Năm 2017, sau khi tham vấn ý kiến các tổ chức chính trị - x hội, x hội - nghề nghiệp, hiệp hội ngành nghề và nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý; sau nhiều phiên thảo luận sôi nổ
Trang 22 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VAI TRÕ
CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
ThS Đỗ Thị Hạnh
3 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN KINH TẾ NHIỀU
THÀNH PHẦN VÀ VAI TRÕ CỦA TẦNG LỚP DOANH NHÂN TRONG XÂY DỰNG CNXH Ở VIỆT NAM 20
5 QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ
KINH TẾ TƯ NHÂN TỪ 1986 ĐẾN NAY 35
TS Lê Văn Hùng, ThS Nguyễn Thị Thanh Hòa
6 CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ VÀO
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 45
TS Vũ Văn Tuấn
7 PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN
ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 54
ThS Hà Thị Yến
8 TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẤT
ĐAI HIỆN NAY CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐẦU TƯ VÀO NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 63
ThS Lê Thị Yến
PHẦN THỰC TIỄN
9 HƯỚNG ĐI CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH
VỰC NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CẦU MỚI 79
ThS Nguyễn Văn Huế, ThS Đỗ Thị Quỳnh Anh
10 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 90
TS Vũ Hồng Hà
Trang 311 MỞ CỬA THƯƠNG MẠI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - NHỮNG
THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 99
ThS Tô Thái Hà, ThS Trịnh Thị Ngọc Anh
12 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LĨNH VỰC THỦY SẢN VÀ DOANH NGHIỆP
THỦY SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 109
15 VAI TRÕ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HƯNG YÊN 136
ThS Phạm Thị Nhuần
16 GIẢI PHÁP TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ:TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH 148 BUI Thi Lam(1), (2), TRAN Huu Cuong(2), and Philippe LEBAILLY (1)
17 ĐÁNH THỨC KHÁT VỌNG LÀM GIÀU CỦA THANH NIÊN
TRONG VIỆC THÀNH LẬP CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY 158
TS GVC Lê Thị Lý, ThS Trương Thị Thu Hạnh
18 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 167
ThS Vũ Quỳnh Lê
19 MỘT SỐ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 177
ThS Nguyễn Thị Thanh Minh
20 HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ ĐỔI
MỚI CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 187
ThS.Phạm Hồng Quách, ThS Lưu thị Thanh Hảo
TS Nguyễn Thị Thúy Hằng
21 MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 194
ThS Nguyễn Thị Sơn
Trang 422 KHẢ NĂNG TIẾP CẬN ĐẤT ĐAI CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 204
PGS.TS Đỗ Thị Tám, Đỗ Đình Hiệu, Nguyễn Thị Hồng Hạnh
23 PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở MỘT SỐ TỈNH
MIỀN NÖI PHÍA BẮC GIAI ĐOẠN 2011-2015 220
TS Trần Lê Thanh
24 MỘT SỐ KHÓ KHĂN THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 227
ThS Lê Thị Kim Thanh
25 PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 237
ThS Lê Đức Thọ, 237Ths Lê Dương Thùy Hương
26 QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ Ở
ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 246
ThS Lê Đức Thọ, 246ThS Đoàn Thị Như Thủy
27 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC
NÔNG, LÂM NGHIỆP, THỦY SẢN CỦA VIÊT NAM 256
ThS Lê Thị Xuân
28 THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 265
ThS Hà Thị Hồng Yến
Trang 5PHẦN LÝ LUẬN
Trang 6QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN
KINH TẾ TƯ NHÂN (2011 – 2019)
ThS Trần Khánh Dư Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Từ khóa: Kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, quan điểm, giải pháp
1 Mở đầu
Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định và nhất quán đường lối phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng x hội chủ ngh a với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Trong các thành phần kinh tế, kinh tế tư nhân giữ một vai trò quan trọng của nền kinh tế quốc gia bởi
nó có thể phát huy nội lực của nhân dân, đóng góp tỷ trọng lớn trong GDP Trong mười năm gần đây (2011 - 2019), thành phần kinh tế tư nhân ngày càng được Đảng quan tâm phát triển, điều đó được thể hiện rõ nét thông qua các Nghị quyết của Đại hội ĐBTQ lần thứ XI năm 2011, Đại hội ĐBTQlần thứ XII năm 2016 Đặc biệt, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ năm khóa XII, Đảng đ có một nghị quyết riêng về thành phần kinh tế tư nhân Nhìn chung các Nghị quyết đều phân tích rõ thực trạng của kinh tế tư nhân, từ đó đề ra mục tiêu cho những năm tiếp theo cũng như những giải pháp để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó
Trang 7nước, nhất là các l nh vực công nghệ cao Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế”
Đến Đại hội ĐBTQ lần thứ XII năm 2016, Đảng tiếp tục chỉ rõ “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và l nh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”
Năm 2017, sau khi tham vấn ý kiến các tổ chức chính trị - x hội, x hội - nghề nghiệp, hiệp hội ngành nghề và nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý; sau nhiều phiên thảo luận sôi nổi và làm việc tập trung, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm khóa XII đ thông qua nghị quyết số 10-NQ/TW về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a.” Nghị quyết 10 cho thấy Đảng đ kế thừa có chọn lọc những thành tựu về phát triển kinh tế thị trường của nhân loại;kế thừa kết quả tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (trong đó có Báo cáo tổng kết 15 năm (2002 - 2017) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”).Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2017, Đảng không chỉ xác định phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a mà còn lần đầu tiên xác định kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ Trong nhiều nội dung của Nghị quyết, Nghị quyết 10 nổi bật hai nội dung rất quan trọng sau:
2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân
- “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a ở nước ta; là một phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển” Quan điểm này đ thể hiện rõ nhận thức của Đảng về vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN So với cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, bao cấp trước đây, kinh tế thị trường đ
mở ra cho kinh tế tư nhân cơ hội phát triển nhưng đồng thời kinh tế tư nhân cũng góp phần giải phóng sức sản xuất, phát huy tối đa nguồn lực của đất nước
- “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ” Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hóa hiện nay,
Trang 8giữ được nền kinh tế quốc gia được độc lập, tự chủ là không dễ dàng với các quốc gia
Do đó, Đảng đ xác định kinh tế tư nhân (cùng với kinh tế nhà nước và tập thể) là nòng cốt duy trì tính độc lập tự chủ của nền kinh tế nước nhà Để có một nền tảng vững chắc, Đảng chủ trương khuyến khích tạo điều kiện điều kiện thuận lợi để kinh tế
tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp vào GDP Việt Nam
- Bên cạnh nhiều thành tựu sau hơn 30 năm áp dụng ở Việt Nam, cơ chế kinh tế thị trường đ bộc lộ ra một số tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, hàng giả hàng nhái, thực phẩm nhiễm hóa chất… Những tiêu cực đó cộng với những nhận thức chưa đúng
về kinh tế tư nhân đ dẫn đến trong một bộ phận đảng viên và quần chúng có thái độ
kỳ thị kinh tế tư nhân Do đó, ở Hội nghị TW 5 Đảng đ chỉ rõ cần “Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng” Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân nhưng Đảng không quên lưu ý phải tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế tư nhân
- Kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, l nh vực mà pháp luật không cấm Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo mô hình doanh nghiệp Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế
tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu
- Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hoá hoặc Nhà nước thoái vốn Thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể
và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan toả rộng r i về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ
- Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ ngh a x hội của các chủ doanh nghiệp Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm với
x hội và kỹ năng l nh đạo, quản trị cao; chú trọng xây dựng văn hoá doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân
Trang 92.2 Những giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Tại Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2017, Đảng đ xác định mục tiêu tổng quát: phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a, góp phần phát triển kinh tế - x hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng x hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Việt Nam đặt mục tiêu cụ thể phấn đấu có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp (năm 2020), hơn 1,5 triệu doanh nghiệp (năm 2025) và có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp (năm 2030) Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế Phấn đấu tăng tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP để đạt khoảng 50% GDP (năm 2020), khoảng 55% GDP (năm 2025) và 60 - 65% GDP (năm 2030) Để đạt được mục tiêu đặt ra cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế, Nghị quyết đ nêu ra một số giải pháp cơ bản:
Thứ nhất, không chỉ Đảng, Nhà nước mà toàn dân phải tiếp tục thay đổi nhận
thức về kinh tế tư nhân Cần có sự thống nhất nhận thức trong x hội về khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách định hướng sự phát triển của kinh tế tư nhân; hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật về kinh tế tư nhân Sửa đổi một số cơ chế, chính sách về phát triển kinh
tế tư nhân như chính sách đầu tư, tín dụng, chính sách về mặt bằng sản xuất, chính sách thuế, chính sách đào tạo, tiền lương, thu nhập và bảo hiểm x hội Phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế - x hội phải đi đôi với khắc phục có hiệu quả những mặt trái, những tiêu cực phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân
Thứ hai, Nhà nước cần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát
triển kinh tế tư nhân Trước hết, Nhà nước cần đảm bảo ổn định kinh tế v mô, kiểm soát lạm phát, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; chủ động, linh hoạt điều hành chính sách tiền tệ theo cơ chế thị trường, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý; bảo đảm l i suất và tỉ giá hối đoái ổn định, phù hợp với điều kiện kinh tế v mô và thị trường Đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu; cơ cấu lại ngân sách nhà nước gắn với giảm bội chi ngân sách, bảo đảm an toàn nợ công và nâng cao hiệu quả đầu tư công; khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân Sau đó, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân vào hoạt động kinh tế tư nhân theo cơ chế thị trường
Không biến các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân thành chính sách bao cấp, phục vụ "lợi ích nhóm" dưới mọi hình thức Tạo điều kiện để kinh tế tư nhân
Trang 10đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trong những ngành, l nh vực mà pháp luật không cấm, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - x hội quốc gia Đẩy mạnh x hội hóa, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ công, tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hỗ trợ kinh tế tư nhân tiếp cận, khai thác các cơ hội trong hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường, đẩy mạnh đầu tư và thương mại quốc
tế Tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển, nâng cao năng lực từng bước tham gia sâu, vững chắc vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu
Thứ ba, hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát
triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động Nhà nước cần khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư nhân đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến Hoàn thiện và bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật về sở hữu trí tuệ Phát triển các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ Áp dụng chính sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đ i phù hợp với hoạt động nghiên cứu, đổi mới, hiện đại hoá công nghệ Kết nối doanh nghiệp, ý tưởng khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo với các nhà đầu tư, quỹ đầu tư
Ưu tiên phát triển các khu công nghệ cao, các vườn ươm công nghệ cao và các doanh nghiệp khoa học - công nghệ Đẩy mạnh đầu tư, phát triển các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ, đội ngũ các nhà khoa học Tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế trong nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; mua bán, chuyển giao các sản phẩm khoa học, công nghệ mới Đẩy mạnh thương mại hoá các sản phẩm nghiên cứu khoa học, công nghệ Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực Đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng đủ nhu cầu số lượng và chất lượng nhân lực cho phát triển kinh tế tư nhân Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo; quy hoạch và phát triển đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị trường
Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ doanh nhân có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng quản lý, quản trị hiện đại, đạo đức kinh doanh và tinh thần trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc Xây dựng và triển khai rộng r i các chuẩn mực đạo đức, văn hoá của doanh nhân Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a Khuyến khích, động viên tinh thần kinh doanh, ý chí khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong toàn x hội, nhất là trong cộng đồng doanh nghiệp Đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền, giáo dục kiến thức kinh doanh, khởi nghiệp trong toàn x hội
Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước pháp quyền XHCN Quốc hội,
Chính phủ cần xây dựng khung pháp lý tạo điều kiện thuận lợi hơn, bình đẳng hơn cho
Trang 11các doanh nghiệp tư nhân phát triển Nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện
có hiệu quả pháp luật, chính sách, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, an toàn cho kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, đúng định hướng Tăng cường hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương các cấp đối với việc chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế
tư nhân Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính quyền cần đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, giải quyết tranh chấp,… Tăng cường cơ chế đối thoại có hiệu quả giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp nhằm nắm bắt và xử lý kịp thời các vướng mắc liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân
Thứ năm, tăng cường sự l nh đạo của Đảng, Nhà nước, nâng cao vai trò của các
tổ chức chính trị - x hội Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách đối với doanh nghiệp tư nhân, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân phát triển Mạnh dạn giao cho các doanh nghiệp tư nhân có đầy đủ điều kiện đảm nhiệm các l nh vực quan trọng của Nhà nước Chỉ nên giữ lại các doanh nghiệp nhà nước mang tính chủ đạo Kinh tế tư nhân không chỉ là quan trọng mà là đầu kéo quan trọng để phát triển kinh tế Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - x hội trong phát triển kinh tế tư nhân Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức x hội - nghề nghiệp, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo kỹ thuật và tư vấn cho doanh nghiệp tư nhân
3 Kết luận
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đ ban hành và l nh đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp quan trọng về khuyến khích và tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển Vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức
rõ hơn và đánh giá đúng hơn Bên cạnh một số yếu kém, hạn chế, kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực x hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh x hội, giải quyết các vấn đề x hội Tỉ trọng trong GDP của khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả kinh tế cá thể duy trì ổn định khoảng 39 - 40% Bước đầu đ hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước và quốc tế; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh Số lượng doanh nghiệp của tư nhân tăng nhanh với nhiều loại hình đa dạng; phong trào khởi nghiệp được đẩy mạnh Những thành tựu trên đ chứng minh cho chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân là hoàn toàn đúng đắn
Trang 12TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XI, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XII, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Văn kiện Hội nghị BCH Trung ương lần thứ năm
khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng xuất bản (Lưu hành nội bộ), Hà Nội
Trang 13QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VAI TRÕ CỦA KINH
TẾ TƯ NHÂN: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
ThS Đỗ Thị Hạnh Học viện Nông nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Kể từ khi đổi mới kinh tế (1986) đến nay, quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân luôn nhất quán và ngày càng được hoàn thiện Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định kinh tế tư nhân
“trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế” Quan điểm của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân như trên là kết quả lâu dài của quá trình nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời quan điểm của Đảng còn xuất phát từ những đóng góp quan trọng của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Từ khóa: Đảng cộng sản Việt Nam, vai trò của kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân
1 Mở đầu
Kinh tế tư nhân, hiểu theo ngh a rộng là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư Kinh tế tư nhân là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất Theo ngh a hẹp, kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Kinh tế tư nhân tồn tại dưới các hình thức như: doanh nghiệp tư nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và các hộ kinh doanh cá thể [11]
Trong quá trình l nh đạo công cuộc đổi mới đất nước, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường có nhiều chuyển biến tích cực Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII khẳng định, kinh tế tư nhân đang ngày càng “trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế”
Bài tham luận “Quan điểm của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân: cơ sở lý luận và thực tiễn” nhằm tìm hiểu những cơ sở lý luận và thực tiễn quan điểm của Đảng
về vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn quan điểm của Đảng về vai trò của thành phần kinh
tế tư nhân trong nền kinh tế trị trường định hướng XHCN
a Cơ sở lý luận
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân là kết quả của quá trình tiếp thu, vận dụng chủ ngh a Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước Các
Trang 14nhà sáng lập của chủ ngh a Mác – Lênin đ khẳng định tính tất yếu của sự tồn tại chế
độ tư hữu và các thành phần kinh tế khác nhau trong thời kỳ quá độ xây dựng CNXH
Ph Ăngghen khi bàn về chế độ tư hữu đ viết: “Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không? Trả lời: không, không thể được, cũng y như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu Cho nên, cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đang có tất cả những triệu chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo x hội hiện nay một cách dần dần,
và chỉ khi nào đ tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu” [2, tr 78] Như vậy, theo Ph Ăngghen, trong quá trình xây dựng chế độ x hội mới – chế độ x hội cộng sản chủ ngh a không thể ngay lập tức xóa bỏ ngay chế độ tư hữu, mà chỉ nên cải tạo dần dần để cho chế độ tư hữu tự tiêu vong cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất
V.I.Lênin đ kế thừa và vận dụng quan điểm của Ph Ăngghen vào thực tiễn.Theo V.I Lênin, bước quá độ kinh tế là biện pháp đặc biệt, tất yếu ở những nước chưa có chủ ngh a tư bản phát triển hoặc chưa kinh qua chủ ngh a tư bản Bước quá độ
kinh tế được thể hiện trong Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin Trong tác phẩm Về
bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và tính tiểu tư sản,V.I.Lênin đ vạch ra tính chất quá độ của
nền kinh tế của nước Nga và đ chỉ ra năm thành phần kinh tế - x hội đ tồn tại ở nước Nga lúc đó:
- Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, ngh a là một phần lớn có tính chất tự nhiên;
- Sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mỳ);
Trang 15chủ ngh a tư bản trong thời kỳ quá độ lên chủ ngh a x hội, phải lợi dụng chủ ngh a tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ ngh a tư bản Nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ ngh a x hội, để phát triển lực lượng sản xuất V.I.Lênin đ viết: “Trong một nước tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ ngh a tư bản nhà nước, tiến lên chủ ngh a x hội, không phải bằng cách trực tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệt tình do cuộc cách mạng v đại sinh ra, bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng sự quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế.” [9, tr 189]
Trong điều kiện của nước Nga lúc đó, V.I.Lê Nin đặc biệt chú trọng đến chủ
ngh a tư bản nhà nước Thành phần kinh tế tư bản nhà nước V.I Lênin coi chủ ngh a
tư bản nhà nước là sự chuẩn bị điều kiện vật chất đầy đủ cho chủ ngh a x hội Trong nhà nước tư bản, chủ ngh a tư bản nhà nước được nhà nước kiểm soát một cách có lợi cho giai cấp tư sản; còn trong nhà nước vô sản, chủ ngh a tư bản nhà nước được kiểm soát và điều tiết để làm lợi cho giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, tạo lập cơ sở kinh tế cho chủ ngh a x hội.Chủ ngh a tư bản nhà nước lúc đó sẽ là “sự liên hiệp nền sản xuất nhỏ lại”, sẽ là biện pháp thích hợp để hướng các thành phần kinh tế của nước Nga đi theo quỹ đạo kinh tế của chủ ngh a x hội, vì nó là thành phần dễ dàng cho việc kiểm kê và kiểm soát chung và do đó dễ dàng cho việc tiếp tục x hội hoá nền sản xuất V.I.Lênin cho rằng, sử dụng chủ ngh a tư bản nhà nước là điều kiện thiết yếu, là
“phòng chờ” để có thể đi lên chủ ngh a x hội, Người viết: “Đứng trên ý ngh a vật
chất, kinh tế, sản xuất mà xét thì chúng ta còn chưa tiến đến “phòng chờ” của chủ
ngh a x hội, và nếu không đi qua “phòng chờ” mà chúng ta chưa đạt tới ấy thì ta không thể vào cửa chủ ngh a x hội được” [8, tr 422] Cũng theo V.I.Lênin, sản xuất hàng hóa nhỏ là một sự phát triển tiểu tư sản, một sự phát triển tư bản chủ ngh a và chính sách ngăn cấm nó là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng vì
về phương diện kinh tế, chính sách ấy là không thể nào thực hiện được Bởi vậy, không nên tìm cách ngăn cấm hay chặn đứng sự phát triển của chủ ngh a tư bản tư nhân mà khuyến khích nó phát triển và hướng nó vào con đường chủ ngh a tư bản nhà nước và tạo điều kiện cần thiết để đảm bảo sự chuyển biến từ chủ ngh a tư bản nhà nước sang chủ ngh a x hội trong tương lai
Tư tưởng của V.I.Lênin về bước quá độ kinh tế còn cho phép đặt vấn đề hợp tác hoá theo cách mới Hợp tác hoá không phải bằng con đường tước đoạt, cưỡng chế mà bằng cách lấy lợi ích mà khuyến khích nông dân, bằng cách làm cho họ có quan hệ gắn
bó với nhau, từ đó dẫn dắt họ đến giai đoạn cao hơn, tức là: các hình thức hợp tác và liên hợp chính ngay trong sản xuất V.I.Lênin viết: “Qua chính sách kinh tế mới, chúng ta đ nhượng bộ người nông dân được coi là thương nhân, nhượng bộ nguyên tắc thương nghiệp tư nhân; chính sách do đó mà có (trái với ý ngh một số người) ý
Trang 16ngh a lớn lao của chế độ hợp tác x Thực ra mà nói, tất cả những điều chúng ta phải làm, dưới chế độ chính sách kinh tế mới, là ở chỗ tập hợp những tầng lớp nhân dân Nga thật sâu rộng vào các hợp tác x , vì hiện nay, chúng ta đ tìm ra được mức độ kết hợp lợi ích tư nhân, lợi ích thương nghiệp tư nhân với việc nhà nước kiểm soát và kiểm tra lợi ích đó, mức làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi ích chung, điều mà trước đây là nan giải đối với rất nhiều người x hội chủ ngh a Thật vậy, chính quyền nhà nước chi phối những tư liệu sản xuất chủ yếu, giai cấp vô sản nắm chính quyền, giai cấp vô sản đó liên minh với hàng triệu tiểu nông và tiểu tiểu nông, giai cấp vô sản nắm vững quyền l nh đạo nông dân Phải chăng đó không phải là tất cả những điều cần thiết để xây dựng một x hội x hội chủ ngh a toàn vẹn hay sao?” [8, tr 256-257]
Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay tư rất sớm đ nhận thức rõ vai trò của kinh tế tư nhân Năm 1953, trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, chủ tịch Hồ Chí Minh đ đề cập sự tồn tại của 5 loại hình kinh tế khác nhau trong chế độ mới, gồm:
- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ ngh a x hội, vì nó là của chung của nhân dân)
- Các hợp tác x (nó là nửa chủ ngh a x hội và sẽ tiến đến chủ ngh a x hội)
- Kinh tế cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác x , tức là nửa chủ ngh a x hội)
2 - Chủ thợ đều lợi Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay Chính phủ phải bảo vệ lợi quyền của công nhân Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức.Chủ và thợ đều tự giác, tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên”
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú trọng chính sách công nông giúp nhau và lưu
Trang 17thông bên trong ngoài (tức phát triển thị trường trong nước và hợp tác, buôn bán với nước ngoài) Khi miền Bắc được giải phóng bước vào thời kỳ quá độ lên chủ ngh a x hội, chủ tịch Hồ Chí Minh khuyến khích mọi người, mọi gia đình làm giàu Người cho rằng chủ ngh a x hội là dân giàu, nước mạnh (1956) Đối với kinh tế tư bản tư nhân
và những nhà tư bản, chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm rất mới: “Còn giai cấp
tư sản ở ta, thì họ có xu hướng chống đế quốc… cho nên, nếu mình thuyết phục khéo,
l nh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ ngh a x hội” [1, tr 564] Như vậy, chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định kinh tế tư bản của dân tộc, kinh tế tư nhân của nông dân, của tiểu thương là lực lượng cần thiết cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
b Cơ sở thực tiễn
Quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân xuất phát từ thực tiễn sự phát triển của kinh tế tư nhân và những đóng góp của thành phần kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - x hội của đất nước
-Từ sau đổi mới kinh tế đến nay, kinh tế tư nhân ở Việt Nam đ có sự phát triển nhanh chóng: Trước năm 1990 không tồn tại doanh nghiệp tư nhân được đăng ký chính thức vì pháp luật trước đó không cho phép doanh nghiệp tư nhân đăng ký kinh doanh Các doanh nghiệp tư nhân đầu tiên được thành lập vào năm 1991 sau khi Luật Doanh nghiệp Tư nhân và Luật Công ty được ban hành vào năm 1990 Nhưng vào thời điểm đó, việc thành lập một công ty tư nhân vẫn còn rất phức tạp và tốn kém Vì vậy, trong vòng 9 năm kể từ khi luật được ban hành cho đến năm 1999, chỉ có 14.500 doanh nghiệp tư nhân được thành lập Luật Doanh nghiệp được thông qua vào năm
2000 đ tạo ra sự tăng trưởng đột phá về số lượng cũng như quy mô của các doanh nghiệp tư nhân Những hạn chế và điều kiện về gia nhập thị trường đ được nới lỏng
và giảm thiểu Kể từ đó tới nay, số lượng các doanh nghiệp đăng ký liên tục tăng với tốc độ nhanh Tính từ năm 2000 đến 2017, số lượng doanh nghiệp (chủ yếu là thuộc khu vực kinh tế tư nhân, chiếm 97%) đ tăng hơn 10 lần, từ gần 42.300 doanh nghiệp năm 2000 lên 561.000 doanh nghiệp năm 2017 Số lượng các doanh nghiệp thành lập mới (mà đại đa số là doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân) hàng năm cũng tăng lên nhanh chóng, từ mức gần 14.500 doanh nghiệp/năm (2000) lên mức gần 127.000 doanh nghiệp/năm (2017) [11]
- Vai trò của kinh tế tư nhân: kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế là bởi những lý do cơ bản sau
Thứ nhất, khu vực kinh tế tư nhân góp phần khơi dậy một bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguồn nội lực, tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân Khu vực này góp phần xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Khu vực kinh tế tư nhân phát triển làm cho các quan hệ sở hữu của nền kinh
tế trở nên đa dạng hơn Sự biến đổi của quan hệ sản xuất đ kéo theo sự biến đổi của
Trang 18quan hệ quản lý và phân phối làm cho quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt, phù hợp với trình độ phát triển Nhờ vậy đ khơi dậy và phát huy tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của toàn x hội
Khu vực kinh tế tư nhân phát triển đ góp phần quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi của x hội và sử dụng tối ưu các nguồn lực Môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi đ tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn lực, trong đó
có nguồn vốn trong cộng đồng trở nên dễ dàng và linh hoạt hơn
Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân có đóng góp quan trọng vào GDP của cả nước: năm 1995, kinh tế tư nhân chiếm 43% GDP Từ năm 2010, theo Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, mức độ đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP cả nước có giảm nhưng luôn ở mức 39% - 40% (năm 2017 là 39,31%) [11] Vì vậy, khu vực tư nhân đ khẳng định vị thế là động lực chính cho những kết quả tăng trưởng kinh tế đáng khích lệ của của Việt Nam
Thứ ba, khu vực kinh tế tư nhân đ đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước Các doanh nghiệp đóng góp khoảng 39 tỷ USD vào Ngân sách Nhà nước vào năm 2016, chiếm 79,8% tổng thu ngân sách.Tỷ trọng đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân trong nước trong tổng thu Ngân sách Nhà nước đ tăng từ 11,9% năm
2010 lên 14,3% năm 2016, tức là từ khoảng 3 tỷ USD đến 7 tỷ USD mỗi năm Nếu tính cả khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ trọng đóng góp của toàn bộ khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước và nước ngoài đối với ngân sách Nhà nước
đ tăng từ 22,9% năm 2010 lên 29,1% năm 2016 Trong bảng xếp hạng do Bộ Tài chính công bố về 1.000 doanh nghiệp mức nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất cho ngân sách Nhà nước năm 2017, các doanh nghiệp tư nhân trong nước chiếm 45,8% về số doanh nghiệp và 34,1% về số thuế đ nộp, và doanh nghiệp tư nhân nước ngoài (doanh nghiệp FDI) chiếm 40,4% về số doanh nghiệp và 36,7% về số thuế thu nhâp doanh nghiệp đ nộp Các Doanh nghiệp Nhà nước chiếm 11,7% về số doanh nghiệp và chiếm 27,7% số thuế thu nhập doanh nghiệp đ nộp [10] Rõ ràng là các nỗ lực nhằm tái cấu trúc nền kinh tế đang cần sự hỗ trợ mạnh mẽ của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, hơn bao giờ hết
