1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam

17 1,5K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả Phí Thành Chung
Người hướng dẫn GS.TS. Võ Khánh Vinh
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Luận văn ThS.
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 483,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam

Trang 1

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có

tổ chức theo luật hình sự Việt Nam

Phí Thành Chung

Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Luật hình sự; Mã số: 60 38 40 Người hướng dẫn: GS.TS Võ Khánh Vinh

Năm bảo vệ: 2010

Abstract Trình bày một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt trong trường hợp

phạm tội có tổ chức Phân tích thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong

trường hợp phạm tội có tổ chức

Keywords Luật hình sự; Hình phạt; Tội phạm; Pháp luật Việt Nam

Content

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phạm tội có tổ chức là một hình thức đồng phạm Vì vậy, các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm cũng chính là các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Ở nước ta, ngay từ khi chưa có Bộ luật hình sự (BLHS), trong một số văn bản pháp luật cũng đã đề cập đến vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm và phạm tội có tổ chức Cho đến nay, trong cả hai BLHS, quyết định hình phạt trong phạm tội có tổ chức được chính thức quy định tại Khoản 4 Điều 17 BLHS 1985 và được kế thừa tại Điều 53 BLHS 1999 Tuy nhiên, các quy định này của BLHS chỉ quy định quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm mà chưa chỉ ra các căn cứ đặc thù được áp dụng để quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Mặt khác,

về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng quy định này còn tồn tại những quan điểm khác nhau về các căn cứ quyết định hình phạt riêng áp dụng trong trường hợp đồng phạm nói chung và phạm tội có tổ chức nói riêng Trong thực tiễn xét xử, một số cơ quan điều tra, truy

tố, xét xử có sự nhầm lẫn phạm tội có tổ chức với các hình thức đồng phạm khác, không có

sự thống nhất trong các tiêu chí nhận dạng hình thức đồng phạm đặc biệt này Điều này cũng

đã dẫn đến việc quyết định hình phạt không chính xác đối với người phạm tội Hơn nữa, khi các cơ quan tố tụng đã xác định đúng về trường hợp phạm tội có tổ chức thì lại có sự tranh chấp trong việc đánh giá tính chất của đồng phạm có tổ chức, tính chất, mức độ tham gia của từng người vào việc phạm tội Về mặt lý luận, các quy định của bộ luật hình sự hiện hành về phạm tội có tổ chức còn quá chung chung, các dấu hiệu chủ yếu mang tính định tính Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn thực thi pháp luật còn ít, tính cập nhật không cao Vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống về mặt lý luận chế định quyết định hình phạt trong trường hợp

Trang 2

phạm tội có tổ chức, trên cơ sở đó giải quyết những vướng mắc mà thực tiễn đặt ra, đề xuất những phương án hoàn thiện pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có

tổ chức, đảm bảo sự nhận thức thống nhất trong thực thi pháp luật là vấn đề mang tính cấp bách, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta, dưới góc độ pháp lý hình sự, một số nhà hình sự học đã nghiên cứu về chế định quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu đề cập đến vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm và ở một chừng mực nhất định có nghiên cứu về vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức như là một trường hợp đặc biệt Hiện nay, chưa có một công trình độc lập nghiên cứu về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức với tư cách là một chế định độc lập với những đặc điểm về quyết định hình phạt riêng

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích cơ bản của đề tài là làm sáng tỏ về mặt lý luận một cách có hệ thống và toàn diện về chế định quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức để từ đó đóng góp về mặt khoa học giải quyết những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của chế định này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về

quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo Luật hình sự Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề pháp lý có liên quan tới quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt Nam trong Bộ luật hình sự năm 1999 dưới góc độ luật hình sự, cả lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội, giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng

về Nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn logic và phương pháp xã hội học để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có

tổ chức

Chương 2:Thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức

Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp

phạm tội có tổ chức

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC 1.1 Phạm tội có tổ chức

1.1.1 Khái niệm phạm tội có tổ chức

Sau nhiều lần pháp điển hóa, tại Khoản 3 Điều 17 BLHS 1985 và Khoản 3 Điều 20

BLHS 1999 đều quy định: "phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt

chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm"

Trang 3

Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn còn chung chung, trừu tượng Cụm từ "câu kết chặt chẽ" được nhận định không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Hiện nay, xung quanh khái niệm phạm tội có tổ chức còn có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất pháp lý của khái niệm này

Theo chúng tôi, việc xác định những trường hợp phạm tội có tổ chức cần tránh hai xu hướng là xác định quá rộng hoặc xác định quá hẹp về khái niệm này

Vì vậy, căn cứ vào tinh thần của Nghị Quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 hướng dẫn

bổ sung Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986 giải thích về "sự câu kết" trong phạm tội có

tổ chức và sự phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng: phạm tội có tổ chức là hình thức đồng

phạm đặc biệt Trong hình thức đồng phạm này có sự phân công vai trò giữa người thực hành và người cầm đầu, chỉ huy trong việc thực hiện tội phạm Dấu hiệu phạm một tội nhiều lần, phạm nhiều tội và sự câu kết lâu dài không phải là dấu hiệu bắt buộc của hình thức đồng phạm này

1.1.2 Phân biệt khái niệm "phạm tội có tổ chức" với một số khái niệm khác có liên quan

"Phạm tội có tổ chức", "tổ chức tội phạm", "tội phạm có tổ chức", tội phạm có sử dụng cụm từ "tổ chức" là những khái niệm khác nhau, có nội hàm giáp ranh với nhau nhưng không đồng nhất với nhau

Tổ chức tội phạm (tổ chức phạm tội)

Tổ chức tội phạm có những đặc trưng sau để phân biệt với hình thức đồng phạm có tổ chức:

Thứ nhất, tổ chức tội phạm phải là một tổ chức được kết cấu chặt chẽ hoặc rất chặt chẽ, có sự

phân hóa vai trò, phân công nhiệm vụ rõ ràng giữa các thành viên So sánh với phạm tội có tổ chức, thì phạm tội có tổ chức bao gồm cả trường hợp phân công vai trò, nhiệm vụ rõ ràng và cả trường hợp không dứt khoát rõ ràng

Thứ hai, tổ chức tội phạm có một cơ cấu ổn định về mặt tổ chức, luôn chịu sự điều hành

của một nhóm thủ lĩnh Còn phạm tội có tổ chức thì đặc trưng này thể hiện ở mức độ thấp hơn

Thứ ba, tổ chức tội phạm thường có hạ tầng cơ sở đảm bảo cho tổ chức tội phạm hoạt động

mang tính ổn định thường xuyên trên một địa bàn xác định Đối với phạm tội có tổ chức, nội dung này biểu hiện ở mức độ thấp

Vì vậy, tổ chức tội phạm thực chất cũng là một hình thức đồng phạm có tổ chức nhưng

có cơ cấu tổ chức cao hơn, chặt chẽ, bền vững hơn so với phạm tội có tổ chức thông thường

Tội phạm có tổ chức

Hiện nay có ba cách tiếp cận cơ bản về khái niệm phạm tội có tổ chức Đó là từ góc độ luật hình sự, từ góc độ tội phạm học, từ góc độ tội phạm học và luật hình sự

Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh với tội phạm có tổ chức, chúng tôi cho rằng tội phạm có

tổ chức là khái niệm được sử dụng trong cả hai lĩnh vực tội phạm học và luật hình sự Từ góc

độ của luật hình sự, để xây dựng khái niệm tội phạm có tổ chức phải xuất phát từ những cơ sở sau:

- Tội phạm có tổ chức là tội phạm theo quy định của BLHS

- Khái niệm tội phạm có tổ chức muốn được thừa nhận phải phản ánh đầy đủ những dấu hiệu bản chất của tội phạm có tổ chức

- Khái niệm tội phạm có tổ chức không được trái, không được mâu thuẫn với khái niệm tội phạm được quy định tại điều 8 BLHS 1999

- Cụm từ "có tổ chức" dùng để chỉ tính chất của tội phạm đó Điều đó có nghĩa là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do một tổ chức tội phạm, nhóm phạm tội có tổ chức thực hiện

Từ những cơ sở trên, có thể đưa ra định nghĩa tội phạm có tổ chức như sau: Tội phạm có

tổ chức là hệ thống những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, phải chịu hình phạt do một

Trang 4

nhóm tội phạm có cơ cấu tổ chức rõ ràng, chặt chẽ, cố ý xâm hại những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

Như vậy, tội phạm có tổ chức có thể do tổ chức tội phạm hoặc nhóm phạm tội có tổ chức

chuyên nghiệp thực hiện

Tội phạm có sử dụng cụm từ tổ chức trong BLHS

Khái niệm phạm tội có tổ chức được phân biệt với các tội phạm có sử dụng cụm từ "tổ chức" ở những điểm sau:

Thứ nhất, Đối với các tội phạm sử dụng cụm từ "tổ chức" chỉ cần một người có hành vi thỏa

mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm (CTTP) của tội này là có thể phạm tội này Nếu có nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện tội phạm có sử dụng cụm từ "tổ chức" thì cũng không cần có sự cấu kết chặt chẽ giữa họ thì mới cấu thành tội này Nhưng khi những người đồng phạm này có sự cấu kết chặt chẽ với nhau thì những người này là đồng phạm của tội đó dưới hình thức phạm tội có tổ chức

Thứ hai, cơ sở trách nhiệm hình sự (TNHS) của phạm tội có tổ chức là điều luật cụ thể quy định

tội phạm mà những người đồng phạm tham gia thực hiện và điều luật quy định về chế định đồng phạm Trong khi đó, việc xác định TNHS đối với trường hợp phạm tội cụ thể có sử dụng cụm từ "tổ chức" chỉ cần căn cứ vào điều luật quy định tội phạm đó

Thứ ba, trong trường hợp phạm tội có tổ chức, những người tham gia thực hiện tội phạm

cùng phạm một tội Nhưng trong tội phạm có sử dụng cụm từ "tổ chức", thì người có hành vi

tổ chức là người phạm tội này, còn người được tổ chức thực hiện tội phạm khi có hành vi phạm pháp thì chỉ là vi phạm hành chính hoặc tội phạm nhưng là những tội khác

1.2 Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức

1.2.1 Khái niệm quyết định hình phạt

Chúng tôi cho rằng định nghĩa khái niệm quyết định hình phạt cần được hiểu toàn diện

như sau: Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Tòa án do Hội đồng xét xử thực

hiện căn cứ vào các quy định pháp luật hình sự, trên cơ sở kết quả của hoạt động định tội danh để xác định biện pháp xử lý tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS của người phạm tội Trong quyết định hình phạt, Tòa án quyết định miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, quyết định loại và mức hình phạt hay biện pháp tư pháp thay thế hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án kết tội đối với họ

1.2.2 Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức

Pháp luật hình sự Việt Nam không có quy định riêng về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức ngoài các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội có tổ chức thì về nguyên tắc phải tuân thủ các quy định chung về quyết định hình phạt Tuy nhiên, đồng phạm nói chung, phạm tội có tổ chức nói riêng là một quy định bổ sung cho chế định tội phạm Nó có những đặc thù riêng nên khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án còn cần phải căn cứ vào những quy định có tính chất bổ sung

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa quyết định hình phạt trong phạm tội có

tổ chức như sau: Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức là trường hợp

đặc biệt, được thực hiện bởi Tòa án (Hội đồng xét xử) sau khi xác định tội danh chung mà những người phạm tội có tổ chức cùng tham gia thực hiện trên cơ sở so sánh, đối chiếu, kiểm tra để xác định sự giống nhau giữa các dấu hiệu trong hành vi của từng người phạm tội có tổ chức với các dấu hiệu của CTTP cụ thể do điều luật tương ứng tại Phần các tội phạm BLHS

và cấu thành tội phạm của chế định phạm tội có tổ chức Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm đặc biệt của phạm tội có tổ chức so với các trường hợp đồng phạm khác, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người phạm tội

Trang 5

có tổ chức, nhân thân người phạm tội có tổ chức để quyết định miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, quyết định loại và mức hình phạt hay biện pháp tư pháp thay thế hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự áp dụng đối với từng người phạm tội có

tổ chức thể hiện trong bản án kết tội đối với họ

1.3 Các nguyên tắc và căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức

1.3.1 Các nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức

Các nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự

để Toà tưởngán căn cứ vào đó quyết định hình phạt một cách công bằng, hợp lý, đúng pháp luật, đảm bảo mục đích của hình phạt đối với những người phạm tội có tổ chức

Trên cơ sở phân tích bản chất và các đặc điểm của quyết định hình phạt và nguyên tắc quyết định hình phạt, chúng tôi cho rằng việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội

có tổ chức phải dựa trên bốn nguyên tắc: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN), nguyên tắc nhân đạo XHCN, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt

- Nguyên tắc pháp chế XHCN

Nội dung của pháp chế XHCN là sự tuân thủ và tôn trọng triệt để pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân trong hoạt động, có nghĩa là khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức, Tòa án phải căn cứ vào các quy định của luật hình sự, các quy định liên quan đến hình phạt và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức

Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện trước hết ở việc Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt đối với người phạm tội Ngoài ra, đối với việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức, nguyên tắc pháp chế còn yêu cầu chủ thể quyết định hình phạt phải chứng minh được sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng cố ý tham gia thực hiện tội phạm

Trong luật hình sự, nội dung nguyên tắc pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức được thể hiện trong các quy định không chỉ của Phần chung

mà còn cả các quy định của Phần các tội phạm BLHS

Nội dung của nguyên tắc pháp chế còn biểu hiện ở chỗ, khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức, Tòa án phải tuân theo trình tự tố tụng nhất định, các điều kiện áp dụng của từng loại hình phạt cụ thể và đặc biệt Tòa án chỉ có thể tuyên những hình phạt được quy định trong BLHS

Mặt khác, nội dung nguyên tắc pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức đòi hỏi các quy định về mục đích hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt phải được Tòa án triệt để tuân thủ khi quyết định phạt

- Nguyên tắc nhân đạo XHCN

Nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức được thể hiện trong các quy định Phần chung và Phần các tội phạm BLHS 1999

Thực hiện nguyên tắc nhân đạo XHCN khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội

có tổ chức đòi hỏi khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xuất phát từ tư tưởng nhân đạo để áp dụng và tuân thủ triệt để các quy định của luật hình sự về hình phạt cũng như quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Theo đó, Toà án phải cân nhắc, đánh giá một cách hài hoà, hợp lý trong một thể thống nhất lợi ích của xã hội của Nhà nước và của người phạm tội có tổ chức

Đồng thời, thực hiện nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi hình phạt, các biện pháp tư pháp và các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác được áp dụng đối với người phạm tội nói chung và người phạm tội có tổ chức nói riêng không nhằm mục đích gây đau đớn về thể xác và hạ thấp nhân phẩm con người

Trang 6

Một nội dung khác của nguyên tắc nhân đạo thể hiện ở chỗ luật hình sự quy định đường lối quyết định hình phạt nghiêm khắc đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, những người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tổ chức… nhằm bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội, Nhà nước và nhân dân khỏi sự xâm hại của tội phạm

- Nguyên tắc cá thể hóa TNHS

Nội dung của nguyên tắc cá thể hóa khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội

có tổ chức được thể hiện trong luật hình sự cũng như trong thực tiễn áp dụng luật hình sự

Trong luật hình sự, nguyên tắc cá thể hóa TNHS trong quyết định hình phạt trong trường

hợp phạm tội có tổ chức được thể hiện trong các quy phạm Phần chung và các quy phạm Phần các tội phạm BLHS

Trong áp dụng pháp luật, nguyên tắc cá thể hóa trong quyết định hình phạt trong trường

hợp phạm tội có tổ chức đòi hỏi Tòa án phải cân nhắc đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức để từ đó làm cơ sở cho Tòa án quyết định hình phạt đúng đắn với người phạm tội

Như vậy, cá thể hóa khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức trong luật

là cơ sở pháp lý để Tòa án cá thể hóa trong áp dụng và ngược lại, chính việc cá thể hóa hình phạt trong áp dụng là quá trình đưa các quy phạm pháp luật hình sự vào thực tiễn giúp cho việc cá thể hóa trong luật được thực hiện trong thực tế

- Nguyên tắc công bằng

Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc công bằng được thể hiện là sự tương xứng giữa tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và TNHS của người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu

Như vậy, đòi hỏi thứ nhất của nguyên tắc này trong việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức là hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tội chung mà những người phạm tội có tổ chức đã cùng tham gia thực hiện Ngoài tội phạm, nguyên tắc công bằng đòi hỏi khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Tòa án còn phải cân nhắc cả nhân thân người phạm tội có tổ chức và các tình tiết khác có trong vụ án Nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức còn đòi hỏi hình phạt được tuyên cần phải phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội, phải có sức thuyết phục mọi người, đảm bảo tính xác định, tính lập luận và bắt buộc phải có lý do

Một đòi hỏi khác của nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức là tính hợp lý của việc quyết định hình phạt

Trong BLHS, nội dung của nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức được thể hiện ở cả trong Phần chung và Phần các tội phạm BLHS

1.3.2 Căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức

Khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Tòa án phải tuân theo những đòi hỏi quan trọng có tính chất nguyên tắc là: a Các quy định của BLHS; b Tính chất

và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; c Nhân thân người phạm tội; d Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; đ.Tính chất đồng phạm; e Tính chất, mức độ tham gia của từng người phạm tội có tổ chức

1.3.2.1 Các quy định của Bộ luật hình sự

Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào tất cả các quy định Phần chung BLHS, trong đó, những quy định của Phần chung liên quan trực tiếp đến việc quyết định hình phạt là những quy định mà Tòa án cần căn cứ trước hết khi quyết định hình phạt

Ngoài căn cứ và các quy định của Phần chung BLHS, Tòa án còn phải căn cứ vào các quy định Phần các tội phạm BLHS về loại và khung hình phạt của điều luật quy định tội phạm mà bị cáo đã cùng tham gia thực hiện

Trang 7

Khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức, Tòa án phải tuân theo các quy định BLHS để xác định loại và mức hình phạt đối với những người phạm tội có tổ chức về tội phạm chung mà họ đã cùng cố ý thực hiện

Tội phạm chung của những người đồng phạm có tổ chức được quy định tại Điều luật nào của Phần các tội phạm BLHS thì quyết định hình phạt được thực hiện trong phạm vi khung chế tài điều luật ấy quy định Các quy định khác của BLHS đối với tội phạm chung mà họ đã cùng thực hiện cũng được áp dụng chung cho những người phạm tội có tổ chức

1.3.2.2 Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Trong trường hợp phạm tội có tổ chức, việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho

xã hội của tội phạm được hiểu là sự thống nhất giữa tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm chung với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của từng người phạm tội có tổ chức

Tính chất nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về chất của tội phạm là thuộc tính khách quan của một loại tội phạm nhất định được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu cấu thành tội phạm, trong đó, trước hết và quan trọng nhất là ý nghĩa, tầm quan trọng, giá trị của những quan hệ

xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ bị hành vi phạm tội xâm hại (khách thể của tội phạm) Mức độ nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về lượng của tội phạm, cũng là thuộc tính khách quan của một tội phạm và được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu cấu thành tội phạm Mặc dù, khi xây dựng các khung chế tài cho các tội phạm cụ thể, nhà làm luật đã căn cứ chủ yếu vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng nhóm tội và của từng tội trong nhóm tội nhưng khi quyết định hình phạt vẫn đòi hỏi Tòa án phải cân nhắc cả tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm

Thực tiễn xem xét cho thấy Tòa án thấy khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm chung đã thực hiện Tòa án phải dựa vào những tình tiết dấu hiệu thuộc mặt khách quan

và chủ quan sau:

- Tính chất của hành vi tham gia thực hiện tội chung của những người phạm tội có tổ chức như thủ đoạn, công cụ, phương tiện, hình thức thực hiện

- Tính chất và mức độ của hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra

- Các tình tiết như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội trong những trường hợp không được luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội chung

- Các loại và mức độ của lỗi

1.3.2.3 Nhân thân người phạm tội có tổ chức

Nhân thân người phạm tội là một khái niệm rộng, đa dạng nhưng khi cân nhắc nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt thì không được trừu tượng hóa và tách rời chúng khỏi tội phạm tội đã thực hiện và cũng không chỉ xuất từ tội phạm đã thực hiện bởi hình phạt luôn

là hình phạt cho hành vi phạm tội đã thực hiện chứ không phải cho nhân thân người phạm tội

Cụ thể, thực tiễn xét xử thường xem xét các đặc điểm nhân thân sau đây khi quyết định hình phạt:

- Những đặc điểm nhân thân người phạm tội có tổ chức có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

- Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có tổ chức phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội

- Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có tổ chức phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội mà Tòa án phải xem xét khi quyết định hình phạt

Những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội có thể được chỉ rõ trong luật (mang tính pháp lý) hoặc là những đặc điểm, đặc tính không được chỉ rõ trong luật nhưng được pháp luật cho phép Tòa án cân nhắc khi chúng có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt (không mang tính pháp lý) Mỗi đặc điểm nhân thân người phạm tội có ý nghĩa và mức độ ảnh hưởng

Trang 8

khác nhau đối với từng trường hợp phạm tội, trong từng vụ án cụ thể Các đặc điểm, đặc tính nhân thân người phạm tội cụ thể bao giờ cũng có nội dung cụ thể

Nhân thân người phạm tội là một nội dung phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đồng thời là một căn cứ độc lập phải xem xét khi quyết định hình phạt Khi cân nhắc các căn cứ, đòi hỏi trong mọi trường hợp, Tòa án phải coi trọng và lấy căn

cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chung đã thực hiện làm căn cứ hàng đầu, quan trọng, quyết định bởi vì tội phạm đã thực hiện là thước đo khách quan duy nhất của TNHS, của việc quyết định hình phạt

1.3.2.4 Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự

Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS trong một vụ án phạm tội có tổ chức bao gồm

cả các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung cho tất cả những người phạm tội có tổ chức

và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS áp dụng đối với riêng từng người phạm tội có tổ chức

Khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức, để vận dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt thì đòi hỏi đầu tiên đối với Tòa án là phải có sự phân biệt những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS áp dụng riêng đối với từng người phạm tội có rổ chức

Ngoài ra, để việc vận dụng những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung và những tính tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS thuộc về riêng người phạm tội có tổ chức được chính xác, cần phải quán triệt đầy đủ nội dung, ý nghĩa pháp lý của từng tình tiết cụ thể được quy định tại Điều 46, Điều 48 và đồng thời phải chú ý một số các đặc điểm khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS

1.3.2.5 Tính chất phạm tội có tổ chức

Tính nguy hiểm cao hơn cho xã hội của tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm quy định tính nguy hiểm cao cho xã hội của tất cả những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm Do vậy, luật quy định Toà án phải cân nhắc tính chất đồng phạm khi quyết định hình phạt đối với từng người đồng phạm

Đến lượt mình, tính chất đồng phạm được quy định bởi các hình thức đồng phạm Nếu như giữa các hình thức đồng phạm có sự phân biệt về tính chất của sự liên hiệp hành động thì giữa các trường hợp phạm tội có tổ chức lại tiếp tục được phân biệt bởi tính chất của sự câu kết chặt chẽ của những người phạm tội có tổ chức trong hoạt động phạm tội chung Do vậy,

để cá thể hóa một cách triệt để đảm bảo nguyên tắc công bằng khi quyết định hình phạt trong trường phạm tội có tổ chức, Tòa án phải căn cứ vào tính chất của phạm tội có tổ chức - tính chất của sự câu kết chặt chẽ

Trong thực tiễn, tính chất của phạm tội có tổ chức hay tính chất của sự câu kết chặt chẽ thường được đánh giá thông qua các yếu tố sau: thời gian tồn tại của đồng phạm có tổ chức; mục đích, ý thức chủ quan của liên kết; tính chất và mức độ chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm; sự phân hóa vai trò, phân công nhiệm vụ; tính chất chuyên nghiệp; phương pháp, thủ đoạn phạm tội

1.3.2.6 Tính chất, mức độ tham gia phạm tội của từng người phạm tội có tổ chức

Tính chất tham gia phạm tội của từng người phạm tội có tổ chức được quy định bởi vai trò mà người phạm tội có tổ chức đảm nhiệm, đặc thù về chức năng, tác dụng của người đó trong hoạt động phạm tội chung

Mức độ tham gia của từng người phạm tội có tổ chức chỉ sự đóng góp thực tế của những người phạm tội có tổ chức vào việc thực hiện tội phạm chung, được xác định bởi tính chất của hành vi phạm tội và mức độ đóng góp thực tế của người đó trong việc thực hiện vai trò, chức năng của mình trong việc cùng chung thực hiện tội phạm, cũng như việc gây ra hoặc đe dọa gây ra hậu quả tội phạm chung

