1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Một số vấn đề lí luận về chuẩn đầu ra môn Tiếng Anh ở các trường đại học không chuyên ngữ

5 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 3,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nêu lên một số vấn đề lí luận về chuẩn đầu ra ở các trường đại học không chuyên ngữ nhằm đảm bảo chương trình, nội dung dạy học sát với thực tiễn và phù hợp với chuẩn đầu ra môn Tiếng Anh đã được xác định, đảm bảo đúng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của các trường đại học đặt ra.

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHUẨN ĐẦU RA MÔN TIẾNG ANH

Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGỮ

Trương Tố Loan - Nghiên cứu sinh K2016-2019, Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng

Ngày nhận bài: 28/6/2019; ngày chỉnh sửa: 15/7/2019; ngày duyệt đăng: 24/7/2019

Abstract: The learning outcome of English as a subject at non-specialized language universities

is an expected language competence that learners can have after the course in order to prove their

knowledge, skills or linguistic proficiency The article presents some theoretical issues about the

outcome standards at non-specialized universities to ensure that the curriculum and teaching

content are close to reality and consistent with the defined English learning outcome standards,

ensuring the right objectives and training requirements of universities

Keywords: The learning outcome, English, non-specialized language universities

1 Mở đầu

Xuất phát từ những quan điểm chỉ đạo về đổi mới căn

bản, toàn diện GD-ĐT cũng như luôn coi phát triển giáo

dục là quốc sách hàng đầu, Văn kiện Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục

đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của

GD-ĐT theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực

của người học” [1] Trong tổ chức thực hiện quản lí dạy

học môn Tiếng Anh đáp ứng chuẩn đầu ra (CĐR) ở các

trường đại học, công tác giám sát quá trình dạy học cũng

đóng vai trò quan trọng Công tác giám sát giúp các cơ

quan quản lí tìm ra những hạn chế, thiếu sót, tồn đọng, từ

đó có biện pháp nhằm phát huy những mặt mạnh, tích

cực để nâng cao chất lượng công tác quản lí Nội dung

giám sát tập trung chủ yếu vào việc giám sát hoạt động

giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của sinh

viên (SV) cũng như giám sát việc thực hiện các quy trình,

quy chế dạy học Thực tiễn cho thấy, nếu làm tốt việc này

sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng

dạy học nói chung và quản lí dạy học môn Tiếng Anh

đáp ứng CĐR nói riêng ở các trường đại học không

chuyên ngữ

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Chuẩn đầu ra môn Tiếng Anh ở các trường đại học

không chuyên ngữ

2.1.1 Mục đích

CĐR nói chung và CĐR môn Tiếng Anh nói riêng

ở các trường đại học không chuyên ngữ là một quy định

bắt buộc để đảm bảo điều kiện tốt nghiệp của SV theo

Luật Giáo dục đại học và quy định của nhà trường

Ngoài các kiến thức, kĩ năng SV đã được học và tích

luỹ trong chương trình đào tạo, SV phải đạt chuẩn về

trình độ môn Tiếng Anh theo quy định và lộ trình thực

hiện của nhà trường

CĐR môn Tiếng Anh là cơ sở hỗ trợ, công tác đảm bảo chất lượng và hình thành các chuẩn đào tạo, gắn kết giáo dục nghề nghiệp với giáo dục đại học, tạo điều kiện học liên thông và học suốt đời Thông qua CĐR để giới thiệu với xã hội năng lực đào tạo của nhà trường, tạo được niềm tin trong SV, phụ huynh, người sử dụng lao động; tăng cường khả năng hợp tác giữa nhà trường với xã hội; SV sẽ được tăng cường cơ hội học tập, cơ hội việc làm

Các trường đại học thuộc Bộ GD-ĐT cũng như các trường đại học thuộc Bộ Công Thương (Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội) đã đưa ra đề án, kế hoạch về việc

tổ chức học tập, giảng dạy và thi cử môn Tiếng Anh nhằm đáp ứng CĐR

Căn cứ vào:

- Công văn số 5957/BGDĐT-GDĐH ngày 20/10/2014 về việc hướng dẫn dạy và học ngoại ngữ tăng cường trong các trường đại học, cao đẳng, học viện và các trường sĩ quan có đào tạo trình độ đại học, cao đẳng;

- Công văn số 808/KH-BGDĐT ngày 16/8/2012 về

kế hoạch triển khai Đề án Ngoại ngữ 2020 trong các cơ

sở giáo dục đại học giai đoạn 2012-2020;

- Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 về phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”;

- Công văn số 7274/BGDĐT-GDĐH ngày 31/10/2012 hướng dẫn thực hiện kế hoạch triển khai đề

án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 trong các cơ sở giáo dục đại học;

- Quyết định số 729/QĐ-BGDĐT ngày 11/3/2015 ban hành Định dạng đề thi đánh giá năng lực sử dụng tiếng Anh từ bậc 3 đến bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam;

Trang 2

VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 7/2019, tr 262-265; 255

- Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014

ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt

Nam;

- Quyết định số 1723/QĐ-ĐHSPNTTW-ĐT ngày

21/11/2014 về việc ban hành Quy định CĐR tiếng Anh

các ngành, hệ đào tạo không chuyên tại Trường Đại học

Sư phạm Nghệ thuật Trung ương;

- Quyết định số 242/QĐ-ĐHSPNTTW-ĐT ngày

10/02/2015 về việc ban hành Quy định dạy và học ngoại

ngữ không chuyên tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ

thuật Trung ương;

Dựa vào các thông tư, công văn, quyết định của Bộ

GD-ĐT cùng quy chế ban hành cụ thể của các trường đại

học không chuyên ngoại ngữ, có thể thấy:

- Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông phải đạt

bậc 2; SV hệ cao đẳng, đại học không chuyên ngữ phải

đạt năng lực ngoại ngữ bậc 3 theo Khung năng lực ngoại

ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam Tuy nhiên năng lực ngoại

ngữ đầu vào của SV rất khác nhau và chưa đạt chuẩn Bộ

GD-ĐT hướng dẫn các trường triển khai dạy tăng cường

ngoại ngữ cho SV để đạt CĐR theo thực tế tùy theo

ngành nghề đào tạo và điều kiện của từng trường nhưng

phải hướng tới sớm đạt chuẩn như mục tiêu của Đề án

2020

- Nhà trường công bố công khai CĐR về ngoại ngữ

và các loại chứng chỉ được chấp nhận

- Nội dung học, giáo trình, tài liệu và hình thức triển

khai phải đa dạng, phù hợp với yêu cầu, điều kiện thực tế

từng trường

- Khuyến khích sử dụng giảng viên, tình nguyện viên

bản ngữ tham gia giảng dạy

- Chú trọng sử dụng công nghệ thông tin

- Việc thu học phí dạy tăng cường không tính cho nội

dung chương trình đào tạo bắt buộc, thu theo nguyên tắc

thoả thuận với người học, đảm bảo bù đắp chi phí

Như vậy, ngoài việc ban hành các văn bản thì Bộ

GD-ĐT cũng không đưa ra các yêu cầu, hướng dẫn cụ thể hay

những mô hình thành công mà chỉ là những hướng dẫn,

gợi ý để các trường thực hiện Đề án 2020 theo điều kiện,

năng lực cụ thể của mình

2.1.2 Nội dung

Sự thay đổi về vai trò, vị trí của môn Tiếng Anh (đã

trở thành ngôn ngữ giao tiếp quốc tế - World Englishes,

International Language) với các biến thể khác nhau đã

làm cho nội dung, mục tiêu và phương pháp dạy học phải

thay đổi để đáp ứng nhu cầu sử dụng môn Tiếng Anh

trong giao tiếp Ví dụ, trước đây khi lấy mô hình bản ngữ

hoặc tương tự bản ngữ (Native-like) làm chuẩn thì nội

dung giảng dạy tập trung vào độ chính xác của ngôn ngữ

hơn là khả năng diễn đạt ý của người nói Theo mô hình này thì việc truyền đạt văn hóa của các nước bản ngữ cũng khó khăn do những tiết chế văn hóa này lạ lẫm, nằm ngoài vùng kiến thức nền của người học Khi môn Tiếng Anh chuyển thành ngôn ngữ quốc tế thì việc dạy học theo chuẩn bản ngữ không còn là nội dung chính của quá trình giảng dạy mà nội dung tập trung sang phát triển kĩ năng giao tiếp cho người học dựa trên những hiểu biết về văn hóa của chính người học và những nước mà người học