Thứ tư, khu vực kinh tế tư nhân phát triển góp phần thu hút số lượng lớn lao động cũng như góp phần đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động Khu vực kinh tế tư nhân cũng chiếm trên 85% lao động đang làm việc của nền kinh tế, trong đó khu vực doanh nghiệp của tư nhân tạo việc làm cho khoảng 9 triệu lao động, chiếm 61,2% tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp của nền kinh tế Trong giai đoạn từ 2011 – 2017, mỗi năm khu vực này tạo thêm khoảng trên 500 nghìn việc làm mới [11] Những việc làm được tạo ra bởi khu vực tư nhân này đóng
Trang 19vai trò rất quan trọng trong việc tiếp nhận người lao động mới gia nhập vào thị trường lao động mỗi năm
Kinh tế tư nhân không chỉ có đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế mà còn tham gia vào giải quyết hàng loạt những vấn đề x hội từ việc giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động như: xóa đói giảm nghèo (tỷ lệ đói nghèo được giảm xuống còn xấp xỉ 7%, tỷ lệ thất nghiệp được duy trì ở mức thấp là 2,28% vào năm 2017), bình đẳng giới (thông qua cơ hội việc làm và nguồn thu nhập cho phụ nữ Trong năm
2015, phụ nữ chiếm 46% số việc làm trong toàn bộ khu vực doanh nghiệp chính thức
Tỷ trọng lao động nữ trong các doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp FDI lần lượt là 37,7% và 67,9% Việc làm đóng một vai trò quan trọng đối với phụ nữ để cải thiện vị thế của họ trong gia đình, trong cộng đồng và trong x hội Việc làm cũng giúp phụ nữ tăng cường quyền tự chủ trong việc ra quyết định và nâng cao tiếng nói)…[10]
2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của kinh tế tư nhân đ trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, được bổ sung và hoàn thiện dần qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế đất nước Các quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân thể hiện tập trung trong các cương l nh xây dựng đất nước, văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và trong chiến lược phát triển kinh tế - x hội
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đ thừa nhận “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy ngh và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan” [6, tr 360] Trên cơ sở nhận thức những sai lầm đó, Đảng đ đề ra chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình kinh doanh để phát triển lực lượng sản xuất Văn kiện Đại hội Đảng VI khẳng định cần phải: “Củng cố thành phần kinh tế x hội chủ ngh a bao gồm cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể một cách toàn diện” [5, tr 41], tuy nhiên Đảng cũng chỉ rõ: “Khả năng thu hút sức lao động của khu vực nhà nước trong những năm trước mắt còn có hạn Cũng không thể đưa tất cả những người làm ăn cá thể vào các tổ chức kinh tế tập thể trong một thời gian ngắn Có những ngành, nghề đưa vào làm ăn tập thể chưa bảo đảm hiệu quả Trong khi nguồn vốn của Nhà nước và của tập thể còn eo hẹp, thì nguồn vốn còn dư trong nhân dân hầu như chỉ đưa vào tiêu dùng hoặc cất giữ và mua hàng tích trữ” [5, tr 41] Từ những đánh giá đó, Đại hội đ xác định: “Phải có chính sách mở đường cho người lao động
tự tạo ra việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm
Trang 20tiêu dùng để tích lũy, mở rộng tái sản xuất trên quy mô toàn x hội” Đảng nhấn mạnh đến việc: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng r i chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch ” [5, tr 59]; “Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế x hội chủ ngh a” [5, tr 53] Như vậy, Đại hội đ thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế phi XHCN, trong đó có thành phần kinh tế tư nhân, tuy nhiên kinh tế tư nhân nói riêng, các thành phần kinh tế phi XHCN nói chung vẫn được coi là đối tượng phải cải tạo: “cần
có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác” [6, tr 374], bằng những hình thức và bước đi thích hợp, tránh chủ quan nóng vội
Đường lối xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết 16 của Bộ chính trị (ngày 15/7/1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI Nghị quyết khẳng định kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế địa bàn, quy mô, trong các ngành nghề mà pháp luật không cấm Tiếp
đó, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI) cũng xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó đổi mới cơ bản cách thức quản lý hợp tác x nông nghiệp, tạo động lực cho kinh tế tư nhân trong nông nghiệp hồi phục và phát triển năng động, bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa Đó là bước khởi đầu quan trọng đối với kinh
tế tư nhân nước ta, mở đường cho phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân
Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991) khẳng định: “Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế” [5, tr 331] Đại hội Đảng lần thứ VII đ có quan điểm khá rõ về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân, Văn kiện Đại hội VII nêu rõ: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong l nh vực sản xuất, theo
sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước” [5, tr 333] và “Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp” [5, tr 374] Đại hội cũng khẳng định: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm” [5, tr 438] Như vậy, quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân đ có sự thay đổi, từ chỗ coi kinh tế tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế “tàn dư” của chế độ x hội cũ, có thể
sử dụng nhưng cần “cải tạo” bằng những bước đi thích hợp, đến Đại hội Đảng lần thứ VII kinh tế tư nhân đ thực sự được coi là một thành phần kinh tế độc lập, có tiềm năng phát triển và đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước nói chung Từ Hội nghị Trung ương 2 khóa VII, kinh tế tư nhân đ được coi trọng và khuyến khích phát triển, Hội nghị nhấn mạnh: “Bổ sung, sửa đổi thể chế nhằm đảm bảo cho kinh tế tư nhân được phát huy không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những l nh vực
mà pháp luật không cấm; được tự do lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định” [7, tr 75]
Trang 21Sau 10 năm đổi mới, Đảng nhận định: “Chính sách kinh tế nhiều thành phần đ góp phần to lớn giải phóng và phát triển sức sản xuất, đưa đến những thành tựu kinh tế
- x hội quan trọng qua 10 năm đổi mới” [5, tr 622] Đại hội Đảng lần thứ VIII 1996) là mốc lịch sử quan trọng, đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc trong đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, Đảng chủ trương: “khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh” [5, tr 623]
(6-Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân được khẳng định vững chắn tại Đại hội Đảng lần IX (1-2001) Đảng khẳng định kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy
mô trong những ngành, nghề, l nh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm” [5, tr 149] Đồng thời, đảng khẳng định: “Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động; liên doanh liên kết với nhau với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước” [5, tr 26]; “mọi doanh nghiệp, mọi công dân được đầu tư kinh doanh theo các hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a” [5, tr 147]
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (năm 2002) đ thông qua Nghị quyết “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đại hội Đảng IX Lần đầu tiên kể từ khi đổi mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương có một nghị quyết chuyên
đề về kinh tế tư nhân Nghị quyết nhấn mạnh: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX cũng đ đưa ra những nhận định về đóng góp của kinh
tế tư nhân, khẳng định kinh tế tư nhân đ đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực x hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - x hội của đất nước Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của kinh tế tư nhân đ góp phần giải phóng lực lượng sản xuất Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém của kinh tế tư nhân nước ta như: phần lớn các doanh nghiệp
Trang 22tư nhân có quy mô nhỏ, nguồn vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu, ít đầu tư vào l nh vực sản xuất… Trên cơ sở nhận định về những đóng góp và hạn chế, yếu kém của kinh tế tư nhân, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đề ra các giải pháp cụ thể nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý và tâm lý x hội để các doanh nghiệp của tư nhân phát triển rộng r i trong những ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, không hạn chế về quy mô, nhất là trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước
Đại hội đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành không thể thiếu, có vị trí quan trọng đặc biệt và ý ngh a chiến lược trong nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a, đồng thời, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn nữa Đại hội nêu rõ: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài… Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” [5, tr 354] Cũng tại Đại hội lần đầu tiên, vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân được Đảng chính thức đưa ra Trên thực tế, vấn đề đảng viên làm kinh tế đ được đặt ra và tranh luận từ đầu của thập niên
90 thế kỷ trước, nhưng phải đến Hội nghị Trung ương 3 khóa X mới đưa ra thảo luận
và thông qua “Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân”, cho phép đảng viên làm kinh
tế tư nhân nhưng phải chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, trong Cương l nh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011) đ khẳng định: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh” [3, tr 73]
Đại hội Đảng lần thứ XI (1-2011) xác định phải hoàn thiện cơ chế, chính sách
để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh
tế Có thể thấy, quan niệm coi kinh tế tư nhân là “một trong những động lực của nền kinh tế” trong hai kỳ Đại hội X và XI phản ánh bước tiến mới trong tư duy của Đảng
về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta
Đại hội Đảng lần thứ XII là sự khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn của Đảng khi coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh việc: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát
Trang 23triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và l nh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế
tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” [4, tr 106 - 107] Điều này cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đ nhận thấy rõ trong phát triển kinh tế, sự phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân là một xu thế tất yếu, là một kênh quan trọng giúp Nhà nước thực thi nhiệm vụ kinh tế đ đề ra