Trang 9

Việc pháp luật quy định khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm nói chung

và phạm tội có tổ chức nói riêng, Tòa án phải căn cứ vào tính chất và mức độ tham gia của từng người phạm tội là sự thể hiện của nguyên tắc công bằng và nhằm cá thể hóa TNHS của từng người phạm tội

1.4 Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự một số nước trên thế giới

1.4.1 Luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức

Luật hình sự CHLB Đức không quy định riêng căn cứ quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội có tổ chức mà quy định cụ thể và trực tiếp trong luật hình sự các nguyên tắc quyết định hình phạt làm căn cứ chung có tính chất định hướng, chỉ đạo trong việc quyết định hình phạt đối với mọi trường hợp phạm tội, quy định các căn cứ quyết định hình phạt trong mọi trường hợp phạm tội nói chung (đơn lẻ, đồng phạm) và các quy định có tính chất phân hóa TNHS đối với những người đồng phạm

Để định hướng cho Tòa án và tạo cơ sở cho việc quyết định hình phạt, BLHS Đức đã quy định các nguyên tắc quyết định hình phạt tại Điều 46 Theo điều luật này, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải dựa trên cơ sở lỗi của người phạm tội, đồng thời phải cân nhắc đến ảnh hưởng của hình phạt sẽ tuyên đối với cuộc sống sắp tới của họ

Cụ thể hóa nguyên tắc quyết định hình phạt, Điều 46 BLHS Đức quy định căn cứ quyết định hình phạt Với quy định này, luật mới chỉ định hướng chung cho việc quyết định hình phạt thông qua việc đưa ra các loại tình tiết cần xem xét, đánh giá Luật chưa cụ thể hóa các tình tiết đó theo hướng tăng nặng cũng như theo hướng giảm nhẹ

Nghiên cứu quy định BLHS Đức, chúng ta còn thấy nhà làm luật còn tiến xa hơn trong việc phân hóa TNHS của những người đồng phạm BLHS Đức coi người xúi giục phải chịu trách nhiệm như người thực hành còn người giúp sức chỉ đóng vai trò thứ yếu nên mức độ TNHS nhẹ hơn so với người thực hành

1.4.2 Luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Cũng giống như BLHS CHLB Đức và BLHS Việt Nam, BLHS CHND Trung Hoa không

có quy định riêng về căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức với tư cách là một hình thức đồng phạm đặc biệt BLHS CHND Trung Hoa chỉ quy định chung các căn cứ quyết định hình phạt được áp dụng trong cả trường hợp phạm tội đơn lẻ và trường hợp

đồng phạm Cụ thể, Điều 61 quy định "Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội cần

phải căn cứ vào thực tế, tính chất, tình tiết và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo những quy định có liên quan trong Bộ luật này"

Với việc chỉ quy định hai căn cứ quyết định hình phạt này, theo chúng tôi, dường như nhà làm luật trong trường hợp này đã gián tiếp coi nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chỉ là một trong những tình tiết giúp cho Tòa án đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như khả năng cải tạo, giáo dục và hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội (căn cứ thứ hai)

Tuy nhiên, BLHS CHND Trung Hoa lại thể hiện ở mức độ cao nguyên tắc cá thể hóa TNHS đối với những người đồng phạm nói chung

1.4.3 Luật hình sự Liên bang Nga

Cũng giống như BLHS Việt Nam và một số nước, BLHS Nga chỉ quy định về các căn cứ (nguyên tắc) quyết định hình phạt chung, căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm mà không có quy định cụ thể, chi tiết về trường hợp quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức và cũng chưa quyết định cụ thể về sự phân hóa TNHS khi quyết định hình phạt đối với mỗi người đồng phạm

BLHS Liên bang Nga không coi các quy định của BLHS là căn cứ quyết định hình phạt Thực tế trên xuất phát từ quan điểm cho rằng việc tuân thủ các quy định của BLHS khi quyết định hình phạt là điều bắt buộc, hiển nhiên

Trang 10

Luật hình sự Liên bang Nga chưa có quy định riêng thể hiện sự phân hóa TNHS giữa những người tham gia thực hiện tội phạm

Chương 2

THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC 2.1 Thực trạng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức

2.1.1 Thực trạng phạm tội có tổ chức trên địa bàn thành phố Hà Nội

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội còn khoảng 48 băng, ổ nhóm tội phạm trọng điểm, hoạt động bảo kê để cưỡng đoạt tài sản; đòi nợ thuê, đâm thuê chém mướn, tổ chức đánh bạc; cho vay nặng lãi, côn đồ hung hãn

Từ ngày 01.01.2004 đến 31.12.2008, toàn thành phố đã điều tra, khám phá 24.561 vụ, 32.254 đối tượng (đạt tỷ lệ 72%) Trong đó, đã triệt phá 5247 ổ nhóm tội phạm bắt 21.025 đối tượng Loại ổ nhóm đã triệt phá bao gồm: 1895 ổ nhóm có từ 3 đến 5 đối tượng; 657 ổ nhóm

có từ 6 đến 9 đối tượng; 232 ổ nhóm có từ 10 đối tượng trở lên

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống phạm tội có tổ chức trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua, chúng tôi nhận thấy rằng, các trường hợp phạm tội có tổ chức thường tồn tại hai dạng cơ bản sau: phạm tội có tổ chức có cơ cấu tổ chức đơn giản và phạm tội có tổ chức có

cơ cấu tổ chức phức tạp

2.1.2 Thực trạng quyết định hình phạm trong trường hợp phạm tội có tổ chức

2.1.2.1 Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức - những kết quả quan trọng

Theo số liệu thống kê của tác giả về các vụ án phạm tội có tổ chức do Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm qua các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009 thì: Năm 2005, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử 22 vụ - 83 bị cáo (3.77 bị cáo/vụ); Năm 2006, xét

xử 18 vụ - 67 bị cáo (3.72 bị cáo/vụ); Năm 2007, xét xử 14 vụ - 88 bị cáo (6,2 bị cáo/vụ); Năm 2008, xét xử 08 vụ - 35 bị cáo (4,38 bị cáo/vụ); Năm 2009, xét xử 06 vụ - 30 bị cáo (5

bị cáo/vụ)

Qua thực tiễn xét xử cho thấy phần lớn các Thẩm phán đều hiểu rõ nội dung, bản chất, các hình thức thường gặp của phạm tội có tổ chức Hầu hết các Tòa án đã áp dụng đúng tình tiết phạm tội có tổ chức, có sự phân biệt rõ ràng giữa đồng phạm thông thường với phạm tội có tổ chức Các Tòa án đã đảm bảo việc thực hiện tốt nguyên tắc xử lý Nhìn chung, hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với các bị cáo đảm bảo nghiêm minh, kết hợp giữa trừng trị với giáo dục, thuyết phục

2.1.2.1 Một số hạn chế trong việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức

- Về nhận thức và áp dụng tình tiết phạm tội có tổ chức

Thứ nhất, trong một số vụ án phạm tội có tổ chức, khi xét xử đã có quan điểm đồng nhất

khái niệm phạm tội có tổ chức với đồng phạm có thông mưu trước Ví dụ: Vụ án Nguyễn Văn

Đức cùng đồng bọn phạm tội "Cướp tài sản"

Thứ hai, một số Tòa án cho rằng phạm tội có tổ chức dứt khoát phải là hình thức đồng

phạm phức tạp, tức là phải có sự phân công vai trò giữa những người cùng thực hiện tội phạm Hoặc trong một số trường hợp, Tòa án sai lầm trong việc đánh giá về việc phân công vai trò giữa những người tham gia thực hiện tội phạm Đôi khi sự phân công đó là để thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước giao sau đó thì thực hiện tội phạm Do đó, trong trường hợp này

không được xác định là phạm tội có tổ chức Ví dụ: Vụ án Trần Cao Tuấn và đồng phạm

phạm tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ"

Thứ ba, trong khi xác định hình thức phạm tội có tổ chức một số Tòa án cho rằng ở hình phức

phạm tội có tổ chức những người đang phải phạm nhiều tội hoặc phạm một tội nhưng nhiều lần

và có sự câu kết chặt chẽ với nhau trong một thời gian dài

Ngày đăng: 17/09/2013, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w