có thể sẽ tiếp cận Việc không tập trung vào độ chính xác

mà tập trung hơn vào việc phát triển độ trôi chảy sẽ tạo thêm động lực cho người học tham gia vào quá trình giao tiếp và học môn Tiếng Anh Theo đó, việc dạy dỗ sẽ tập trung vào phát triển các kĩ năng giúp người học nhận ra thông điệp “Intelligibility”, hiểu thông điệp

“Comprehensibility”, hiểu được ý nghĩa của thông điệp trong những văn cảnh cụ thể (Interpretability) và thể hiện được suy nghĩ, hiểu biết của mình (Express one’s meaning) hơn là truyền đạt các kiến thức ngôn ngữ mang tính sách vở

Trước đây, phương pháp dạy học coi bộ não người học như một hộp đen (Black box), trong đó quá trình giảng dạy là quá trình truyền tải kiến thức, thông tin lấp đầy bộ nhớ đó và kiến thức, thông tin học được được đo bằng khối lượng kiến thức, thông tin mà người dạy truyền thụ, việc hình thành kĩ năng chủ yếu là do tập luyện theo mô hình có sẵn; vì vậy, phương pháp Ngữ pháp - Dịch được coi là phù hợp Tuy nhiên, với sự ra đời của học thuyết văn hóa xã hội thì người học là chủ thể của hoạt động, giáo viên và nhà trường phải tạo ra môi trường để người học hoạt động, tự lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng Kiến thức được đo qua năng lực thực hiện, ứng phó với các ngữ cảnh cụ thể (Performance-based assessment) hơn là đo xem SV nhớ được bao nhiêu phần kiến thức mà người thầy truyền đạt Với giảng dạy ngoại ngữ thì ngoài việc cung cấp dữ liệu (Input), thì người dạy

và nhà trường phải tạo được môi trường để SV giao tiếp với thầy cô, bạn bè và các đối tượng khác (Interaction) thì người học mới có thể sử dụng tốt môn Tiếng Anh trong giao tiếp (Output)

Cùng với sự phát triển của phương pháp dạy học thì công nghệ thông tin cũng có những tiến bộ vượt bậc để trợ giúp cũng như tác động trở lại với phương pháp dạy học của giáo viên Ví dụ như việc sử dụng các video, presenter, internet thì người học hoàn toàn có thể tự học được phần kiến thức ngôn ngữ (từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm) Như vậy, giảng viên sẽ không còn là người cung cấp những kiến thức ngôn ngữ đó trên lớp mà giảng viên phải tổ chức các hoạt động để giúp SV củng cố các kiến thức ngôn ngữ đó, áp dụng kiến thức đó để phát triển kĩ năng giao tiếp Phương pháp học kết hợp (E-learning

Trang 3

được sử dụng như một bộ phận không thể tách rời trong

các lớp học truyền thống) được coi là một cuộc cách

mạng trong công nghệ đào tạo khi nó đã được chứng

minh là mang lại hiệu quả về chất lượng và giá thành đào

tạo Tuy nhiên, những rào cản lớn nhất để áp dụng

phương pháp này là: quan điểm, khả năng giảng dạy của

giảng viên; ý thức học của học viên và việc phải thiết kế

lại mục tiêu, chương trình đào tạo

Việc chuyển đổi mô hình giáo dục đại học từ đại học

tinh hoa (chỉ tuyển chọn số ít người học có khả năng và

động lực học) sang giáo dục đại chúng (tuyển nhiều SV

với khả năng, trình độ, ý thức học khác nhau để nâng cao

trình độ lao động cho toàn xã hội) và việc SV ngày nay

có trình độ công nghệ thông tin cũng như phụ thuộc vào

công nghệ thông tin đã khiến mục tiêu, phương pháp đào

tạo phải thay đổi Ví dụ như trước kia, người thầy quan

tâm nhiều hơn đến truyền đạt kiến thức còn việc sử dụng

kiến thức đó phần lớn phụ thuộc vào sự tích cực của

người học Hiện nay, người thầy cần phải quan tâm sát

sao tới nhu cầu của các nhóm người học khác nhau

(Individualised instruction) để kích thích các đối tượng

khác nhau theo đuổi những mục tiêu cá nhân khác nhau

Vì vậy, nhu cầu của người học cũng cần phải được quan

tâm trong quá trình xây dựng mục tiêu, chương trình và

tổ chức các hoạt động giảng dạy

Việc giáo dục nghề nghiệp gắn với nhu cầu sử dụng

cũng có ảnh hưởng đến mục tiêu và nội dung giảng dạy

môn Tiếng Anh Nội dung giảng dạy cần gắn với môi

trường mà người học sẽ sử dụng khi hành nghề (English

for Occupational Purpose) hơn là việc trang bị kiến thức

môn Tiếng Anh nói chung (môn Tiếng Anh cơ bản -

General English)

Vì vậy, việc thay đổi mục tiêu, chương trình, nội

dung giảng dạy và kiểm tra, đánh giá theo định hướng

nghề nghiệp với sự kết hợp của e-learning là điều tất yếu

Để đạt được hiệu quả thì cần phải có:

- Nghiên cứu cụ thể về yêu cầu sử dụng môn Tiếng

Anh của SV khi đi làm (Target needs)

- Nhu cầu học của SV (Present needs)

- Thiết kế lại mục tiêu, chương trình, tài liệu giảng

dạy theo hướng phát huy điểm mạnh của mỗi môi trường

học tập (Online và offline)

- Bồi dưỡng giảng viên trên cơ sở phân tích nhu cầu

hiện tại (giảng viên có khó khăn, điểm yếu gì về kiến

thức, kĩ năng, khi thực hiện chương trình)

- Trang bị cơ sở vật chất để thực hiện chương trình

Tóm lại, để đáp ứng yêu cầu đào tạo ở các trường đại

học nói chung cũng như quản lí dạy học môn Tiếng Anh

ở các trường đáp ứng CĐR cần chú ý:

- SV nắm kiến thức môn Tiếng Anh và có kĩ năng giao tiếp trong các tình huống với chủ đề xã hội, công việc và văn hóa giáo dục Ví dụ: Trong tình huống ở sân bay, khi giao tiếp phải hiểu được người bản ngữ nói gì; thực hiện giao tiếp tối thiểu để nêu lên được nhu cầu hay yêu cầu của mình

- Về nghe nói: Nghe hiểu được một hội thoại đơn giản trong môi trường công sở hay nơi công cộng, bệnh viện, nhà ga, sân bay

- Kết quả dự kiến: Tiến hành được hội thoại bằng tiếng Anh về bản thân, gia đình, bạn bè,

- Kĩ năng viết: Viết được một bức thư trong môi trường cơ quan, công sở (xin nghỉ ốm, có công việc) hay viết được nội dung tin nhắn

- Kĩ năng đọc hiểu: Hiểu được một văn bản với nội dung quen thuộc trong khoảng 600-700 từ (biết xem, đọc các hướng dẫn sử dụng máy móc, phương tiện )

2.1.3 Phương pháp

SV tiến hành tự học có hướng dẫn của giảng viên, theo hình thức ra bài tập về nhà

- Kiểm tra: Giảng viên trực tiếp kiểm tra trên lớp hoặc qua bài luận gửi trên mạng, tuỳ theo mục tiêu bài học

- Hình thức: Cần tạo môi trường tiếng để SV có cơ hội giao lưu, giao tiếp bằng tiếng Anh

- Giảng viên dạy bài qua mạng khi SV đã có vốn ngôn ngữ nhất định

- Trên lớp: SV làm việc với nhau theo hình thức cá nhân với cá nhân hoặc cá nhân với nhóm

2.2 Mục tiêu quản lí dạy học môn Tiếng Anh ở các trường đại học không chuyên ngữ đáp ứng chuẩn đầu ra

Dạy học môn Tiếng Anh ở các trường đại học nhằm trang bị cho SV kiến thức chuyên ngành theo từng lĩnh vực Ví dụ như tiếng Anh về nghiệp vụ giao nhận; tiếng Anh thương mại; Tiếng Anh tài chính - kế toán; tiếng Anh công nghệ thông tin, Trên cơ sở môn Tiếng Anh

SV đã được học ở trường trung học cơ sở, trung học phổ thông mà nhà trường củng cố, ôn tập và có thể phát triển

ở một mức độ cao hơn Bên cạnh đó, SV còn có thêm cơ hội rèn luyện, phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, tinh thần làm việc hợp tác theo nhóm khả năng nhạy bén trong các tình huống

Về giáo trình: Một số trường đại học không chuyên

ngoại ngữ có thể do giảng viên tự biên soạn giáo trình môn Tiếng Anh theo chuyên ngành giảng dạy tại các trường với chương trình khung của Bộ GD-ĐT hoặc có những trường tham khảo một số tài liệu giảng dạy có sẵn trên thị trường Chẳng hạn như cuốn giáo trình “TOIEC”

là một thể loại khá phù hợp với các trường vì nó cung cấp

Trang 4

VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 7/2019, tr 262-265; 255

những từ có liên quan đến các lĩnh vực nghề nghiệp Tuy

nhiên, hiện nay việc áp dụng giáo trình này vào giảng dạy

chưa được phổ biến

Về phương pháp dạy học: Giảng viên chủ yếu sử

dụng phương pháp vấn đáp, đàm thoại, phương pháp

hoạt động nhóm để giúp SV khi học môn Tiếng Anh có

thể phát huy hết khả năng của mình một cách tốt nhất,

đồng thời phát huy khả năng nhạy bén, tư duy và sáng

tạo Phương pháp dạy học có sự hỗ trợ của các phương

tiện, thiết bị dạy học hiện đại rất cần thiết và hữu ích khi

giảng dạy ngoại ngữ vì nó tiết kiệm thời gian, có tính

minh hoạ, trực quan cao, giúp SV khi học ngoại ngữ có

cơ hội rèn luyện các kĩ năng nói, nghe, kĩ thuật phát âm,

ngữ điệu, theo tiếng nói của người bản địa thông qua

nghe băng, đài hoặc đĩa Việc mời giảng viên hoặc

chuyên gia người nước ngoài cộng tác trong giảng dạy

ngoại ngữ ở các trường còn rất hạn chế Do đó, nhìn

chung kĩ năng giao tiếp của SV còn chưa cao Các em

phần lớn còn có xu hướng ngại giao tiếp khi gặp người

nước ngoài, sợ nói sai Đây là một đặc điểm mà có lẽ các

trường đại học không chuyên ngoại ngữ cần phải lưu

tâm Ngoài ra, thông qua các hoạt động ngoại khoá như

tổ chức các câu lạc bộ tiếng Anh, festival ngoại ngữ, các

kì thi Olympic ngoại ngữ, để SV có thêm cơ hội sử

dụng và trau dồi kiến thức ngoại ngữ của mình

Như vậy, thông qua các phương pháp dạy học môn

Tiếng Anh, chúng ta có thể thấy các hình thức dạy học

bộ môn này chủ yếu là hình thức lên lớp, thảo luận,

hoạt động nhóm, hoạt động ngoại khoá và một hình

thức nữa không thể thiếu đối với các em SV là hình

thức học tập ở nhà

Hoạt động dạy học ngoại ngữ ở các trường đại học

không chuyên ngữ nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu

của SV và của xã hội Tuy nhiên, còn một bộ phận SV

vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học ngoại

ngữ, nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay (khi mà cơ

hội xin việc làm trong các công ty nước ngoài hoặc thậm

chí được đi xuất khẩu lao động rất nhiều ), các em còn

học chưa đúng, học theo kiểu chống chế, đối phó Do

vậy, giảng viên dạy ngoại ngữ nên tìm cho mình những

cách thức dạy sao cho thực sự lôi cuốn, giúp SV nâng

cao nhận thức về môn học này

Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ

của các ngành khoa học kĩ thuật, viễn thông và công nghệ

thông tin cũng như sự phát triển trong quan hệ đối ngoại

đã làm cho ngoại ngữ càng trở nên cần thiết và mang tính

chất bắt buộc hơn nhiều với những người có nhu cầu

tuyển dụng

Với Việt Nam, khi chính thức trở thành thành viên

của tổ chức thương mại thế giới và là điểm đến để tổ chức

nhiều sự kiện mang tính chất chuyên nghiệp và tầm cỡ quốc tế như: Hội nghị thượng đỉnh Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), các cuộc thi hoa hậu thế giới người Việt

và đặc biệt là cuộc thi hoa hậu hoàn vũ thế giới được tổ chức tại Nha Trang, Khánh Hoà đã thu hút rất nhiều du khách nước ngoài đến Việt Nam Chính xu thế hội nhập hiện nay đã tạo ra nhiều thời cơ cũng như những thách thức to lớn cho đất nước Đối với ngành Giáo dục, việc quan tâm, quản lí, chú trọng đến hoạt động dạy ngoại ngữ càng cần được lưu ý hơn bao giờ hết Đặc biệt ở các trường đại học thì hoạt động dạy ngoại ngữ trong xu thế hội nhập có vai trò vô cùng to lớn, nó góp phần đáp ứng được mục tiêu của nhà trường là đào tạo ra những cử nhân, kĩ thuật viên, kĩ sư, có trình độ nhất định về ngoại ngữ (mà phổ biến là tiếng Anh) bên cạnh trình độ chuyên môn và năng lực phẩm chất của bản thân Ngoại ngữ ở các trường đại học có xu hướng thiên về giao tiếp nhiều hơn, chú trọng đến ngoại ngữ chuyên ngành, giúp cho

SV sau khi ra trường có thể sử dụng để phục vụ ngay cho công việc của mình

Bên cạnh đó, có một số trường đại học còn có hình thức tổ chức cho SV học ở nước ngoài hay liên kết đào tạo cử nhân nên ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng rất cần thiết được trang bị cho SV Trong xu thế hội nhập hiện nay thì cơ hội tìm việc làm trong các công ty liên doanh trong nước và các doanh nghiệp ở nước ngoài đang mở ra rất nhiều triển vọng cho SV Do đó, việc dạy ngoại ngữ sẽ giúp trang bị cho SV phương tiện giao tiếp thông dụng cũng như chuyên ngành được đào tạo để các

em được thuận lợi hơn trong khi làm việc với đối tác nước ngoài, góp phần nâng cao hiệu quả lao động Như vậy, việc dạy ngoại ngữ ở các trường đại học nói chung, đại học không chuyên ngữ nói riêng không chỉ có vai trò thoả mãn nhu cầu giao tiếp thông thường mà còn giúp SV sau khi ra trường sẽ tự tin hơn trong công việc khi giao tiếp và làm việc với các đối tác nước ngoài

3 Kết luận

Để dạy học môn Tiếng Anh đáp ứng CĐR ở các trường đại học không chuyên ngữ, các trường cần thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra việc thực hiện kế hoạch dạy học, chương trình nội dung dạy học, trong đó đi sâu kiểm tra việc giảng viên giảng dạy và thực hiện kế hoạch (bao gồm thời gian, lịch trình, phương pháp, phương tiện) đảm bảo chương trình, nội dung dạy học sát với thực tiễn và phù hợp với CĐR môn Tiếng Anh đã được xác định, đảm bảo đúng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của các trường đại học đặt ra

(Xem tiếp trang 255)

Trang 5

2.4 Kết quả ứng dụng phương pháp khảo sát sử dụng

Google biểu mẫu và nhóm kín Facebook

Với yêu cầu cần khảo sát tình hình việc làm của 70

SV sau khi tốt nghiệp, tác giả đã sử dụng Google biểu

mẫu và nhóm kín Facebook, kết quả thu được 61/70

phiếu, đạt tỉ lệ 87% Còn 09 SV không trả lời, tác giả đã

thực hiện khảo sát tiếp bằng gọi điện thoại và gửi email,

tuy nhiên, không nhận được phản hồi

Với tỉ lệ 87% SV sau khi tốt nghiệp phản hồi chứng

tỏ, phương pháp sử dụng đã cho kết quả tốt Đặc biệt hơn,

phương pháp này không tốn chi phí và linh hoạt khi sử

dụng nên rất tiện lợi cho việc khảo sát

3 Kết luận

Phương pháp ứng dụng Google biểu mẫu và Nhóm kín

Facebook trong khảo sát tình hình việc làm của SV sau khi

tốt nghiệp tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương -

Nha Trang đã cho kết quả tốt Hiệu quả của phương pháp

này là tiết kiệm thời gian, chi phí và cho hiệu quả cao Nó

có thể áp dụng cho các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn

TP Nha Trang nói riêng và cả nước nói chung Ngoài ra,

chúng ta có thể vận dụng phương pháp này để tiến hành

các cuộc khảo sát khác về chương trình đào tạo, cơ sở vật

chất,… làm cơ sở để các trường thu thập thông tin, từ đó

cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ GD-ĐT (2017) Thông tư số

36/2017/TT-BGDĐT ngày 28/12/2017 ban hành Quy chế thực

hiện công khai đối với cơ sở giáo dục và đào tạo

thuộc hệ thống giáo dục quốc dân

[2] Quốc hội (2018) Luật Giáo dục đại học, luật số

34/2018/QH14

[3] Bộ GD-ĐT (2017) Quy chế Tuyển sinh đại học hệ

chính quy; tuyển sinh cao đẳng nhóm ngành đào tạo

giáo viên hệ chính quy (Ban hành kèm theo Thông

tư số 05/2017/TT-BGDĐT ngày 25/01/2017 của Bộ

trưởng Bộ GD-ĐT)

[4] Bộ GD-ĐT (2017) Công văn số

2919/BGDĐT-GDĐH ngày 10/7/2017 về việc Khảo sát tình hình

việc làm của sinh viên tốt nghiệp

[5] Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - Nha Trang

(2017) Thông tin khảo sát việc làm năm 2017, 2018,

http://sptwnt.edu.vn/bantin/thong-tin-khao-sat-viec

-lam-nam-2017-2018-03-032019010802

[6] Phạm Quang Thuận (2018) Nâng cao hiệu quả

công tác chủ nhiệm với nhóm kín Facebook tại

Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - Nha

Trang Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Khánh

Hòa, số 2, tr 59-63

[7] Nguyễn Việt Dũng - Nguyễn Thị Thu Huyền

(2017) Ứng dụng công cụ “Đám mây”- tiện ích

của Google hỗ trợ khảo sát trực tuyến ý kiến phản hồi từ sinh viên đối với giảng viên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Nguyên Tạp chí Giáo dục, số

415, tr 53-57

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHUẨN ĐẦU RA…

(Tiếp theo trang 265)

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật

[2] Bộ GD-ĐT (2010) Công văn số

2196/BGDĐT-GDĐH ngày 22/4/2010 về việc hướng dẫn xây dựng

và công bố chuẩn đầu ra các ngành đào tạo

[3] Bộ GD-ĐT (2010) Đổi mới quản lí hệ thống giáo

dục đại học giai đoạn 2010-2012 NXB Giáo dục

Việt Nam

[4] Đặng Quốc Bảo (1999) Khoa học tổ chức và quản

lí - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn NXB Thống

[5] Trần Khánh Đức (2010) Giáo dục và phát triển

nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI NXB Giáo dục

Việt Nam

[6] Nguyễn Phương Lan (chủ nhiệm đề tài, 2006) Một

số biện pháp tăng cường quản lí nâng cao chất lượng dạy học môn ngoại ngữ ở trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ Trường Đại học Hải Phòng

[7] Sử Ngọc Anh (2012) Xây dựng chuẩn đầu ra góp

phần đảm bảo chất lượng giáo dục đại học Tạp chí

Giáo dục, số 288, tr 29-31; 23

[8] Hoàng Thị Hương (2018) Nâng cao chất lượng xây

dựng chuẩn đầu ra chương trình đào tạo ở một số

cơ sở giáo dục đại học nước ta Tạp chí Giáo dục,

số đặc biệt kì 2 tháng 5, tr 86-89

[9] Muhammad Abdul Malik - Ali Murtaza - Abdul

Majeed Khan (2011) Role of Teachers in Managing

Teaching Learning Situation Interdisciplinary

Journal of Contemporary Research in Business, Vol 3(5), pp 783-833

Ngày đăng: 09/01/2020, 11:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w