Để phát triển kinh tế tư nhân trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đ ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a” Nghị quyết đ xác định mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a, góp phần phát triển kinh tế - x hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng x hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Có thể thấy, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân qua các kỳ Đại hội đ
có những bước chuyển quan trọng Đặc biệt, với khẳng định của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân tại Đại hội Đảng XII, trong thời gian tới, với các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cụ thể, kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh
tế - x hội chung của đất nước
- x hội nước ta trong những năm qua đ chứng minh vai trò “là một trong những động lực quan trọng” của kinh tế tư nhân, tuy nhiên kinh tế tư nhân vẫn bộc lộ những hạn chế, nhược điểm như các doanh nghiệp tư nhân chưa xuất phát từ lợi thế so sánh của địa phương, muốn phát triển nóng, có hiệu quả nhanh mà không tạo được nền tảng cho phát triển bền vững, nên thực tế trong 5 năm qua số doanh nghiệp tư nhân bị phá sản rất nhiều; trình độ tổ chức sản xuất, kinh doanh của đa phần doanh nghiệp tư nhân ở mức rất thấp; các doanh nghiệp tư nhân còn thiếu tính liên kết, hợp tác, cạnh tranh không lành mạnh; các doanh nghiệp tư nhân chưa đi sâu vào phát triển công nghệ, chưa tiếp cận kịp với cách mạng công nghiệp lần thứ tư Điều này đòi hỏi các doanh
Trang 24nghiệp tư nhân, trong thời gian tới cần phải nỗ lực khắc phục những hạn chế trên, bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta cũng cần phải có những chính sách, cơ chế thích hợp, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển
kinh tế - x hội đất nước
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
[2] Mác - Ph Ăngghen (1980), Tuyển tập, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội
[3] Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[4]Văn phòng Trung ương Đảng (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, Hà Nội
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi
mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 47, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội
[7]Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành
Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
[8] V.I.Lênin (1995), Toàn tập, Tập 43, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[9] V.I.Lênin (1995), Toàn tập, Tập 44, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[10] Lê Duy Bình (2018), Kinh tế Việt Nam - năng suất và thịnh vượng
http://www.economica.vn/Content/files/PUBL%20%26%20REP/Viet%20Nam%20Private%20Sector%20VIE.pdf
[11] Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2018), chuyên đề số 18: Phát triển kinh tế
tư nhân và cơ cấu lại nền kinh tế trong điều kiện cách mạng công nghiệp 4.0
http://www.ciem.org.vn/Content/files/2018/vnep2018/C%C4%9018%20-Ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%20kinh%20t%E1%BA%BF%20t%C6%B0%20nh%C3%A2n%20v%C3%A0%20c%C6%A1%20c%E1%BA%A5u%20l%E1%BA%A1i%20n%E1%BB%81n%20kinh%20t%E1%BA%BF%20trong%20%C4%91i%E1%BB%81u%20ki%E1%BB%87n%20CMCN%204_0-converted.pdf
Trang 25QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
VÀ VAI TRÕ CỦA TẦNG LỚP DOANH NHÂN TRONG XÂY DỰNG CNXH
Ở VIỆT NAM
ThS Trương Thị Thu Hạnh Học viện Nông nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà tư tưởng chính trị kiệt xuất mà Người còn được biết đến là một nhà Kinh tế học với tư duy kinh tế đầy sắc sảo Người vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH để khẳng định tất yếu nước ta cần thiết phải phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó có thành phần kinh tế tư nhân Bên cạnh đó, Chỉ tịch Hồ Chí Minh cũng đánh giá cao vai trò của tầng lớp doanh nhân (chủ công thương, tiểu chủ…) trong quá trình phát triển kinh tế đất nước sau chiến tranh Những quan điểm của Người đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng sáng tạo trong xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN
Từ khóa: Hồ Chí Minh, kinh tế nhiều thành phần, tiểu tư sản, chủ công thương
1 Mở đầu
Sau Cách mạng Tháng Tám, trong đường lối kháng chiến, Hồ Chí Minh chủ trương “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” để thực hiện song song hai nhiệm vụ cách mạng: bảo vệ nền độc lập, cải tạo x hội cũ Năm 1953, Hồ Chí Minh viết tác phẩm
“Thường thức chính trị” trong đó chỉ ra 6 thành phần kinh tế ở nước ta (vùng tự do) bao gồm: kinh tế địa chủ phong kiến, kinh tế quốc doanh(có tính chất chủ ngh a x hội), các hợp tác x tiêu thụ và hợp tác x mua bán, có tính chất nửa chủ ngh a x hội, hội đổi công ở nông thôn, kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, kinh tế
tư bản tư nhân (góp phần vào xây dựng kinh tế), kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước l nh đạo Đặc biệt, Người chỉ rõ:
“Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà
nước lãnh đạo Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội” [4, tr 266] Cả hai hình thức tư bản này đều cần thiết
cho công cuộc khôi phục kinh tế đất nước khi bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH ở miền Bắc
Một yếu tố không thể thiếu trong thành phần kinh tế tư bản là đội ngũ các doành nhân (mà tại thời điểm đó Hồ Chí Minh gọi là các chủ công thương, tiểu tư sản) Họ chính là động lực để thúc đẩy kinh tế phát triển khi thực sự đứng về phía Chính phủ, ủng hộ cách mạng Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn đánh giá vai trò của các
“chủ công thương”, tiểu tư sản là rất quan trọng Người từng đặt câu hỏi và cũng trả
Trang 26lời rằng: “Tiểu tư sản là ai? Là phần lớn những người lao động trí óc, và những người
có công nghiệp, thương nghiệp nhỏ, có thủ công nghiệp Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, trong sự nghiệp xây dựng dân chủ mới, tiểu tư sản là một bộ phận trong động lực cách mạng, là bạn đồng minh của giai cấp công nhân Địa vị ấy rất rõ ràng”
[3, tr 159] Như vậy, Người không có cái nhìn thiên lệch, xem nhẹ thậm chí bài xích tầng lấp chủ công thương, xí nghiệp, buôn bán nhỏ… hoặc đưa họ vào danh sách “đối đầu” với cách mạng Việt Nam, mà ngược lại coi trọng họ như một lực lượng thúc đẩy
và giải quyết tốt nền kinh tế nước nhà bị tàn phá sau chiến tranh Hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về nền kinh tế nhiều thành phần (trong đó có kinh tế tư nhân) cũng như vai trò của tầng lớp doanh nhân (chủ công thương, tiểu tư sản…) chứa đựng những giá trị lý luận to lớn, định hướng cho đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ hội nhập của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
2 Nội dung
2.1 Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là tất yếu khách quan
Cải tạo và xây dựng nền kinh tế nước nhà từ một xuất phát điểm điểm thấp: nền kinh tế tiểu nông và sự tàn phá của chiến tranh được xem là một quá trình cải biến đầy gian khổ với nhiều khó khăn phức tạp Nền kinh tế XHCN lúc này chỉ đi bằng “hai chân” công nghiệp và nông nghiệp với đa phần là nông dân bị hạn chế bởi chính sách aii trị của thực dân là một nhiệm vụ hết sức nặng nề Vận dựng nhuần nhuyễn và sáng tạo lý luận Mác – Lêninvề phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: Một là: Công tư đều lợi Kinh tế quốc doanh là công Nó là nền tảng và sức l nh đạo của kinh tế dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó Đối với những người
phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị “Tư là những nhà
tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân 2- Chủ thợ đều lợi Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay Chính phủ phải bảo vệ lợi quyền của công nhân Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên” [4, tr 267] Ba là: Công nông giúp nhau Công nhân ra sức
sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác, để cung cấp cho nông dân Nông dân thì ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân
Do đó mà càng thắt chặt liên minh giữa công nông Chính sách thứ tư là thực hiện chính sách mậu dịch, hợp tác các nước, rất có lợi cho kinh tế ta Ta ra sức khai lâm thổ sản để bán cho các nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng Các nước bạn mua
Trang 27những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hóa ta chưa chế tạo được Theo Hồ Chí Minh, bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế nước nhà
Khi miền Bắc được giải phóng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, giai cấp địa chủ phong kiến bị đánh đổ, đồng ngh a với thành phần kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô bị xoá bỏ Hồ Chí Minh vẫn nhất quán với quan điểm xây dựng, phát triển và sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ ngh a x hội của cách mạng nước ta Vì vậy, sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc
đi lên chủ ngh a x hội vẫn tồn tại năm thành phần kinh tế mà Hồ Chí Minh đ chỉ ra
từ năm 1953 Chính sách đối với các thành phần kinh tế lúc này theo Người là: Thứ
nhất, với kinh tế quốc doanh – là hình thức sở hữu của toàn dân, nó l nh đạo nền kinh
tế quốc dân Cần phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ ngh a x hội và thúc đẩy việc cải tạo x hội chủ ngh a Nhà nước phải
đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên Hai là, với kinh tế hợp tác x – là hình thức sở hữu
tập thể của nhân dân lao động; Nhà nước cần đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển Hợp tác hoá nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo x hội chủ ngh a ở miền Bắc Cần phát triển từng bước vững chắc tổ đổi công
và hợp tác x Ba là, với kinh tế cá thể của những người làm nghề thủ công và lao
động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác x sản
xuất theo nguyên tắc tự nguyện Bốn là, với kinh tế của những nhà tư sản công thương,
Nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà
ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế
hoạch kinh tế của Nhà nước Năm là, với kinh tế tư bản nhà nước, Nhà nước khuyến
khích và giúp đỡ các nhà tư bản đi theo chủ ngh a x hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức khác; Nhà nước l nh đạo hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất
Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vaii trò chủ đạo là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh nước ta trong quá trình thực hiện cách mạng XHCN từ xuất phát điểm là nước nông nghiệp lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh Đối với nước ta, từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế tư nhân không ngừng phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau và đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ nước ta hiện đa dạng về sở hữu, cho nên sự tồn tại nhiều kết cấu kinh tế - x hội (cả cũ và mới) là tất yếuvì cuộc cách mạng cải tạo x hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào đ tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết
cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu, từng bước đi lên
CNXH
Trang 282.2 Vai trò của tầng lớp tiểu tư sản với phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lực lượng của cách mạng là
quần chúng nhân dân lao động, bởi lẽ:“Đưa tiền của dân và sức của dân để làm việc
ích lợi cho dân, thì bao giờ dân cũng hăng hái, việc cũng thành công” [2, tr.167]
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy rõ giá trị của quan điểm lấy dân làm gốc của
Hồ Chí Minh là chính xác Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến sau này trong cả quá trình l nh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ nhất quán một tư
tưởng cơ bản: con người là động lực của cách mạng Người luôn khẳng định: “Những
giai cấp ủng hộ và tham gia cách mạng tức là động lực cách mạng Theo tính chất cách mạng của mỗi nước mà quyết định động lực cách mạng bao gồm những giai cấp nào Tính chất cách mạng của ta là cách mạng dân chủ mới, cho nên động lực cách mạng gồm có những giai cấp: công nhân, nông dân, tiểu tư sản Trong một thời kỳ và một trình độ nhất định, giai cấp tư sản dân tộc cũng là động lực cách mạng” [4, tr
255] Vì giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước,
vì tư sản nước ta bị Tây, Nhật áp bức, khinh miệt, họ căm tức tư sản Nhật, Pháp, cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, l nh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ ngh a x hội chỉ cần làm cho “họ thấy rõ chính sách của Đảng Cộng sản, thấy rõ lòng hăng hái của nhân dân, thấy rõ sự tiến bộ của toàn dân, Đảng lại biết tổ chức, biết thuyết phục, bấy giờ họ vui vẻ đi với Chính phủ vào công tư hợp doanh, có người làm việc với Chính phủ” [5, tr 392]
Với tư duy biện chứng, không chủ quan duy ý chí”, Hồ Chí Minh xem trọng tất
cả các giai cấp tầng lớp trong x hội, ngay cả tầng lớp tiểu tư sản, Người cũng nhận thức sâu sắc những lớp tiểu tư sản khác (những nhà công nghệ và thương nghiệp nhỏ, những người làm nghề tự do, v.v.) cũng bị đế quốc và phong kiến bóc lột Kinh tế của
họ bấp bênh, thường bị thất nghiệp, phá sản “Cho nên số đông cũng tham gia và ủng
hộ kháng chiến, cách mạng Họ cũng là đồng minh quan trọng của giai cấp công nhân” [4, tr 259] Đánh giá đúng vai trò và vị trí của tầng lớp tiểu tư sản- những
người lao động trí óc, và những người có công nghiệp, thương nghiệp nhỏ, có thủ công nghiệp trong quá trình tái thiết đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin vào bản chất dân tộc trong tầng lớp tiểu tư sản, giới công thương thành thị từ việc phân tích rõ yếu tố
lịch sử của nước thuộc địa nửa phong kiến, nên: “ giai cấp tư sản dân tộc vốn đã nhỏ
bé lại bị đế quốc và phong kiến chèn ép, không thể ngóc đầu lên Cho nên số đông họ
đã đi theo nhân dân lao động chống đế quốc phong kiến, đã tham gia kháng chiến Đó
là mặt ưu điểm của họ Nhưng do bản chất giai cấp của họ, họ vẫn luyến tiếc cách bóc lột và muốn phát triển theo chủ nghĩa tư bản Nhưng trong điều kiện miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, ý nguyện của họ không thể nào thực hiện được Họ thấy phải tiếp
Trang 29thụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, vì họ không thể tự đặt mình ra ngoài đại gia đình toàn dân Việt Nam Và đại đa số người tư sản dân tộc đã thấy rõ rằng: Thật thà tiếp thụ cải tạo thì họ được hoà mình với nhân dân lao động để xây dựng Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội Đó là con đường duy nhất và vẻ vang của họ” [7, tr 414]
Đề cao vai trò của tầng lớp chủ công thương, tiểu tư sản, với phương pháp vận động khôn khéo, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đ huy động được sự đóng góp to lớn của các nhà tư bản dân tộc khắc phục khó khăn, thách thức trong bối cảnh ngân khố quốc gia trống rỗng sau khi giành được chính quyền Tại thời điểm đó, Người đ ký sắc lệnh thực hiện “Quỹ độc lập” và “Tuần lễ vàng” bắt đầu từ ngày 04/9/1945 khuyến khích người dân đóng góp ngân sách quốc gia nhằm tháo gỡ sự khó khăn tài chính của đất nước “Tuần lễ vàng” được sự hưởng ứng của đông đảo tầng lớp nhân dân, trong đó tầng lớp thương nhân đóng vai trò chủ chốt Trong công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước, đóng góp của những chủ công thương đ góp phần tháo gỡ được khó khăn cho chính quyền Nhà nước mới thành lập Ghi nhận những đóng góp to lướn đó, ngày 18/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đ dành thời gian gặp gỡ giới Công thương tại Phủ Chủ tịch, Người biểu dương những đóng góp của họ Đồng thời, trên báo Cứu quốc, số 66, ngày 13-10-1945, trong Thư gửi giới chủ công thương nhân dịp
thành lâp “Công – Thương cứu quốc đoàn, Người nhấn mạnh: “Trong lúc các giới
khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công - Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công - Thương trong công cuộc kiến thiết này…Chính phủ, nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp
đỡ giới thương nhân trong công cuộc kiến thiết này Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà doanh nghiệp thịnh vượng” [1]
Có đồng bào công thương lo tiến lên x hội chủ ngh a thì tài sản sẽ mất hết, con cháu sẽ sống ra sao? Hiểu được những trăn trở ấy, Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ chỉ rõ, chính sách của Đảng, Chính phủ là cải tạo công thương tư sản sang x hội chủ ngh a Công nhân tiến lên x hội chủ ngh a, nông dân, trí thức tiến lên x hội chủ
ngh a thì đồng bào công thương không thể đứng ra ngoài “Chính phủ ra lệnh tịch thu
mà giúp đỡ tiến lên dần dần Chính phủ giúp cho đồng bào công thương đi vào con đường tư bản nhà nước, hợp tác với quốc doanh để tiến dần lên xã hội chủ nghĩa Chính phủ và Đảng không để cho đồng bào công thương đứng ra ngoài nhân dân” [6,
tr 525] Tầng lớp tư sản dân tộc dù có lòng yêu nước nhưng họ vẫn còn mang tư tưởng giai cấp, vì vậy, một “việc cần kíp nữa là cải tạo hoà bình đối với giai cấp tư sản dân tộc Về kinh tế, chúng ta không tịch thu tư liệu sản xuất của họ, mà dùng chính sách chuộc lại Về chính trị, chúng ta vẫn cho họ có quyền lợi thích đáng, họ vẫn được giữ
Trang 30địa vị một thành viên trong Mặt trận Tổ quốc” Để động viên, thuyết phục họ ủng hộ theo Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đối với các cán bộ phải hiểu biết đường lối, chủ trương của Dảng và Nhà nước, phải kiên trì vận động trên cơ sở gải
quyết đúng dắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược: Vì vậy, trong “các xí
nghiệp công tư hợp doanh, cán bộ Chính phủ đều làm đúng đường lối và chính sách Chỉ có một điều là cán bộ chú ý nhiều về sản xuất, mà ít về giáo dục tư tưởng cho những người kinh doanh Chúng tôi mong rằng từ nay cán bộ gần gũi họ hơn, tìm hiểu tình hình họ, quan tâm đến tư tưởng của họ, giúp đỡ họ học tập và cải tạo” [5, tr
275]
Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ công thương, tiểu tư sản là lực lượng cần thiết cho công cuộc xây dựng và kiến thiết nước nhà Ngày nay, vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh, với tư duy đổi mới, sáng tạo Đảng đ quyết tâm chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường, đảm bảo tính XHCN, qua đó phát triển thành phần kinh tế tư bản tư nhân Đó chính là bước tiến quan trọng trọng đổi mưới tư duy lý luận và thực tiễn Qua hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam không chỉ vượt qua khỏi khủng hoảng mà đang ngày càng khẳng định vị trí trong các quan hệ quốc tế, được thế giới đánh giá cao
3 Kết luận
Thừa nhận sự tồn tại khách quan, lâu dài của các thành phần kinh tế không x hội chủ ngh a là sự vận dụng sáng suốt những quan điểm mácxít của Hồ Chí Minh trong xây dựng chủ ngh a x hội ở thời kỳ quá độ Mặt khác với đường lối xây dựng, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Hồ Chí Minh đ huy động được sức mạnh của toàn dân tộc có liên minh công nông trí thức làm gốc cùng tiến vào thời kỳ mới của dân tộc – xây dựng thành công chủ ngh a x hội, hoàn thành khát vọng của dân tộc: Độc lập dân tộc và tự do hạnh phúc cho toàn dân Hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần và vai trò của chủ công thương (doanh nhân) đang trở thành cơ sở lý luận có giá trị soi sáng cho con đường cách mạng Việt Nam trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ Tư
Trang 31TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội
2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 6, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội
3 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 7, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội
4 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 8, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội
5 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 10, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội
6 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 11, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội
7 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 12, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội
thanh-phan-129466.html
8.https://enternews.vn/quan-diem-ho-chi-minh-ve-xay-dung-nen-kinh-te-nhieu-thanh-phan-129466.html
9.https://enternews.vn/quan-diem-ho-chi-minh-ve-xay-dung-nen-kinh-te-nhieu-10 129465.html
Trang 32https://enternews.vn/bac-ho-va-nghi-quyet-dau-tien-ve-doanh-nhan-CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
TS Vũ Thị Hằng Đại học Xây dựng
TÓM TẮT
Trước thời kỳ đổi mới và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tham gia hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới hiện nay, nhằm phát triển nền kinh tế nhanh, bền vững, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, Đại hội XII của Đảng xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế” [3], trong đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng, là lực lượng chủ yếu trong thành phần kinh tế tư nhân Đây cũng là bước đột phá trong nhận thức lý luận của Đảng ta về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Từ khóa: Đảng cộng sản Việt Nam, quan điểm của Đảng, Doanh nghiệp, doanh
nghiệp nhỏ và vừa, thời kỳ đổi mới
1 Mở đầu
Trong những năm vừa qua, đặc biệt sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ban hành thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, kinh tế tư nhân đ không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - x hội của đất nước Nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đ có những thay đổi lớn và ngày càng tích cực hơn Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách pháp luật đang từng bước được hoàn thiện Để phát triển theo kịp xu hướng của kinh tế thế giới, Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đ khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” [4] Đây là nhận thức mới của Đảng ta về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của kinh tế tư nhân nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng trong thời kỳ quá độ lên CNXH nhằm phát triển kinh tế - x hội và tích cực chủ động hội nhập quốc tế Trước thời kỳ đổi mới, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, sự xuất hiện của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động và tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia Thực tế đó đ và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các l nh vực của đời sống kinh tế, x hội đất nước Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện và tạo mọi điều kiện nhằm phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và
Trang 33l nh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp”[5] Do đó, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là vấn đề đang được x hội quan tâm hiện nay
2 Nội dung
2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là những doanh nghiệp có quy mô nhỏvề vốn, lao động và doanh thu Căn
cứ vào quy mô của các DNNVV có thể chia doanh nghiệp nhỏ và vừa thành 3 loại: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí phân chia của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ (có dưới 10 lao động); doanh nghiệp nhỏ (có từ 10 đến 200 lao động và nguồn vốn dưới 20 tỷ đồng); doanh nghiệp vừa (có từ 200 đến 300 lao động, nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng)
Theo Nghị định 90/2001-NĐ/CP ngày 23-11-2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV, với tiêu chí quy mô vốn của doanh nghiệp dưới 10 tỷ đồng, số lượng lao động sử dụng dưới 300 lao động/năm thì hiện nay khoảng 97% các doanh nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu thuộc khu vực kinh tế tư nhân Điều này phù hợp với sự phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay, đặc biệt là giai đoạn đầu của quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN Trong l nh vực hoạt động, phần lớn DNNVV hoạt động trong khu vực thương mại và dịch vụ (81%), còn lại hoạt động trong l nh vực công nghiệp, nông nghiệp và xây dựng
2.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hiện nay, DNNVV là bộ phận quan trọng của thành phần kinh tế tư nhân, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực x hội cho đầu tư phát triển, xóa đói, giảm nghèo… DNNVV được coi trọng phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới bởi khu vực này là nguồn tạo việc làm, cạnh tranh và động lực phát triển kinh tế và đổi mới, sáng tạo, đồng thời, do DNNVV hoạt động ở nhiều vùng, miền địa lý nên cũng góp phần vào việc phân bổ thu nhập tốt hơn Đặc biệt, đối với các nền kinh tế đang phát triển, khu vực DNNVV còn là thành phần quan trọng của sự phát triển kinh tế và xóa đói, giảm nghèo ở mức độ rộng khắp, là yếu tố chủ chốt và bền vững tạo ra việc làm và thu nhập cho lao động ngoài khu vực nhà nước, từ đó nâng cao đời sống thu nhập của người dân
Bên cạnh đó, DNNVV là động lực thúc đẩy cạnh tranh và môi trường kinh doanh bởi đây là khu vực nhạy bén, năng động và sẵn sàng đổi mới so với các doanh nghiệp lớn hơn và đ phát triển ổn định Các doanh nghiệp này có thể chuyển đổi cơ cấu của một nền kinh tế thông qua đổi mới, cung cấp các đầu vào trung gian và dịch
vụ, cho phép chuyên môn hóa mạnh hơn trong sản xuất Trong chuỗi giá trị toàn cầu, DNNVV có thể tận dụng thị trường, bắt tay với các doanh nghiệp nhỏ khác trong
Trang 34chuỗi giá trị để chuyên môn hóa, triển khai sản xuất làm tăng năng suất lao động và tiêu thụ hiệu quả hơn
Ở Việt Nam, trong những năm qua, do có sự chỉ đạo, quan tâm thường xuyên, ban hành nhiều chủ trương đúng đắn của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nên số lượng các DNNVV ở Việt Nam hình thành và phát triển rất nhanh Theo báo cáo của Hiệp hội DNNVV, hiện cả nước có khoảng 520 nghìn DNNVV, chiếm 97%
số doanh nghiệp đang hoạt động thực tế, với tổng số vốn đăng ký khoảng 130 tỷ USD, chiếm 1/3 tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp này đ và đang có đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của đất nước, hằng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng trên - dưới 60% lao động x hội và đóng góp khoảng 50% GDP, 33% thu nộp ngân sách nhà nước,…Nhà nước đ thể chế hóa, ban hành các luật liên quan để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh Các chính sách, chương trình trợ giúp phát triển DNNVV đ từng bước đi vào cuộc sống Việc thực thi chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của các bộ, ngành giúp cho cộng đồng DNNVV nỗ lực vượt khó khăn để phát triển bền vững
2.3 Quan điểm của Đảng về phát triển DNNVV trong thời kỳ đổi mới
Trong thời kỳ đổi mới, tư duy của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a, về phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa đ có bước phát triển và từng bước bổ sung hoàn thiện hơn qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng.Thực hiện chủ trương này, Chính phủ ban hành Nghị quyết, đến việc ban hành các Quyết định, Nghị định hướng dẫn thực hiện
Thứ nhất, liên tục, thường xuyên hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật nhằm tạo điều kiện tối đa cho các DNNVV hoạt động, cụ thể:
Ngày 18/3/2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 19/NQ - Chính phủ về
“Những nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”; trong đó tập trung vào các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh,
cụ thể về thuế, hải quan, tiếp cận điện năng, khởi sự kinh doanh,…
Ngày 10/11/2014 Quốc hội đ ban hành Nghị quyết số 77/2014-QH13 về Kế hoạch phát triển kinh tế - x hội năm 2015, trong đó đề cập đến việc xây dựng các chính sách hỗ trợ và tạo ra những điều kiện cần thiết để phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với khu vực kinh tế tư nhân Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hạ mặt bằng l i suất tín dụng phù hợp với mức giảm lạm phát; có biện pháp hỗ trợ, đơn giản hóa thủ tục cho vay và tăng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, (DNNVV) Do đó, trong năm 2014, xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam đ được cải thiện đáng kể
Ngày 12/3/2015, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng
Trang 35lực cạnh tranh quốc gia năm 2015-2016, các bộ ngành, địa phương và hiệp hội ngành nghề tích cực thực hiện
Bên cạnh đó, Nhà nước đ thể chế hóa, ban hành các luật liên quan để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) hoạt động sản xuất, kinh doanh như Luật Thuế GTGT năm
2013 (có hiệu lực từ 1/1/2014) có một số nội dung quan trọng được sửa đổi, bổ sung
để tạo điều kiện cho DNNVV kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT; quy định cụ thể cách tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng…; Luật Thuế TNDN năm 2013 (có hiệu lực từ 1/1/2014) quy định bổ sung mức thuế suất phổ thông là 22%, riêng DN có doanh thu bình quân năm dưới 20 tỷ đồng thì áp dụng thuế suất 20% kể từ ngày 1/7/2013; bổ sung chính sách ưu đ i thuế đối với l nh vực khoa học và công nghệ, công nghệ cao… để khuyến khích, hỗ trợ DN đầu tư phát triển khoa học công nghệ; Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 quy định các cơ chế, chính sách ưu đ i dành cho DN khoa học và công nghệ, trong đó có các chính sách ưu đ i liên quan đến quyền sở hữu nhà nước, chính sách ưu đ i về thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật, ưu tiên sử dụng thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, , …; Luật Đầu tư (sửa đổi) và Luật DN (sửa đổi) có hiệu lực từ 01/7/2015 quy định l nh vực, đại bàn khuyến khích đầu tư thu hút các dự án đầu tư có chất lượng và hiệu quả; các quy định về điều kiện và thủ tục đầu tư, kinh doanh có tính minh bạch, khả thi và đồng bộ; tạo mặt bằng pháp lý bình cho nhà đầu tư trong và nước ngoài…; Ngoài ra, còn có một số văn bản quy phạm pháp luật khác được sửa đổi, bổ sung để cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh như Luật Phá sản (sửa đổi), Luật Hải quan (sửa đổi), Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), Luật Đầu tư công…
Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX (2002
- 2017) “Về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, trong bối cảnh mới, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đ ban
hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3-6-2017 “Về phát triển kinh tế tư nhân trở
thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Nghị quyết này đ tạo động lực mới cho DNNVV của Việt Nam phát triển
trong bối cảnh mới hiện nay
Thứ hai, Đảng, Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ trực tiếp cho các DNNVV thông qua các Nghị định để hướng dẫn thực hiện
Từ ngày 23/11/2001, Chính phủ đ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, quy định chính sách hỗ trợ DNNVV ở từ Trung ương tới địa phương
Trang 36Ngày 23/10/2006, Thủ tướng Chính phủ đ ban hành Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển DNNVV 05 năm (giai đoạn 2006 – 2010) đề ra các giải pháp nhằm tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV trên cơ sở huy động các nguồn lực trong và ngoài nước
Ngày 30/6/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV (thay thế Nghị định 90/2001/NĐ-CP), quy định 8 nhóm hỗ trợ phát triển DNNVV Thực hiện Nghị định số 56/2008/NĐ-CP ngày 30/6/2009, các bộ, ngành, địa phương đ xây dựng và triển khai những chương trình hỗ trợ DNNVV
Ngày 7/9/2012,theo Quyết định số 1231/QĐ-TTg đề ra các giải pháp, chương trình hỗ trợ DNNVV trọng tâm gồm: (1) Hoàn thiện khung pháp lý về gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường của DN; (2) Hỗ trợ tiếp cận tài chính, tín dụng và nâng cao hiệu quả sự dụng vốn; (3) Hỗ trợ đổi mới công nghệ và áp dụng công nghệ mới; (4) Phát triên nguồn nhân lực cho các DNNVV, tập trung vào nâng cao năng lực quản trị; (5) Đẩy mạnh hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai; (6) Cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV và xúc tiến mở rộng thị trường; (7) Xây dựng hệ thống tổ chức trợ giúp phát triển; (8) Quản lý thực hiện Kế hoạch phát triển; trong đó tập trung vào những giải pháp về thành lập Quỹ hỗ trợ, tổ chức thực hiện các Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020; thí điểm xây dựng vườn ươm doanh nghiệp; thí điểm xây dựng mô hình hỗ trợ toàn diện cho DNNVV trong một số l nh vực; thúc đẩy các liên kết kinh tế, cụm liên kết ngành
Trên cơ sở những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành tiếp tục, phối hợp triển khai, thực hiện những chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ DNNVV trên các phương diện như hỗ trợ tài chính; hỗ trợ mặt bằng sản xuất, đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; hỗ trợ xúc tiến mở rộng thị trường, tham gia mua sắm, cung ứng dịch vụ công; hỗ trợ thông tin, giúp phát triển nguồn nhân lực, xây dựng vườn ươm doanh nghiệp…
Nhiều chương trình tư vấn kiến thức về kinh doanh, công nghệ và quản lý sản xuất; tư vấn phát triển sản phẩm, phát triển thị trường; xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ doanh nghiệp đ được thực hiện Nhiều chương trình đào tạo khởi sự, quản trị doanh nghiệp, cơ chế hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực; đào tạo nghề, tuyên truyền nghề và phát triển nghề cho lao động nông thôn
đ giúp nâng cao năng lực quản trị và tạo điều kiện cho DNNVV thuận lợi trong tuyển dụng lao động, tiếp cận nguồn lao động chất lượng cao…
Ngoài ra, Chính phủ và các bộ, ngành còn triển khai một số cải cách, chính sách
Trang 37hỗ trợ cho DNNVV như cải cách hành chính trong l nh vực thuế, hải quan; hỗ trợ về thuế như gian hạn nộp thuế TNDN, GTGT, hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường, giảm tiền thuê đất, áp dụng sớm các mức thuế suất giảm; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; khuyến khích phát triển công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, hình thành mạng liên kết sản xuất, chuỗi giá trị cho doanh nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ DNNVV tham gia chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp; hỗ trợ DNNVV thực hiện hệ thống kiểm toán môi trường và quản lý sinh thái; hỗ trợ DN kiểm soát rủi ro môi trường, tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí…
Các chủ trương, chính sách hỗ trợ DNNVV của Đảng, Nhà nước từng bước đi vào cuộc sống; việc thực thi chính sách hỗ trợ của các bộ, ngành, địa phương đối với phát triển DNNVV có hiệu quả, giúp cho cộng đồng DNNVV nỗ lực vượt qua khó khăn để phát triển bền vững DNNVV thúc đẩy tăng trưởng GDP và tạo được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần ổn định x hội, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - x hội của đất nước
Thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về hỗ trợ phát triển DNNVV trong thời gian qua đ đạt được một số kết quả quan trọng như:DNNVV tiếp cận tài chính, tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; Công tác đào tạo nâng cao năng lực quản trị cho các DNNVV đ được đưa vào kế hoạch hàng năm của các bộ, ngành và địa phương; DNNVV được trang bị các kiến thức có hệ thống, giúp DN tự tin trong kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh với tầm nhìn dài hạn và bền vững; Những chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ đ giúp doanh nghiệp kết nối cung – cầu, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh…
Kết quả cụ thể đ đạt được của các DNNVV: DNNVV chiếm khoảng 97,85%
số lượng DN, trong đó DN siêu nhỏ chiếm trên 70%; DN nhỏ chiếm trên 25%; DN vừa chiếm 2% Bình quân 1 DNNVV Việt Nam có 15 lao động, vốn đăng ký 6,1 tỷ đồng….Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, DNNVV là lực lượng đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - x hội Cụ thể: Đóng góp vào GDP và xuất khẩu: năm
2013 khu vực DNNVV đóng góp 43,2% GDP và 31% xuất khẩu; với xu hướng cổ phần hóa các DNNN ngày càng diễn ra mạnh mẽ, khu vực DNNVV sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP của đất nước; Năm
2010, DNNVV đạt 181,06 nghìn tỷ đồng, chiếm 41%; năm 2011, đạt 181,21 nghìn tỷ đồng, chiếm 34%; năm 2012, đạt 205,26 nghìn tỷ đồng, chiếm 34% và năm 2013, đạt 184,65 nghìn tỷ đồng chiếm 29% Năm 2013, chiếm 38% Trong cơ cấu tổng vốn đầu
tư toàn x hội của các DNNVV, DN nhỏ chiếm tỷ lệ cao nhất, từ 62-68% qua các năm 2010-2012 [7]
Mặc dù kinh tế tư nhân có bước phát triển quan trọng trong thời gian qua, DNNVV đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, DNNVV của Việt
Trang 38Nam còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa phát triển lớn mạnh, đang gặp nhiều khó khăn đứng trước thách thức to lớn trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.Trên thực tế việc triển khai các chính sách, chương trình ở các địa phương, vùng miền chưa đồng đều, còn ở mức độ thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của DNNVV; triển khai các chương trình chưa đồng bộ, kiện toàn từ Trung ương đến địa phương Một số chính sách hỗ trợ được triển khai trong thời gian dài song hiệu lực, hiệu quả thực thi còn thấp như: tỷ lệ DNNVV tiếp cận được nguồn vốn tín dụng và vốn ngân hàng thấp, Quỹ Bảo l nh tín dụng cho DNNVV kém hiệu quả Do đó, quy mô DNNVV còn nhỏ, cơ cấu ngành chưa hợp lý, năng lực, trình độ quản lý còn yếu, chuyên môn hóa chưa cao, năng lực người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu, áp dụng khoa học công nghệ còn hạn chế, lạc hậu, mối liên kết giữa các doanh nghiệp chưa chặt chẽ…
3 Kết luận
Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại hạn chế, tiếp tục phát triển DNNVV trong thời gian tới cần có sự kết hợp của cả hệ thống chính trị, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp từ Trung ương đến địa phương Quán triệt đồng
bộ các giải pháp như: Thực hiện đánh giá lại toàn diện hoạt động của khu vực DNNVV; Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách hỗ trợ; Hoàn thiện cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Phát triển đồng bộ thị trường hàng hóa, dịch vụ và thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất để tạo điều kiện cho DNNVV hoạt động có hiệu quả, có các nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh; Thực hiện tốt vai trò là kênh quan trọng phản biện chính sách về DNNVV; Các
tổ chức tài chính, tín dụng, các tổ chức khoa học - công nghệ, giáo dục và đào tạo cần tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV, tư vấn hướng dẫn, giúp đỡ; Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách bảo l nh tín dụng cho DNNVV Về phía các DNNVV cần tự hoàn thiện, nâng cao năng lực quản trị DN theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh; hoàn thiện hệ thống kế toán theo hướng minh bạch, rõ ràng; đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, đào tạo nâng cao tay nghề của công nhân…/
Trang 39TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Chính Phủ (2001), Nghị định số 90/2001-NĐ/CP ngày 23-11-2001 “về trợ giúp
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ”
[2] Chính Phủ (2018), Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15-05-2018 “Về tiếp tục
thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo”
[3], [4], [5] Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.25; tr.102-103; tr 107-108
[6] Đảng cộng sản Việt Nam (2017), Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Đảng khóa XII “về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động
lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” (Nghị quyết số
10-NQ/TW ngày 03/6/2017)
[7] Dẫn theo Trần Thị Lưu Tâm, Phạm Thị Liên, “Chủ trương, chính sách phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa”, Tạp chí Tài chính kỳ I tháng 6/2016
sach-phat-trien-doanh-nghiep-nho-va-vua-108998.html (912/7/2016))
(http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-binh-luan/chu-truong-chinh-[8] Quốc Hội (2004), Nghị quyết số 77/2014-QH13 ngày 10-11-2004 “về kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội năm 2015”
[9] Quốc Hội (2008), Luật số 14/2008/QH12 của Quốc hội: Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp
[10] Quốc Hội (2008), Luật số 13/2008/QH12 của Quốc hội: Luật Thuế giá trị gia
tăng
[11] Quốc hội, Luật số 31/2013/QH13 của Quốc hội ngày 19 tháng 6 năm 2013: Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng
Trang 40QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KINH TẾ
TƯ NHÂN TỪ 1986 ĐẾN NAY
TS Lê Văn Hùng ThS Nguyễn Thị Thanh Hòa Học viện Nông nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Hiện nay, kinh tế tư nhân ở Việt Nam được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế, đó là một điểm đột phá trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam
về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong quá trình đổi mới Hiện nay, kinh tế tư nhân
có vai trò to lớn tạo ra của cải vật chất, đóng góp lớn vào GDP của Việt Nam, đặc biệt, giải quyết việc làm cho phần lớn lao động của nền kinh tế Trong bài viết, tác giả
đã hệ thống hóa nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân
từ đổi mới (1986) đến nay
Từ khóa: Đảng cộng sản Việt Nam, nhận thức của Đảng, kinh tế tư nhân
1 Mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ ngh a ở Việt Nam hiện nay thì kinh tế tư nhân ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thể hiện sự năng động, tính hiệu quả và đóng góp lớn đối với tăng trưởng kinh tế Do đó, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển là đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng
và Nhà nước ta những năm qua Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam tăng nhanh về mặt số lượng, nhiều doanh nghiệp mới tiếp tục được ra đời
Có thể nói khu vực kinh tế tư nhân đang đóng góp phần đáng kể vào tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người lao động Khu vực kinh tế tư nhân còn là kênh huy động các nguồn vốn trong x hội sử dụng vào sản xuất kinh doanh, từ đó đóng góp vào ngân sách Nhà nước, thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển