1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Xây dựng quy trình xác định Asen vô cơ trong cá bằng phương pháp LC – ICP/MS

6 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 356,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Asen tồn tại trong tự nhiên ở dạng Asen hữu cơ và Asen vô cơ (iAs), dạng Asen vô cơ có độc tính cao hơn dạng Asen hữu cơ. Thủy hải sản là một nguồn tích tụ Asen sinh học, hàm lượng Asen tổng trong các sinh vật của thủy quyển luôn cao hơn nhiều so với các loài động vật trên đất liền, việc đánh giá chất lượng thủy hải sản thông qua hàm lượng Asen tổng là không chính xác.

Trang 1

XÂY DỰNG QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH ASEN VÔ CƠ TRONG CÁ

BẰNG PHƯƠNG PHÁP LC – ICP/MS

Nguyễn Hữu Phát*, Cù Hoàng Yến*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Asen tồn tại trong tự nhiên ở dạng Asen hữu cơ và Asen vô cơ (iAs), dạng Asen vô cơ có độc

tính cao hơn dạng Asen hữu cơ Thủy hải sản là một nguồn tích tụ Asen sinh học, hàm lượng Asen tổng trong các sinh vật của thủy quyển luôn cao hơn nhiều so với các loài động vật trên đất liền, việc đánh giá chất lượng thủy hải sản thông qua hàm lượng Asen tổng là không chính xác Để đánh giá chính xác chất lượng thủy hải sản, việc xác định các dạng tồn tại khác nhau của Asen là rất cần thiết, hiện nay kỹ thuật sắc ký lỏng kết nối khối phổ plasma (LC-ICP/MS) là lựa chọn hàng đầu với những ưu điểm như lượng mẫu ít, độ chọn lọc và độ nhạy cao

Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng quy trình xác định Asen vô cơ trong cá bằng phương pháp LC-ICP/MS Phương pháp nghiên cứu: Khảo sát quá trình tách và định lượng Asen vô cơ ra khỏi các dạng Asen hữu cơ

trong cá nước ngọt và nước mặn bằng cột trao đổi anion trên hệ thống sắc ký lỏng kết nối khối phổ plasma

Kết quả nghiên cứu: Quy trình xác định Asen vô cơ trong cá bằng phương pháp LC-ICP/MS có giới hạn

phát hiện (MLOD) và giới hạn định lượng (MLOQ) là 15 ng/g và 50 ng/g Độ lặp lại của phương pháp ở 3 nồng

độ iAs 50, 1000 và 2000 ng/g có RSD < 15%, hiệu suất thu hồi ở nồng độ tương ứng dao động từ 97,9-99,1% và

độ không đảm bảo đo của phương pháp là 11%

Kết luận: Phương pháp sắc ký lỏng kết nối khối phổ plasma sử dụng cột trao đổi anion là phương pháp phân

tích chính xác để định lượng Asen vô cơ trên nền mẫu cá

Từ khóa: Asen vô cơ, cá, LC-ICP/MS

ABSTRACT

DEVELOPMENT OF LIQUID CHROMATOGRAPHY-INDUCTIVELY COUPLED PLASMA MASS SPECTROMETRY METHOD FOR THE DETERMINATION OF INORGANIC ARSENIC IN FISH

Nguyen Huu Phat, Cu Hoang Yen * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 381 - 386

Background: Arsenic is usually divided into two main groups: organic arsenic form and inorganic arsenic

form (iAs) in natural environment The inorganic forms of arsenic are more toxic than organic form Arsenic does bio accumulate in seafood Total arsenic level of organisms in the hydrosphere are always higher than land-animals Quality evaluation of aquatic products through total arsenic levels are inaccuracy Recently, HPLC followed by detection using ICP-MS allows low sample volume injection, with high selectivity and high sensitivity

Objectives: Establishment of a new method for determination of inorganic arsenic in fish by LC-ICP-MS Methods: Survey of separation and quantification inorganic arsenic species are conducted by anion exchange

liquid chromatography inductively coupled plasma - mass spectrometry.

Results: The limits of determination (MLOD) and the limits of quantitation (MLOQ) for iAs in fish were

15ng/g and 50ng/g respectively At three fortification levels (50 – 1000 – 2000 ng/g), the overall recoveries range from 97.9 to 99.1% with RSD values less than 15%

* Viện Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: Ths Nguyễn Hữu Phát ĐT: 0969241883 Email: huuphatk@gmail.com

Trang 2

Conclusion: Anion exchange liquid chromatography inductively coupled plasma - mass spectrometry was

accurate analytical method for quantitation of inorganic arsenic in fish samples

Keywords: inorganic Arsenic, fish, LC-ICP/MS

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Thủy hải sản là một nguồn tích tụ Asen

sinh học vô cùng lớn trong tự nhiên, hàm

lượng Asen tổng trong các sinh vật của thủy

quyển luôn cao hơn nhiều so với các loài động

vật trên đất liền Tuy nhiên, quá trình chuyển

hóa của Asen trong thủy quyển thường tạo

hợp chất Asenbetoine, một dạng Asen hữu cơ

rất bền và độc tính thấp(3) Trong các loài tôm

và cá, hàm lượng Asen vô cơ thường thấp hơn

0,1 % trong tổng số Asen có trong sinh vật

DMA (dimethylarsinic acid) và MMA

(monomethylarsonic acid,

monomethylarsonous acid) cũng tồn tại ở

lượng rất thấp trong thủy hải sản, một số loài

như cá ngừ thường không tích tụ DMA, MMA

trong cơ thể(2) Như vậy, việc đánh giá chất

lượng của mặt hàng thủy hải sản thông qua

hàm lượng Asen tổng là không chính xác Các

kết quả phân tích khi được công bố sẽ gây ảnh

hưởng không nhỏ đến nhà sản xuất cũng như

gây bất an trong dư luận

Hiện nay kỹ thuật LC-ICP/MS là lựa chọn

hàng đầu cho các ứng dụng phân tích các dạng

tồn tại khác nhau của Asen Kỹ thuật này có

những ưu điểm như lượng mẫu ít, độ nhạy

cao(4) Hai dạng sắc ký lỏng thường dùng trong

phân tích nguyên dạng Asen là sắc ký ghép cặp

ion và sắc ký trao đổi ion (trao đổi anion và

cation) Tuy nhiên, để phân tích nguyên dạng

Asen vô cơ (tồn tại dạng anion trong môi trường

trung tính và kiềm), phương pháp sắc ký trao

đổi anion đã được các nhà khoa học trên thế giới

lựa chọn nghiên cứu như tác giả LAsen – 2005(5),

Sang-Ho Nam – 2006(6), Georg Raber – 2012(7),

Rasmussen – 2012(8) cũng như được dùng trong

các phương pháp được đề xuất bởi cơ quan kiểm

soát chất lượng thực phẩm Hoa Kỳ (FDA – EAM

4-11) cùng với các hãng thiết bị LC-ICP/MS

(Agilent, PerkinElmer)

Nhằm phục vụ công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, cụ thể là kiểm soát hàm lượng Asen vô cơ trong các sản phẩm cá, chúng tôi tiến hành thực hiện xây dựng quy trình xác định Asen vô cơ trong cá bằng phương pháp LC-ICP/MS trên cột trao đổi anion

Mục tiêu nghiên cứu:

Xây dựng quy trình xác định Asen vô cơ trong cá bằng phương pháp LC-ICP/MS

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Quy trình xác định Asen vô cơ trên nền mẫu

cá nước ngọt và cá nước mặn bằng thiết bị sắc ký lỏng kết nối quang phổ ghép cặp plama đầu dò khối phổ

Phương pháp nghiên cứu

Thiết bị

Cân phân tích (độ nhạy 0,1 mg), máy xử lý

mẫu vi sóng ETHOS-1, máy vortex, cột sắc ký

PRP-X100 (150mm × 4,1 mm (id), anion

exchange – HAMILTON), hệ thống

LC-ICP/MS AGILENT 7700x

Hóa chất

Nước cất siêu sạch — 18 MΩ; Ammonium hydroxide suprapur (NH4OH 25%), Hydrochloric acid (HCl 37%), Nitric acid (HNO3

65%), Hydrogen peroxide (H2O2 30%), Ammonium carbonate ((NH4)2CO3), Asenate Stock Standard (As(V)) 1000 mg/L MERCK, Asenite Stock Standard (As(III)) 1000 mg/L INORGANIC VENTURE, Dimethylarsinic acid (DMA), Disodium methyl arsonate hexahydrate (monomethylarsonic acid, MMA), Asenobetaine (AsB) SIGMA ALDRICH

Điều kiện sắc ký lỏng kết nối khối phổ plasma (LC-ICP/MS):

Sử dụng thiết bị LC-ICP/MS với kỹ thuật sắc

ký trao đổi anion trong môi trường pH 8,5 để

Trang 3

tách dạng Asen (V) ra khỏi các dạng Asen hữu

cơ Các thông số cụ thể được trình bày trong

bảng 1

Bảng 1: Điều kiện vận hành thiết bị LC-ICP/MS

Loại cột 150mm×4,1 mm (id) Hamilton

PRP-X100 anion exchange

Bộ va chạm Không sử dụng nhằm tăng tín hiệu

Thời gian lấy tín hiệu 0,8 s (m/z 75)

Xử lý mẫu

Asen trong mẫu cá được chiết khỏi nền mẫu

bằng hỗn hợp dịch chiết (HCl 0,06 M – 3% H2O2)

trong lò vi sóng 25 phút ở nhiệt độ 900C Sau đó

mẫu được ly tâm 10 phút với tốc độ 4500

vòng/phút, lọc qua màng lọc 0,45 µL và pha

loãng với tỉ lệ 1: 1 bằng (NH4)2CO3 60mM(8)

Xác định các thông số của phương pháp

(a) Độ chọn lọc của phương pháp

LC-ICP/MS được xác định dựa trên số khối đặc

trưng của Asen và khả năng phân tách trên cột

sắc ký

(b) Độ tuyến tính được đánh giá thông qua

hệ số tương quan r > 0,997 của phương trình hồi

quy của đường chuẩn thể hiện mối tương quan

giữa tỷ lệ diện tích peak sắc ký và nồng độ chất

phân tích

(c) Giới hạn phát hiện (MLOD) và giới hạn

định lượng (MLOQ) của phương pháp được

thực hiện thí nghiệm và tính toán theo hệ số R

với lượng thêm chuẩn 50 ng/g, giá trị

MLODđược xác định như sau:

3

LOD   SD

x R LOD

Nếu 4 < R < 10 thì giá trị MLOD phù hợp và

đáng tin cậy, nếu 4 < R thỉ cần thêm chuẩn nồng

độ cao hơn và thực hiện lại thí nghiệm, tính toán

lại giá trị R, nếu R > 10 thì cần thêm chuẩn nồng

độ thấp hơn và thực hiện lại thí nghiệm, tính toán lại giá trị R

(d) Độ chính xác và độ đúng của phương pháp được đánh giá thông qua độ lặp lại cùng với độ tái lặp nội bộ (RSD %) và hiệu suất thu hồi H (%) của mẫu thêm chuẩn ở 3 nồng độ: 50 ng/g, 1000 ng/g và 2000 ng/g Độ lặp lại được thực hiện bởi 1 kiểm nghiệm viên trong khi độ tái lặp nội bộ được thực hiện tương tự với một kiểm nghiệm viên khác Hệ số RSD (%) phải < 15% và H (%) phải nằm trong khoảng 75 – 125% (e) Độ không đảm bảo đo được tính toán theo độ tái lặp nội bộ phòng thí nghiệm và độ chệch của phương pháp

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Điều kiện phân tích bằng LC-ICP/MS

Sau khi áp dụng các thông số sắc ký lỏng và khối phổ vào phân tích dịch chiết của mẫu cá lóc được thêm chuẩn các dạng Asen: DMA, MMA, AsB, As(III), As(V) Kết quả thu được sắc ký đồ như trong hình 1

Từ sắc ký đồ mẫu thực có thể thấy trong cá tồn tại một lượng đáng kể các dạng Asen hữu cơ không tương tác với cột sắc ký AsB được dùng như chất đại diện cho tất cả các dạng Asen hữu

cơ không có tương tác với cột sắc ký trao đổi anion (dạng Asen hữu cơ dạng cation hoặc trung hòa) Bên cạnh đó, với pha động được lựa chọn, dạng As(V) cần phân tích được tách tốt khỏi các

Trang 4

dạng Asen khác và thời gian phân tích cho mỗi

mẫu tương đối ngắn giúp giảm lượng muối

đóng vào gây tắc nghẽn thiết bị

Hình 1: Sắc ký đồ của mẫu thật và mẫu thêm chuẩn

hỗn hợp các dạng Asen

Đánh giá khả năng chiết

Phân tích mẫu sau khi vô cơ hóa theo AOAC

986.15 (xử lý khô - ướt kết hợp) và chiết theo quy

trình của tác giả Rasmussen, kết quả được thể

hiện ở bảng 2

Bảng 2: Kết quả phân tích Asen tổng trong mẫu cá

lóc theo bằng phương pháp AOAC 986.15 và phương

pháp chiết theo quy trình của tác giả Rasmussen (1,8)

Hàm lượng As trung bình (ng/g) 38,3 39,7

Hàm lượng As lớn nhất (ng/g) 48,4 45,7

Hàm lượng As nhỏ nhất (ng/g) 33,2 32,9

Công cụ “t-Test: Paired Two Sample for

Means” của phần mềm EXCEL – 2010 được sử

dụng nhằm so sánh kết quả phân tích hàm

lượng Asen tổng trong mẫu cá lóc giữa phương

pháp vô cơ hóa theo AOAC 986.15 và phương

pháp chiết cho thấy không có sự khác biệt giữa 2 kết quả (bảng 2), tthực nghiệm ( 1,50) < tlý thuyết (2,07) Như vậy có thể khẳng định rằng dung dịch chiết (HCl 0,06 M – H2O2 3%) đã chiết toàn bộ các dạng Asen ra khỏi nền mẫu trong thời gian 25 phút ở nhiệt độ 90oC

Đánh giá khả năng oxi hóa As (III)

Sau khi thêm chuẩn ở 3 mức nồng độ 50,

1000 và 2000 ng/g As(III) vào mẫu cá lóc Hiệu suất oxy hóa As(III) được đánh giá thông qua tỷ

lệ nồng độ As(V) có trong dịch chiết và nồng độ As(III) thêm vào ban đầu Thực hiện phân tích các mẫu thêm chuẩn này và ghi nhận lượng As(V) có trong dịch chiết, kết quả bảng 3

Bảng 3: Khả năng oxi hóa As(III) của dung dịch chiết

Nồng độ As (III) thêm vào mẫu(ng/g) 50 1000 2000

Nồng độ As (V) (ng/g) 51,5 1005 1915

Khảo sát khả năng oxy hóa của dịch chiết cho thấy 95,8% As(III) (ở mức 2000 ng/g) và 100% As(III) (ở mức 50, 1000 ng/g) được oxy hóa thành As(V), các dạng Asen hữu cơ hoàn toàn không bị phân hủy thành As(V) (ở mức

2000 ng/g)

Đánh giá độ bền của Asen hữu cơ

Asen hữu cơ được thêm vào mẫu sau đó trải qua quá trình xử lý mẫu nhằm đánh giá khả năng bị phân hủy thành As(V) gây sai lệch dương cho kết quả phân tích Hàm lượng As(V) trong dịch chiết của thí nghiệm càng thấp thì dạng Asen hữu cơ càng bền

Bảng 4: Độ bền của Asen hữu cơ trong dịch chiết

STT DMA (ppb) MMA (ppb) AsB (ppb) As(V) (ppb) STT DMA (ppb) MMA (ppb) AsB (ppb) As(V) (ppb)

Mẫu cá lóc

A

Trang 5

Kết quả cho thấy các dạng Asen hữu cơ hoàn

toàn không bị phân hủy thành As(V) (ở mức

2000 ng/g)

Xác định giá trị sử dụng của phương pháp

Khoảng tuyến tính

Do khoảng tuyến tính của kỹ thuật ICP-MS

khá rộng (6 – 9 bậc), hơn nữa khi hàm lượng

Asen quá cao sẽ gây nhiễm bẩn hệ thống do đó

không thực hiện khảo sát khoảng tuyến tính

Khoảng làm việc được lựa chọn trong khoảng từ

1 ng/g – 10 ng/g

Hình 2: Đồ thị biểu diễn sự tương quan tuyến tính

giữa nồng độ và diện tích peak sắc ký As(V)

Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng

Sau khi phân tích 40 mẫu, kết quả tính toán

cho thấy giới hạn phát hiện và giới hạn định

lượng của phương pháp lần lượt là 15 ng/g và 50

ng/g Do giới hạn cho phép của iAs trong cá là

2000 ng/g, như vậy giới hạn định lượng vừa xác

định được hoàn toàn thích hợp cho mục đích

kiểm tra chất lượng sản phẩm cá

Độ lặp lại, độ tái lặp, hiệu suất thu hồi, độ

không đảm bảo đo

Bảng 5 Các thông số thẩm định

Nồng độ 50

ng/g

1000 ng/g

2000 ng/g Tiêu chí

Nhận xét

Độ không đảm bảo

Thực hiện phân tích các mẫu cá lóc thêm

chuẩn ở 3 mức nồng độ Asen 50, 1000, 2000 ng/g,

hiệu suất thu hồi, SD, RSD% và BIAS, kết quả được trình bày trong bảng 5

Phân tích mẫu thực tế

Áp dụng quy trình đã thẩm định vào xác định hàm lượng iAs trong 20 mẫu cá (5 loài cá nước ngọt, 5 loài cá nước mặn, mỗi loài 2 mẫu thử)

Bảng 6: Kết quả phân tích 10 loại cá

Loài cá MSM Kết quả

(ng/g) Loài cá MSM

Kết quả (ng/g)

Lóc NN-1 < 15 Thu NM-1 < 15 NN-2 < 15 NM-2 < 15 Trê NN-3 < 15 Ngừ NM-3 < 15 NN-4 < 15 NM-4 < 50

Ba sa NN-5 < 15 Ngân NM-5 < 15

NN-6 < 15 NM-6 < 50 Diêu

hồng

NN-7 < 15

Nục NM-7 < 50 NN-8 < 15 NM-8 < 50

Rô NN-9 < 15 Bạc má NM-9 < 50 NN-10 < 15 NM-10 < 50 Kết quả phân tích cho thấy không phát hiện iAs trong các mẫu cá nước ngọt (cá lóc, cá trê, cá basa, cá diêu hồng, cá rô) Đối với cá nước mặn (cá thu, cá ngừ, cá ngân, cá nục, cá bạc má), tất cả các mẫu đều cho thấy có sự hiện diện của iAs nhưng ở dưới khả năng định lượng của phương pháp Bên cạnh đó, trong tất cả các sắc ký đồ phân tích mẫu cá đều xuất hiện peak tín hiệu của các dạng Asen hữu cơ (dạng ion dương và trung hòa, không tương tác với cột) Như vậy có thể kết luận hàm lượng Asen trong các mẫu cá được khảo sát đa phần là Asen hữu cơ có độc tính thấp

KẾT LUẬN

Phương pháp phân tích iAs đã được xác định giá trị sử dụng có giới hạn định lượng khá thấp (50 ng/g) so với mức giới hạn cho phép theo quy định (2000 ng/g), có các thông

số độ lặp lại, độ tái lặp, hiệu suất thu hồi đều đạt tiêu chí đề ra Phương pháp đã được ứng dụng để phân tích mẫu cá nước ngọt và nước mặn tại Tp Hồ Chí Minh

r = 0,9994

Trang 6

Tuy nhiên, nhằm nâng cao độ chính xác của

phương pháp, có thể nghiên cứu thêm việc áp

dụng nội chuẩn trong phân tích iAs bằng cách sử

dụng các nguyên tố có tính chất hoặc khối lượng

nguyên tử gần với nguyên tố As

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lead, Selenium, and zinc in human and pet foods

Multielement method

consumption on the assessment of occupational exposure to

Asenic by urinary Asenic speciation measurements J Trace

Elem Electrolytes Health Dis, 6(3): pp.153-60

environment Chemical Reviews, 89(4): pp.713-764

analysis, Talanta, 58(1): pp.77-96

Determination of inorganic Asenic in white fish using

microwave-assisted alkaline alcoholic sample dissolution and HPLC-ICP-MS, Anal Bioanal Chem, 381(2): pp.339-46

separation and quantitation of Asenic species in food and dietary supplements by HPLC-ICP-MS, Korean chemistry society, 27(6): pp.903-908

Francesconi KA (2012) An improved HPLC–ICPMS method for determining inorganic Asenic in food: Application to rice, wheat and tuna fish, Food Chemistry, 134(1): pp 524-532

HG-AAS method for determination of inorganic Asenic in samples of marine origin Analytical and Bioanalytical Chemistry, 403(10): pp.2825-2834

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 16/7/2016 Ngày bài báo được đăng: 05/10/2016

Ngày đăng: 09/01/2020, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm