thổ là ruộng đất thuộc sở hữu

nhà nước được phân giao cho xã, thôn canh tác và

nộp thuế theo hạng ruộng đất công đã quy định

Công điền được ghi trong địa bạ là bản thôn đồng

canh, bản xã đồng canh Công thổ chủ yếu là đất dân cư “những dân cư, chỗ nào là đất hoang và gò đống, trong sổ không ghi người nào trước đã nộp thuế thì liệt làm hạng đất dân cư, miễn thuế; nếu

có chủ khai nhận, thì cho dân đánh giá, nộp thuế theo hạng đất công” (Quốc Sử quán triều Nguyễn,

2006, ĐNTL, t 4, tr 983)

* Về diện tích

Qua thống kê 44 địa bạ huyện Hà Châu cho thấy, diện tích ruộng đất công ở huyện Hà Châu là 158 mẫu chiếm 21,48% tổng diện tích ruộng đất của

huyện

Bảng 1 Thống kê diện tích ruộng đất công

Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc [3]

Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)

Theo đó, tổng Hà Thanh có diện tích ruộng đất

công nhiều nhất huyện với hơn 109 mẫu Tổng Hà

Thanh có vị trí tiếp giáp với sông Giang Thành

nối liền đầm Đông Hồ và nhiều kênh rạch thông

ra biển nên việc khai khẩn đất đai của quân đồn

trú dễ dàng hơn Mặt khác, đây còn nơi đặt lỵ sở

của tỉnh Hà Tiên “trước kia tỉnh lỵ Hà Tiên ở xã

Mỹ Đức huyện Hà Châu, năm Minh Mệnh thứ 9

dời đến thủ sở Giang Thành, năm thứ 14 lại dời về

chỗ cũ” (Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2006,

ĐNNTC, t 5, tr 12) Do vậy, dân cư tập trung

sinh sống đông đúc ở khu vực trung tâm, căn cứ

theo nguyên tắc lập công thổ thì đất dân cư ở

huyện Hà Châu được xác định là công thổ Vì thế,

tổng Hà Thanh có diện tích ruộng đất công lớn

hơn so với các tổng còn lại của huyện Hà Châu

Trong khi đó, tổng Hà Nhuận có diện tích ruộng

đất công nhỏ nhất huyện Hà Châu với khoảng 2

mẫu Địa phận của tổng Hà Nhuận ở nửa đầu thế

kỷ XIX tương ứng với các phần đất thuộc lãnh thổ Campuchia tiếp giáp với biên giới Việt Nam tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ngày nay, do điều kiện tự nhiên ở khu vực này còn nhiều khó khăn nên việc thực hiện chính sách khai hoang của nhà nước còn nhiều hạn chế Mặt khác, tình hình xã hội nơi đây luôn xáo trộn, mãi đến năm 1836 phần lớn các xã thôn mới được tái lập và đo đạc ruộng đất Vì thế, quá trình khai hoang cũng gần như phải thực hiện lại từ đầu

Riêng tổng Phú Quốc, diện tích ruộng đất công, chủ yếu là công thổ chiếm tỉ lệ lớn so với tổng diện tích ruộng đất của tổng Phú Quốc là hải đảo nên thuận lợi cho đánh bắt thủy hải sản và là nơi diễn ra các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa Chính vì thế, phần lớn đất đai của tổng Phú Quốc

là đất dân cư được xếp vào hạng công thổ

Cơ cấu diện tích giữa quan điền, quan thổ và công điền, công thổ, như sau:

Trang 4

Bảng 2 So sánh diện tích quan điền, quan thổ và công điền, công thổ ở huyện Hà Châu

Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc

TT Tổng Quan điền, quan thổ Tỉ lệ % Công điền, công thổ Tỉ lệ %

Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)

Theo đó, huyện Hà Châu chỉ có 3 tổng Hà Thanh,

Nhuận Đức và Thanh Di có diện tích quan điền,

quan thổ nhưng chiếm tỉ lệ nhỏ so với tổng diện

tích các loại ruộng đất của huyện Trong đó, tổng

Hà Thanh có diện tích quan điền, quan thổ khá

lớn và chiếm tỉ lệ cao (69,28%) so với tổng diện

tích quan điền, quan thổ ở huyện Hà Châu Mặc

dù tổng Thanh Di có diện tích quan điền, quan thổ

rất nhỏ và chỉ chiếm tỉ lệ 5,48% so với tổng diện

tích ruộng đất của tổng (329.0.1.4/18.0.1.9) nhưng

nhìn tổng thể thì tổng Nhuận Đức mới thực sự có

diện tích quan điền, quan thổ nhỏ nhất và chỉ

chiếm tỉ lệ 14,07% trong tổng diện tích quan điền,

quan thổ ở huyện Hà Châu So sánh với các loại

ruộng đất khác ở huyện Hà Châu thì quan điền,

quan thổ có diện tích là 108.1.11.5, chỉ hơn 1/10

tổng diện tích ruộng đất ở huyện

Qua đó phản ánh tình hình khai khẩn ruộng đất ở

huyện Hà Châu do các cơ binh thực hiện chưa đạt

tỉ lệ cao do điều kiện tự nhiên nơi đây còn nhiều

khó khăn và hạn chế về nguồn nhân lực Chủ yếu

là khai phá đất đai xung quanh lỵ sở Hà Tiên và

khu vực đóng quân “Trần Trấn chọn được vùng

thôn Bình An, xã Mỹ Đức (thuộc huyện Hà Châu,

gần đồn Chu Nham), đều có đất bỏ không, có thể

xây cất được, bèn liệu địa thế rộng, hẹp, xin vát

lính cơ Hà Tiên (nguyên là dân Phiên vốn quen

thủy thổ) 50 người giữ đồn Chu Nham, 100 người

đến chỗ gần đó cày cấy ở đồn điền Bình An: hễ

khi việc làm ruộng đã rồi, thì lại luyện tập thao

diễn Lại chiêu mộ dân nghèo ở hai huyện Kiên

Giang, Hà Châu, cấp cho trâu cày, đồ làm ruộng

và thóc giống để khai khẩn Vua y cho” (Quốc Sử

quán triều Nguyễn, 2006, ĐNTL, t 4, tr 562) Do

vậy, diện tích ruộng đất thuộc loại quan điền, quan thổ ghi nhận trong địa bạ huyện Hà Châu là khá ít so với các loại ruộng đất khác

Về cơ bản, quan điền có diện tích và tỉ lệ lớn hơn

so với quan thổ, tỉ lệ phân phối giữa quan điền và quan thổ không đều ở các tổng và các xã, thôn Trong đó, diện tích quan điền chỉ có ở 2 tổng Hà Thanh và Thanh Di, diện tích quan thổ tuy nhỏ hơn nhưng được phân phối ở 3 tổng Hà Thanh, Nhuận Đức và Thanh Di Diện tích quan điền giữa

2 tổng Hà Thanh và Thanh Di chênh lệch hơn 51 mẫu, trong khi đó diện tích quan thổ ở các tổng không vượt quá 10 mẫu Tuy nhiên trong phân phối diện tích quan thổ ở các xã, thôn có sự chênh lệch khá lớn Ví dụ, quan thổ ở thôn Tư Nghĩa thuộc tổng Thanh Di chỉ có 2 sào, trong khi đó thôn Hòa Luật thuộc tổng Nhuận Đức có đến 15 mẫu quan thổ Sự chênh lệch về diện tích phụ thuộc vào vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở các khu vực đất đai và sự tác động bởi các điều kiện

xã hội ở huyện Hà Châu nửa đầu thế kỷ XIX Xét về diện tích công điền và công thổ thì diện tích công thổ tuy có lớn hơn so với công điền nhưng vẫn chiếm tỉ lệ rất nhỏ (6,84%) so với tổng diện tích ruộng đất huyện Hà Châu Trong đó, tổng Hà Thanh là nơi có diện tích công thổ nhiều nhất huyện, do tổng này có vị trí tiếp giáp với sông Giang Thành nối liền đầm Đông Hồ và nhiều kênh rạch thông ra biển nên việc khai khẩn đất đai

dễ dàng hơn Và đây còn là nơi đặt lỵ sở của tỉnh

Trang 5

Hà Tiên “trước kia tỉnh lỵ Hà Tiên ở xã Mỹ Đức

huyện Hà Châu, năm Minh Mệnh thứ 9 dời đến

thủ sở Giang Thành, năm thứ 14 lại dời về chỗ cũ,

năm thứ 15 xây bảo Trấn Biên, nhân lấy làm tỉnh

lỵ Lỵ sở phủ An Biên ở địa phận thôn Mỹ Đức

huyện Hà Châu, là huyện kiêm lý của phủ, dựng

từ năm Minh Mệnh thứ 15” (Quốc Sử quán triều

Nguyễn, 2006, ĐNNTC, t 5, tr 12) Do vậy, dân

cư tập trung sinh sống ở khu vực trung tâm khá

đông đúc nhằm thuận tiện cho hoạt động kinh tế

Căn cứ vào nguyên tắc lập công thổ thì tổng Hà

Thanh có diện tích và tỉ lệ diện tích công thổ cao

hơn so với các tổng còn lại Tổng Thanh Di có

diện tích ruộng đất lớn nhưng diện tích công thổ ít

nhất huyện Do dân cư còn thưa thớt và nơi đây

không thuận tiện cho dân cư tập trung buôn bán,

phần lớn đất đai chủ yếu để canh tác nông nghiệp

Riêng tổng Phú Quốc, do điều kiện địa hình hải

đảo thuận lợi cho đánh bắt thủy hải sản và là nơi

diễn ra các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa

nên phần lớn đất đai thuộc hạng công thổ

Công điền, công thổ có diện tích ít nhất trong tổng

diện tích ruộng đất canh tác ở huyện Hà Châu

Qua đó cho thấy, việc thực hiện chính sách công

điền ở huyện Hà Châu còn gặp nhiều trở ngại vì:

- Phần lớn ruộng đất ở Hà Châu đã được khai

khẩn và canh tác từ đầu thế kỷ XVIII dưới thời

Mạc Cửu và dân cư nơi đây chủ yếu là các

nhóm nhập cư người Hoa từ Trung Hoa, nhóm

người Việt từ miền Trung, nhóm người Khmer

từ Chân Lạp, thông thường họ di cư theo hộ

gia đình Do vậy, họ chỉ khai hoang đất đai sẵn

có và mặc nhiên thuộc quyền sở hữu của họ

Do vậy, khi triều Nguyễn đo đạc lại ruộng đất

đã gặp khó khăn trong việc thực hiện chính

sách công điền, công thổ ở Hà Châu

- Đất đai ở huyện Hà Châu nhiều nhưng dân cư

còn thưa thớt và không ổn định bởi đây là

“một địa phương bị khói lửa tàn hại, dân

chúng điêu đứng quá nhiều từ năm 1771”

(Phạm Văn Sơn, 1961, q IV, tr 255) và đặc

biệt là sự quấy nhiễu thường xuyên của quân

Xiêm “năm 1833, thủy quân Xiêm La với 100

chiến thuyền từ biển xông vào Hà Tiên…”

(Phạm Văn Sơn, 1961, q IV, tr 365) Vì thế, tình hình xã hội luôn xáo trộn, mãi đến năm

1836 thì phần lớn là các xã thôn mới được tái lập

- Xã hội ở Hà Châu với thành phần chủ yếu là thương nhân và tạo nên xã hội mang tính chất không điển hình Do vậy, nông nghiệp không phải là kinh tế trọng tâm thay vào đó là kinh tế thương nghiệp mang tính chủ đạo, đặc biệt thương mại biển Trải qua nhiều biến động chính trị nên thương nghiệp ở đây đã bị suy tàn nhưng về cơ bản nơi đây vẫn có ưu thế mạnh so với nông nghiệp

Vì thế, so với tình hình chung ở Nam Kỳ thì công điền, công thổ tỉnh Hà Tiên có tỉ lệ cao 77,10% (Nguyễn Đình Đầu, 1992, tr 150) Tỉ lệ này do chịu ảnh hưởng bởi diện tích công điền ở huyện Kiên Giang và Long Xuyên (Nguyễn Đình Đầu,

1994, tr 228, 257) Vì đây là những vùng đất chưa được khai phá nhiều và đất đai tương đối màu mỡ hơn so với huyện Hà Châu nên nhà nước

đã hỗ trợ nhân dân cùng khai phá nên chính sách công điền ở hai huyện này dễ dàng thực hiện hơn Trong khi đó, ở huyện Hà Châu vốn có nền tảng phát triển kinh tế hàng hóa nên đã kích thích năng suất lao động, tính năng động của con người và xã hội vùng đất này Việc thực hiện chính sách công điền, công thổ đối với ruộng đất ở huyện Hà Châu xuất phát ý muốn chủ quan của nhà nước Điều này rất khó để thích ứng với tình hình địa phương

và trở thành chính sách lạc hậu trong quản lý ruộng đất của triều Nguyễn trong bối cảnh mới Những yếu tố trên đã góp phần lý giải vì sao diện tích công điền, công thổ ở huyện Hà Châu rất nhỏ

so với diện tích ruộng đất canh tác của huyện

Về cơ bản, diện tích ruộng đất công ở huyện Hà Châu được ghi nhận trong địa bạ là số liệu cuộc tổng kiểm kê ruộng đất năm 1836 Công cuộc khai phá đất hoang đối với nơi đây vẫn tiếp diễn trong những năm sau đó Do vậy, diện tích ruộng đất công sẽ có sự gia tăng, đặc biệt từ năm 1850 đến năm 1866, triều đình đã có nhiều biện pháp tích cực thúc đẩy quá trình khai phá và định cư ở vùng này “năm 1866, nha Đinh điền An Giang,

Trang 6

Hà Tiên cho biết đã chiêu mộ được 1646 người,

khai khẩn được 8333 mẫu đất và thành lập được

149 thôn ấp” (Lê Văn Năm, 2000, tr 56)

* Về quy mô sở hữu

Quy mô sở hữu ruộng đất công được xem xét ở

từng loại hình ruộng đất Trong đó:

Quan điền là 75 mẫu chia làm 3 sở giao cho các

cơ binh canh tác ở 2 thôn Bình An thuộc tổng Hà

Thanh và thôn Sa Kỳ thuộc tổng Thanh Di, nộp

kho hằng năm khoảng 1725 thăng thóc tương

đương 4657,5 kg thóc[4], bình quân khoảng 62,1

kg thóc/mẫu Mức thuế đó phản ánh quy mô nhỏ

về sở hữu diện tích quan điền

Quan thổ có tổng cộng 34 sở trồng tiêu vốn thuộc

sở hữu của 30 chủ, bình quân khoảng 0,94

mẫu/người Qua đó, thể hiện quy mô sở hữu quan

thổ là nhỏ lẻ, đồng thời phản ánh quan thổ chủ

yếu là chuyển đổi hình thức sở hữu đối với các sở

đất vườn tiêu đã bị bỏ hoang

Theo đó, huyện Hà Châu có 3 sở công điền tập

trung ở tổng Hà Thanh với diện tích là 15.3.11.4

mẫu, bình quân diện tích sở hữu là 5 mẫu/sở

Kết quả thống kê phản ánh sự chênh lệch giữa các

xã, thôn sở hữu công thổ Trong đó:

Tổng Hà Nhuận có 3/5 thôn có công thổ chiếm

60% tổng số thôn của tổng Bình quân diện tích

công thổ là 0.9 mẫu/thôn

Tổng Hà Thanh có 10/11 thôn có công thổ chiếm

90,91% số xã, thôn của tổng Bình quân diện tích

công thổ là 1.9 mẫu/thôn

Tổng Phú Quốc có 9/10 thôn có diện tích công thổ chiếm 90% số thôn của tổng Bình quân diện tích công thổ là 1.2 mẫu/thôn

Tổng Thanh Di có 1/11 thôn có diện tích công thổ chiếm 9,09% số thôn của tổng Bình quân diện tích công thổ là 1.8 mẫu/thôn

Theo đó, mức bình quân sở hữu công thổ ở huyện

Hà Châu là 1.5mẫu/thôn

3.2.2 Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân

* Khát quát về ruộng đất tư hữu

Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu và sử dụng đối với ruộng đất canh tác thuộc

về tư nhân được ghi nhận trong số địa bạ của xã, thôn với tên gọi là tư điền, tư thổ để phân biệt với công điền, công thổ Dưới triều Nguyễn, ruộng đất tư chiếm số lượng lớn trong các loại ruộng đất

ở Nam Kỳ, loại ruộng đất này được đo đạc và ghi chép khá kỹ trong địa bạ theo cấp hành chính tỉnh, huyện, tổng, xã thôn Đối với địa bạ Hà Châu thì không ghi cụ thể là tư điền, tư thổ mà chỉ ghi nhận

là một sở ruộng hoặc sở đất có diện tích là bao

nhiêu mẫu sào thước tấc, giáp giới theo tứ cận

đông – tây – nam – bắc những đâu, do người bản

thôn hoặc bản xã tên họ là gì được phân canh hoặc người địa phương khác phụ canh

* Diện tích sở hữu

Qua khảo sát 44 đơn vị địa bạ huyện Hà Châu, tổng số diện tích ruộng đất tư và tỉ lệ so sánh được

thống kê ở Bảng 3:

Bảng 3 Thống kê diện tích các loại ruộng đất ở huyện Hà Châu

Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc

Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)

Trang 7

Kết quả thống kê cho thấy, diện tích ruộng đất tư

hữu ở huyện Hà Châu là 580.0.4.1 chiếm tỉ lệ

78,52% tổng diện tích ruộng đất So sánh với diện

tích hiện nay chỉ chiếm 0,18% tổng diện tích vùng

Hà Tiên, Kiên Lương và Phú Quốc Nếu so sánh

với diện tích ruộng đất tư ở Nam Kỳ thì ruộng đất

tư ở huyện Hà Châu rất nhỏ, ví dụ như: tổng Lợi

Trinh (Định Tường) là 17442.1 mẫu, tổng Hòa

Lạc (Gia Định) là 23402.5 mẫu, tổng Bảo Ngãi

(Vĩnh Long) là 1164.4 mẫu, tổng An Thạnh (An

Giang) là 642.9 mẫu… (Trần Thị Thu Lương,

1994, tr 65)

Có sự khác biệt khi Hà Tiên là tỉnh có diện tích

ruộng đất tư thấp nhất ở Nam Kỳ với 22,90%

(Nguyễn Đình Đầu, 1992, tr 122), ngược lại

huyện Hà Châu có tỉ lệ diện tích ruộng đất tư khá

lớn với 78,52% Điều này cho thấy, sự phát triển

của ruộng đất tư hữu ở Hà Châu do được khai phá

và canh tác lâu đời hơn so với các khu vực khác

của tỉnh Hà Tiên như huyện Long Xuyên, Kiên

Giang Trong tổng diện tích ruộng đất tư thì diện

tích ruộng tư là 271.6.4.1 chiếm 36,77% và diện

tích đất tư là 308.4.0.0 chiếm 41,75% trong tổng

diện tích ruộng đất ở huyện Hà Châu

Đất tư có diện tích lớn hơn so với ruộng tư do đặc điểm địa hình huyện Hà Châu là núi đồi tương đối cao và thổ nhưỡng nơi đây không đạt được phì nhiêu tốt nhất cho việc trồng lúa nước Ngoại trừ một số khu vực trung tâm lỵ sở Hà Tiên và khu vực quanh sông Giang Thành vẫn có thể trồng lúa, chủ yếu là sơn điền nhờ vào nguồn nước lưu thông từ kênh Vĩnh Tế đến sông Giang Thành

“những vùng thuận tiện giao thông, ngoại thương, gần nguồn nước ở thượng nguồn sông Hậu, hạ lưu sông Tiền, giáp vịnh Thái Lan và dọ sông Cửu Long (Hà Tiên – Kiên Giang), Định Tường (Tiền Giang), An Giang, Vĩnh Long (Cửu Long) là khu vực sầm uất nhất, lấy sản xuất lúa nước làm chính, vụ lúa nằm trọn trong mùa mưa, hoàn toàn nhờ nước trời”(Kim Khôi, 1981, tr 26) Điều này

đã ảnh hưởng đến việc mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp, đặc biệt là diện tích trồng lúa ở vùng này

Xem xét cụ thể diện tích từng loại sở hữu ruộng

và đất, nhận thấy có sự chênh lệch về tỉ lệ diện tích ruộng tư và đất tư giữa các tổng ở huyện Hà

Châu (Bảng 4):

Bảng 4 Thống kê diện tích ruộng đất tư ở huyện Hà Châu

Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc

Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)

Về cơ bản, giữa các tổng thuộc huyện Hà Châu có

sự khác nhau trong cơ cấu diện tích ruộng tư và

đất tư đã tạo ra sự chênh lệch trong tỉ lệ diện tích

ruộng tư và tỉ lệ diện tích đất tư Diện tích ruộng

đất tư ở huyện Hà Châu có 271.6.4.1 mẫu ruộng

tư và 308.4.0.0 mẫu đất tư Việc phân bố diện tích

ruộng tư giữa các tổng có sự chênh lệch nhất định tùy thuộc vào điều kiện đất đai

Trong 5 tổng, chỉ duy nhất tổng Phú Quốc không

có diện tích ruộng tư và diện tích đất tư nhỏ do đặc điểm địa hình hải đảo Tổng Thanh Di là tổng

có diện tích ruộng tư nhiều nhất và chiếm tỉ lệ

Trang 8

diện tích ruộng tư lớn nhất huyện Hà Châu Bởi

tổng Thanh Di thuộc khu vực tương ứng với phần

lớn đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng nằm

trong nội địa của huyện Kiên Lương ngày nay,

với điều thuận lợi về nguồn nước đặc biệt là tiếp

giáp với sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế

Tổng Hà Nhuận tương ứng với phần đất nhỏ hẹp

nằm giáp biên giới giữa Việt Nam và Campuchia

ngày nay, do địa hình bị chia cắt với nhiều núi đồi

nên đất đai không thuận lợi cho canh tác nông

nghiệp Vì thế, tổng Hà Nhuận có diện tích ruộng

tư ít nhất huyện Hà Châu

Trong khi đó, diện tích đất tư được phân bố hầu

khắp 5 tổng thuộc huyện Hà Châu, riêng tổng Hà

Thanh có diện tích đất tư với tỉ lệ lớn nhất Tổng

Hà Thanh tương ứng với khu vực đất đai nằm rìa

Tây Bắc huyện Kiên Lương tiếp giáp với biên

giới Camphuchia ngày nay và phía Tây Nam của

tổng Hà Thanh tiếp giáp với vịnh Thuận Yên nằm

trong vùng biển Tây Nam Việt Nam ngày nay

Địa hình nơi đây tuy không bằng phẳng, đất đai

chưa đủ màu mỡ để trồng lúa nhưng có điều kiện

thuận lợi để trồng các loại cây nông nghiệp khác

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên ở huyện Hà Châu

còn nhiều khó khăn cho canh tác nông nghiệp, đặc

biệt là trồng lúa nước nhưng phần lớn diện tích

đất đai đã khai khẩn ở huyện Hà Châu đều được

trồng trọt một số loại cây nông sản nhất định Đặc

biệt, nông sản ở huyện Hà Châu nổi tiếng với một

số sản phẩm như hồ tiêu, dâu, cau, trầu và làm

muối, nhất là hồ tiêu chỉ trồng ở Hà Châu đã tạo

nên đặc trưng riêng biệt của nông sản vùng này

* Cách thức sở hữu

Cách thức sở hữu ruộng đất tư ở Nam Kỳ bao gồm sở hữu đơn chủ và sở hữu đa chủ Theo đó,

sở hữu đơn chủ là hình thức sở hữu do một cá nhân đứng tên trên một hoặc nhiều diện tích ruộng đất khác nhau; sở hữu đa chủ hay đồng sở hữu là hình thức có ít nhất hai hay nhiều người cùng đứng tên sở hữu trên một diện tích ruộng đất Khảo sát địa bạ huyện Hà Châu cho thấy, sở hữu đơn chủ là phổ biến nơi đây và không có hiện tượng đồng sở hữu như các vùng khác ở Nam Kỳ

là vì:

- Hà Châu là vùng đất biên giới, chịu nhiều biến động xã hội trong nước và sự tranh chấp của các nước trong khu vực Do vậy, tình hình dân

cư có sự biến động thường xuyên và đời sống

xã hội không ổn định

- Hà Châu có địa hình chịu sự chia cắt khá mạnh bởi núi đồi và thiếu nguồn nước ngọt nên tình hình khai khẩn và canh tác ruộng đất gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, dân số quá ít không

đủ lực lượng khai khẩn đất hoang nên chưa thể tạo ra cách thức sở hữu đa chủ như các khu vực khác ở trung tâm đồng bằng Nam bộ, mà chủ yếu là sở hữu đơn chủ nhỏ lẻ đối với những nơi có điều kiện thuận lợi trong khẩn hoang và canh tác

* Quy mô sở hữu

Sở hữu ruộng đất theo số lượng chủ sở hữu: Ruộng đất tư ở huyện Hà Châu thuộc về 184 chủ

sở hữu ruộng tư và 214 chủ sở hữu đất tư

Bảng 5 Phân loại số lượng chủ sở hữu ruộng tư và đất tư ở huyện Hà Châu

Đơn vị tính: người

Số lượng chủ sở hữu Số lượng chủ sở hữu

< 1 mẫu 1 – 5

mẫu

5 – 10 mẫu

10 – 15 mẫu < 1 mẫu

1 – 5 mẫu

5 – 10 mẫu

10 – 15 mẫu

Trang 9

TT Tổng

Số lượng chủ sở hữu Số lượng chủ sở hữu

< 1 mẫu 1 – 5

mẫu

5 – 10 mẫu

10 – 15 mẫu < 1 mẫu

1 – 5 mẫu

5 – 10 mẫu

10 – 15 mẫu

Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)

Theo đó, mức sở hữu dưới 1 mẫu có 99 chủ sở

hữu ruộng tư và 121 chủ sở hữu đất tư; mức sở

hữu từ 1 mẫu đến 5 mẫu có 77 chủ sở hữu ruộng

tư và 84 chủ sở hữu đất tư; mức sở hữu từ 5 mẫu

đến 10 mẫu có 6 chủ sở hữu ruộng tư và 8 chủ sở

hữu đất tư; mức sở hữu từ 10 mẫu đến 15 mẫu có

2 chủ sở hữu ruộng tư và 1 chủ sở hữu đất tư Sở

hữu bình quân ruộng đất tư ở huyện Hà Châu

khoảng 1,45 mẫu/chủ và mỗi chủ sở hữu 1,2 sở

ruộng đất tư Bình quân sở hữu ruộng tư là 1,47

mẫu/chủ, bình quân sở hữu đất tư là 1,44

mẫu/chủ Trong đó:

- Tổng Hà Nhuận: bình quân sở hữu ruộng đất

tư là 0,87 mẫu/chủ, trong đó bình quân sở hữu

ruộng tư là 0,89 mẫu/chủ, bình quân sở hữu

đất tư là 0,86 mẫu/chủ

- Tổng Hà Thanh: bình quân sở hữu ruộng đất

tư là 1,7 mẫu/chủ, trong đó bình quân sở hữu

ruộng tư là 1,77 mẫu/chủ, bình quân sở hữu

đất tư là 1,69 mẫu/chủ

- Tổng Hà Nhuận: bình quân sở hữu ruộng đất

tư là 1,1 mẫu/chủ, trong đó bình quân sở hữu

ruộng tư là 1,1 mẫu/chủ, bình quân sở hữu đất

tư là 1,1 mẫu/chủ

- Tổng Phú Quốc: bình quân sở hữu đất tư là

0,85 mẫu/chủ

- Tổng Thanh Di: bình quân sở hữu ruộng đất tư

là 1,66 mẫu/chủ, trong đó bình quân sở hữu

ruộng tư là 1,67 mẫu/chủ, bình quân sở hữu

đất tư là 1,64 mẫu/chủ

Huyện Hà Châu có khoảng 220 chủ sở hữu ruộng

đất dưới 1 mẫu và chỉ số ít chủ sở hữu ruộng đất

với quy mô từ 5 mẫu trở lên và hầu như không có

cá nhân nào sở hữu trên 15 mẫu ruộng đất Mức bình quân sở hữu ruộng đất tư ở Hà Châu tuy có

sự khác biệt giữa các tổng nhưng điểm chung là

sở hữu dưới 2 mẫu, trong đó mức bình quân cao nhất là tổng Hà Thanh và nhỏ nhất là tổng Phú Quốc Sở hữu ruộng đất tư ở huyện Hà Châu không lớn như các khu vực khác ở Nam Kỳ lục tỉnh do “điều kiện đất đai không thuận lợi cho nông nghiệp nên diện tích khai phá vùng Hà Tiên thật sự không nhiều Đến đầu thế kỷ XIX, có thể người dân chỉ mới khai phá trồng trọt được ở quanh thị trấn Hà Tiên và dọc rạch Giang Thành” (Lê Văn Năm, 2000, tr 52)

Nhìn chung, quy mô sở hữu ruộng đất của tư nhân còn nhỏ lẻ và xu hướng tập trung ruộng đất vào tay các chủ sở hữu ở huyện Hà Châu chưa đạt mức độ cao như các khu vực khác ở Nam Kỳ Điều đó phản ánh thực trạng xã hội ở Hà Châu chưa có sự phân cực giàu nghèo quá lớn như khu vực đồng bằng trung tâm Trường hợp ở tổng Hòa Lạc, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định là một ví dụ điển hình về sự chênh lệch trong tư hữu ruộng đất:

có đến 98,8% diện tích ruộng đất nằm trong tay người khá giả, những người sở hữu nhỏ chỉ còn 1,1% diện tích ruộng đất tư (Trần Thị Thu Lương,

1994, tr 139)

Sở hữu ruộng đất theo giới tính:

Toàn huyện Hà Châu có 10 chủ tư hữu ruộng đất

là nữ giới, tập trung ở 2 tổng Hà Thanh và Nhuận Đức

Trang 10

Bảng 6 Bình quân sở hữu ruộng đất theo giới tính nữ

Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc

TT Tổng Tổng diện tích Số chủ Diện tích sở hữu Tỉ lệ

% Bình quân diện tích

Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)

- Tổng Hà Thanh có 6 chủ sở hữu nữ chiếm

60% số chủ nữ của huyện, diện tích ruộng đất

của chủ là nữ có 20.0.14.4 chiếm 13,80% diện

tích ruộng đất tư, bình quân tư hữu ruộng đất

là 3,3 mẫu/chủ

- Tổng Nhuận Đức có 4 chủ sở hữu nữ chiếm

40% số chủ nữ của huyện, diện tích ruộng đất

của chủ là nữ có 1.3.12.8 chiếm 1,89% diện

tích ruộng đất tư, bình quân tư hữu ruộng đất

là 0.3 mẫu/chủ

Mức bình quân chung về sở hữu ruộng đất của các

chủ nữ ở huyện Hà Châu là rất nhỏ và số chủ sở

hữu là nữ chiếm số lượng rất ít so với số lượng chủ sở hữu là nam giới nhưng đã phản ánh một góc độ khác về sự bình đẳng giữa nam và nữ trong việc tư hữu ruộng đất ở huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên nửa đầu thế kỷ XIX

Sở hữu ruộng đất theo chức dịch:

Chức dịch ở huyện Hà Châu bao gồm Cai tổng,

Xã trưởng, Thôn trưởng, Dịch mục và Tả bạ Huyện có 35/87 chức dịch có ruộng đất tư chiếm 40,23%

Bảng 7 Bình quân sở hữu ruộng đất của chủ sở hữu là chức dịch

Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc

TT Tổng Tổng diện tích Số chủ Diện tích sở hữu Tỉ lệ % Bình quân diện tích

Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)

Theo đó, chức dịch tổng Phú Quốc không có

ruộng đất tư, tổng Hà Nhuận và tổng Hà Thanh có

số lượng chức dịch ít nhất, tổng Thanh Di có số

lượng chức dịch nhiều nhất trong tổng số chức

dịch có ruộng đất tư Tổng diện tích ruộng đất

thuộc tư hữu của chức dịch là 55.8.3.9 chiếm 9,62% diện tích ruộng đất tư của huyện và mức bình quân sở hữu ruộng đất là 1.5.9.5 Trong đó:

Ngày đăng: 09/01/2020, 13:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm