1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Bộ Luật lao động năm 2012 từ thực tiễn tỉnh Sơn La

95 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 574 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các ngành luật nói trên, vấn đề BTTH còn được quy định khá đadạng trong luật lao động, chẳng hạn như BTTH do vi phạm hợp đồng lao độngHĐLĐ, BTTH về tính mạng, sức khỏe; BTTH do

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI THEO

BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012 TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI THEO

BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012 TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả luận văn “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Lao động năm 2012 từ thực tiễn tỉnh Sơn La” xin cam đoan:

- Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tác giả.

- Luận văn được thực hiện độc lập dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Triều Dương.

- Những thông tin, số liệu, bản án được trích dẫn trong luận văn đầy đủ, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.

- Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong các luận văn khác.

Tác giả luận văn

Thào A Só

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Luật Kinh tế - Viện Đại học Mở Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Triều Dương đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi rất nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, cô Khoa đào tạo Sau đại học

- Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập.

Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văncòn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các bạn học viên./

Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2016

Học viên

Thào A Só

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 1

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3

6 Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 4

7 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 4

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012 4

1.1 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Lao động 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

Chương 2 27

QUY ĐỊNH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012 VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75

Chương 3 77

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012 77

VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 77

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

Hợp đồng lao động : HĐLĐ

Tai nạn lao động : TNLĐ

Bệnh nghề nghiệp : BNN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội là tổng hòa các mối quan hệ đa dạng, phức tạp giữa các cá nhân, tổchức và nhà nước Trong một xã hội với vô vàn các mối quan hệ ràng buộc nhau đó,việc thực hiện quyền của chủ thể này rất có thể sẽ ảnh hưởng đến quyền của chủ thểkhác Đặc biệt, đối với quan hệ lao động (QHLĐ – một dạng quan hệ cơ bản, quantrọng thì việc xâm hại quyền và lợi ích lẫn nhau giữa các chủ thể là điều khôngtránh khỏi Cùng với nhiều quy định khác của pháp luật lao động, bồi thường thiệthại (BTTH) là một nội dung thu hút được sự quan tâm không chỉ của các chủ thểtrong quan hệ đó mà của toàn xã hội Đặc biệt, trong những năm gần đây, vấn đềBTTH về tài sản cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) đang trở thành một vấn đềhết sức nóng bỏng Tuy nhiên, trước sự phát triển của QHLĐ, trách nhiệm BTTHtrên thực tế còn đặt ra cả đối với NSDLĐ để BTTH cho người lao động (NLĐ)trong những trường hợp cụ thể khi xảy ra tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghềnghiệp (BNN) Trước thực trạng đó, nhằm đảm bảo và duy trì QHLĐ hài hòa, ổnđịnh, tiến bộ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, pháp luật lao động đãghi nhận những thay đổi về nguyên tắc xử lý BTTH, điều chỉnh nội dung BTTHmột cách cụ thể hơn so với các quy định trước đây Mặc dù vậy, các quy định nàyvẫn chưa thật sự chặt chẽ và đầy đủ Đặc biệt, các quy định liên quan đến bảo vệquyền lợi NSDLĐ, NLĐ vẫn còn hạn chế Do đó các vấn đề BTTH còn nhiềuvướng mắc trong cả lý luận và thực tiễn áp dụng

Chính vì lẽ đó, tác giả đã lựa đã chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Bộ Luật lao động năm 2012 từ thực tiễn tỉnh Sơn La” là đề tài nghiên

cứu cho Luận văn Thạc sĩ của mình với hy vọng sẽ đóng góp được một phần vàoviệc nghiên cứu và hoàn thiện vấn đề này để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tếtrong tỉnh, trong nước và môi trường kinh tế quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về BTTH trong pháp luật lao động

trong giới khoa học pháp lý Nghiên cứu ở mức độ toàn diện là cuốn sách “ Chế độ

Trang 8

bồi thường trong luật lao động Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí (Nhà xuất

bản Tư pháp, 2006) Trong cuốn sách của mình, tác giả đề cập đến vấn đề BTTH vềtài sản là một phần tất yếu của chế định BTTH trong pháp luật lao động Đây làcông trình nghiên cứu một cách tổng thể và toàn diện về vấn đề BTTH trên cơ sởcác quy định của Bộ luật Lao động (BLLĐ) 1994 (sửa đổi bổ sung năm 2006), vềnhững quy định của pháp luật và thực trạng thực thi các quy định này trên thực tế,kèm theo các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định và nâng cao hiệuquả áp dụng pháp luật Đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động ViệtNam những năm trước 2010 với vấn đề BTTH về tài sản cho NSDLĐ, tác giảNguyễn Thị Hường (khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội) đã thực hiện đề tài:

“Trách nhiệm vật chất trong luật lao động Việt Nam - thực trạng và phương hướng

hoàn thiện” cho Luận văn Thạc sĩ của mình Ở đề tài này, tác giả đã có sự đánh giá,

nhìn nhận khách quan và phân tích những tồn tại, hạn chế của pháp luật hiện hànhnhằm đưa ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp để hoàn thiện các quy định pháp luật

lao động Đề tài Luận văn Thạc sĩ “BTTH trong luật lao động Việt Nam và thực tiễn

áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” (Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,

năm 2014) được tác giả Nguyễn Thị Bích Nga phân tích chuyên sâu các quy địnhcủa pháp luật lao động về BTTH về tài sản trên cơ sở các quy định của BLLĐ 2012

và thực tiễn áp dụng tại một địa phương cụ thể Bên cạnh đó, trong thời gian quacũng có một số bài viết trên các trang như Tạp chí Luật học, Tạp chí Nghiên cứu lậppháp, Tạp chí Khoa học pháp lý…về vấn đề vấn đề BTTH và trách nhiệm BTTH vềtài sản cho NSDLĐ

Các công trình nghiên cứu kể trên đã nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau:

từ nghiên cứu hệ thống hóa hay chỉ đề cập một khía cạnh của pháp luật, song hầuhết đều mới đánh giá và hoàn thiện các quy định về BTTH trong pháp luật lao độngnói chung hoặc BTTH về tài sản theo quy định của pháp luật lao động cũ Thực tếđòi hỏi cần có những công trình nghiên cứu chuyên sâu trách nhiệm BTTH theopháp luật hiện hành, cũng như đánh giá sự kiểm nghiệm tính hiệu quả của pháp luật

về trách nhiệm BTTH cho NSDLĐ, NLĐ từ thực tiễn các vi phạm xảy ra kể từ khiBLLĐ 2012 ra đời Từ sự đánh giá và kiểm nghiệm đó, có thể đưa ra các kiến nghị

Trang 9

hoàn thiện pháp luật hoặc giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tiễn tại

tỉnh Sơn La Qua khảo sát tình hình nghiên cứu đề tài trên đây, đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Bộ Luật lao động năm 2012 từ thực tiễn tỉnh Sơn La” là đề tài mang tính thời sự, một công trình nghiên cứu khoa học độc lập,

mang tính mới và không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào khác trong những năm gầnđây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về tráchnhiệm BTTH trong luật lao động, quy định BLLĐ 2012 hiện hành cùng các văn bảnhướng dẫn về trách nhiệm BTTH trong luật lao động và thực tiễn thực hiện các quyđịnh này để từ đó đưa ra các phương án hoàn thiện pháp luật cũng như các giải phápnâng cao hiệu quả của việc thực hiện trách nhiệm BTTH trong luật lao động trongthời gian tới Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận văn có các nhiệm vụ nghiêncứu cụ thể sau đây:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về trách nhiệm BTTH trong luật lao động;

- Nghiên cứu các quy định của BLLĐ 2012 về trách nhiệm BTTH, tiếp cận theohướng các lĩnh vực thực hiện và chủ thể có trách nhiệm BTTH, đồng thời đánh giáviệc vận dụng các quy định pháp luật này trên thực tế;

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụngtrong thực tiễn trách nhiệm BTTH trong luật lao động

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm BTTH, thực trạng

áp dụng quy định BLLĐ 2012 trên cơ sở quy định của BLLĐ 2012 và các văn bảnhướng dẫn hiện hành Tuy nhiên, vì nội dung có hạn, Luận văn chỉ tập trung vào cáclĩnh vực thường xảy ra trách nhiệm BTTH cũng như trách nhiệm BTTH chỉ gắn vớiNSDLĐ, NLĐ – những chủ thể trung tâm trong QHLĐ cá nhân Thực trạng áp dụngquy định pháp luật cũng được Luận văn thống nhất nghiên cứu từ khi BLLĐ 2012

có hiệu lực

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan

Trang 10

điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về quyền con người vàquyền công dân trong xã hội, những luận điểm khoa học trong các công trìnhnghiên cứu và các bài viết đăng trong tạp chí của một số nhà khoa học Việt Nam.Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm sáng tỏ về mặtkhoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như: Phươngpháp luận, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu

6 Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Với mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn có những đóng góp mới sau đây:

- Nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt lí luận và thực tiễn về trách nhiệmBTTH trong luật lao động với những điểm khác với những quan niệm truyền thống,Luận văn xác định trách nhiệm BTTH từ phía cả NLĐ và NSDLĐ

- Luận văn chỉ ra những tồn tại của hệ thống các quy định của BLLĐ 2012 vànhững hạn chế của các quy định này thông qua thực tiễn thực hiện tại tỉnh Sơn Latrong thời gian qua

- Luận văn đưa ra kiến nghị về một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nângcao hiệu quả của việc thực hiện trách nhiệm BTTH trong luật lao động

Với những vấn đề nêu trên, tác giả của luận văn hy vọng đóng góp một phầnnhỏ bé vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của cácbên trong mối quan hệ pháp luật lao động, đảm bảo lợi ích Nhà nước và xã hội, thựchiện tốt mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ Luật

lao động năm 2012

Chương 2: Quy định Bộ luật Lao động năm 2012 về trách nhiệm bồi thường thiệt

hại và thực tiễn tỉnh Sơn La

Chương 3: Hoàn thiện quy định Bộ luật Lao động năm 2012 về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

Trang 11

THIỆT HẠI TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012

1.1 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Lao động

1.1.1 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Lao động

Trong cuộc sống, mỗi cá nhân nói riêng và các chủ thể khác của quan hệ xãhội nói chung đều có thể gặp phải những rủi ro, thiệt hại về vật chất, tinh thần, thậmchí là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng Những thiệt hại này có thể do yếu tố kháchquan gây ra nhưng cũng có thể do hành vi của chính người bị thiệt hại, hay do chủthể khác gây ra Thiệt hại thường được hiểu là việc một chủ thể bị mất hoặc giảmsút những lợi ích vật chất hoặc tinh thần do những nguyên nhân chủ quan hoặckhách quan Thông thường, khi xảy ra thiệt hại, vấn đề bồi thường sẽ được đặt ranhư: chủ thể bị thiệt hại có được bồi thường không, chủ thể nào có trách nhiệm bồithường, mức bồi thường, cách thức bồi thường, …

Bồi thường được hiểu là sự đền bù bằng tiền đối với những thiệt hại về vậtchất và tinh thần mà người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm [13] Qua đó, chủ thể

bị thiệt hại được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Những quyền và lợi ích hợppháp này có thể bao gồm quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà

ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn góp trong doanh nghiệp, Quyền và lợiích hợp pháp cũng có thể bao gồm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyềnđược pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự Những quyềnnày được bảo vệ thông qua các quy định của nhiều ngành luật khác nhau như: Luậtdân sự, luật hình sự, luật lao động, luật thương mại,… Thông qua các quy định này,nhà nước đảm bảo rằng các chủ thể có hành vi gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi thường,khắc phục hậu quả của những hành vi mình gây ra đối với các chủ thể bị thiệt hại

Dưới góc độ pháp luật dân sự, có thể nói, mỗi người sống trong xã hội đềuphải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâmphạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Khi một người vi phạm nghĩa

vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi

Trang 12

do hành vi của mình gây ra Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổnthất cho người khác được hiểu là BTTH (BTTH) Như vậy, theo dân sự, có thểhiểu trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi mộtngười vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi

thường những tổn thất mà mình gây ra [15] Trong luật kinh doanh thương mại,

BTTH là một chế tài pháp lý dùng để bù đắp những thiệt hại thực tế (bằng tiền) chobên bị thiệt hại trong quan hệ pháp luật được các quy phạm pháp luật kinh doanhthương mại điều chỉnh [19]

Bên cạnh các ngành luật nói trên, vấn đề BTTH còn được quy định khá đadạng trong luật lao động, chẳng hạn như BTTH do vi phạm hợp đồng lao động(HĐLĐ), BTTH về tính mạng, sức khỏe; BTTH do gây thiệt hại về tài sản trongQHLĐ,… Các quan hệ BTTH do luật lao động điều chỉnh có những điểm đặc thùnhư: Chủ thể bị thiệt hại và chủ thể gây thiệt hại là các bên trong quan hệ xã hộithuộc phạm vi điều chỉnh của luật lao động; Hành vi gây thiệt hại và hậu quả pháp

lý có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NLĐ hoặc NSDLĐ theo quy định củapháp luật lao động

Trong giáo trình Luật lao động của Đại học Luật Hà Nội không đưa ra mộtđịnh nghĩa toàn diện về BTTH trong pháp luật lao động mà chỉ đưa ra định nghĩa vềBTTH về vật chất trong QHLĐ, một trường hợp của BTTH trong lao động như sau:

“BTTH về vật chất trong QHLĐ là nghĩa vụ của NLĐ phải bồi thường những thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ do hành vi vi phạm kỉ luật lao động, vi phạm hợp đồng trách nhiệm gây ra.” [20] Theo đó, BTTH trong giáo trình này chỉ tiếp cận dưới

góc độ BTTH về mặt vật chất, do NLĐ có hành vi vi phạm kỷ luật lao động hoặc viphạm hợp đồng trách nhiệm gây ra, không xem xét đến BTTH về tinh thần, tínhmạng, sức khoẻ của NLĐ trong trường hợp bị thiệt hại trong quá trình lao động

Tương tự như vậy, trong giáo trình Luật lao động của Viện ĐH Mở cũngkhông đưa ra định nghĩa về BTTH trong pháp luật lao động mà chỉ đưa ra định

nghĩa về trách nhiệm vật chất: “Trách nhiệm vật chất là một loại trách nhiệm pháp

lý do NSDLĐ áp dụng đối với NLĐ bằng cách buộc NLĐ phải bồi thường những thiệt hại về vật chất cho NSDLĐ do hành vi vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm hợp

Trang 13

đồng trách nhiệm gây ra” [21] Về cơ bản, cách tiếp cận này cũng tương đối hạn

hẹp so với nội hàm của thuật ngữ BTTH trong luật lao động

Chúng tôi cho rằng, BTTH có thể tiếp cận từ những góc độ khác nhau, tuy

nhiên, BTTH trong luật lao động có thể tiếp cận dưới góc độ pháp lý, đó là: BTTH

trong luật lao động có thể hiểu là việc một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác trong cùng QHLĐ hoặc quan hệ xã hội khác có liên quan đến QHLĐ phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra Thông

thường, BTTH chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là:

Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quảgiữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại Đây lànhững điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thườngnhững thiệt hại do mình gây ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt tráchnhiệm BTTH có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên

BTTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại.Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toánđược bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhấtđịnh nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường Do đó, những thiệthại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theoquy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Và cũng chính

vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bịthiệt hại

Chủ thể bị áp dụng BTTH: bên cạnh người trực tiếp có hành vi gây thiệt hạithì trách nhiệm BTTH còn có thể được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó làcha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, phápnhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trongtrường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hạihoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…

Cùng với cách tiếp cận trên cơ sở góc độ pháp lý, tôi đưa ra khái niệm về

trách nhiệm BTTH trong luật lao động như sau: “Trách nhiệm BTTH trong luật lao

động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong QHLĐ hoặc quan

Trang 14

hệ xã hội khác có liên quan đến QHLĐ có hành vi vi phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại cho bên kia nhằm khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất về tinh thần, sức khoẻ cho người bị thiệt hại”

1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Lao động

Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệmpháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đốivới người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị

áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước… thì trách nhiệmBTTH trong luật lao động còn có những đặc điểm riêng sau đây:

- Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH trong luật lao động là một loại trách nhiệmpháp lý chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động Khi một người gây ra tổn thấtcho chủ thể khác trong QHLĐ, quan hệ xã hội khác có liên quan đến QHLĐ thì họphải BTTH và BTTH chính là một quan hệ tài sản, theo góc độ chung nhất, quan hệBTTH – quan hệ tài sản này sẽ do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trongBLDS năm 2005 ở Điều 307 và Chương XXI và các văn bản hướng dẫn thi hànhBLDS Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc thù của QHLĐ và các quan hệ xã hộikhác có liên quan đến QHLĐ so với quan hệ dân sự, quan hệ kinh doanh thươngmại thông thường mà vấn đề BTTH đặt ra trong luật lao động sẽ do luật lao độngđiều chỉnh Có thể lấy đơn cử như việc NSDLĐ phải thực hiện trách nhiệm BTTHkhi đơn phương chấm dứt HĐLĐ, ngoài việc bù đắp tổn thất thu nhập cho NLĐ,việc BTTH còn có ý nghĩa trong việc bảo vệ việc làm hợp pháp cho NLĐ

Hay nói cách khác, BTTH trong luật lao động chỉ phát sinh trên cơ sở tồn tạimột QHLĐ, dưới hình thức một hợp đồng lao động (HĐLĐ) Trách nhiệm BTTHtrong luật dân sự hay luật thương mại không chỉ phát sinh dựa trên quan hệ hợpđồng dân sự hay hợp đồng thương mại mà có thể phát sinh dựa trên hành vi gâythiệt hại ngoài hợp dồng, có nghĩa là giữa các bên không cần tồn tại một quan hệhợp đồng nào cả cũng có thể phát sinh trách nhiệm BTTH nếu như hành vi đó tráipháp luật và gây thiệt hại cho chủ thể khác

- Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm BTTH theo quy định của luật lao động cũngnhư trong luật dân sự, thương mại đều đòi hỏi bốn yếu tố: Có thiệt hại về tài sản, có

Trang 15

hành vi vi phạm nghĩa vụ, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại vớithiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại Đây là những điều kiện chung nhất

để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do một chủthể gây ra Tuy nhiên, căn cứ để xác định hành vi vi phạm hợp đồng trong luật laođộng không chỉ bao gồm các cam kết trong hợp đồng, quy định của pháp luật màcòn là quy định trong nội quy đơn vị sử dụng lao động Đặc biệt là khi NSDLĐ ápdụng trách nhiệm vật chất đối với NLĐ, nếu không có nội quy lao động quy địnhtrước thì NSDLĐ không thể áp dụng trách nhiệm vật chất này đối với NLĐ mặc dù

có thể NLĐ có hành vi vi phạm gây thiệt hại cho NSDLĐ Nét đặc thù trong quyđịnh pháp luật lao động này thể hiện một trong những nguyên tắc đặc thù của luậtlao động là bảo vệ NLĐ

Yếu tố lỗi trong quan hệ trách nhiệm do vi phạm luật dân sự hay thương mạihầu như tất cả các trường hợp thì lỗi cố ý hay vô ý đều không ảnh hưởng đến việcxác định trách nhiệm cũng như mức độ BTTH Còn đối với quan hệ BTTH trongluật lao động thì việc xác định lỗi cố ý hay vô ý có ảnh hưởng lớn đến việc xác định

trách nhiệm BTTH Ví dụ, trong trường hợp NLĐ gây thiệt hại nhưng không

nghiêm trọng do sơ suất (lỗi vô ý) thì chỉ phải bồi thường nhiều nhất 03 tháng lương

và phương thức bồi thường là khấu trừ dần vào tiền lương hàng tháng nhưng khôngquá 30% tiền lương hàng tháng theo quy định của pháp luật

- Về hậu quả: trách nhiệm BTTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản chongười gây thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất

đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đạilượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường

Tuy nhiên, có sự khác biệt đó là nếu như trong luật dân sự, ngay cả nhữngnhững thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ đượcxác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại thìthiệt hại về tinh thần (nếu có) trong luật lao động thường không được xác định rõràng, cụ thể Việc xác định hậu quả về mặt tài sản như vậy sẽ giúp cho các bên cóthể dễ dàng thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại chongười bị thiệt hại

Trang 16

- Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Nếu như trong luật dân sự, ngoài người trựctiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm BTTH còn được áp dụng cả đối vớinhững chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ củangười được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại,trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lựchành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…thì chủ thểtham gia quan hệ BTTH trong luật lao động chỉ có thể là NLĐ, NSDLĐ tức là cácchủ thể trong QHLĐ nói chung.

1.1.3 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Lao động

Việc phân loại trách nhiệm BTTH có thể dựa trên các căn cứ sau đây:

Thứ nhất, căn cứ vào thiệt hại xảy ra có thể chia trách nhiệm BTTH thànhnhững loại sau:

- Trách nhiệm BTTH về tài sản: Là trách nhiệm BTTH của một bên trong QHLĐkhi hành vi vi phạm của họ đã gây tổn thất về tài sản cho bên kia Thông thường thìtrách nhiệm BTTH chỉ áp dụng đối với NLĐ, nhưng trong một số trường hợp thìtrách nhiệm này còn áp dụng cho cả NSDLĐ hoặc người thứ ba có liên quan đếnQHLĐ;

- Trách nhiệm BTTH về tính mạng, sức khoẻ: Là trách nhiệm của NSDLĐ đối vớiNLĐ khi xảy ra TNLĐ, bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động Đây được xem

là quy định đặc thù của luật lao động, khác hẳn so với trách nhiệm BTTH do xâmphạm tính mạng, sức khoẻ của người khác trong quan hệ dân sự;

- Trách nhiệm BTTH do chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật: Trong quá trình giao kếthợp đồng, các bên có quyền tự do thoả thuận theo ý chí của mình trong khuôn khổpháp luật cho phép Nhưng sau khi hợp đồng đã có hiệu lực thì nó trở thành “luật”giữa các bên, do đó bằng hành vi của mình, NLĐ và NSDLĐ đã tham gia vàoQHLĐ, chính vì vậy, phải tuân theo những quy định của luật lao động và nhữngthoả thuận trong hợp đồng, đồng thời người có hành vi vi phạm hợp đồng sẽ phảichịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật hay theo sự thoả thuậngiữa các bên trong hợp đồng

Thứ hai, căn cứ vào ý chí của các bên trong QHLĐ, trách nhiệm BTTH bao

Trang 17

gồm hai loại:

- Trách nhiệm BTTH theo quy định của pháp luật: Đây là trách nhiệm BTTH phátsinh trong những trường hợp được pháp luật quy định trước, khi có căn cứ phải chịutrách nhiệm BTTH, không cần biết các bên có thoả thuận trước hay không;

- Trách nhiệm BTTH theo thoả thuận của hai bên: Đây là trường hợp BTTH do cácbên trong QHLĐ thoả thuận trước hoặc sau khi thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, ở đâycần hiểu rõ rằng với đặc thù bảo vệ NLĐ của pháp luật lao động thì không phải cácbên thoả thuận tuỳ ý mà phải tuân theo giới hạn của pháp luật vì trong quan hệ này,NLĐ là người luôn ở vị trí bất lợi hơn nên nếu để các bên tự do thoả thuận một cáchtuyệt đối thì sẽ không thể bảo đảm sự công bằng về quyền lợi cho NLĐ

Thứ ba, căn cứ vào quan hệ làm phát sinh trách nhiệm BTTH, có hai loại:

- Trách nhiệm BTTH phát sinh trong QHLĐ: Là trách nhiệm bồi thường do hành vi

vi phạm gây thiệt hại liên quan đến QHLĐ như hành vi chấm dứt hợp đồng tráipháp luật, hành vi vi phạm kỷ luật lao động gây thiệt hại cho NSDLĐ…;

- Trách nhiệm BTTH phát sinh trong các quan hệ xã hội khác có liên quan đếnQHLĐ: Là trách nhiệm bồi thường do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại nhưngkhông phải trong QHLĐ mà trong các quan hệ khác có liên quan đến QHLĐ, có thểdiễn ra trước, đồng thời hoặc sau khi QHLĐ đang diễn ra, ví dụ BTTH trong quan

hệ học nghề

Thứ tư, căn cứ vào chủ thể chịu trách nhiệm BTTH, trách nhiệm BTTH đượcchia thành ba loại:

- Trách nhiệm BTTH do NLĐ thực hiện: Là trách nhiệm BTTH phát sinh khi NLĐ

có hành vi vi phạm nội quy lao động của doanh nghiệp hoặc HĐLĐ, gây thiệt hạicho NSDLĐ;

- Trách nhiệm BTTH do NSDLĐ thực hiện: Là trách nhiệm BTTH phát sinh khiNLĐ bị TNLĐ, BNN hoặc vi phạm HĐLĐ, gây thiệt hại cho NLĐ;

- Trách nhiệm BTTH do người thứ ba gây ra: Đây là trách nhiệm BTTH của các cơquan có thẩm quyền khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các chủ thể trongQHLĐ Dù không trực tiếp tham gia vào các QHLĐ nhưng các cơ quan này cónhững hoạt động liên quan đến QHLĐ và khi gây thiệt hại trong một số trường hợp

Trang 18

cũng phải bồi thường theo quy định của luật lao động và các ngành luật khác.

1.1.4 Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Lao động

Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm BTTH theo luật lao động được hiểu lànhững tư tưởng chỉ đạo có tính chất bắt buộc, xuyên suốt các quy phạm pháp luậtlao động về việc thực hiện BTTH trong các QHLĐ cũng như các quan hệ xã hộikhác có liên quan đến QHLĐ Những nguyên tắc này cũng là những tư tưởng cótính chất định hướng đối với hoạt động giải quyết tranh chấp về BTTH trong luậtlao động trên thực tế Cụ thể là những nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, trách nhiệm BTTH được thực hiện trên cơ sở thực tế và bảo đảmtính kịp thời: Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vấn

đề BTTH nói chung, vấn đề BTTH theo luật lao động nói riêng bởi căn cứ đầu tiên

để xác định trách nhiệm bồi thường là phải có thiệt hại xảy ra trong thực tế Thiệthại trong quan hệ pháp luật lao động có thể là thiệt hại về tài sản hoặc thiệt hại vềtính mạng, sức khỏe… Về mặt nguyên tắc, trong mọi trường hợp đều phải có căn cứvào mức độ thiệt hại thực tế để xác định chính xác mức bồi thường nhằm bảo vệquyền lợi hợp pháp của các bên

Trong QHLĐ, khi một bên gây thiệt hại cho chủ thể phía bên kia về tài sản,tính mạng, sức khỏe, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu được bồi thường theo đúngnhững thiệt hại thực tế mà họ phải gánh chịu Nghĩa là bên gây thiệt hại làm tổn hại,mất mát, hư hỏng hoặc giảm sút về giá trị vật chất ở mức nào thì phải bồi thườngtheo thời giá thị trường những thiệt hại thực tế mà tại thời điểm xảy ra thiệt hại đãxác định Việc xác định nguyên tắc bồi thường này nhằm đảm bảo tính công bằngcủa pháp luật, tạo niềm tin cho mọi công dân về công lý và công bằng xã hội Tuynhiên, trong trường hợp NLĐ bị thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, việc xác định mứcthiệt hại thực tế rất khó chính xác Do đó, việc bồi thường của NSDLĐ (nếu ngườinày có lỗi) trong trường hợp NLĐ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe chỉ là mộtbiện pháp nhằm bảo vệ NLĐ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong QHLĐ như:

bố trí việc làm phù hợp, trả lương trong thời gian điều trị TNLĐ hoặc BNN…

Cũng theo nguyên tắc này, việc giải quyết bồi thường theo luật lao động cần được

Trang 19

thực hiện nhanh chóng, kịp thời Có như vậy mới kịp thời khôi phục các quyền vàlợi ích hợp pháp, chính đáng của bên bị thiệt hại Bồi thường kịp thời có ý nghĩa tolớn trong việc giúp người bị thiệt hại nhanh chóng khắc phục khó khăn, ổn địnhcuộc sống hay sản xuất Đặc biệt đối với những trường hợp BTTH về sức khỏe đốivới người bị TNLĐ hoặc BNN - là những người gặp khó khăn do mất thu nhập vàphải điều trị thương tật, việc BTTH càng có ý nghĩa quan trọng giúp họ nhanhchóng ổn định cuộc sống và tiếp tục tham gia QHLĐ Nguyên tắc bồi thường nhanhchóng, kịp thời đối với các thiệt hại còn thể hiện tính chất dân chủ và công bằng.Trên cơ sở đó tạo cho bên gây thiệt hại ý thức trách nhiệm và tôn trọng quyền lợicủa phía bên kia khi tham gia vào QHLĐ cũng như quan hệ xã hội khác có liênquan đến QHLĐ.

Thứ hai, trách nhiệm BTTH cần căn cứ vào mức độ lỗi của bên gây thiệt hại:Một trong các căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường theo luật lao động là bêngây thiệt hại phải có lỗi Trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi khi để xảy ranhững thiệt hại trong quan hệ pháp luật lao động, vấn đề BTTH sẽ không được đặt

ra Có hai hình thức lỗi là lỗi vô ý và lỗi cố ý Tùy thuộc vào mức độ lỗi mà người

bị thiệt hại có thể phải bồi thường một phần hay toàn bộ đối với những thiệt hại dohành vi của mình gây ra

Đối với những thiệt hại về tài sản hay thiệt hại do vi phạm HĐLĐ, hợp đồngxuất khẩu lao động (HĐLĐ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài)… do lỗi

vô ý, mức bồi thường được xác định thấp hơn so với trường hợp do lỗi cố ý bởingười gây thiệt hại không chủ tâm gây ra những hậu quả xấu đối với chủ thể bênkia Riêng đối với việc BTTH vật chất trong QHLĐ do hành vi của NLĐ gây ra, chỉ

áp dụng các quy định của pháp luật lao động trong trường hợp NLĐ có lỗi vô ý.Trường hợp có lỗi cố ý, mức bồi thường về nguyên tắc sẽ được xác định theo cácquy định về BTTH theo luật dân sự để có thể bảo vệ những quyền lợi hợp pháp vàchính đáng của bên bị thiệt hại, cũng như các lợi ích khác (lợi ích gián tiếp) bị ảnhhưởng do hành vi cố ý gây thiệt hại gây ra [14]

Đối với những trường hợp NLĐ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tráchnhiệm bồi thường của NSDLĐ chỉ được đặt ra nếu họ có lỗi Trường hợp người sử

Trang 20

dụng không có lỗi, họ chỉ có trách nhiệm trả trợ cấp với mức thấp hơn so với mứcbồi thường Cùng với nguyên tắc xác định mức bồi thường trên cơ sở thiệt hại thực

tế, nguyên tắc này chi phối rất nhiều đến các quy định về mức BTTH theo luật laođộng Điều này giúp cho việc thực hiện trách nhiệm bồi thường được thực hiệnđúng người, khắc phục thiệt hại trước mắt và có tính chất răn đe để đề phòng nhữngthiệt hại tái diễn

Thứ ba, trách nhiệm BTTH căn cứ vào khả năng kinh tế, ý thức, thái độ củangười gây thiệt hại: Thông thường, khi xác định trách nhiệm bồi thường theo luậtlao động cần dựa trên các căn cứ luật định để xác định mức bồi thường của bên gâythiệt hại Tuy nhiên, không phải bao giờ bên gây thiệt hại cũng phải bồi thường toàn

bộ những thiệt hại do mình gây ra Trong thực tế, trách nhiệm bồi thường còn đượcxác định dựa vào hoàn cảnh kinh tế của bên gây thiệt hại Nguyên tắc này đượckhuyến khích áp dụng đối với trách nhiệm bồi thường theo luật lao động do xuấtphát từ tính chất xã hội của QHLĐ, nhằm giúp cho người gây thiệt hại có khả năngBTTH, tổn thất do mình gây ra Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợpngười phải bồi thường là NLĐ, bởi họ là người không có nhiều khả năng về tàichính, là người làm thuê, bán sức lao động để có thu nhập nuôi sống bản thân và giađình…

Mặt khác, nếu người gây thiệt hại nhận thức được lỗi của mình và có ý thứctrách nhiệm bồi thường thì pháp luật cũng có những cơ chế “mở” nhằm tạo cho họ

cơ hội để tự ý thức được trách nhiệm, điều chỉnh hành vi khi quay trở lại tham giaQHLĐ đang thực hiện hoặc tham gia vào thị trường lao động nói chung Điều nàycòn có tác dụng làm dịu đi những bất đồng có thể phát sinh trong QHLĐ, giúp chocác bên thân thiện hơn nếu tiếp tục hợp tác với nhau Ngoài ra, khi xác định tráchnhiệm BTTH cần xem xét ý thức của người gây thiệt hại từ trước đến nay Nếu làhành vi gây thiệt hại lần đầu, do sơ suất thì trách nhiệm bồi thường cũng nhẹ hơn sovới trường hợp vi phạm nhiều lần và do lỗi cố ý

Thứ tư, trách nhiệm bồi thường thực hiện toàn bộ, ngang giá và nguyên tắcbồi thường một phần thiệt hại: Trách nhiệm BTTH vừa theo nguyên tắc bồi thườngtoàn bộ, ngang giá những thiệt hại xảy ra của luật dân sự, vừa theo nguyên tắc bồi

Trang 21

thường một phần thiệt hại như bồi thường về tính mạng sức khỏe cho NLĐ khi bịTNLĐ, BNN; BTTH khi NLĐ gây ra do sơ suất Thông thường, nếu người bồithường là NSDLĐ thì thường là theo nguyên tắc của luật dân sự, bồi thường cảnhững thiệt hại trực tiếp và cả những thiệt hại gián tiếp Còn nếu người bồi thường

là NLĐ thì việc bồi thường có thể được bồi thường một phần hoặc bồi thường toàn

bộ Hơn nữa, trong QHLĐ, pháp luật chỉ quy định trường hợp BTTH về tính mạng,sức khỏe cho NLĐ, còn vấn đề BTTH về tính mạng, sức khỏe cho NSDLĐ khôngđược đặt ra Điều này xuất phát từ việc NSDLĐ không trực tiếp tham gia vào quátrình lao động sản xuất mà chỉ là người quản lý, điều hành, do vậy, nếu NSDLĐ bịthiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quá trình quản lý lao động thì việc xem xéttrách nhiệm BTTH sẽ được dựa trên quy định của pháp luật dân sự, hình sự tùythuộc vào tình huống thực tế Đây cũng là nét khác biệt cơ bản giữa chế độ BTTHcho NLĐ và NSDLĐ trong QHLĐ

1.1.5 Ý nghĩa của việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Lao động

Việc áp dụng trách nhiệm BTTH trong luật lao động có một số ý nghĩa quantrọng sau đây:

Thứ nhất, việc áp dụng trách nhiệm BTTH góp phần tích cực trong việc bảo

vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ thể bị thiệt hại và chủ thể gâythiệt hại: Trên cơ sở những quy định về BTTH như: căn cứ bồi thường, mức bồithường, mà các chủ thể nắm bắt được quyền và nghĩa vụ của mình khi tham giavào quan hệ pháp luật Hiểu được bản chất của chế độ BTTH, các điều kiện phátsinh trách nhiệm BTTH sẽ giúp cho các chủ thể trong quan hệ pháp luật, chủ thểnhà nước, và các chủ thể liên quan có cách hành động phù hợp với quy định củapháp luật, quy chuẩn đạo đức xã hội Chẳng hạn như, đối với vấn đề BTTH tronglao động, NLĐ là người trực tiếp tham gia vào việc vận hành máy móc, thiết bịtrong quá trình lao động Đồng thời, họ cũng là người phải thường xuyên đối mặtvới những nguy cơ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe dẫn đến TNLĐ hoặc BNN.Nếu được bồi thường những lợi ích hợp pháp và chính đáng khi thiệt hại xảy ra,NLĐ mới có điều kiện để hồi phục sức khỏe, tiếp tục tham gia QHLĐ hoặc khắc

Trang 22

phục những khó khăn trong cuộc sống Việc pháp luật lao động quan tâm bảo vệnhững lợi ích vật chất và tinh thần của NLĐ, không để NSDLĐ vi phạm hoặc buộcNSDLĐ phải bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời đối với những thiệt hại

mà NLĐ gặp phải trong quá trình lao động như thiệt hại về tiền lương, thiệt hại vềsức khỏe, thiệt hại do chấm dứt HĐLĐ… đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệtốt hơn quyền lợi của NLĐ

Thứ hai, chế định BTTH góp phần giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật củacác chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật: Ý thức pháp luật ở đây là ý thứcchấp hành quy định của pháp luật, chẳng hạn như trong lao động thì đó là kỷ luậtlao động, tuân thủ nội quy lao động của NLĐ, hay tuân thủ quy định an toàn, vệsinh lao động của NSDLĐ Các quy định về trách nhiệm BTTH cũng nâng cao ýthức pháp luật của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, từ đó hạn chế đượcnhững thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra Việc thực thi các quy định về trách nhiệmBTTH của các chủ thể cũng góp phần giáo dục pháp luật, răn đe với đối tượng tuânthủ các quy tắc xử sự khi tham gia vào các quan hệ xã hội

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lao động

Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về trách nhiệm BTTH trong laođộng có thể khái quát thông qua một số giai đoạn chủ yếu sau đây:

1.2.1 Giai đoạn 1945 - 1954

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam non trẻ

đã phải chống chọi với thù trong, giặc ngoài Mặc dù vậy, Chính phủ vẫn quan tâmđến việc ban hành pháp luật lao động, trong đó có vấn đề BTTH Ngày 12-03-1947,Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 29/SL quy định những giao dịch về việc làmcông giữa các chủ nhân, giữa những người Việt Nam, hoặc người ngoại quốc và cáccông nhân Việt Nam Điều 24 của Sắc lệnh này quy định: “Bên nào tự ý bãi khế ướcphải bồi thường cho phía bên kia Tiền bồi thường vì tự ý bãi khế ước khác hẳn tiềnbồi thường vì không tuân thủ thời hạn báo trước” Điều 26 Sắc lệnh buộc NSDLĐ

có trách nhiệm liên đới bồi thường cùng NLĐ khi họ có can hệ vào sự việc gây thiệthại cho NLĐ Tuy nhiên, Sắc lệnh chỉ quy định trách nhiệm bồi thường khi chấm

Trang 23

dứt QHLĐ mà chưa đề cập đến quyền được bồi thường đối với thiệt hại về tínhmạng, sức khỏe của NLĐ khi tham gia vào QHLĐ.

1.2.2 Giai đoạn từ 1955 đến 1985

Nhìn chung, trong thời kỳ này, chúng ta đã xây dựng được những văn bảnquy định về chế độ BTTH nhưng việc bồi thường chỉ áp dụng đối với công chức,viên chức Nhà nước và tập trung chủ yếu vào khu vực kinh tế Nhà nước Trong đó,NSDLĐ là Nhà nước, NLĐ là công nhân viên chức trong các cơ quan Nhà nước đó

Vì thế, trách nhiệm BTTH về vật chất không thực sự phát huy được tác dụng trongthực tiễn

Vấn đề BTTH trong quá trình lao động được quy định tại Điều 5 Nghị định49/CP ngày 09/04/1968: “Công nhân viên chức thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc viphạm kỷ luật lao động trong khi làm nhiệm vụ mà gây thiệt hại cho tài sản của Nhànước thì phải BTTH cho công quỹ” Việc quy định trách nhiệm BTTH nhằm nângcao tinh thần trách nhiệm và ý thức bảo vệ của công của những NLĐ trong biên chếnhà nước, bù đắp toàn bộ hoặc một phần thiệt hại mà họ đã gây ra cho Nhà nước,nhưng có chiếu cố đến hoàn cảnh gia đình của họ Tùy từng trường hợp cụ thể,NLĐ có thể phải bồi thường một phần hay toàn bộ thiệt hại nhưng tối đa không quá

3 tháng lương của người phạm lỗi Nghị định còn quy định cách thức bồi thường làtrừ dần vào lương tháng nhưng không dưới 10% và không quá 30% số lương và phụcấp lương hàng tháng

Ngoài ra, còn có một số văn bản trực tiếp quy định về vấn đề trách nhiệmBTTH trong quan hệ pháp luật lao động như:

- Nghị định 217/CP ngày 08/06/1979 quy định về chế độ trách nhiệm, trong đó cóBTTH của cán bộ, nhân viên và cơ quan nhà nước;

- Thông tư số 128/TT-LB ngày 24/07/1968 của Liên bộ Tài chính - Lao động - Tổngcông đoàn quy định chế độ bồi thường trách nhiệm vật chất khi NLĐ vi phạm kỷluật lao động hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm trong quá trình sản xuất, công tác.Theo đó, trách nhiệm vật chất chỉ đặt ra khi người gây thiệt hại có lỗi và căn cứ vàonhững thiệt hại trực tiếp chứ không tính đến thiệt hại gián tiếp

- Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 02/10/1985 của Tòa án nhân dân tối cao,

Trang 24

Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ Lao động, Tổng cục dạy nghềhướng dẫn thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân về một số việc tranhchấp trong lao động trong đó quy định người học nghề phải bồi thường phí tổn chonhà nước nếu tự ý bỏ học, phạm kỷ luật nghiêm trọng, khai sinh lý lịch hoặc phạmpháp buộc phải thôi học cho về trước thời hạn, hoặc học xong không chịu về nướchoặc không chịu sự phân công của Nhà nước thì phải bồi thường phí tổn cho Nhànước.

1.2.3 Giai đoạn từ 1986 đến trước khi ban hành Bộ luật Lao động năm 1994

Trong giai đoạn này đã có một số văn bản pháp luật lao động quy định tươngđối cụ thể trách nhiệm BTTH của các chủ thể khi tham gia các quan hệ do luật laođộng điều chỉnh Cụ thể là:

Pháp lệnh HĐLĐ (ngày 10/09/1990) quy định bên nào vi phạm HĐLĐ màgây thiệt hại cho bên kia, thì phải chịu trách nhiệm và phải bồi thường theo mức độthiệt hại (Điều 7); Điều 24 còn xác định rõ khi chấm dứt HĐLĐ nếu vi phạm điềukiện về thời hạn báo trước để chấm dứt hợp đồng thì bên vi phạm phải chịu tráchnhiệm và phải bồi thường cho bên kia số tiền tương ứng với tiền công (tiền lương)của những ngày không báo trước theo quy định của pháp luật

Pháp lệnh Bảo hộ lao động ngày 10/09/1991 tại Điều 22 quy định: “Người bịTNLĐ hoặc BNN được hưởng nguyên tiền công, tiền lương kể cả phụ cấp trongthời gian điều trị, điều dưỡng; được trợ cấp, bồi thường theo quy định của phápluật”…

1.2.4 Giai đoạn từ năm 1994 đến nay

Nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng trong sự nghiệp đổi mớiđất nước, giải phóng sức lao động, tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống cho NLĐcũng như cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 1992 về vấn đề lao động, ngày23/06/1994, BLLĐ (BLLĐ) đầu tiên của nước ta đã ra đời BLLĐ năm 1994 đã đềcập khá cụ thể các vấn đề liên quan đến việc BTTH trong quá trình lao động Tiếp

đó hàng loạt các văn bản dưới luật đã được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện cácquy định của BLLĐ về vấn đề BTTH như: Nghị định 41/CP ngày 06/09/1995 quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về tách nhiệm vật chất

Trang 25

và kỷ luật lao động; Nghị định 06/CP ngày 20/01/1995 quy định về an toàn laođộng và vệ sinh lao động; Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02/04/2003 sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 41/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của BLLĐ về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất; Thông tư19/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 41/1995

và Nghị định 33/2003/NĐ-CP

Kế thừa và phát huy những quy định về BTTH trong lao động trước đây,BLLĐ 2012; Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 cùng các văn bản hướng dẫn như:Nghị định của Chính phủ số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/05/2013 quy định chi tiết thihành một số điều của BLLĐ về HĐLĐ; Nghị định của Chính phủ số 46/2013/NĐ-

CP ngày 10/05/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ về tranh chấplao động; Nghị định 44/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của BLLĐ vềHĐLĐ, Nghị định 45/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của BLLĐ về thờigiờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động; Nghị định05/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ 2012, Thông tư04/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp và chi phí

y tế của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ, BNN, đã có những quy định tương đốiđầy đủ, hoàn thiện về chế độ BTTH trong lao động, từ việc làm, học nghề, tiềnlương, bảo hiểm xã hội đến xử lý kỷ luật, trách nhiệm vật chất, bồi thường tínhmạng sức khỏe liên quan đến an toàn vệ sinh lao động,… Như vậy, trong nhữngnăm gần đây pháp luật lao động đã có sự quy định khá đầy đủ và ngày càng chi tiếthơn về vấn đề BTTH trong QHLĐ và một số quan hệ có liên quan đến QHLĐ Nhờvậy, về căn bản đã góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi thamgia, thực hiện và chấm dứt HĐLĐ, chấm dứt QHLĐ và quan hệ có liên quan đếnQHLĐ Quy định pháp luật ngày càng hoàn thiện cũng góp phần quan trọng trongquá trình thực thi pháp luật lao động, và điều này còn thể hiện sự quan tâm củaĐảng, Nhà nước đối với các thành viên trong xã hội và quan điểm bảo vệ toàn diệnnhững lợi ích vật chất, tinh thần và sức khỏe của mỗi con người

1.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động của một số quốc gia trên thế giới

Trang 26

1.3.1 Ở Cộng hòa Liên bang Đức

Hiện nay, không phải pháp luật các quốc gia trên thế giới đều quy định vềvấn đề trách nhiệm BTTH trong pháp luật lao động Chẳng hạn, pháp luật lao độngcủa Cộng hoà liên bang (CHLB) Đức không đưa ra những quy định riêng về vấn đềtrách nhiệm BTTH mà vấn đề trách nhiệm BTTH trong lao động được quy địnhtrong một số văn bản như Bộ luật dân sự, Đạo luật bảo vệ việc làm (EmploymentProtection Act) , Đạo luật cơ bản tại nơi làm việc (Work Constitution Act) [30].Theo quy định tại Điều 831, Mục 27, BLDS CHLB Đức quy định rằng: một ngườinếu thuê người khác thực hiện một công việc thì có nghĩa vụ bồi thường thay chongười mình thuê nếu người đó gây thiệt hại cho bên thứ ba khi thực hiện công việc.Như vậy, trong trường hợp NLĐ gây thiệt hại cho bên thứ ba khi đang thực hiệncông việc theo HĐLĐ thì NSDLĐ có trách nhiệm bồi thường cho bên thứ ba đó.Tuy nhiên, nghĩa vụ bồi thường của NSDLĐ không đặt ra nếu như NSDLĐ đã thựchiện các biện pháp được cho là cần thiết để đảm bảo không có rủi ro đó xảy ra, hoặcnhững thiệt hại gây ra là do sự kiện bất khả kháng, hoặc nguyên nhân khách quan

Về vấn đề BTTH trong trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ do

dư thừa lao động thì thực chất, ở Đức không có quy định một mức bồi thường cụthể trong trường hợp này Tuy vậy, trong một vài năm gần đây, Đạo luật bảo vệ việclàm đã quy định rằng NLĐ có quyền yêu cầu BTTH nếu thông báo chấm dứt hợpđồng ghi nhận rằng việc NLĐ chấm dứt hợp đồng sớm hơn thông lệ vì lý do hoạtđộng của doanh nghiệp Thông thường, mức bồi thường khi NSDLĐ cho NLĐ thôiviệc do dư thừa lao động sẽ từ nửa tháng đến một tháng tiền lương cho mỗi nămlàm việc Tuy nhiên, đây không phải là quy định của pháp luật và hai bên trongQHLĐ có thể tự do thương lượng về mức bồi thường [31]

Đối với trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt trái pháp luật thì NSDLĐphải nhận NLĐ quay trở lại làm việc trong doanh nghiệp và tất nhiên phải bồithường cho NLĐ khoảng tiền lương từ thời điểm chấm dứt trái pháp luật cho đếnkhi Tòa lao động ra phán quyết về việc chấm dứt trái pháp luật đó [32] Xuất phát từnhững rủi ro cao và khó khăn trong việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ, thôngthường NSDLĐ sẽ cố gắng đưa ra một thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ với NLĐ, đồng

Trang 27

thời cũng thỏa thuận một khoản bồi thường cho NLĐ Nếu việc đơn phương chấmdứt của NSDLĐ không đúng pháp luật, và NLĐ kiện NSDLĐ ra Tòa lao động, vàNSDLĐ thua kiện, nhưng không muốn nhận NLĐ lại vào doanh nghiệp, thìNSDLĐ còn phải bồi thường thêm một khoản tiền cho NLĐ [33]

Đối với trường hợp NLĐ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quá trìnhthực hiện công việc được giao theo HĐLĐ, những chi phí bồi thường cho NLĐ sẽđược quỹ bảo hiểm chi trả Ở Đức, NSDLĐ phải đóng bảo hiểm vào Quỹ bảo hiểmtai nạn bắt buộc gọi là các Berufsgenossenchaft [22], Quỹ bảo hiểm này có mụcđích bảo hiểm tai nạn hay các BNN xảy ra trong quá trình lao động Để được hưởngbảo hiểm trong trường hợp TNLĐ, NLĐ phải xin xác nhận của bác sĩ về thương tật,gửi cho NSDLĐ, khi đó, NSDLĐ sẽ đệ đơn lên Quỹ bảo hiểm tai nạn đề nghị thanhtoán Mức bồi thường trong thời gian nghỉ việc do TNLĐ, BNN là 80% tiền lương.Thời gian trả tiền bồi thường sẽ tấm dứt, khi khả năng lao động của NLĐ hồi phục,nhưng không quá 78 tuần, hoặc chuyển sang nhận các chế độ xã hội khác vì lý doTNLĐ, ví dụ hưu trí do thương tật tại (Verletztemgeld) NSDLĐ không có tráchnhiệm bồi thường trực tiếp cho NLĐ trong trường hợp bị TNLĐ, BNN mà do Quỹbảo hiểm chi trả

1.3.2 Ở Hàn Quốc

Trong khu vực châu Á, Hàn Quốc cũng là một quốc gia quy định riêng vềvấn đề trách nhiệm BTTH do TNLĐ Pháp luật Hàn Quốc hiện nay quy định vấn đềbồi thường do TNLĐ như sau: “NSDLĐ phải chịu toàn bộ chi phí y tế hay các chiphí khác cho NLĐ bị TNLĐ hoặc BNN” (Điều 78, Luật các tiêu chuẩn lao độngHàn Quốc) Như vậy, chủ sử dụng lao động là bên chịu toàn bộ các chi phí bảohiểm TNLĐ, còn NLĐ không có nghĩa vụ phải đóng góp Hơn nữa, tất cả NLĐnước ngoài cũng đều có thể được nhận bồi thường TNLĐ, không phân biệt là laođộng cư trú hợp pháp hay bất hợp pháp [3, tr.3] Hiện nay, Luật các tiêu chuẩn laođộng Hàn Quốc đưa ra 06 loại trợ cấp bảo hiểm TNLĐ bao gồm: trợ cấp điều trị, trợcấp nghỉ việc, trợ cấp bồi thường thương tật, trợ cấp thương tật, trợ cấp điều dưỡng,trợ cấp cho thân nhân và chi phí tang lễ [3, tr.4] Đặc trưng của chế độ bồi thườngTNLĐ của Hàn Quốc đó là NSDLĐ chịu trách nhiệm BTTH toàn bộ, không phân

Trang 28

biệt nguyên nhân do lỗi của NLĐ hay không, không phân biệt ngành nghề; phươngthức bồi thường theo tỷ lệ cố định trên cơ sở thu nhập bình quân; thực hiện cơ chếyêu cầu thẩm tra và tái thẩm tra để đảm bảo quyền lợi của NLĐ Một đặc trưngkhác của chế độ TNLĐ theo pháp luật Hàn Quốc đó là, khi chấm dứt HĐLĐ màNLĐ bị TNLĐ thì vẫn được hưởng trợ cấp TNLĐ

Trong quá trình thực thi chế độ BTTH liên quan đến TNLĐ, Hàn Quốc đảmbảo rằng mọi NSDLĐ đều buộc phải đóng bảo hiểm TNLĐ cho NLĐ thông qua cáchoạt động sau: Hướng dẫn ban đầu cho NSDLĐ về việc đóng bảo hiểm TNLĐtrước khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động; Sau khi doanh nghiệp đi vào hoạt động,

cơ quan bảo hiểm hướng dẫn doanh nghiệp tự thống kê về TNLĐ hàng tuần, hàngtháng; Hướng dẫn doanh nghiệp bổ sung các thông tin trường hợp còn thiếu theotừng quý [4]

1.3.3 Ở Liên bang Nga

Pháp luật Liên bang Nga có nhiều quy định tương đồng với pháp luật ViệtNam về trách nhiệm BTTH trong lao động Chương 39, BLLĐ Nga quy định vềtrách nhiệm BTTH của NLĐ Điều 238 Bộ luật Nga quy định “NLĐ phải bồithường các thiệt hại thực tế mà họ gây ra cho NSDLĐ NLĐ không phải bồi thườngcác khoản lợi nhuận giảm sút do hành vi vi phạm gây ra Thiệt hại thực tế là các chiphí NSDLĐ phải bỏ ra để sữa chữa, phục hồi hoặc mua lại khi tài sản bị mất hoặclàm hư hỏng”

Điều 240 và Điều 241 quy định “NSDLĐ có quyền từ chối toàn bộ hoặc mộtphần yêu cầu bồi thường của NLĐ tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của hành vi viphạm” và “NLĐ có nghĩa vụ BTTH trong phạm vi của mức lương trung bình hàngtháng”

Điều 242 Bộ luật này cũng quy định “NLĐ có đủ năng lực pháp luật phảichịu trách nhiệm hoàn toàn về hành vi gây thiệt hại của mình NLĐ dưới 18 tuổi chỉphải chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp cố ý gây thiệt hại hoặc gây rabởi nguyên nhân rượu, ma túy hoặc các chất độc hại khác ”

Như vậy, pháp luật lao động Nga quy định cụ thể hơn về việc BTTH theotrách nhiệm vật chất của NLĐ so với pháp luật Việt Nam Việc quy định NSDLĐ

Trang 29

dưới 18 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hạn chế cũng là một cơ chế hợp lý bảo đảmquyền lợi cho NLĐ chưa đủ năng lực pháp luật Ngoài các quy định rất rõ ràng về

cơ chế BTTH theo trách nhiệm vật chất, điểm tiến bộ hơn của pháp luật lao độngNga so với pháp luật lao động Việt Nam là họ đã có những quy định rất cụ thể vềhợp đồng trách nhiệm

Điều 244 BLLĐ Nga quy định “Hợp đồng trách nhiệm cá nhân hay tập thể làhợp đồng mà NLĐ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm bồi thường cho NSDLĐ tronglĩnh vực hàng hóa, tài sản, dịch vụ Hợp đồng này được ký kết với cả NLĐ dưới 18tuổi Danh sách các công việc và những NLĐ được ký kết các hợp đồng này và hìnhthức của hợp đồng sẽ do chính phủ liên bang Nga phê duyệt”

Điều 245 cũng ghi nhận trách nhiệm tập thể được áp dụng trong trường hợpNLĐ cùng nhau thực hiện các công việc liên quan đến lưu trữ, xử lý, bán hàng (bàngiao), vận chuyển, điều hành mà không thể phân chia trách nhiệm bồi thường chotừng NLĐ [29] Trách nhiệm bồi thường của tập thể NLĐ phải được xác định trướcbởi hợp đồng trách nhiệm tập thể Để không phải chịu trách nhiệm trong tráchnhiệm tập thể, NLĐ phải chứng minh mình không có trách nhiệm trong trách nhiệmchung của cả tập thể Tập thể lao động được tự nguyện bồi thường theo thỏa thuậnvới NSDLĐ các thiệt hại theo sự thỏa thuận của các thành viên Trong trường hợpgiải quyết tranh chấp tại Tòa án, trách nhiệm bồi thường cũng từng thành viên trongtập thể sẽ do Tòa án Quyết định Việc quy định về hợp đồng trách nhiệm và tráchnhiệm tập thể sẽ là căn cứ áp dụng trách nhiệm một cách đầy đủ và rõ ràng, làmgiảm tranh chấp trong việc xử lý bồi thường và áp dụng trách nhiệm kỷ luật

Liên quan đến vấn đề xác định giá trị thiệt hại Điều 246 BLLĐ Nga quy định

“Giá trị thiệt hại của tài sản được xác định theo giá thị trường tại nơi diễn ra hành vi

vi phạm nhưng không thấp hơn giá trị tài sản được ghi trong số sách kế toán và cótính đến giá trị của tài sản đã bị khấu hao Trong một số trường hợp đặc biệt, việcxác định giá trị thiệt hại được xác định bằng một thủ tục đặc biệt khác của liên bangnhư khi giá trị thiệt hại vượt quá giá trị thực tế của tài sản”

Bồi thường thiệt hại trong lao động hầu như lại chỉ được quy định chi

Trang 30

tiết trong hệ thống pháp luật các nước xã hội chủ nghĩa cũ Các nước này cho rằng, cần thiết phải có những quy định riêng về BTTH trong luật lao động Bởi, khi tham gia vào các quan hệ lao động, NLĐ bao giờ cũng được chủ sử dụng giao cho quản lý, sử dụng những tài sản nhất định Do đó, trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ lao động không thể tránh khỏi việc NLĐ gây thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ Hơn nữa, NLĐ gây thiệt hại về tài sản xét trên phương diện nào đó cũng là lỗi của NSDLĐ Bởi NSDLĐ là người quản lý, phân công lao động cũng như giao tài sản cho NLĐ sử dụng; nên nếu NSDLĐ không đánh giá đúng năng lực của NLĐ, phân công lao động không hợp lý cũng sẽ dẫn đến việc NLĐ gây thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ Do đó, cần phải có những quy định riêng về vấn đề bồi thường theo trách nhiệm vật chất nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ

Đối với Việt Nam, nước ta có thể học tập kinh nghiệm của LB Nga trong việc quy định về hợp đồng trách nhiệm, bao gồm hợp đồng trách nhiệm với cá nhân NLĐ và hợp đồng trách nhiệm với tập thể NLĐ, để trong trường hợp phát sinh những thiệt hại về vật chất trong doanh nghiệp, sẽ có căn cứ rõ ràng hơn trong việc xác định trách nhiệm bồi thường của các chủ thể, bao gồm mức bồi thường Để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của NSDLĐ, có thể xem xét quy định mức BTTH căn cứ vào thiệt hại thực tế diễn ra.

Theo kinh nghiệm của CHLB Đức, những vấn đề về BTTH trong pháp luật lao động không được quy định riêng, mà tuân theo nguyên tắc thỏa thuận trong dân sự, và sẽ được dẫn chiếu đến pháp luật dân sự Mức bồi thường trong trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ do dư thừa lao động cũng không hề được quy định rõ, mà chỉ mang tính chất thông lệ, từ nửa tháng đến một tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc Điều này thể hiện rõ nguyên tắc tự do thoả thuận trong lao động, đồng thời cũng có phần bảo vệ quyền lợi cho NSDLĐ NLĐ nghỉ việc trong trường hợp dư thừa lao động này

Trang 31

có thể nộp đơn để xin hưởng trợ cấp thất nghiệp và đề nghị giới thiệu việc làm

Bên cạnh đó, cả pháp luật CHLB Đức và Hàn Quốc đều có quy định về việc đóng bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc của chủ sử dụng lao động Và trong trường hợp xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường

sẽ do cơ quan bảo hiểm tai nạn lao động chi trả Có thể thấy rằng, ở hai quốc gia này, hệ thống an sinh xã hội phát triển, đời sống người dân ở mức cao mức bồi thường cho NLĐ khá cao (ở Đức là 80% tiền lương trong thời gian điều trị cho đến khi phục hồi khả năng lao động) Trong tương lai, nếu hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam phát triển hơn, chúng ta cũng có thể xem xét quy định nghĩa vụ bồi thường chủ yếu do cơ quan bảo hiểm chi trả, nghĩa

vụ đóng góp vào các quỹ bảo hiểm thất nghiệp, hay tai nạn lao động hoàn toàn thuộc về NSDLĐ, để NLĐ không phải đóng góp như hiện nay Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, để thực hiện tốt chế độ BTTH, cần xây dựng quy trình phổ biến pháp luật cho cả NLĐ và NSDLĐ định kỳ, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến an toàn lao động, vệ sinh lao động.

Đối với trách nhiệm BTTH về tài sản trong lao động, hiện nay đa số các nước có nền kinh tế thị trường phát triển lại không có quy định riêng Lý

do cơ bản để pháp luật các nước không có quy định riêng về trách nhiệm này trong luật lao động, bởi họ cho rằng trách nhiệm BTTH trong luật lao động cũng chính là BTTH trong dân sự NLĐ nếu đã gây thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ, dù đó là hành vi vi phạm kỷ luật lao động hay không vi phạm kỷ luật lao động thì cũng đều có trách nhiệm phải bồi thường và vấn đề bồi thường đã được quy định trong luật dân sự Bởi vậy, không cần thiết phải có các quy định riêng về trách nhiệm BTTH theo trách nhiệm vật chất trong luật lao động

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trang 32

Chương 1 của Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về tráchnhiệm BTTH trong Bộ luật Lao động thông qua việc tìm hiểu khái niệm, đặc điểmcủa trách nhiệm BTTH trong Bộ luật Lao động, việc phân loại trách nhiệm BTTH

và nguyên tắc áp dụng trách nhiệm BTTH đó Việc xem xét trách nhiệm BTTHtrong Bộ luật Lao động đặt trong mối tương quan với các ngành luật khác như luậtdân sự, luật thương mại…để nổi bật tính đặc thù của loại trách nhiệm pháp lý này.Cũng trong nội dung Chương 1, Luận văn đã khái quát lịch sử hình thành và pháttriển pháp luật Việt Nam về trách nhiệm BTTH trong Bộ luật Lao động và liên hệvới trách nhiệm BTTH trong pháp luật lao động của một số quốc gia trên thế giới.Mặc dù các quốc gia có những quy định không hoàn toàn giống nhau về vấn đề này,nhưng phần lớn pháp luật các nước đều quy định về trách nhiệm BTTH khi xảy raTNLĐ, BNN hoặc trường hợp NLĐ gây thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ, từ đó rút

ra một số kinh nghiệm có thể nghiên cứu áp dụng vào xây dựng và hoàn thiện Phápluật lao động phù hợp với thực tiễn của Việt Nam

Trang 33

Chương 2 QUY ĐỊNH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012 VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA

2.1 Quy định Bộ luật Lao động năm 2012 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

2.1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực đào tạo nghề, việc làm

Đào tạo nghề có thể hiểu là những hoạt động dạy nghề mới hoặc nâng caotay nghề cho người học nghề tại các cơ sở dạy nghề hoặc tại các doanh nghiệpnhằm tạo nên đội ngũ những NLĐ có trình độ chuyên môn tay nghề phù hợp, có thểđạt năng suất lao động cao, sản xuất ra sản phẩm đảm bảo chất lượng góp phầnnâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việc đào tạo nghề theo quy địnhtại Điều 61, Điều 62, BLLĐ 2012 có thể được thực hiện theo hai phương thức:NSDLĐ tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình hoặc NSDLĐ bỏchi phí hoặc đối tác của NSDLĐ bỏ chi phí cho NLĐ được đào tạo, nâng cao trình

độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài

Trường hợp NSDLĐ tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc chomình, NSDLĐ không được thu học phí của NLĐ, do đó, quan hệ BTTH về chi phíđào tạo do vi phạm hợp đồng đào tạo nghề cũng không phát sinh Quan hệ về

BTTH do vi phạm hợp đồng đào tạo nghề chủ yếu phát sinh ở trường hợp còn lại,

khi NLĐ vi phạm thời hạn cam kết làm việc cho NSDLĐ sau khi được đào tạo.Hiện nay, để hạn chế được những tranh chấp có thể phát sinh từ cách hiểu nội hàmcủa “chi phí đào tạo”, Khoản 3, Điều 62, BLLĐ 2012 đã quy định rất rõ ràng nộidung này như sau: “Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ vềchi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thựchành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học Trường hợp NLĐ được gửi

đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinhhoạt trong thời gian ở nước ngoài.” Hiện nay, BLLĐ 2012 mới chỉ có quy định rằngNLĐ nếu đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì phải bồi thường chi phí

Trang 34

đào tạo (Khoản 3 Điều 43), cũng có nghĩa là trách nhiệm BTTH có đặt ra khi NLĐchấm dứt hợp đồng đúng luật (đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng luật, HĐLĐ hếthạn, hai bên NLĐ và NSDLĐ thoả thuận chấm dứt HĐLĐ…) còn chưa được quyđịnh rõ ràng, chưa thống nhất trên thực tế.

2.1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

2.1.2.1 Trách nhiệm BTTH do vi phạm quy định về đơn phương chấm dứt HĐLĐ

HĐLĐ là cơ sở pháp lý làm phát sinh QHLĐ cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ,tại đây, quyền và nghĩa vụ của cả hai bên trong QHLĐ cũng được thỏa thuận trên cơ

sở nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiệnHĐLĐ, xuất phát từ nhiều lý do khách quan và chủ quan, các bên trong QHLĐ cóthể có những hành vi vi phạm HĐLĐ, dẫn đến phải BTTH Trường hợp cơ bản vàquan trọng nhất khi vi phạm HĐLĐ dẫn đến phải BTTH đó chính là đơn phươngchấm dứt HĐLĐ trái pháp luật

* Trách nhiệm BTTH khi NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật

Khi NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng không đúng căn cứ pháp luật,hoặc không tuân thủ các quy định về thủ tục, hoặc vi phạm các quy định về nhữngtrường hợp không được chấm dứt hợp đồng, người sử dụng sẽ bị coi là chấm dứthợp đồng trái pháp luật Theo pháp luật hiện hành, NSDLĐ chỉ có quyền đơnphương chấm dứt hợp đồng khi có một trong các căn cứ được quy định tại Khoản 1,Điều 38 của BLLĐ 2012:

Một là, trường hợp NLĐ không hoàn thành công việc được giao theo HĐLĐ.Theo hướng dẫn tại Khoản 1, Điều 12 của Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì NSDLĐphải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chếcủa doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá NLĐ thường xuyên không hoàn thành côngviệc theo HĐLĐ Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do NSDLĐ banhành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở

Hai là, trường hợp NLĐ bị ốm đau, tai nạn điều trị quá thời hạn cho phép

Cụ thể, NLĐ nghỉ điều trị từ 12 tháng liên tục nếu làm việc theo HĐLĐ không xácđịnh thời hạn; đã điều trị 06 tháng liên tục đối với NLĐ làm theo HĐLĐ xác địnhthời hạn và quá nửa thời hạn HĐLĐ đối với người làm theo HĐLĐ theo mùa vụ

Trang 35

hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao độngchưa hồi phục Khi sức khỏe của NLĐ hồi phục, thì NLĐ được xem xét để tiếp tụcgiao kết HĐLĐ.

Ba là, trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả khángkhác theo quy định của pháp luật, mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phụcnhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc Theo hướng dẫn tạiKhoản 2, Điều 12, Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì lý do bất khả kháng bao gồm cáctrường hợp như sau: địch họa, dịch bệnh; Di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất,kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Bốn là, trường hợp NLĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn tạmhoãn thực hiện HĐLĐ, có thể là trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạmhoãn HĐLĐ hoặc một thời hạn khác do NLĐ và NSDLĐ thỏa thuận với nhau Đây

là một điểm mới của BLLĐ 2012 so với BLLĐ cũ, theo luật cũ thì không coi đây làmột trong các trường hợp mà NSDLĐ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ

Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 BLLĐ,NSDLĐ phải tuân thủ thời gian báo trước cho NLĐ, đó là ít nhất 45 ngày đối vớiHĐLĐ không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày đối với HĐLĐ xác định thời hạn; ítnhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp NLĐ ốm đau, tai nạn nêu ở trên và đốivới HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12tháng Trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là trườnghợp họ không chấm dứt HĐLĐ theo các căn cứ và/hoặc thủ tục quy định tại Điều

38 BLLĐ, và chấm dứt không thuộc các trường hợp chấm dứt HĐLĐ theo quy địnhtại Điều 36 BLLĐ Khi đó, theo quy định tại Điều 42 BLLĐ, NSDLĐ phải chịunhững hậu quả pháp lý như: nhận NLĐ trở lại làm việc theo HĐLĐ đã giao kết vàphải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày NLĐ khôngđược làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ; trường hợp NLĐkhông muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường nêu trên, NSDLĐphải trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ Trợ cấp thôi việc áp dụng đối với NLĐ đã làmviệc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mức trợ cấp được tính như sau: mỗi nămlàm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương Thời gian làm việc để tính trợ cấp

Trang 36

thôi việc là tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ trừ đi thời gianNLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội vàthời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả trợ cấp thôi việc Tiền lương để tính trợcấp thôi việc là tiền lương bình quân theo HĐLĐ của 06 tháng liền kề trước khiNLĐ thôi việc Như vậy, chỉ những NLĐ làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trởlên trong doan nghiệp mới có thể được hưởng trợ cấp thôi việc, mức trợ cấp hiệnnay là nửa tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc dường như cũng chưa đáp ứngđược nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của NLĐ ở nhiều địa phương Bên cạnh đó, mứclương theo HĐLĐ hiện nay ở nhiều doanh nghiệp chỉ ghi mức lương tối thiểu đểđóng BHXH ở mức thấp, chứ không hề ghi mức lương thực nhận của NLĐ, điềunày cũng hạn chế quyền lợi của NLĐ

Trong trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật màkhông muốn nhận lại NLĐ và NLĐ đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường và trợcấp thôi việc, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phảibằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ để chấm dứt HĐLĐ Đối với trường hợpNSDLĐ vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho NLĐ mộtkhoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo trước

* Trách nhiệm BTTH khi NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật

NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ được hiểu là trường hợp NLĐ chấm dứtHĐLĐ không tuân thủ các căn cứ chấm dứt hoặc không tuân thủ thủ tục chấm dứtđược quy định tại Điều 37, BLLĐ 2012, bao gồm các căn cứ như: Không được bốtrí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làmviệc đã thỏa thuận trong HĐLĐ; không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương khôngđúng thời hạn đã thỏa thuận trong HĐLĐ; bị đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục

mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hoặc cưỡng bức laođộng; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc, Trong các căn cứ chấm dứt được quyđịnh tại Điều 37, BLLĐ 2012 hiện nay, có một số căn cứ chưa được giải thích rõ vàcũng chưa có văn bản hướng dẫn Chẳng hạn như đối với vấn đề “quấy rối tình dụctại nơi làm việc”, hiện nay, mặc dù Bộ LÐ-TB-XH có đưa ra Bộ quy tắc ứng xử vềquấy rối tình dục, nhưng việc áp dụng còn gặp nhiều khó khăn Đối với một số

Trang 37

doanh nghiệp, việc trêu chọc, đưa chủ đề về tình dục vào những câu chuyện đượcchấp nhận, do đó, việc xếp “liếc mắt đưa tình, nháy mắt liên tục” vào dấu hiệu quấyrối tình dục là hơi nặng nề [23] Bên cạnh đó, bộ quy tắc này chỉ mang tính chấtkhuyến nghị, không bắt buộc áp dụng, do vậy, nếu doanh nghiệp không quy định,thì trong trường hợp xảy ra tranh chấp sẽ không có căn cứ pháp luật để xác địnhđược hành vi quấy rối Ngoài ra, căn cứ chấm dứt “không được bảo đảm điều kiệnlàm việc đã thoả thuận trong HĐLĐ” cũng chưa thực sự rõ ràng Hơn nữa, trongnhiều trường hợp điều kiện lao động không được quy định trong HĐLĐ, nội quylao động, hoặc thoả ước lao động tập thể của doanh nghiệp, thì NLĐ muốn chấmdứt HĐLĐ sẽ gặp phải những khó khăn Chẳng hạn, thời giờ làm việc của NLĐ làcông nhân ở công trường vượt quá thời giờ làm việc theo HĐLĐ, nhưng bảng chấmcông không ghi rõ về thời giờ làm việc, thì NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ dokhông đảm bảo điều kiện làm việc có hợp pháp không?

Về thủ tục chấm dứt, NLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng phải tuânthủ thời hạn báo trước cho NSDLĐ, tùy từng trường hợp có thể là 03 ngày, 30 ngàyhoặc 45 ngày hoặc một thời hạn khác Trong trường hợp NLĐ vi phạm quy định vềcăn cứ hoặc thủ tục chấm dứt, NLĐ phải chịu một số hậu quả pháp lý như: Khôngđược trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương theoHĐLĐ; Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường choNSDLĐ một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngàykhông báo trước; Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho NSDLĐ theo quy định tại Điều

62 của BLLĐ 2012

Như vậy, về mức bồi thường trong trường hợp NLĐ chấm dứt HĐLĐ tráipháp luật hiện nay cần lưu ý: Nếu NLĐ vi phạm về căn cứ chấm dứt thì không đượchưởng trợ cấp thôi việc; còn nếu NLĐ vi phạm thủ tục chấm dứt thì vừa khôngđược hưởng trợ cấp thôi việc, vừa phải bồi thường tiền lương tương ứng với thờigian không báo trước Điều này cho thấy số tiền mà NLĐ bồi thường trong trườnghợp vi phạm thủ tục chấm dứt còn nhiều hơn so với trường hợp NLĐ vi phạm căn

cứ chấm dứt Hơn nữa, trong trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ tráipháp luật, mức BTTH là theo quy định tại Điều 43, BLLĐ 2012 là nửa tháng tiền

Trang 38

lương chưa đủ sức răn đe, điều này tuy mang ý nghĩa bảo vệ NLĐ, nhưng lại cóphần chưa đảm bảo được quyền lợi chính đáng và sự công bằng cho NSDLĐ, tạotâm lý cho NLĐ dễ dàng chấm dứt HĐLĐ, gây mất ổn định cho QHLĐ.

2.1.2.2 Trách nhiệm BTTH về tiền lương cho NLĐ

Tiền lương là số lượng tiền tệ mà NSDLĐ trả cho NLĐ khi họ hoàn thànhcông việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc do hai bên đãthoả thuận trong HĐLĐ Bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động được hìnhthành trên cơ sở giá trị sức lao động Khi tham gia QHLĐ NLĐ có quyền được trảlương theo hình thức, mức lương mà hai bên đã thỏa thuận trong HĐLĐ nhưngkhông được trái với quy định của pháp luật Trách nhiệm BTTH về tiền lương choNLĐ được đặt ra trong một số trường hợp sau đây:

Thứ nhất, NSDLĐ vi phạm nghĩa vụ trả lương, cụ thể là trường hợp NSDLĐ

trả chậm lương từ 15 ngày trở lên thì sẽ phải bồi thường cho NLĐ một khoản tiền.Theo quy định tại Điều 24, Nghị định 05/2015/NĐ-CP: NSDLĐ trả lương chậm từ

15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhânvới lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng nhà nước công

bố tại thời điểm trả lương Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trầnlãi suất thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngânhàng thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tạithời điểm trả lương Đây là một quy định mới chỉ có hiệu lực từ ngày 01/03/2015,tuy nhiên, theo chúng tôi, việc áp dụng quy định này trên thực tế sẽ vấp phải nhữngkhó khăn, bởi tâm lý e ngại khiếu kiện của NLĐ Việt Nam Nếu mức lương khôngphải quá cao, và thời gian trả chậm lương không quá dài (dưới 03 tháng) NLĐthường không muốn gây nên tranh chấp, khởi kiện NSDLĐ chỉ để đòi bồi thườngmột khoản tiền lương, hơn nữa, thực tế xét xử án lao động tốn thời gian công sức, sẽkhông tương xứng với mức tiền bồi thường mà NLĐ có thể có được Còn trongtrường hợp NSDLĐ trả chậm lương quá 03 tháng, NLĐ thực tế có lẽ sẽ chọnphương án nghỉ việc để tìm công việc mới, để có thu nhập ổn định cuộc sống

Thứ hai, bồi thường tiền lương khi NLĐ ngừng việc NLĐ khi tham gia quá

trình lao động được bố trí, sắp xếp công việc theo đúng thoả thuận trong HĐLĐ đã

Trang 39

ký Trường hợp NLĐ vẫn đến địa điểm làm việc nhưng do những nguyên nhânkhách quan hay chủ quan dẫn tới việc NLĐ phải tạm ngừng việc thì theo quy địnhcủa pháp luật NLĐ vẫn được hưởng lương Điều 98 BLLĐ 2012 quy định về tiềnlương ngừng việc, theo đó trong trường hợp phải ngừng việc, NLĐ được trả lươngnhư sau:

- Nếu do lỗi của NSDLĐ thì NLĐ được trả đủ tiền lương; Tiền lương làm căn cứ đểtrả cho NLĐ trong trường hợp này là tiền lương ghi trong HĐLĐ khi NLĐ phảingừng việc và được tính tương ứng với các hình thức trả lương theo thời gian quyđịnh tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định này [8, Khoản 1 Điều 26]

- Nếu do lỗi của NLĐ thì người đó không được trả lương; những NLĐ khác trongcùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưngkhông được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;

- Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của NSDLĐ, NLĐ hoặc vì cácnguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địchhoạ, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnhoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng khôngđược thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định

2.1.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản

Trách nhiệm BTTH về tài sản là trách nhiệm rất quan trọng hợp thành chế độBTTH trong pháp luật lao động Đây là mảng trách nhiệm pháp lý phát sinh do cácchủ thể có hành vi vi phạm, gây thiệt hại về tài sản cho nhau trong quá trình thựchiện quyền và nghĩa vụ lao động Trách nhiệm BTTH về tài sản với ý nghĩa khôiphục lại giá trị tài sản ban đầu đã bị tổn thất do hành vi vi phạm gây ra Trong quan

hệ này, bên phải bồi thường có thể là NLĐ, NSDLĐ hoặc chủ thể khác có liên quan.Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn cũng như tính chất đặc thù củaQHLĐ, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu trách nhiệm BTTH về tài sản đối với cácchủ thể là NLĐ và NSDLĐ

2.1.3.1 Trách nhiệm BTTH về tài sản (trách nhiệm vật chất) đối với NLĐ

Trường hợp NLĐ bồi thường cho NSDLĐ được pháp luật lao động quy địnhthành một chế độ pháp lý gọi là chế độ trách nhiệm vật chất Hiểu một cách chung

Trang 40

nhất thì trách nhiệm vật chất của NLĐ trong QHLĐ là trách nhiệm bồi thườngnhững thiệt hại về tài sản do hành vi vi phạm kỷ luật lao động, thiếu tinh thần tráchnhiệm trong sản xuất, công tác gây ra Trách nhiệm vật chất đối với NLĐ có một sốđặc điểm cần lưu ý sau đây:

Thứ nhất, chủ thể áp dụng trách nhiệm vật chất trong luật lao động là NLĐlàm công ăn lương theo HĐLĐ Trong khi đó, chủ thể áp dụng trách nhiệm kỷ luậtlao động là NSDLĐ

Thứ hai, trách nhiệm vật chất chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm của NLĐxảy ra trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động Nếu hành vi vi phạmkhông xảy ra trong quá trình NLĐ tham gia QHLĐ đó thì không thể phát sinh tráchnhiệm vật chất

Thứ ba, tài sản thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra phải là khối tài sản thuộcquyền sở hữu của NSDLĐ hoặc giao cho NLĐ quản lý, sử dụng, lưu trữ, chế biến

Thứ tư, việc áp dụng trách nhiệm vật chất phải tuân theo một trình tự, thủ tụcnhất định, và trong đó phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể NLĐ – Côngđoàn

Như vậy, khác với việc xử lý kỷ luật cũng như việc BTTH khác, trách nhiệmvật chất chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm kỷ luật lao động của NLĐ gây thiệthại đến tài sản của NSDLĐ và tài sản bị thiệt hại đó phải thuộc quyền quản lý, sửdụng, bảo quản, lưu trữ của NLĐ Trách nhiệm vật chất được xem như là một cơchế đảm bảo quyền lợi cho NSDLĐ; là cơ sở để họ đòi bồi thường và quyết địnhmức bồi thường khi có hành vi vi phạm từ phía NLĐ Đồng thời pháp luật về tráchnhiệm vật chất ở khía cạnh khác đã tạo ra được cơ chế bảo vệ NLĐ một cách chặtchẽ, nhiều trường hợp NLĐ chỉ phải bồi thường thấp hơn giá trị của sự thiệt hại và

họ vẫn đảm bảo được cuộc sống trong thời gian thực hiện bồi thường Mặt khác, đểđảm bảo quyền tự định đoạt của các bên, pháp luật cũng ghi nhận thỏa thuận của

họ Điều đó thể hiện sự bảo hộ của Nhà nước nhằm để không ảnh hưởng đến quyền

tự do kinh doanh của NSDLĐ đồng thời cũng tăng cường trách nhiệm của NLĐ vớitài sản của doanh nghiệp

* Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm vật chất

Ngày đăng: 09/01/2020, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội (2011), Báo cáo nghiên cứu khả năng gia nhập công ước số 187 về tăng cường cơ chế an toàn vệ sinh lao động của ILO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu khả năng gianhập công ước số 187 về tăng cường cơ chế an toàn vệ sinh lao động của ILO
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội
Năm: 2011
2. Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội (2015), Bộ quy tắc ứng xử quấy rối tình dục tại nơi làm việc, Hà Nội;Truy cập tại địa chỉhttp://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/newsitems/WCMS_371186/lang--vi/index.htm, truy cập ngày 27/01/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ quy tắc ứng xử quấy rối tìnhdục tại nơi làm việc
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội
Năm: 2015
3. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2014), Báo cáo kết quả đoàn công tác tại Hàn Quốc, ngày 08/05/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đoàn công tác tại Hàn Quốc
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2014
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2013), Kỷ yếu hội thảo “Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động (BHTNLĐ) tại Việt Nam và Hàn Quốc”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bảo hiểm tai nạn laođộng (BHTNLĐ) tại Việt Nam và Hàn Quốc
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2013
9. TS. Nguyễn Hữu Chí (chủ biên) (2006), “Chế độ bồi thường trong luật lao động Việt Nam”, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bồi thường trong luật lao độngViệt Nam”
Tác giả: TS. Nguyễn Hữu Chí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
10. Hoàng Thị Kim Duyên (2016), Bảo vệ người lao động trong việc xử lý kỷ luật lao động và bồi thường trách nhiệm vật chất, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người lao động trong việc xử lý kỷ luậtlao động và bồi thường trách nhiệm vật chất
Tác giả: Hoàng Thị Kim Duyên
Năm: 2016
11. Trần Thị Thanh Hà (2013), Bàn về một số vấn đề liên quan đến hợp đồng lao động và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012, (19), Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một số vấn đề liên quan đến hợp đồng laođộng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động theo Bộ luật Laođộng năm 2012
Tác giả: Trần Thị Thanh Hà
Năm: 2013
12. Nguyễn Thị Thu Hiếu (2015), Hoàn trả chi phí đào tạo trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động, (18), Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân Tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn trả chi phí đào tạo trong trường hợp ngườilao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo khoản 3 Điều 37 Bộ luậtLao động
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Năm: 2015
13. Nguyễn Ngọc Lan (2005), Luận văn thạc sĩ luật học: “Vấn đề BTTH theo Luật lao động Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề BTTH theo Luậtlao động Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lan
Năm: 2005
14. Nguyễn Thị Bích Nga (2014), Luận văn Thạc sĩ: “Bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường thiệt hại trongpháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố ĐàNẵng
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Nga
Năm: 2014
15. Ths. Nguyễn Minh Oanh (2009), Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Đề tài NCKH: Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại – Vấn đề lý luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thườngthiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Tác giả: Ths. Nguyễn Minh Oanh
Năm: 2009
19. Trường đại học luật Hà Nội (2012), Giáo trình luật thương mại, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật thương mại
Tác giả: Trường đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công annhân dân
Năm: 2012
20. Trường đại học luật Hà Nội (2013), Giáo trình luật lao động, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật lao động
Tác giả: Trường đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công annhân dân
Năm: 2013
21. Viện đại học Mở (2010), Giáo trình luật lao động, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật lao động
Tác giả: Viện đại học Mở
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
29. Beiten Burkhartd (2006), Labour Law in Russia, truy cập tại địa chỉ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Labour Law in Russia
Tác giả: Beiten Burkhartd
Năm: 2006
31. Pinsent Masons (2014), Dismissal procedure in Germany, truy cập tại địa chỉ:http://www.pinsentmasons.com/ELP/Dismissal%20Procedure%20in%20Germany.pdf Link
32. Severance payment on redundancy (2012), truy cập tại địa chỉ:http://www.toytowngermany.com/forum/topic/252274-severance-payment-on-redundancy/ Link
5. Chính phủ (2013), Nghị định 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động Khác
6. Chính phủ (2013), Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Khác
8. Chính phủ (2015), Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w