Thông qua khai thác và nghiên cứu nguồn tư liệu địa bạ huyện Hà Châu, tác giả đã phân tích và làm nổi bật một số vấn đề cơ bản về sở hữu ruộng đất nơi đây. Ngoài ra, bài viết còn có ý nghĩa trong việc gợi mở nghiên cứu mới về xác lập chủ quyền lãnh thổ ở vùng biên giới Tây Nam trong mối quan hệ giữa Đại Nam và Chân Lạp ở thế kỉ XIX.
Trang 1VẤN ĐỀ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở HUYỆN HÀ CHÂU, TỈNH HÀ TIÊN
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX QUA NGHIÊN CỨU TƯ LIỆU ĐỊA BẠ
NĂM MINH MẠNG THỨ 17 (1836)
Bùi Hoàng Tân1
1 Trường Đại học Cần Thơ
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 06/02/2018
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
08/05/2018
Ngày chấp nhận đăng:
06/2018
Title:
Towards the land ownership in
Ha Chau district, Ha Tien
province in the first half of the
nineteenth century through
cadastral registers of Minh
Mang dynasty 17 (1836)
Keywords:
Ha Chau district, Ha Tien
province, the land ownership,
cadastral register, Minh Mang
dynasty
Từ khóa:
Huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên,
sở hữu ruộng đất, địa bạ,
Minh Mạng
ABSTRACT
Ha Chau district, Ha Tien province in the first half of the 19 th century was one of the new lands to be explored Although the land area is quite large, but not much for the cultivation Basically, the ownership of land in Ha Chau district is small and fragmented, not similar to other areas in the South of Vietnam Basing on the data shown in the cadastral register of Ha Chau district, the author has analyzed and highlighted some basic issues of land ownership in Ha Chau In addition, this paper would give a recommendation for further studying on the national sovereignty in the Southwest frontier in the relationship between Dai Nam and Chan Lap in the nineteenth century
TÓM TẮT
Huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên ở nửa đầu thế kỉ XIX là một trong những vùng đất mới được khai phá, tuy có diện tích lãnh thổ tương đối lớn nhưng diện tích canh tác thực sự chưa nhiều Về cơ bản, sở hữu ruộng đất ở huyện Hà Châu với quy mô nhỏ lẻ và manh mún, chưa đạt mức độ cực đại về tập trung ruộng đất như các khu vực khác ở Nam bộ Thông qua khai thác và nghiên cứu nguồn tư liệu địa bạ huyện Hà Châu, tác giả đã phân tích và làm nổi bật một số vấn đề cơ bản về sở hữu ruộng đất nơi đây Ngoài ra, bài viết còn có
ý nghĩa trong việc gợi mở nghiên cứu mới về xác lập chủ quyền lãnh thổ ở vùng biên giới Tây Nam trong mối quan hệ giữa Đại Nam và Chân Lạp ở thế
kỉ XIX
1 GIỚI THIỆU
Sở hữu ruộng đất là một trong những nội dung
quan trọng của nghiên cứu lịch sử Việt Nam, bởi
nó chứa đựng những biến động to lớn và sâu sắc
về sự phát triển lãnh thổ và văn hóa dân tộc Đối
với huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên ở nửa đầu thế
kỷ XIX có nhiều điểm khác biệt trong sở hữu
ruộng đất do những đặc trưng về điều kiện tự
nhiên và tình hình chính trị - xã hội Do vậy, nghiên cứu về vấn đề sở hữu ruộng đất ở huyện
Hà Châu nửa đầu thế kỷ XIX không chỉ nhằm làm
rõ những đặc điểm trong sở hữu ruộng đất ở một địa phương Nam bộ mà còn góp phần làm sáng tỏ những điểm nổi bật của quá trình quản lý và thực thi chủ quyền lãnh thổ của triều Nguyễn ở vùng đất biên giới trọng yếu này
Trang 22 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp
phương pháp logic, tác giả đã tiếp cận, đối chiếu
và phân tích nguồn sử liệu triều Nguyễn và tư liệu
địa bạ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I – Hà Nội,
đặc biệt là 44 đơn vị địa bạ huyện Hà Châu[1]
được lập vào năm Minh Mạng thứ 17 Thông qua
đó, từng bước cung cấp các luận cứ khoa học để
đem lại kết quả nghiên cứu học thuật mang tính
khách quan nhất
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về huyện Hà Châu nửa đầu thế
kỷ XIX
Trước thế kỷ XIX, vùng đất Hà Châu thuộc địa
phận của vương quốc Phù Nam, sau khi vương
quốc Phù Nam sụp đổ đã bị người Chân Lạp tiếp
quản Song, họ chưa thực sự làm chủ và tổ chức
hoạt động canh tác ở nơi này và cơ bản đây vẫn là
vùng đất hoang Đến khoảng đầu thế kỷ XVIII,
Mạc Cửu và dòng họ Mạc đến định cư và mở
mang đất Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau và Phú
Quốc, bao gồm cả phần đất đai thuộc Hà Châu sau
này Năm 1708, Mạc Cửu đã quy phục chính
quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong Từ đây toàn
bộ đất đai ở trấn Hà Tiên, bao gồm cả phần đất Hà
Châu chính thức thuộc chủ quyền của Việt Nam
dưới thời chúa Nguyễn Cuối thế kỷ XVIII, dưới
sự tác động từ tình hình bất ổn về chính trị trong
nước, đặc biệt là cuộc nội chiến Tây Sơn với
chính quyền chúa Nguyễn thì Hà Châu thuộc
quyền kiểm soát của chính quyền Tây Sơn
Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Ánh đã khôi phục lại
triều Nguyễn, khi đó đã “lấy Mạc Tử Thiêm làm
cai Cai cơ trấn thủ trấn Hà Tiên, lại ở trấn ấy Sai
gọi nhân dân về ở, tha bớt cho thuế đinh điền”
(Trịnh Hoài Đức, 1998, tr 135) Như vậy, dưới
thời vua Gia Long, đất Hà Châu vẫn thuộc quyền
quản lý của trấn Hà Tiên Năm 1825, vua Minh
Mạng cho bỏ cấp đạo và đặt đơn vị hành chính
huyện Hà Tiên quản lý hai tổng Hà Thanh và tổng
Hà Nhuận “bắt đầu đặt huyện Hà Tiên, lĩnh 2 tổng
(Hà Thanh và Hà Nhuận)” (Quốc Sử quán triều
Nguyễn, 2006, Đại Nam thực lục [ĐNTL], t 2, tr 462) Năm 1826 cho sáp nhập huyện Hà Tiên vào
phủ An Biên Năm 1832, đổi tên phủ An Biên thành phủ Khai Biên đồng thời đổi tên huyện Hà Tiên thành huyện Hà Châu và giao cho phủ Khai Biên quản lý “tỉnh Hà Tiên: thống trị phủ Khai Biên
và 3 huyện Hà Châu, Long Xuyên, Kiên Giang Phủ Khai Biên nguyên là phủ An Biên đổi ra; huyện Hà Châu nguyên là huyện Hà Tiên đổi ra” (Quốc Sử
quán triều Nguyễn, 2006, ĐNTL, t 3, tr 394)
Địa danh Hà Châu được ghi nhận lầu đầu tiên trong
sử sách triều Nguyễn năm 1832 Căn cứ vào ghi
chép của Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC), địa
giới của huyện Hà Châu ở nửa đầu thế kỷ XIX
“huyện Hà Châu: đông tây cách nhau 27 dặm, nam bắc cách nhau 42 dặm, phía đông đến địa giới huyện
Hà Âm tỉnh An Giang 25 dặm, phía tây giáp biển 2 dặm, phía nam giáp địa giới huyện Kiên Giang 22
dặm, phía bắc đến địa giới Cao Miên 20 dặm” (Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2006, ĐNNTC, t 5,
tr 8) Kết hợp với ghi chép trong 44 tập địa bạ huyện Hà Châu, có thể xác định địa hạt quản lý của huyện Hà Châu gồm 5 tổng: Hà Nhuận, Hà Thanh, Nhuận Đức, Thanh Di và Phú Quốc, trong đó Phú Quốc là tổng hải đảo duy nhất Năm 1867, khi Pháp chiếm 3 tỉnh Nam Kỳ, đồng nghĩa đất đai ở
Hà Châu nằm trong tay thực dân Pháp
Căn cứ vào cách xác định “tứ cận giáp giới” kết hợp với bản đồ [2], địa phận huyện Hà Châu nửa đầu thế
kỷ XIX về cơ bản tương ứng với địa giới của thị
xã Hà Tiên, huyện Kiên Lương và huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang ngày nay; phần đất các tổng Hà Nhuận và Nhuận Đức tương ứng với địa giới các huyện Banteay Meas, Kampong Trach của tỉnh Kampot, huyện Kiri Vong của tỉnh Takéo
và thành phố Keb thuộc lãnh thổ Campuchia hiện nay
3.2 Sở hữu ruộng đất ở huyện Hà Châu, tỉnh
Hà Tiên nửa đầu thế kỷ XIX
3.2.1 Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước
* Về phân loại
Trang 3Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước ở huyện Hà
Châu bao gồm quan điền, quan thổ và công điền,
công thổ Trong đó:
Quan điền, quan thổ là loại ruộng đất thuộc sở
hữu công do nhà nước trực tiếp quản lý Quan
điền do các cơ binh đồn trú khai khẩn, chủ yếu là
quan sơn điền Quan thổ chủ yếu là đất trồng tiêu
của tư nhân bị bỏ hoang
Công điền, công thổ là ruộng đất thuộc sở hữu
nhà nước được phân giao cho xã, thôn canh tác và
nộp thuế theo hạng ruộng đất công đã quy định
Công điền được ghi trong địa bạ là bản thôn đồng
canh, bản xã đồng canh Công thổ chủ yếu là đất dân cư “những dân cư, chỗ nào là đất hoang và gò đống, trong sổ không ghi người nào trước đã nộp thuế thì liệt làm hạng đất dân cư, miễn thuế; nếu
có chủ khai nhận, thì cho dân đánh giá, nộp thuế theo hạng đất công” (Quốc Sử quán triều Nguyễn,
2006, ĐNTL, t 4, tr 983)
* Về diện tích
Qua thống kê 44 địa bạ huyện Hà Châu cho thấy, diện tích ruộng đất công ở huyện Hà Châu là 158 mẫu chiếm 21,48% tổng diện tích ruộng đất của
huyện
Bảng 1 Thống kê diện tích ruộng đất công
Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc [3]
Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)
Theo đó, tổng Hà Thanh có diện tích ruộng đất
công nhiều nhất huyện với hơn 109 mẫu Tổng Hà
Thanh có vị trí tiếp giáp với sông Giang Thành
nối liền đầm Đông Hồ và nhiều kênh rạch thông
ra biển nên việc khai khẩn đất đai của quân đồn
trú dễ dàng hơn Mặt khác, đây còn nơi đặt lỵ sở
của tỉnh Hà Tiên “trước kia tỉnh lỵ Hà Tiên ở xã
Mỹ Đức huyện Hà Châu, năm Minh Mệnh thứ 9
dời đến thủ sở Giang Thành, năm thứ 14 lại dời về
chỗ cũ” (Quốc Sử quán triều Nguyễn, 2006,
ĐNNTC, t 5, tr 12) Do vậy, dân cư tập trung
sinh sống đông đúc ở khu vực trung tâm, căn cứ
theo nguyên tắc lập công thổ thì đất dân cư ở
huyện Hà Châu được xác định là công thổ Vì thế,
tổng Hà Thanh có diện tích ruộng đất công lớn
hơn so với các tổng còn lại của huyện Hà Châu
Trong khi đó, tổng Hà Nhuận có diện tích ruộng
đất công nhỏ nhất huyện Hà Châu với khoảng 2
mẫu Địa phận của tổng Hà Nhuận ở nửa đầu thế
kỷ XIX tương ứng với các phần đất thuộc lãnh thổ Campuchia tiếp giáp với biên giới Việt Nam tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ngày nay, do điều kiện tự nhiên ở khu vực này còn nhiều khó khăn nên việc thực hiện chính sách khai hoang của nhà nước còn nhiều hạn chế Mặt khác, tình hình xã hội nơi đây luôn xáo trộn, mãi đến năm 1836 phần lớn các xã thôn mới được tái lập và đo đạc ruộng đất Vì thế, quá trình khai hoang cũng gần như phải thực hiện lại từ đầu
Riêng tổng Phú Quốc, diện tích ruộng đất công, chủ yếu là công thổ chiếm tỉ lệ lớn so với tổng diện tích ruộng đất của tổng Phú Quốc là hải đảo nên thuận lợi cho đánh bắt thủy hải sản và là nơi diễn ra các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa Chính vì thế, phần lớn đất đai của tổng Phú Quốc
là đất dân cư được xếp vào hạng công thổ
Cơ cấu diện tích giữa quan điền, quan thổ và công điền, công thổ, như sau:
Trang 4Bảng 2 So sánh diện tích quan điền, quan thổ và công điền, công thổ ở huyện Hà Châu
Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc
TT Tổng Quan điền, quan thổ Tỉ lệ % Công điền, công thổ Tỉ lệ %
Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)
Theo đó, huyện Hà Châu chỉ có 3 tổng Hà Thanh,
Nhuận Đức và Thanh Di có diện tích quan điền,
quan thổ nhưng chiếm tỉ lệ nhỏ so với tổng diện
tích các loại ruộng đất của huyện Trong đó, tổng
Hà Thanh có diện tích quan điền, quan thổ khá
lớn và chiếm tỉ lệ cao (69,28%) so với tổng diện
tích quan điền, quan thổ ở huyện Hà Châu Mặc
dù tổng Thanh Di có diện tích quan điền, quan thổ
rất nhỏ và chỉ chiếm tỉ lệ 5,48% so với tổng diện
tích ruộng đất của tổng (329.0.1.4/18.0.1.9) nhưng
nhìn tổng thể thì tổng Nhuận Đức mới thực sự có
diện tích quan điền, quan thổ nhỏ nhất và chỉ
chiếm tỉ lệ 14,07% trong tổng diện tích quan điền,
quan thổ ở huyện Hà Châu So sánh với các loại
ruộng đất khác ở huyện Hà Châu thì quan điền,
quan thổ có diện tích là 108.1.11.5, chỉ hơn 1/10
tổng diện tích ruộng đất ở huyện
Qua đó phản ánh tình hình khai khẩn ruộng đất ở
huyện Hà Châu do các cơ binh thực hiện chưa đạt
tỉ lệ cao do điều kiện tự nhiên nơi đây còn nhiều
khó khăn và hạn chế về nguồn nhân lực Chủ yếu
là khai phá đất đai xung quanh lỵ sở Hà Tiên và
khu vực đóng quân “Trần Trấn chọn được vùng
thôn Bình An, xã Mỹ Đức (thuộc huyện Hà Châu,
gần đồn Chu Nham), đều có đất bỏ không, có thể
xây cất được, bèn liệu địa thế rộng, hẹp, xin vát
lính cơ Hà Tiên (nguyên là dân Phiên vốn quen
thủy thổ) 50 người giữ đồn Chu Nham, 100 người
đến chỗ gần đó cày cấy ở đồn điền Bình An: hễ
khi việc làm ruộng đã rồi, thì lại luyện tập thao
diễn Lại chiêu mộ dân nghèo ở hai huyện Kiên
Giang, Hà Châu, cấp cho trâu cày, đồ làm ruộng
và thóc giống để khai khẩn Vua y cho” (Quốc Sử
quán triều Nguyễn, 2006, ĐNTL, t 4, tr 562) Do
vậy, diện tích ruộng đất thuộc loại quan điền, quan thổ ghi nhận trong địa bạ huyện Hà Châu là khá ít so với các loại ruộng đất khác
Về cơ bản, quan điền có diện tích và tỉ lệ lớn hơn
so với quan thổ, tỉ lệ phân phối giữa quan điền và quan thổ không đều ở các tổng và các xã, thôn Trong đó, diện tích quan điền chỉ có ở 2 tổng Hà Thanh và Thanh Di, diện tích quan thổ tuy nhỏ hơn nhưng được phân phối ở 3 tổng Hà Thanh, Nhuận Đức và Thanh Di Diện tích quan điền giữa
2 tổng Hà Thanh và Thanh Di chênh lệch hơn 51 mẫu, trong khi đó diện tích quan thổ ở các tổng không vượt quá 10 mẫu Tuy nhiên trong phân phối diện tích quan thổ ở các xã, thôn có sự chênh lệch khá lớn Ví dụ, quan thổ ở thôn Tư Nghĩa thuộc tổng Thanh Di chỉ có 2 sào, trong khi đó thôn Hòa Luật thuộc tổng Nhuận Đức có đến 15 mẫu quan thổ Sự chênh lệch về diện tích phụ thuộc vào vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở các khu vực đất đai và sự tác động bởi các điều kiện
xã hội ở huyện Hà Châu nửa đầu thế kỷ XIX Xét về diện tích công điền và công thổ thì diện tích công thổ tuy có lớn hơn so với công điền nhưng vẫn chiếm tỉ lệ rất nhỏ (6,84%) so với tổng diện tích ruộng đất huyện Hà Châu Trong đó, tổng Hà Thanh là nơi có diện tích công thổ nhiều nhất huyện, do tổng này có vị trí tiếp giáp với sông Giang Thành nối liền đầm Đông Hồ và nhiều kênh rạch thông ra biển nên việc khai khẩn đất đai
dễ dàng hơn Và đây còn là nơi đặt lỵ sở của tỉnh
Trang 5Hà Tiên “trước kia tỉnh lỵ Hà Tiên ở xã Mỹ Đức
huyện Hà Châu, năm Minh Mệnh thứ 9 dời đến
thủ sở Giang Thành, năm thứ 14 lại dời về chỗ cũ,
năm thứ 15 xây bảo Trấn Biên, nhân lấy làm tỉnh
lỵ Lỵ sở phủ An Biên ở địa phận thôn Mỹ Đức
huyện Hà Châu, là huyện kiêm lý của phủ, dựng
từ năm Minh Mệnh thứ 15” (Quốc Sử quán triều
Nguyễn, 2006, ĐNNTC, t 5, tr 12) Do vậy, dân
cư tập trung sinh sống ở khu vực trung tâm khá
đông đúc nhằm thuận tiện cho hoạt động kinh tế
Căn cứ vào nguyên tắc lập công thổ thì tổng Hà
Thanh có diện tích và tỉ lệ diện tích công thổ cao
hơn so với các tổng còn lại Tổng Thanh Di có
diện tích ruộng đất lớn nhưng diện tích công thổ ít
nhất huyện Do dân cư còn thưa thớt và nơi đây
không thuận tiện cho dân cư tập trung buôn bán,
phần lớn đất đai chủ yếu để canh tác nông nghiệp
Riêng tổng Phú Quốc, do điều kiện địa hình hải
đảo thuận lợi cho đánh bắt thủy hải sản và là nơi
diễn ra các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa
nên phần lớn đất đai thuộc hạng công thổ
Công điền, công thổ có diện tích ít nhất trong tổng
diện tích ruộng đất canh tác ở huyện Hà Châu
Qua đó cho thấy, việc thực hiện chính sách công
điền ở huyện Hà Châu còn gặp nhiều trở ngại vì:
- Phần lớn ruộng đất ở Hà Châu đã được khai
khẩn và canh tác từ đầu thế kỷ XVIII dưới thời
Mạc Cửu và dân cư nơi đây chủ yếu là các
nhóm nhập cư người Hoa từ Trung Hoa, nhóm
người Việt từ miền Trung, nhóm người Khmer
từ Chân Lạp, thông thường họ di cư theo hộ
gia đình Do vậy, họ chỉ khai hoang đất đai sẵn
có và mặc nhiên thuộc quyền sở hữu của họ
Do vậy, khi triều Nguyễn đo đạc lại ruộng đất
đã gặp khó khăn trong việc thực hiện chính
sách công điền, công thổ ở Hà Châu
- Đất đai ở huyện Hà Châu nhiều nhưng dân cư
còn thưa thớt và không ổn định bởi đây là
“một địa phương bị khói lửa tàn hại, dân
chúng điêu đứng quá nhiều từ năm 1771”
(Phạm Văn Sơn, 1961, q IV, tr 255) và đặc
biệt là sự quấy nhiễu thường xuyên của quân
Xiêm “năm 1833, thủy quân Xiêm La với 100
chiến thuyền từ biển xông vào Hà Tiên…”
(Phạm Văn Sơn, 1961, q IV, tr 365) Vì thế, tình hình xã hội luôn xáo trộn, mãi đến năm
1836 thì phần lớn là các xã thôn mới được tái lập
- Xã hội ở Hà Châu với thành phần chủ yếu là thương nhân và tạo nên xã hội mang tính chất không điển hình Do vậy, nông nghiệp không phải là kinh tế trọng tâm thay vào đó là kinh tế thương nghiệp mang tính chủ đạo, đặc biệt thương mại biển Trải qua nhiều biến động chính trị nên thương nghiệp ở đây đã bị suy tàn nhưng về cơ bản nơi đây vẫn có ưu thế mạnh so với nông nghiệp
Vì thế, so với tình hình chung ở Nam Kỳ thì công điền, công thổ tỉnh Hà Tiên có tỉ lệ cao 77,10% (Nguyễn Đình Đầu, 1992, tr 150) Tỉ lệ này do chịu ảnh hưởng bởi diện tích công điền ở huyện Kiên Giang và Long Xuyên (Nguyễn Đình Đầu,
1994, tr 228, 257) Vì đây là những vùng đất chưa được khai phá nhiều và đất đai tương đối màu mỡ hơn so với huyện Hà Châu nên nhà nước
đã hỗ trợ nhân dân cùng khai phá nên chính sách công điền ở hai huyện này dễ dàng thực hiện hơn Trong khi đó, ở huyện Hà Châu vốn có nền tảng phát triển kinh tế hàng hóa nên đã kích thích năng suất lao động, tính năng động của con người và xã hội vùng đất này Việc thực hiện chính sách công điền, công thổ đối với ruộng đất ở huyện Hà Châu xuất phát ý muốn chủ quan của nhà nước Điều này rất khó để thích ứng với tình hình địa phương
và trở thành chính sách lạc hậu trong quản lý ruộng đất của triều Nguyễn trong bối cảnh mới Những yếu tố trên đã góp phần lý giải vì sao diện tích công điền, công thổ ở huyện Hà Châu rất nhỏ
so với diện tích ruộng đất canh tác của huyện
Về cơ bản, diện tích ruộng đất công ở huyện Hà Châu được ghi nhận trong địa bạ là số liệu cuộc tổng kiểm kê ruộng đất năm 1836 Công cuộc khai phá đất hoang đối với nơi đây vẫn tiếp diễn trong những năm sau đó Do vậy, diện tích ruộng đất công sẽ có sự gia tăng, đặc biệt từ năm 1850 đến năm 1866, triều đình đã có nhiều biện pháp tích cực thúc đẩy quá trình khai phá và định cư ở vùng này “năm 1866, nha Đinh điền An Giang,
Trang 6Hà Tiên cho biết đã chiêu mộ được 1646 người,
khai khẩn được 8333 mẫu đất và thành lập được
149 thôn ấp” (Lê Văn Năm, 2000, tr 56)
* Về quy mô sở hữu
Quy mô sở hữu ruộng đất công được xem xét ở
từng loại hình ruộng đất Trong đó:
Quan điền là 75 mẫu chia làm 3 sở giao cho các
cơ binh canh tác ở 2 thôn Bình An thuộc tổng Hà
Thanh và thôn Sa Kỳ thuộc tổng Thanh Di, nộp
kho hằng năm khoảng 1725 thăng thóc tương
đương 4657,5 kg thóc[4], bình quân khoảng 62,1
kg thóc/mẫu Mức thuế đó phản ánh quy mô nhỏ
về sở hữu diện tích quan điền
Quan thổ có tổng cộng 34 sở trồng tiêu vốn thuộc
sở hữu của 30 chủ, bình quân khoảng 0,94
mẫu/người Qua đó, thể hiện quy mô sở hữu quan
thổ là nhỏ lẻ, đồng thời phản ánh quan thổ chủ
yếu là chuyển đổi hình thức sở hữu đối với các sở
đất vườn tiêu đã bị bỏ hoang
Theo đó, huyện Hà Châu có 3 sở công điền tập
trung ở tổng Hà Thanh với diện tích là 15.3.11.4
mẫu, bình quân diện tích sở hữu là 5 mẫu/sở
Kết quả thống kê phản ánh sự chênh lệch giữa các
xã, thôn sở hữu công thổ Trong đó:
Tổng Hà Nhuận có 3/5 thôn có công thổ chiếm
60% tổng số thôn của tổng Bình quân diện tích
công thổ là 0.9 mẫu/thôn
Tổng Hà Thanh có 10/11 thôn có công thổ chiếm
90,91% số xã, thôn của tổng Bình quân diện tích
công thổ là 1.9 mẫu/thôn
Tổng Phú Quốc có 9/10 thôn có diện tích công thổ chiếm 90% số thôn của tổng Bình quân diện tích công thổ là 1.2 mẫu/thôn
Tổng Thanh Di có 1/11 thôn có diện tích công thổ chiếm 9,09% số thôn của tổng Bình quân diện tích công thổ là 1.8 mẫu/thôn
Theo đó, mức bình quân sở hữu công thổ ở huyện
Hà Châu là 1.5mẫu/thôn
3.2.2 Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân
* Khát quát về ruộng đất tư hữu
Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu và sử dụng đối với ruộng đất canh tác thuộc
về tư nhân được ghi nhận trong số địa bạ của xã, thôn với tên gọi là tư điền, tư thổ để phân biệt với công điền, công thổ Dưới triều Nguyễn, ruộng đất tư chiếm số lượng lớn trong các loại ruộng đất
ở Nam Kỳ, loại ruộng đất này được đo đạc và ghi chép khá kỹ trong địa bạ theo cấp hành chính tỉnh, huyện, tổng, xã thôn Đối với địa bạ Hà Châu thì không ghi cụ thể là tư điền, tư thổ mà chỉ ghi nhận
là một sở ruộng hoặc sở đất có diện tích là bao
nhiêu mẫu sào thước tấc, giáp giới theo tứ cận
đông – tây – nam – bắc những đâu, do người bản
thôn hoặc bản xã tên họ là gì được phân canh hoặc người địa phương khác phụ canh
* Diện tích sở hữu
Qua khảo sát 44 đơn vị địa bạ huyện Hà Châu, tổng số diện tích ruộng đất tư và tỉ lệ so sánh được
thống kê ở Bảng 3:
Bảng 3 Thống kê diện tích các loại ruộng đất ở huyện Hà Châu
Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc
Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)
Trang 7Kết quả thống kê cho thấy, diện tích ruộng đất tư
hữu ở huyện Hà Châu là 580.0.4.1 chiếm tỉ lệ
78,52% tổng diện tích ruộng đất So sánh với diện
tích hiện nay chỉ chiếm 0,18% tổng diện tích vùng
Hà Tiên, Kiên Lương và Phú Quốc Nếu so sánh
với diện tích ruộng đất tư ở Nam Kỳ thì ruộng đất
tư ở huyện Hà Châu rất nhỏ, ví dụ như: tổng Lợi
Trinh (Định Tường) là 17442.1 mẫu, tổng Hòa
Lạc (Gia Định) là 23402.5 mẫu, tổng Bảo Ngãi
(Vĩnh Long) là 1164.4 mẫu, tổng An Thạnh (An
Giang) là 642.9 mẫu… (Trần Thị Thu Lương,
1994, tr 65)
Có sự khác biệt khi Hà Tiên là tỉnh có diện tích
ruộng đất tư thấp nhất ở Nam Kỳ với 22,90%
(Nguyễn Đình Đầu, 1992, tr 122), ngược lại
huyện Hà Châu có tỉ lệ diện tích ruộng đất tư khá
lớn với 78,52% Điều này cho thấy, sự phát triển
của ruộng đất tư hữu ở Hà Châu do được khai phá
và canh tác lâu đời hơn so với các khu vực khác
của tỉnh Hà Tiên như huyện Long Xuyên, Kiên
Giang Trong tổng diện tích ruộng đất tư thì diện
tích ruộng tư là 271.6.4.1 chiếm 36,77% và diện
tích đất tư là 308.4.0.0 chiếm 41,75% trong tổng
diện tích ruộng đất ở huyện Hà Châu
Đất tư có diện tích lớn hơn so với ruộng tư do đặc điểm địa hình huyện Hà Châu là núi đồi tương đối cao và thổ nhưỡng nơi đây không đạt được phì nhiêu tốt nhất cho việc trồng lúa nước Ngoại trừ một số khu vực trung tâm lỵ sở Hà Tiên và khu vực quanh sông Giang Thành vẫn có thể trồng lúa, chủ yếu là sơn điền nhờ vào nguồn nước lưu thông từ kênh Vĩnh Tế đến sông Giang Thành
“những vùng thuận tiện giao thông, ngoại thương, gần nguồn nước ở thượng nguồn sông Hậu, hạ lưu sông Tiền, giáp vịnh Thái Lan và dọ sông Cửu Long (Hà Tiên – Kiên Giang), Định Tường (Tiền Giang), An Giang, Vĩnh Long (Cửu Long) là khu vực sầm uất nhất, lấy sản xuất lúa nước làm chính, vụ lúa nằm trọn trong mùa mưa, hoàn toàn nhờ nước trời”(Kim Khôi, 1981, tr 26) Điều này
đã ảnh hưởng đến việc mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp, đặc biệt là diện tích trồng lúa ở vùng này
Xem xét cụ thể diện tích từng loại sở hữu ruộng
và đất, nhận thấy có sự chênh lệch về tỉ lệ diện tích ruộng tư và đất tư giữa các tổng ở huyện Hà
Châu (Bảng 4):
Bảng 4 Thống kê diện tích ruộng đất tư ở huyện Hà Châu
Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc
Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)
Về cơ bản, giữa các tổng thuộc huyện Hà Châu có
sự khác nhau trong cơ cấu diện tích ruộng tư và
đất tư đã tạo ra sự chênh lệch trong tỉ lệ diện tích
ruộng tư và tỉ lệ diện tích đất tư Diện tích ruộng
đất tư ở huyện Hà Châu có 271.6.4.1 mẫu ruộng
tư và 308.4.0.0 mẫu đất tư Việc phân bố diện tích
ruộng tư giữa các tổng có sự chênh lệch nhất định tùy thuộc vào điều kiện đất đai
Trong 5 tổng, chỉ duy nhất tổng Phú Quốc không
có diện tích ruộng tư và diện tích đất tư nhỏ do đặc điểm địa hình hải đảo Tổng Thanh Di là tổng
có diện tích ruộng tư nhiều nhất và chiếm tỉ lệ
Trang 8diện tích ruộng tư lớn nhất huyện Hà Châu Bởi
tổng Thanh Di thuộc khu vực tương ứng với phần
lớn đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng nằm
trong nội địa của huyện Kiên Lương ngày nay,
với điều thuận lợi về nguồn nước đặc biệt là tiếp
giáp với sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế
Tổng Hà Nhuận tương ứng với phần đất nhỏ hẹp
nằm giáp biên giới giữa Việt Nam và Campuchia
ngày nay, do địa hình bị chia cắt với nhiều núi đồi
nên đất đai không thuận lợi cho canh tác nông
nghiệp Vì thế, tổng Hà Nhuận có diện tích ruộng
tư ít nhất huyện Hà Châu
Trong khi đó, diện tích đất tư được phân bố hầu
khắp 5 tổng thuộc huyện Hà Châu, riêng tổng Hà
Thanh có diện tích đất tư với tỉ lệ lớn nhất Tổng
Hà Thanh tương ứng với khu vực đất đai nằm rìa
Tây Bắc huyện Kiên Lương tiếp giáp với biên
giới Camphuchia ngày nay và phía Tây Nam của
tổng Hà Thanh tiếp giáp với vịnh Thuận Yên nằm
trong vùng biển Tây Nam Việt Nam ngày nay
Địa hình nơi đây tuy không bằng phẳng, đất đai
chưa đủ màu mỡ để trồng lúa nhưng có điều kiện
thuận lợi để trồng các loại cây nông nghiệp khác
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên ở huyện Hà Châu
còn nhiều khó khăn cho canh tác nông nghiệp, đặc
biệt là trồng lúa nước nhưng phần lớn diện tích
đất đai đã khai khẩn ở huyện Hà Châu đều được
trồng trọt một số loại cây nông sản nhất định Đặc
biệt, nông sản ở huyện Hà Châu nổi tiếng với một
số sản phẩm như hồ tiêu, dâu, cau, trầu và làm
muối, nhất là hồ tiêu chỉ trồng ở Hà Châu đã tạo
nên đặc trưng riêng biệt của nông sản vùng này
* Cách thức sở hữu
Cách thức sở hữu ruộng đất tư ở Nam Kỳ bao gồm sở hữu đơn chủ và sở hữu đa chủ Theo đó,
sở hữu đơn chủ là hình thức sở hữu do một cá nhân đứng tên trên một hoặc nhiều diện tích ruộng đất khác nhau; sở hữu đa chủ hay đồng sở hữu là hình thức có ít nhất hai hay nhiều người cùng đứng tên sở hữu trên một diện tích ruộng đất Khảo sát địa bạ huyện Hà Châu cho thấy, sở hữu đơn chủ là phổ biến nơi đây và không có hiện tượng đồng sở hữu như các vùng khác ở Nam Kỳ
là vì:
- Hà Châu là vùng đất biên giới, chịu nhiều biến động xã hội trong nước và sự tranh chấp của các nước trong khu vực Do vậy, tình hình dân
cư có sự biến động thường xuyên và đời sống
xã hội không ổn định
- Hà Châu có địa hình chịu sự chia cắt khá mạnh bởi núi đồi và thiếu nguồn nước ngọt nên tình hình khai khẩn và canh tác ruộng đất gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, dân số quá ít không
đủ lực lượng khai khẩn đất hoang nên chưa thể tạo ra cách thức sở hữu đa chủ như các khu vực khác ở trung tâm đồng bằng Nam bộ, mà chủ yếu là sở hữu đơn chủ nhỏ lẻ đối với những nơi có điều kiện thuận lợi trong khẩn hoang và canh tác
* Quy mô sở hữu
Sở hữu ruộng đất theo số lượng chủ sở hữu: Ruộng đất tư ở huyện Hà Châu thuộc về 184 chủ
sở hữu ruộng tư và 214 chủ sở hữu đất tư
Bảng 5 Phân loại số lượng chủ sở hữu ruộng tư và đất tư ở huyện Hà Châu
Đơn vị tính: người
Số lượng chủ sở hữu Số lượng chủ sở hữu
< 1 mẫu 1 – 5
mẫu
5 – 10 mẫu
10 – 15 mẫu < 1 mẫu
1 – 5 mẫu
5 – 10 mẫu
10 – 15 mẫu
Trang 9TT Tổng
Số lượng chủ sở hữu Số lượng chủ sở hữu
< 1 mẫu 1 – 5
mẫu
5 – 10 mẫu
10 – 15 mẫu < 1 mẫu
1 – 5 mẫu
5 – 10 mẫu
10 – 15 mẫu
Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)
Theo đó, mức sở hữu dưới 1 mẫu có 99 chủ sở
hữu ruộng tư và 121 chủ sở hữu đất tư; mức sở
hữu từ 1 mẫu đến 5 mẫu có 77 chủ sở hữu ruộng
tư và 84 chủ sở hữu đất tư; mức sở hữu từ 5 mẫu
đến 10 mẫu có 6 chủ sở hữu ruộng tư và 8 chủ sở
hữu đất tư; mức sở hữu từ 10 mẫu đến 15 mẫu có
2 chủ sở hữu ruộng tư và 1 chủ sở hữu đất tư Sở
hữu bình quân ruộng đất tư ở huyện Hà Châu
khoảng 1,45 mẫu/chủ và mỗi chủ sở hữu 1,2 sở
ruộng đất tư Bình quân sở hữu ruộng tư là 1,47
mẫu/chủ, bình quân sở hữu đất tư là 1,44
mẫu/chủ Trong đó:
- Tổng Hà Nhuận: bình quân sở hữu ruộng đất
tư là 0,87 mẫu/chủ, trong đó bình quân sở hữu
ruộng tư là 0,89 mẫu/chủ, bình quân sở hữu
đất tư là 0,86 mẫu/chủ
- Tổng Hà Thanh: bình quân sở hữu ruộng đất
tư là 1,7 mẫu/chủ, trong đó bình quân sở hữu
ruộng tư là 1,77 mẫu/chủ, bình quân sở hữu
đất tư là 1,69 mẫu/chủ
- Tổng Hà Nhuận: bình quân sở hữu ruộng đất
tư là 1,1 mẫu/chủ, trong đó bình quân sở hữu
ruộng tư là 1,1 mẫu/chủ, bình quân sở hữu đất
tư là 1,1 mẫu/chủ
- Tổng Phú Quốc: bình quân sở hữu đất tư là
0,85 mẫu/chủ
- Tổng Thanh Di: bình quân sở hữu ruộng đất tư
là 1,66 mẫu/chủ, trong đó bình quân sở hữu
ruộng tư là 1,67 mẫu/chủ, bình quân sở hữu
đất tư là 1,64 mẫu/chủ
Huyện Hà Châu có khoảng 220 chủ sở hữu ruộng
đất dưới 1 mẫu và chỉ số ít chủ sở hữu ruộng đất
với quy mô từ 5 mẫu trở lên và hầu như không có
cá nhân nào sở hữu trên 15 mẫu ruộng đất Mức bình quân sở hữu ruộng đất tư ở Hà Châu tuy có
sự khác biệt giữa các tổng nhưng điểm chung là
sở hữu dưới 2 mẫu, trong đó mức bình quân cao nhất là tổng Hà Thanh và nhỏ nhất là tổng Phú Quốc Sở hữu ruộng đất tư ở huyện Hà Châu không lớn như các khu vực khác ở Nam Kỳ lục tỉnh do “điều kiện đất đai không thuận lợi cho nông nghiệp nên diện tích khai phá vùng Hà Tiên thật sự không nhiều Đến đầu thế kỷ XIX, có thể người dân chỉ mới khai phá trồng trọt được ở quanh thị trấn Hà Tiên và dọc rạch Giang Thành” (Lê Văn Năm, 2000, tr 52)
Nhìn chung, quy mô sở hữu ruộng đất của tư nhân còn nhỏ lẻ và xu hướng tập trung ruộng đất vào tay các chủ sở hữu ở huyện Hà Châu chưa đạt mức độ cao như các khu vực khác ở Nam Kỳ Điều đó phản ánh thực trạng xã hội ở Hà Châu chưa có sự phân cực giàu nghèo quá lớn như khu vực đồng bằng trung tâm Trường hợp ở tổng Hòa Lạc, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định là một ví dụ điển hình về sự chênh lệch trong tư hữu ruộng đất:
có đến 98,8% diện tích ruộng đất nằm trong tay người khá giả, những người sở hữu nhỏ chỉ còn 1,1% diện tích ruộng đất tư (Trần Thị Thu Lương,
1994, tr 139)
Sở hữu ruộng đất theo giới tính:
Toàn huyện Hà Châu có 10 chủ tư hữu ruộng đất
là nữ giới, tập trung ở 2 tổng Hà Thanh và Nhuận Đức
Trang 10Bảng 6 Bình quân sở hữu ruộng đất theo giới tính nữ
Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc
TT Tổng Tổng diện tích Số chủ Diện tích sở hữu Tỉ lệ
% Bình quân diện tích
Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)
- Tổng Hà Thanh có 6 chủ sở hữu nữ chiếm
60% số chủ nữ của huyện, diện tích ruộng đất
của chủ là nữ có 20.0.14.4 chiếm 13,80% diện
tích ruộng đất tư, bình quân tư hữu ruộng đất
là 3,3 mẫu/chủ
- Tổng Nhuận Đức có 4 chủ sở hữu nữ chiếm
40% số chủ nữ của huyện, diện tích ruộng đất
của chủ là nữ có 1.3.12.8 chiếm 1,89% diện
tích ruộng đất tư, bình quân tư hữu ruộng đất
là 0.3 mẫu/chủ
Mức bình quân chung về sở hữu ruộng đất của các
chủ nữ ở huyện Hà Châu là rất nhỏ và số chủ sở
hữu là nữ chiếm số lượng rất ít so với số lượng chủ sở hữu là nam giới nhưng đã phản ánh một góc độ khác về sự bình đẳng giữa nam và nữ trong việc tư hữu ruộng đất ở huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên nửa đầu thế kỷ XIX
Sở hữu ruộng đất theo chức dịch:
Chức dịch ở huyện Hà Châu bao gồm Cai tổng,
Xã trưởng, Thôn trưởng, Dịch mục và Tả bạ Huyện có 35/87 chức dịch có ruộng đất tư chiếm 40,23%
Bảng 7 Bình quân sở hữu ruộng đất của chủ sở hữu là chức dịch
Đơn vị tính: mẫu sào thước tấc
TT Tổng Tổng diện tích Số chủ Diện tích sở hữu Tỉ lệ % Bình quân diện tích
Nguồn: Địa bạ huyện Hà Châu năm Minh Mạng thứ 17 (1836)
Theo đó, chức dịch tổng Phú Quốc không có
ruộng đất tư, tổng Hà Nhuận và tổng Hà Thanh có
số lượng chức dịch ít nhất, tổng Thanh Di có số
lượng chức dịch nhiều nhất trong tổng số chức
dịch có ruộng đất tư Tổng diện tích ruộng đất
thuộc tư hữu của chức dịch là 55.8.3.9 chiếm 9,62% diện tích ruộng đất tư của huyện và mức bình quân sở hữu ruộng đất là 1.5.9.5 Trong đó: