Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá sản phẩm, lao vụ, dịch vụ”“Khi nghiên cứu về chi phí chúng ta cũng cần ph
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm may mặc tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu” là công trình nghiên cứu độc
lập, các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê phục vụ mục đích nghiên cứu trongcông trình này được sử dụng đúng quy định, không vi phạm quy chế bảo mật củaNhà nước Tác giả xin cam đoan những vấn đề nêu trên là đúng sự thật Nếu sai, tácgiả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Tác giả luận văn
Phạm Sỹ Hiệp
i
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh
sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô,cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tậpnghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy PGS.TS Nguyễn Quang Hùng,
người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Kếtoán và khoa sau đại học Đại học Trường Đại học Thương Mại đã tận tình truyềnđạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trongsuốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của Ban lãnh đạo, tậpthể nhân viên phòng Kế toán của Công ty Cổ phần May Đáp Cầu đã cung cấp sốliệu thực tế, giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu thực tế, khảo sát số liệu tại công ty
để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Sỹ Hiệp
ii
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 6
1.1 Một số vấn đề lí luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất 6
1.1.1 Các khái niệm về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 6
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 8
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 12
1.2 Yêu cầu quản lí và nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 14
1.2.1 Yêu cầu quản lí chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 14
1.2.2 Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 15
1.3 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp theo quan điểm kế toán tài chính 15
1.3.1 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam 15
iii
Trang 41.3.2 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo quy định của
TT200/2014 25
1.4 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp theo quan điểm KTQT 44
1.4.1 Xây dựng định mức, lập dự toán CPSX và giá thành sản phẩm 44
1.4.2 Thu thập và cung cấp thông tin CPSX, giá thành sản phẩm cho việc ra quyết định 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 50
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM MAY MẶC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY ĐÁP CẦU 51
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần May Đáp Cầu và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 51
2.1.1 Tổng quan về Công ty 51
2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động, tổ chức quản lí 52
2.1.3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán 54
2.1.4 Phương thức sản xuất hàng may mặc và những ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tại công ty 60
2.2 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu trên góc độ KTTC 64
2.2.1 Đặc điểm và phân loại chi phí sản xuất ở công ty cổ phần May Đáp Cầu 64
2.2.2 Đối tượng kế toán chi phí sản xuất 66
2.2.3 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất 67
2.2.4 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất 74
2.2.5 Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ 74
2.3 Thực trạng kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu trên góc độ KTQT 77
2.3.1 Xây dựng định mức chi phí 77
2.3.2 Lập dự toán chi phí sản xuất 78
iv
Trang 52.3.3 Thu thập và cung cấp thông tin chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm cho
việc ra quyết định tại Công ty 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY ĐÁP CẦU 81
3.1 Đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu 81
3.1.1 Ưu điểm 81
3.1.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 81
3.2 Các đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu 83
3.2.1 Đề xuất hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu trên góc độ KTTC 84
3.2.2 Đề xuất hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu trên góc độ KTQT 87
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu 88
3.3.1 Về phía Nhà nước 90
3.3.2 Về phía Công ty 91
3.4 Những hạn chế trong nghiên cứu và định hướng tiếp tục nghiên cứu trong tương lai 92
3.4.1 Những hạn chế 92
3.4.2 Định hướng tiếp tục nghiên cứu trong tương lai 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
v
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, nền kinh tế càngphát triển thì môi trường cạnh tranh là xu thế tất yếu Muốn tồn tại và phát triểnđược thì yêu cầu các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh và thắng thế trongcạnh tranh Vấn đề đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là ngoài việc tăng sản lượng sảnphẩm sản xuất ra còn phải tăng sản lượng tiêu thụ từ đó tăng lợi nhuận và một trongnhững biện pháp mà các doanh nghiệp luôn hướng tới là tiết kiệm chi phí và hạ giáthành sản phẩm có nghĩa là sản phẩm sản xuất ra phải tiêu thụ được, tăng được sảnlượng sản phẩm sản xuất tức là doanh nghiệp đã tận dụng được các yếu tố lao động,máy móc thiết bị, thời gian và sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu để
từ đó hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trườngnhư vậy sẽ tăng được sản lượng hàng hóa tiêu thụ, tăng lợi nhuận, là tiền đề hạ giábán, tăng sức cạnh tranh của DN trên thị trường
Việc hạch toán chi phí sản xuất chính xác sẽ giúp DN chủ động kiểm soát chiphí sản xuất, làm tốt công tác tính“giá thành sản phẩm.”Từ việc cung cấp“thông tinđúng về CPSX, chi phí hoạt động, giá thành sản phẩm giúp các nhà quản trị”có cácquyết định trong ngắn hạn và dài hạn Đồng thời, các nhà quản trị còn đánh giáđược việc thực hiện kế hoạch sản xuất để từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, tiếtkiệm chi phí, giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm Như vậy, kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một phần hành quan trọng trong toàn
bộ công tác kế toán của các doanh nghiệp sản xuất Nhận thức được tầm quan trọng
của vấn đề, tác giả đã chọn đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
với mong muốn tìm ra những giải pháp hữu ích góp phần vào công việc đổi mớiphương thức quản lý của Công ty Cổ phần May Đáp Cầu hiện nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng.Thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm do kế toán cung cấp đóng vai
Trang 8trò thiết yếu đối với kiểm soát chi phí và trong quá trình ra quyết định kinh doanh.
Vì vậy đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này thể hiện qua các luận văn caohọc, luận án tiến sĩ, các bài báo và tạp chí khoa học và các công trình nghiên cứukhác Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, luận văn chỉ xin đưa ra một số nhữngnghiên cứu mà tác giả đã tìm hiểu được, cụ thể như sau:
- Luận văn “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc tại Công ty Cổ phần May II Hải Dương” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh năm 2015.
Luận văn“đã trình bày những cơ sở lý luận chung và thực trạng về kế toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất như kháiniệm”phân loại, phương pháp kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp, chi phí sản xuất chung….kế toán chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm trong công ty gia công xuất khẩu hàng may mặc
- Luận văn thạc sỹ “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu tại Tổng Công ty May 10” của Lê Thị Thu Hằng
(2015), Tác giả“đã đề xuất hoàn thiện phân loại CP theo mức độ ứng xử trong”DNmay mặc Với chi phí SXC“phát sinh hầu hết là CP hỗn hợp thì các DN có thể sửdụng phương pháp cực đại - cực tiểu hoặc bình phương bé nhất”để phân loại thành
CP cố định và CP biến đổi
Tác giả cũng đề xuất“hoàn thiện hạch toán thiệt hại trong doanh nghiệp maymặc thông qua việc quy định rõ tỷ lệ sản phẩm hỏng trong và ngoài định mức đểloại trừ chi phí ngoài định mức ra khỏi giá thành”sản phẩm Đồng thời, Tác giả còn
đề xuất“cần xây dựng hệ thống định mức chi phí sản xuất, vận hành hệ thống kếtoán quản trị chi phí sản xuất và”giá thành sản phẩm
Luận văn đề xuất những hướng hoàn thiện cho kế toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu cho công ty May 10“theo cảhướng kế toán tài chính và kế toán quản trị.”
Tuy nhiên,“các giải pháp đưa ra chưa có số liệu tính toán và các bước thựchiện giải pháp cụ thể.”
Trang 9- Luận văn thạc sỹ “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty may xuất khẩu SSV” (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2016).Luận văn“đã trình bàynhững cơ sở lý luận chung và thực trạng về kế toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm trong doanh nghiệp”may xuất khẩu như“khái niệm, nội dung, phânloại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng như phương pháp tính giáthành sản phẩm dưới góc độ”kế toán tài chính, kế toán quản trị chi phí trong cácdoanh nghiệp sản xuất Từ đó“đưa ra được những ưu điểm đã đạt được, những vấn
đề còn tồn tại và tìm ra nguyên nhân để”giải quyết: Đề xuất nâng cao trình độ, tay nghề cho nhân viên kế toán, tổ chức bộ phận kế toán quản trị; hoàn thiện hệ thống chứng từ kế toán: Chứng từ phải thống nhất về quy cách, biểu mẫu và trình tự luân chuyển, lưu trữ sắp xếp khoa học; hoàn thiện hệ thống báo cáo: đề xuất thực hiện lập các báo cáo quản trị về chi phí theo định kỳ, tháng, quý hoặc theo từng đơn
hàng Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng xây dựng địnhmức và dự toán chi phí tại Công ty
Qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy các đề tài đã đưa ra các nộidung cơ bản về mặt lý luận dưới hai góc độ là kế toán tài chính và kế toán quản trị.Những nghiên cứu của các tác giả trên đã phản ánh phần nào được tầm quan trọng,những mặt ưu điểm, những tồn tại khó khăn cũng như các giải pháp hoàn thiệntrong kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Việt Nam Nhưng tính đếnthời điểm hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu“về đề tài kế toán chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm tại công ty”Cổ phần May Đáp Cầu
3 Mục tiêu nghiên cứu
Về mặt lý luận: Đề tài nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về
công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp sản xuất
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu các vấn đề thực tế về kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm may mặc tại Công ty cổ phần May Đáp Cầu, kết hợp sosánh, đối chiếu với hệ thống cơ sở lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất để từ đó đánh giá, nhận xét thực
trạng phần hành kế toán này Đưa ra các kết luận và đề xuất có tính khả thi nhằm
Trang 10hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phầnMay Đáp Cầu, đồng thời đưa ra các điều kiện thực hiện các đề xuất đó.
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp: Có được qua điều tra thu thập thông tin từ cácphòng ban, phân xưởng sản xuất tại Công ty Cụ thể: phỏng vấn các nhân viên trongCông ty, quan sát trực tiếp, quan sát gián tiếp
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm của Quốc hội, Chính phủ,các Bộ, ngành về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm; Các tài liệu
về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tham khảo từ các”giáo trình,tạp chí, mạng Internet; Các tài liệu“sẵn có tại Công ty Cổ phần May”Đáp Cầu: Tàiliệu“giới thiệu về Công ty, quy chế tài chính, mục tiêu, chiến lược hoạt động của”Công ty; Các báo cáo tài chính và báo cáo quản trị của Công ty trong vòng 3năm”:2015 - 2017; Các chứng từ,“sổ sách, báo cáo kế toán có liên quan đến côngtác kế toán chi phí sản xuất và tính”giá thành sản phẩm…
Phương pháp xử lý thông tin
Từ những kết quả thu thập được qua khảo sát tại công ty, và những thông tinthu thập được qua nghiên cứu tài liệu, sách, báo, tạp chí, website được tổng hợpqua công cụ hỗ trợ bằng phần mềm: Microsoft Word, Microsoft Excel,… để đưa racác đánh giá tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán chí phí sản xuất vàgiá thành sản phẩm để từ đó rút ra các kết luận và đưa ra giải pháp hoàn thiện chophù hợp với quy định chung và điều kiện thực tế
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu công tác kế toán chi phí, giá thành sản phẩmmay mặc gia công xuất khẩu tại Công ty CP May Đáp Cầu
Trang 11chính”còn về kế toán quản trị đề tài chỉ nghiên cứu nội dung tổ chức thu thập thôngtin của“kế toán tài chính phục vụ kế toán quản trị chi phí”- giá thành sản phẩm màkhông đi sâu nghiên cứu về“kế toán quản trị chi phí - giá thành sản phẩm.”
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu phụ lục và danh mục tài liệutham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
may mặc tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu
Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm“maymặc tại Công ty Cổ phần May Đáp Cầu”
Trang 121.1.1 Các khái niệm về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.1.1 Các khái niệm về chi phí sản xuất
Hiện nay chi phí sản xuất được ghi nhận theo nhiều quan điểm khácnhau“tùy theo từng góc độ nhìn nhận của các”nhà kinh tế:
Theo chuẩn mực kế toán VN số 01 – “Chuẩn mực chung” (Ban hành và
công bố theo QĐ số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ tài
chính) thì “Chi phí là tổng giá trị khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho
cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp (GS.TS Đặng Thị
Loan, 2013, trang 91): “Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)”
Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của BTC về hướng dẫn
chế độ kế toán doanh nghiệp: “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa”
Các khái niệm trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về mức độ khái quátnhưng đều thể hiện bản chất của chi phí là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sựthu về, có thể thu về dưới dạng vật chất định lượng được như số lượng sản phẩmhoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ
Trang 13Có thể kết luận rằng: “Chi phí sản xuất – kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dung trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ)”
“Khi nghiên cứu về chi phí chúng ta cũng cần phải xem xét và phân biệtđược sự khác nhau giữa chi phí và chi tiêu của doanh nghiệp.”
Theo giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp (GS.TS Đặng Thị
Loan, 2013, trang 92): “Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần của các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dung vào mục đích gì Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp (chi mua sắm hàng hóa vật tư, ), chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi cho sản xuất, chế tạo sản phẩm, công tác quản lý, ) và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo Tuy nhiên, 2 khái niệm khác nhau này lại có quan hệ mật thiết với nhau, chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất tính vào kỳ này, chi phí
và chi tiêu không những khác nhau về lượng mà còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào chi phí (chi mua nguyên vật liệu về nhập kho nhưng chưa sử dụng) và có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu (chi phí trích trước) Sở dĩ có sự khác biệt giữa chi tiêu
và chi phí trong các doanh nghiệp là do đặc điểm, tính chất vận động và phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng”.
1.1.1.2 Các khái niệm về giá thành
“Theo giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp”(GS.TS Đặng Thị
Loan, 2013, trang 95): “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành”.
Trang 14Giá thành sản phẩm là thước đo giá trị và là chỉ tiêu kinh tế“quan trọngtrong hệ thống các chỉ tiêu quản lý giúp doanh nghiệp”tổng hợp, phản ánh kết quả
sử dụng các loại tài sản trong quá trình hoạt động SXKD cũng như đánh giá kết quảvận dụng các giải pháp“đã thực hiện nhằm mục đích hạ thấp chi phí, tăng lợi nhuậncủa đơn vị mình.”
Như vậy,“Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa, phảnánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa đã thực sựchi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.”
“Khi nghiên cứu về giá thành ta nên xem xét và phân biệt được sự khác nhaugiữa giá thành và giá gốc của doanh nghiệp Tài sản trong doanh nghiệp được ghinhận theo giá gốc.”
“Sản phẩm được hình thành qua quá trình sản xuất thì gọi là giá thành vậythì giá thành là toàn bộ chi phí thực tế đã bỏ ra để có được sản phẩm (chi phí này làchi phí hợp lý phát sinh ở mức độ bình thường chứ không phải là toàn bộ chi phíhợp lý ở thực tế).”Nên thực chất nói đến giá thành là nói đến sản phẩm sản xuất ranhập kho nhưng nó cũng chính là giá gốc
Còn giá gốc hiểu với góc độ rộng hơn bao hàm cả giá thành, giá gốc sẽđược tính trong các trường hợp mua ngoài, tự sản xuất, nhận biếu tặng, nhận gópvốn…
Nhưng trong trường hợp xuất ra thì tài sản trong tất cả các trường hợp trênđều được ghi nhận theo giá gốc do đó có thể hiểu rằng nó chính là một và chỉ khácnhau bởi cách gọi tên
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiềukhoản khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng… trong quá trình kinh doanh
Để thuận lợi cho“công tác quản lý, hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại chiphí sản xuất Thông thường chi phí sản xuất kinh doanh được phân loại theo nhữngcác tiêu thức sau:”
Trang 15a) Phân theo yếu tố chi phí
Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia thành 7 yếu tốchi phí sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ sử dụng vào sản xuất kinh doanh (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất – kinh doanh trong kỳ (loại trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền
lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân, viên chức
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ: Phản ánh phần BHXH, BHYT,
BHTN, KPCĐ“trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp”lươngphải trả công nhân viên
- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ:“Phản ánh toàn bộ số khấu hao TSCĐ phảitrích trong kỳ của tất cả tài sản sử dụng cho sản xuất – kinh doanh trong kỳ.”
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài:“Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ muangoài dùng vào sản xuất – kinh doanh.”
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền:“Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưaphản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ.”
“Phân loại chi phí“theo yếu tố có ý nghĩa”lớn trong quá trình quản lý chi phí, nócho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí”giúp cho việc xây dựng và phân tíchđịnh mức vốn lưu động, cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí
b) Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Theo quy định hiện hành, giá thành sản phẩm ở Việt Nam bao gồm 5 khoảnmục chi phí:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên liệu,
vật liệu chính, phụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm trong kỳsản xuất kinh doanh
Trang 16- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các chi phí về tiền lương, phụ cấp
phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ trên tiền lương của côngnhân trực tiếp sản xuất
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng cho việc quản lý và phục vụ sản
xuất cho bộ phận sản xuất, phân xưởng sản xuất
- Chi phí bán hàng: Là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trongquá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ Loại chi phí này có:“chi phíquảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng vàchi phí khác gắn liền đến bảo quản và”tiêu thụ sản phẩm,”hàng hóa
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các khoản chi phí phát sinh liên quanđến“quản trị kinh doanh và quản lý hành chính trong doanh nghiệp ”
Ý nghĩa:“Phân loại theo tiêu thức”này rất thuận tiện cho“công tác tính giáthành, lập kế hoạch giá thành và định mức chi phí”cho kỳ sau Qua đó giúp nhàquản lý có biện pháp sử dụng chi phí một cách hợp lý, đem lại hiệu quả kinh tếcao.”
c) Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với số lượng sản phẩm sản xuất
Theo tiêu thức này chi phí được phân thành 3 loại:
- Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ với sự
thay đổi của mức độ hoạt động (số lượng sản phẩm sản xuất)
- Chi phí cố định (định phí): là những khoản chi phí không thay đổi về tổng số khi
mức độ hoạt động (số lượng sản phẩm sản xuất) thay đổi trong phạm vi phù hợp
- Chi phí hỗn hợp: là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và định
phí Ở mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định phí và ởcác mức độ khác nhau của hoạt động chúng lại thể hiện đặc điểm của biến phí
Ý nghĩa: Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với số lượng sản phẩm
sản xuất“có tác dụng lớn đối với công tác quản trị phục vụ cho việc ra quyết địnhquản lý”cần thiết, giúp nhà quản lý nhận biết được “ứng xử” của từng loại chi phívới thay đổi mức độ hoạt động, phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ
Trang 17động điều tiết chi phí.
d) Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia làm 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến
sản xuất ra một loại sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện một“lao vụ dịch vụ nhấtđịnh,”những chi phí này kế toán căn cứ vào số liệu từ chứng từ gốc để ghi trực tiếpcho từng đối tượng chịu chi phí
- Chi phí gián tiếp: là những khoản chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều
loại sản phẩm sản xuất nhiều công việc lao vụ thực hiện, những chi phí này kế toánphải tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp
Ý nghĩa:“Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa đối với việc xác địnhphương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúngđắn hợp lý.”
1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
a) Phân loại theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành ba loại sau:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định trước khi bắt đầu sản xuất
của kỳ kế hoạch dựa trên cơ sở các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch và giáthành thực tế kỳ trước Giá thành kế hoạch là mục tiêu mà doanh nghiệp phải cố gắnghoàn thành để thực hiện các mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp
- Giá thành định mức: Giá thành sản phẩm định mức là giá thành sản phẩmđược tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất địnhtrong kỳ kế hoạch.“Giá thành định mức được xem là căn cứ để kiểm soát tình hìnhthực hiện các định mức tiêu hao các yếu tố khác nhau phát sinh trong quá trình”sảnxuất sản phẩm Giá thành định mức“cũng được xác định trước khi bắt đầu”quá trìnhsản xuất.”
- Giá thành thực tế: Là giá thành được xác định trên cơ sở các khoản chi phí
thực tế trong kỳ để thực hiện“quá trình sản xuất sản phẩm Giá thành thực tế được
Trang 18xác định sau khi”đã xác định được kết quả sản xuất trong kỳ Giá thành thực tế làcăn cứ để kiểm tra, đánh giá tình hình tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành và xácđịnh kết quả kinh doanh.
b) Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được phân biệt thành hai loại sau:
- Giá thành sản xuất:Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí“phát sinh liênquan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sảnxuất, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí”sản xuấtchung.“Giá thành sản xuất là căn cứ để xác định giá trị thành phẩm nhập kho”hoặcgửi bán, đồng thời là căn cứ để xác định giá vốn hàng bán và lợi nhuận gộp trong kỳcủa doanh nghiệp khi sản phẩm được tiêu thụ
- Giá thành toàn bộ: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến
việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, bán hàng và quản lý) Do vậy giáthành toàn bộ còn gọi là giá thành tiêu thụ hay giá thành đầy đủ của sản phẩm Giá thànhtoàn bộ“của sản phẩm tiêu thụ chỉ được xác định khi sản phẩm, lao vụ đã xác định là tiêuthụ, đồng thời giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ là căn cứ xác định lợi nhuận trướcthuế của doanh nghiệp lỗ thực của hoạt động sản xuất kinh doanh.”
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Giữa“chi phí sản xuất và gía thành sản phẩm có mối quan hệ”chặt chẽ vớinhau Chi phí“thể hiện mặt hao phí còn giá thành biểu hiện mặt kết qủa của các quátrình sản xuất.”Đây là hai mặt thống nhất của cùng một quá trình Xét về mặt chấtthì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giống nhau nhưng xét về mặt lượng thìchúng khác nhau ở những mặt sau:
← Chi phí sản xuất chỉ tính“những chi phí sản xuất phát sinh trong một thời kỳnhất định (tháng, quý, năm) không tính đến những chi phí có liên quan đến số sảnphẩm hoàn thành hay chưa Giá thành sản phẩm là một số chi phí sản xuất liên quanđến khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành.”
← Chi phí sản xuất tính cho một kỳ,“còn giá thành sản phẩm liên quan đến chiphí sản xuất của kỳ trước chuyển sang.”
Trang 19Sự khác biệt giữa chi phí sản xuất“và giá thành sản phẩm thể hiện qua sơ đồ sau”:
Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Tổng giá thành sản phẩm Chi phí sản xuấtdở dang cuối kỳ
Qua sơ đồ trên ta thấy: AC = AB + BD – CD, hay:
Qua công thức trên ta thấy, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm khácnhau khi có sản phẩm“dở dang đầu kỳ hoặc cuối kỳ”(trường hợp“đặc biệt: chi phísản xuất dở dang đầu kỳ bằng chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ),”hoặc trong một sốtrường hợp giá thành không bao gồm chi phí cho sản phẩm hỏng, một phần chi phí
cố định không được tính vào giá thành
Chi phí sản xuất bao gồm chi phí bỏ ra cho sản phẩm hoàn thành, sản phẩmhỏng (nếu có) và sản phẩm dở dang cuối kỳ, không bao gồm chi phí của sản phẩm
dở dang đầu kỳ Còn giá thánh sản phẩm lại bao gồm chi phí cho sản phẩm dở dangđầu kỳ và chi phí cho sản phẩm hoàn thành trong kỳ, không bao gồm chi phí chosản phẩm hỏng và sản phẩm dở dang cuối kỳ
Nói đến chi phí sản xuất là nói đến việc tiêu dùng yếu tố đầu vào của“quátrình sản xuất để tạo ra sản phẩm, còn giá thành sản phẩm”đề cập đến hao phí gắnvới kết quả của quá trình sản xuất.“Do vậy chúng có mối quan hệ mật thiết vớinhau, kế toán tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở để”tính giá thành, khi tiết kiệm chiphí sản xuất sẽ hạ giá thành sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm là một lợi thế trong
CPSX dở dang đầu kỳ
Tổng CPSX phát sinh trong kỳ (đã trừ các khoản thu hồi ghi giảm CP)
+
Trang 20cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện nay.
1.2 Yêu cầu quản lí và nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.2.1 Yêu cầu quản lí chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường với cường độ cạnh tranh ngày cànggay gắt cùng với việc các doanh nghiệp tự chủ trong sản xuất, tự bù đắp chi phí vàđảm bảo có lãi thì công tác“quản lý kinh tế nói chung và công tác quản lý chi phínói riêng trở thành”một trong những chiến lược của doanh nghiệp
"Quản lí chi phí sản xuất, quản lí giá thành sản phẩm thực chất là quản líviệc sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.Như vậy vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải tiết kiệm một cách triệt để
để sản xuất ra khối lượng lớn hơn, chất lượng cao hơn, giá thành hạ hơn.”
“Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng”quátrình sản xuất của doanh nghiệp Muốn sử dụng chỉ tiêu giá thành sản phẩm vàoquản lý cần thiết tổ chức tính đúng, tính đủ“giá thành của các loại sản phẩm màdoanh nghiệp sản xuất”ra Việc tính đúng, tính đủ“giá thành sản phẩm giúp cho việcphản ánh đúng đắn tình hình”và kết quả“thực hiện kế hoach giá thành của doanhnghiệp,”xác định đúng đắn được kết quả tài chính, tránh được hiện tượng lãi giả, lỗthật Chính vì vậy, tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm có ý nghĩa hết sức quantrọng và thiết thực đối với công việc tăng cường và cải tiến công tác quản lý giáthành nói riêng và công cuộc đổi mới“quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp nóichung.”
Bên cạnh đó, các“doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong cơ chế thị trường”thì nhiệm vụ phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm có ý nghĩa sốngcòn Tăng năng suất lao động,“tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm là điềukiện quyết định”tới việc tích luỹ cải thiện đời sống người lao động.“Doanh nghiệp
có hạ giá thành sản phẩm”mới tạo ra lợi thế cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm Mặtkhác,“hạ giá thành sản phẩm là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp tăng”lợi nhuận
Để thực hiện được những yêu cầu trên thì kế toán chi phí sản xuất và giá
Trang 21thành sản phẩm cần làm tốt các nội dung sau:
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất ở từng bộ phận sản xuấttrong doanh nghiệp;
- “Ghi chép phản ánh đầy đủ, chính xác kịp thời chi phí”phát sinh“trong quátrình sản xuất và tiêu thụ,”chỉ ra“được những tiết kiệm hay lãng phí trong khâu nàocủa”sản xuất;
- Tính toán chính xác, kịp thời, đầy đủ giá thành, giá thành đơn vị;
- “Xác định kết quả hạch toán ở từng bộ phận sản xuất và kinh doanh.”
1.2.2 Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Để tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm,đáp ứng đầy đủ trung thực và kịp thời yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành
cả đoanh nghiệp, kế toán cần thực hiện được các nhiệm vụ chủ yếu sau:
“- Tính toán và phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời tình hình phát sinh chiphí sản xuất ở các bộ phận sản xuất cũng như toàn doanh nghiệp gắn liền với cácloại chi phí sản xuất khác nhau của từng loại sản phẩm được sản xuất.”
“- Tính toán chính xác, kịp thời giá thành của từng loại sản phẩm được sản xuất.”
“- Kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện các định mức tiêu hao, các dự toánchi phí nhằm phát hiện kịp thời hiện tượng lãng phí, sử dụng chi phí không đúng kếhoạch, sai mục đích.”
“- Lập các báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, tham gia phântích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, đề xuất biện pháp để tiết kiệm chi phísản xuất hạ giá thành sản phẩm.”
1.3 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp theo quan điểm kế toán tài chính.
1.3.1 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam.
“Việc hạch toán chi phí phải tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Chuẩnmực kế toán Việt Nam số 01, 02, 03 và 04 làm nền tảng, cơ sở và căn cứ để tính giáthành sản phẩm hoàn thành tại các doanh nghiệp sản xuất.”
Trang 221.3.1.1 Chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) – Chuẩn mực chung
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01) ban hành kèm theo quyết
định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002, kế toán chi phí sản xuấtcần tuân thủ 7 nguyên tắc kế toán sau:
- Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp“vụ kinh tế, tài chính của doanhnghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chiphí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thờiđiểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc”tương đương tiền Báo cáo“tài chínhlập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quákhứ, hiện tại và tương lai.”
“Như vậy, mọi chi phí phát sinh của doanh nghiệp phải được ghi nhận tạithời điểm phát sinh, không căn cứ vào dòng tiền ra và vào doanh nghiệp Chỉ khituân thủ đúng nguyên tắc này, báo cáo tài chính mới phản ánh được tình hình tàichính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.”
- Nguyên tắc hoạt động liên tục: “Kế toán ở các đơn vị là việc ghi chép,phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp cho dù khả năng hoạt động củadoanh nghiệp có thể là tiếp tục hoạt động hay ngừng hoạt động.”
“Tuy vậy, theo khái niệm hoạt động liên tục thì công việc kế toán được đặt
ra trong điều kiện giả thiết rằng đơn vị sẽ tiếp tục hoạt động vô thời hạn hoặc ít nhấtcòn hoạt động trong thời gian 1 năm nữa.”
“Khái niệm hoạt động liên tục có liên quan đến việc lập hệ thống báo cáo tàichính Vì giả thiết đơn vị tiếp tục hoạt động, nên khi lập báo cáo tài chính người takhông quan tâm đến giá thị trường của các loại tài sản, vốn, công nợ mặc dù trênthực tế giá thị trường có thể thay đổi, mà chỉ phản ánh tài sản của đơn vị theo trị giávốn - hay còn gọi là giá phí Hơn nữa, vì quan niệm doanh nghiệp còn tiếp tục hoạtđộng nên việc bán đi những tài sản dùng cho hoạt động SXKD của doanh nghiệptheo giá thị trường không đặt ra Chính vì thế mà giá thị trường không thích hợp vàthực sự không cần thiết phải phản ánh giá trị tài sản trên báo cáo tài chính.””
“Mặc dù vậy, trong trường hợp đặc biệt khi giá thị trường thấp hơn giá vốn,
kế toán có thể sử dụng giá thị trường như yêu cầu của”nguyên tắc“thận trọng Mặt
Trang 23khác, khi một doanh nghiệp đang chuẩn bị ngừng”hoạt động: Phá sản, giải thể,
bán thì khái niệm “hoạt động liên tục” sẽ“không còn tác dụng nữa trong việc lậpbáo cáo, mà giá trị thị trường mới là có tác dụng.”
“Như vậy, báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanhnghiệp đang hoạt động và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trongtương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phảingừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Trườnghợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trênmột cơ sở khác và giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.”
- Nguyên tắc giá gốc: Nguyên tắc giá gốc“là một trong những nguyên tắc cơbản nhất của kế toán Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các loại tài sản, vật tư, hàng hoá,các khoản công nợ, chi phí phải được ghi chép, phản ánh theo giá gốc của chúng,tức là theo số tiền mà đơn vị bỏ ra để có được những”tài sản đó Giá gốc“của tài sảnđược tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trịhợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được”ghi nhận Giá gốc“của tài sảnkhông được thay đổi trừ khi có quy định khác trong”chuẩn mực kế toán cụ thể
Nguyên tắc “giá gốc” có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm thước đo tiền tệ
và nguyên tắc hoạt động liên tục.Chính vì“giả thiết đơn vị tiếp tục hoạt động, không
bị giải thể trong một tương lai gần, nên người ta không quan tâm đến giá thị trườngcủa các loại tài sản khi ghi chép và phản ánh chúng trên báo cáo tài chính, hơn nữagiá thị trường lại luôn biến động, nên kế toán không thể dùng giá thị trường để ghichép, lập báo cáo tài chính được Một lý do khác là để tính toán, xác định được kếtquả kinh doanh là lãi hay lỗ người ta phải so sánh giữa giá bán với giá gốc.”
“Qua việc nghiên cứu những khái niệm thước đo tiền tệ, nguyên tắc hoạtđộng liên tục và”nguyên tắc giá gốc“ta thấy trong nhiều trường hợp thì bảng cân đối
kế toán của đơn vị không phải ánh lượng tiền mà các tài sản của đơn vị có thể bánđược hoặc thay thế”được Mặt khác, bảng cân đối kế toán”cũng không phản ánhđúng giá của đơn vị, bởi vì một tài sản của đơn vị có thể được bán cao hơn hoặcthấp hơn số tiền phản ánh tại thời điểm lập báo cáo Đây chính là“mặt hạn chế của
Trang 24các báo cáo tài chính do việc thực hiện”nguyên tắc giá gốc.
“Vận dụng nguyên tắc giá gốc chúng ta cũng có quy định việc ghi chép,phản ánh các loại tài sản theo trị giá vốn thực tế tại các thời điểm khác nhau:”
“- Đối với tài sản, vật tư, hàng hoá mua ngoài nhập kho, thì giá trị vốnthực tế bằng giá mua cộng chi phí mua và cộng với thuế nhập khẩu (nếu có).”
“- Đối với các loại chứng khoán thì trị giá vốn thực tế của chúng là giá muacộng với các chi phí mua (chi phí môi giới, chi phí thông tin, các khoản lệ phí, phíngân hàng )”
“- Đối với tài sản, vật tư tự sản xuất, gia công chế biến : giá trị vốn thực tế làgiá thành sản xuất thực tế ”
“- Đối với các tài sản, vật tư, hàng hoá xuất bán thì trị giá vốn thực tế là giáthực tế tại thời điểm xuất kho.”
- Nguyên tắc trọng yếu: Thông tin được coi là trọng yếu”trong trường hợpnếu thiếu thông tin hoặc thiếu sự chính xác của thông tin đó có thể làm“sai lệchđáng kể”báo cáo tài chính,“làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sửdụng”báo cáo tài chính Tính trọng yếu“phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thôngtin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh“cụ thể Tính trọng yếu“củathông tin phải được xem xét trên cả phương diện”định lượng và định tính
“Nguyên tắc trọng yếu giúp cho việc ghi chép kế toán đơn giản, hiệu quảhơn nhưng vẫn đảm bảo được tính chất”trung thực, khách quan.“Nguyên tắcnày chútrọng đến các yếu tố, các khoản mục chi phí mang tính trọng yếu quyết định bảnchất, nội dung của các”sự kiện kinh tế, đồng thời“lại cho phép bỏ qua không ghichép các nghiệp vụ, sự kiện không quan trọng, không làm ảnh hưởng tới bản chất,nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh.”
- Nguyên tắc phù hợp:“Kết quả hoạt động SXKD của đơn vị sau một kỳ hoạtđộng là số chênh lệch (lãi hoặc lỗ) giữa doanh thu bán hàng và chi phí tính cho sốhàng đã bán Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghinhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liênquan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí
Trang 25của kỳ tạo ra doanh thu, chi phí của các kỳ trước và chi phí của các kỳ sau nhưngliên quan đến doanh thu đó.”
“Nguyên tắc phù hợp đưa ra hướng dẫn về việc xác định chi phí để tính kếtquả Chi phí để tính toán, xác định kết quả hoạt động SXKD là tất cả các chi phí đãcấu thành trong số hàng đã bán (đó là giá thành toàn bộ của hàng đã bán) Nói cáchkhác, nguyên tắc phù hợp đưa ra việc xác định phần chi phí tương ứng với doanhthu đã thực hiện.”
- Nguyên tắc thận trọng:Nguyên tắc này đề cập đến việc lựa chọn những giảipháp trong vô số giải pháp, sao cho ít ảnh hưởng nhất tới nguồn”vốn chủ sở hữu.Với sự lựa chọn như vậy,“kế toán“chỉ ghi các khoản thu nhập khi có những chứng
cơ chắc chắn, còn chi phí thì được ghi ngay khi chưa có chứng cớ”chắc chắn Vớinhững tài sản“có xu hướng giảm giá, mất giá hoặc không bán được, cần phải dựtính khoản thiệt hại để thực hiện việc trích lập”dự phòng tính vào chi phí, hoặc“cốgắng tính hết những khoản chi phí có thể được cho số sản phẩm, hàng hoá đã bán để
số sản phẩm hàng hoá chưa bán được có thể chịu phần”chi phí ít hơn
Như vậy, nguyên tắc thận trọng đòi hỏi :
- “ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn.”
- “ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập.”
- “Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí.”
- “Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng cứ chắc chắn về khảnăng thu được lợi ích kinh tế còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng vềkhả năng phát sinh.”
- Nguyên tắc nhất quán:“Nguyên tắc này đòi hỏi việc áp dụng, thực hiệncác khái niệm, nguyên tắc, chuẩn mực và các phương pháp kế toán phải thốngnhất trong suốt các niên độ kế toán Trong những trường hợp đặc biệt, nếu có sựthay đổi chính sách kế toán đã lựa chọn thì đơn vị phải giải trình được lý do và sựảnh hưởng của sự thay đổi đó trong thuyết minh báo cáo tài chính Thực hiệnnguyên tắc nhất quán sẽ đảm bảo cho số liệu thông tin của kế toán trung thực, kháchquan và đảm bảo tính thống nhất, so sánh được của các chi tiêu giữa các kỳ với
Trang 26nhau.”
Trang 271.3.1.2 Chuẩn mực kế toán số 02 (VAS 02) – Hàng tồn kho
VAS 02 được ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng
12 năm 2001 và được áp dụng từ ngày 01/01/2002 Chuẩn mực này đưa ra những quyđịnh và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho gồm có:
“- Xác định giá trị và kế toán hàng tồn kho được tính vào chi phí”
“- Ghi giảm giá trị hàng tồn kho cho phù hợp với giá tri thuần có thể thực hiệnđược và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báocáo tài chính.”
“Đối tượng“điều chỉnh của chuẩn mực là”hàng tồn kho như tài sản được giữ
đề bán trong kỳ”SXKD bình thường (thành phẩm), hay đang trong quá trình sảnxuất, kinh doanh dở dang(bán thành phẩm hay các sản phẩm dở dang) và cácnguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ sản xuất Như vậy“đối tượng điều chỉnh củachuẩn mực này cũng chính là đối tượng kế toán”tập hợp chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm Nội dụng chính của chuẩn mực đề cặp đến là là“cách xác định trịgiá của hàng tồn kho theo”phương phápgiá gốc
Theo chuẩn mực này “Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho
ở địa điểm và trạng thái hiện tại”.
Các chi phí được tính vào giá gốc của hàng tồn kho là:
“- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm: giá mua của hàng tồn kho và chiphí mua hang (bốc dỡ, vận chuyển,…), các khoản chiết khấu thương mại và giảmgiá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phímua.”
- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: chi phí lương, các khoản phụ cấp cótính chất lương, khoản trích theo lương theo quy định của pháp luật
- Chi phí sản xuất chung bao gồm: các chi phí khác có“liên quan trực tiếpđến quá trình sản xuất sản phẩm như”CPSX chung cố định và CPSX chung biếnđổi
Chi phí SXC chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường
Trang 28không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất như chi phí khấu hao, chi phí bảodưỡng máy móc thiết bị nhà xưởng, chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởngquản lý sản xuất…chi phí SXC“cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn
vị sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất Nếu mứcsản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình thường thì CPSXC cốđịnh”được phân bổ“cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế”phát sinh Cònmức sản phẩm thực tế sản xuất ra nhỏ hơn công suất bình thường thì CPSXC cốđịnh chỉ được phân bổ“vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mứccông suất”bình thường.“Khoản CPSX chung“không phân bổ được ghi nhận làCPSX kinh doanh”trong kỳ.”
+ Chi phí sản xuất chung biến đổi là những CPSX gián tiếp, thường thayđổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất ra như chi phívật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp CPSXC biến đổi được phân bổ hếtvào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh
Tóm lại, quá trình kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm về thực chất cũng là xác định giá trị hàng tồn kho theo nguyên tắc giá gốc.nên giá thành“sản phẩm sản xuất hoàn thành trong kỳ bao”gồm 03 yếu tốCPSX kểtrên có liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất chuẩn mực cũng đưa ra hướng dẫngiúp loại bỏ những chi phí không tính vào giá gốc của hàng tồn kho hay là các chiphí cần loại trừ khi tính giá thành sản phẩm như: chi phí vật liệu, nhân công, chi phísản xuất kinh doanh khác phát sinh trên mức bình thường, chi phí bảo quản hàngtồn kho (trừ các khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho cần thiết cho quá trình sảnxuất tiếp theo), chi phí bán hàng, chi phí quản lý công ty Trường hợp“một quy trìnhsản xuất ra nhiều loại sản phẩm trong cùng một khoảng thời gian mà chi phí chếbiến của mỗi loại sản phẩm không được phán ánh một cách tách biệt, thì chi phí chếbiến được phân bổ cho các loại sản phẩm”phụ được tính theo giá trị thuần có thểthực hiện được và giá trị này được trừ khỏi chi phí chế biến đã tập hợp chung chosản phẩm chính
- Chuẩn mực này cũng đưa ra phương“pháp tính trị”giá”hàng tồn kho áp
Trang 29dụng cho mọi doanh nghiệp, bao gồm các phương pháp sau:
+ phương pháp bình quân gia quyền: giá trị từng loại hàng tồn kho đượctính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trịtừng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ Giá trị trung bình có thểđược tính theo thời kỳ, hoặc mỗi khi một lô hàng nhập về, công thức tính giá bìnhquân gia quyền:
+ Phương pháp nhập trước – xuất trước (FIFO): theo phương pháp này thìhàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồnkho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ.Theo phương pháp này“thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá trị lô hàng nhậpkho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giácủa hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.”
+ Phương pháp nhập sau – xuất trước (LIFO) : hàng tồn kho được mua sauhay sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồnkho được mua hay sản xuất trước đó.“Theo phương pháp này, giá trị hàng tồn khođược tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn khođược tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.”
+ Phương pháp tính theo giá đích danh:“Theo phương pháp này,”sản phẩm,vật tư hàng hóa của những lô nhập trước được ưu tiên xuất ra trước Như vậy, giá trịthực tế của sản phẩm, vật tư hàng hóa xuất kho được tính theo số lượng xuất và đơngiá của những lần nhập trước theo trình tự thời gian nhập kho và giá trị của sảnphẩm, vật tư hàng hóa tồn kho cuối kỳ sẽ là giá trị nhập kho của những lần saucùng Đây là phương án tốt bởi nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phíthực tế phù hợp với doanh thu thực tế Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợpvới doanh thu mà nó tạo ra Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo
Đơn giá bình quân
Trang 30giá trị thực tế của nó.
1.3.1.3 VAS 03 – Tài sản cố định hữu hình, VAS 04 – Tài sản cố định vô hình
“Hai chuẩn mực đưa ra những quy định hướng dẫn các nguyên tắc vàphương pháp kế toán đối với tài sản cố định gồm: tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cốđịnh, thời điểm ghi nhận, xác định giá trị ban đầu, chi phí phát sinh sau khi ghi nhậnban đầu, và một số quy định khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tàichính.”
“Bên cạnh việc đưa ra các quy định, hướng dẫn, nguyên tắc và phương pháphạch toán đối với tài sản cố định, hai chuẩn mực còn đề cập đến phương pháp khấuhao tài sản cố định được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thờigian sử dụng tài sản cố định.”
- “Việc xác định chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng trong sản xuất áp dụngtheo 3 phương pháp sau:”
+ Phương pháp khấu hao theo đường thẳng:
“Theo phương pháp này, số khấu hao hàng năm không thay đổi trong suốtthời gian sử dụng hữu ích của tài sản.”
Cách tính khấu hao như sau:
“Thời gian hữu dụng của TSCĐ là độ dài thời gian mà TSCĐ sẽ được sửdụng trong các hoạt động của doanh nghiệp.”
+ Phương pháp khấu hao theo sản lượng:
“Theo phương pháp này sẽ cố định mức khấu hao trên 1 đơn vị sản lượng,
do đó số khấu hao thực tế tùy thuộc vào sản lượng thực hiện trong kì SXKD.”Công thức tính như sau:
Trong đó:
Mức khấu hao bình quân năm
Nguyên giá tài sản cố định
Số thời gian ước tính sử dụng
=
Mức khấu hao phải
trích trong tháng
Sản lượng thực tế trong tháng
Mức khấu hao bình quân trên một đơn vị sản lượng
Trang 31+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:
“Theo phương pháp này số khấu hao hàng năm giảm dần trong suốt thời gian
sử dụng hữu ích của tài sản.”
Công thức tính như sau:
“Tỷ lệ khấu hao nhanh được tính bằng cách lấy tỷ lệ khấu hao trung bìnhnhân với hệ số điều chỉnh.”
“Hệ số điều chỉnh do doanh nghiệp tự xác định căn cứ vào phương thức khaithác sử dụng tài sản và các yếu tố tác động có liên quan đến tài sản.”
“Sự chi phối của VAS 03, 04 đến chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩmngoài chi phí khấu hao TSCĐ còn có chi phí sửa chữa TSCĐ sử dụng cho sản xuất.”
- “Việc ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ sử dụng trong sản xuất:”
“Để đảm bảo cho TSCĐ hoạt động sản xuất được diễn ra bình thường trongsuốt thời gian sử dụng, các doanh nghiệp phải tiến hành việc bảo dưỡng và sửa chữaTSCĐ Công tác sửa chữa TSCĐ được chia làm hai loại là sửa chữa thường xuyên vàsửa chữa lớn.”
“+ Khi phát sinh chi phí duy trì, bảo dưỡng hoặc sửa chữa nhỏ TSCĐ phục
vụ cho sản xuất kế toán căn cứ vào các chứng từ chi phí để ghi nhận ngay vào chiphí sản xuất của kỳ hoạt động.”
“+ Sửa chữa lớn là quá trình sủa chữa những hỏng hóc lớn của tài sản hoặcđại tu TSCĐ, tài sản bắt buộc phải ngừng sử dụng trong một khoảng thời gian đáng
Giá trị ghi sổ còn lại của TSCĐ
Trang 32kể, chi phí sửa chữa lớn và được phân bổ dần vào chi phí của nhiều kỳ hoạt động.”
“Trong trường hợp này tùy theo quy mô, tính chất của công việc sửa chữa vàtùy theo khả năng, doanh nghiệp có thể tiến hành sửa chữa TSCĐ theo 2 phươngthức tự làm hoặc thuê ngoài:”
“- Với phương thức tự làm, doanh nghiệp tự bỏ chi phí, tự tiến hành toàn bộcông tác sửa chữa tài sản Khi công tác sửa chữa hoàn thành căn cứ vào chi phí thực
tế hợp lệ đã chi để xác định giá thành công tác sửa chữa.”
“- Với phương thức thuê ngoài, doanh nghiệp sẽ thuê các đối tác bên ngoài
để thực hiện toàn bộ công tác sửa chữa Khi công tác sửa hoàn thành căn cứ vào sốtiền phải trả đối tác cung ứng dịch vụ sửa chữa và các chi phí thực tế hợp lệ doanhnghiệp tự chi để xác định giá thành công tác sửa chữa.”
“Giá trị thực tế công trình sửa chữa hoàn thành được kết chuyển vào tàikhoản chi phí trích trước hoặc chi phí phải trả về sửa chữa lớn tài sản cố định sau đóđịnh kỳ sẽ phân bổ dần vào chi phí sản xuất.”
1.3.2 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo quy định của TT200/2014
Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là một quá trình bắtđầu từ việc lập chứng từ phản ánh chi phí phát sinh đến khâu phản ánh vào tàikhoản, tính giá thành sản phẩm và nhập kho thành phẩm Trong quá trình này, kếtoán tài chính có vai trò cung cấp các thông tin kinh tế mang tính pháp lý và hợp lý,
cụ thể thông qua chứng từ phát sinh thể hiện chi phí đầu vào và tổng chi phí nàyđược thể hiện ở đầu ra trong chi phí hợp lý của thành phẩm nhập kho và chi phí bấtthường trên định mức trong giá vốn hàng bán
1.3.2.1 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
1.3.2.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
“Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều nơi,nhiều địa điểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm,lao vụ khác nhau Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biết được các chi phí đó phátsinh ở đâu, dùng vào sản xuất sản phẩm nào Chính vì vậy, chi phí sản xuất kinh
Trang 33doanh phát sinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo phạm vi, giới hạn nhấtđịnh Đó chính là đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.”
“Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để chi phí sản xuấtđược tập hợp theo đó Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiêntrong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất Thực chất của việc xác định đối tượng tậphợp chi phí sản xuất là xác định nơi phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất,giai đoạn công nghệ, ) hoạt động đối tượng chịu chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng, )”
“Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, trước hết các nhà quản trị phảicăn cứ vào đặc điểm, công dụng của chi phí trong sản xuất, sau đó phải căn cứ vào cơcấu tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sảnphẩm, khả năng, trình độ của các nhà quản trị doanh nghiệp, của cán bộ, nhân viên kếtoán và yêu cầu quản lý chi phí, yêu cầu tính giá thành của doanh nghiệp.”
“Việc xác định đúng đối tượng hạch toán chi phí sản xuất trong doanhnghiệp phải dựa vào các cơ sở sau:”
- Dựa vào loại hình sản xuất của doanh nghiệp:
“+ Loại hình sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ thì đối tượng hạchtoán chi phí có thể là sản phẩm, các đơn đặt hàng riêng biệt.”
“+ Loại hình sản xuất đồng loạt với khối lượng lớn: Phụ thuộc vào quy trìnhcông nghệ sản xuất mà đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm,nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ ”
- Dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất:
+ Đối với“doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì đốitượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất.”
“+ Đối với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ phức tạp thì đối tượnghạch toán chi phí sản xuất có thể là từng bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạnchế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ phận sản phẩm.”
- Dựa vào vào yêu cầu và trình độ quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh:
“+ Theo yêu cầu và trình độ quản lý Nếu yêu cầu quản lý ngày càng cao, trình
độ và khả năng của nhân viên quản lý càng tốt thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Trang 34ngày càng chi tiết và ngược lại.”
“+ Theo cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp tổ chứctheo kiểu phân xưởng thì đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là theo phân xưởngcòn không thì đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là toàn bộ.”
“Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí đúng và phù hợp với đặc điểmcủa đơn vị và yêu cầu quản lý có nghĩa rất lớn trong việc tổ chức công tác hạch toánchi phí sản xuất.”
1.3.2.1.2 Phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất
“Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng đểtập hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đốitượng tập hợp chi phí đã xác định Tùy theo từng loại chi phí và đối tượng cụ thể, kếtoán sẽ áp dụng các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp.Thông thường, tại các doanh nghiệp hiện nay có hai phương pháp tập hợp sau:”
Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp:
“Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loại chi phí có liên quan trựctiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, tức là đối với các loại chi phíphát sinh liên quan đến đối tượng nào có thể xác định được trực tiếp cho đối tượng
đó, chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng tập hợp chi phí cụ thể đã xác định
sẽ được tập hợp và quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó.”
“Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách
cụ thể, tỉ mỉ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ
kế toán… theo đúng các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, chỉ có như vậy mớiđảm bảo các chi phí phát sinh tập hợp đúng theo các đối tượng một cách chính xác,kịp thời và đầy đủ Đây là phương pháp tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịuchi phí nên đảm bảo độ chính xác cao, nó cũng có ý nghĩa lớn đối với kế toán quảntrị doanh nghiệp.”
“Thông thường chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếpthường áp dụng phương pháp này Tuy nhiên không phải lúc nào cũng áp dụngphương pháp này được, trên thực tế có rất nhiều chi phí liên quan đến các đối tượng và
Trang 35không thể theo dõi trực tiếp được, trường hợp tập hợp chi phí theo phương pháp trực tiếptốn nhiều thời gian, công sức nhưng không chính xác, hiệu quả.”
Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp:
“Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, đó là cácchi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kếtoán không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng đối tượng đó.”
“Theo phương pháp này, trước tiên căn cứ vào các chi phí phát sinh kế toántiến hành tập hợp chung các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng theo địa điểmphát sinh hoặc nội dung chi phí Để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phảilựa chọn các tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đốitượng liên quan.”
“Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành theo hai bướcsau:”
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức sau:
C: là tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng
T:tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần phân bổ chi phí
Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:
Ci = H x Ti Trong đó:
Ci: phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
Ti: đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ chi phí của đối tượng i.Theo phương pháp này, mức độ chính xác của“chi phí phụ thuộc rất nhiều vàotính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn.”
1.3.2.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.3.2.2.1 Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên a) Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 36“Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, bao gồm các khoản chi phí về nguyên vậtliệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho việc sảnxuất chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch vụ Chi phí nguyênvật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm của các doanh nghiệp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường được quản
lý theo các định mức chi phí do doanh nghiệp xây dựng Chi phí nguyên vật liệutrực tiếp thực tế trong kỳ được xác định căn cứ vào các yếu tố sau:”
“- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho quá trình sản xuất chế tạo sảnphẩm hoặc thực hiện các lao vụ dịch vụ trong kỳ Bộ phận giá trị nguyên vật liệu trựctiếp xuất dùng thường được xác định căn cứ vào các chứng từ xuất kho nguyên vật liệutrực tiếp cho các đối tượng Khi phát sinh các khoản chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp,
kế toán căn cứ vào các phiếu xuất kho, các chứng từ khác có liên quan để xác định giávốn của số nguyên vật liệu dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm (Theo phương pháp tínhgiá vốn nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã lựa chọn ).”
“- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp còn lại đầu kỳ ở các bộ phận, phân xưởngsản xuất Đây là giá trị của bộ phận nguyên vật liệu trực tiếp đã xuất kho cho quátrình sản xuất ở kỳ trước nhưng chưa sử dụng đến được chuyển sang cho quá trìnhsản xuất kỳ này.”
“- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp còn lại cuối kỳ ở các bộ phận, phân xưởngsản xuất được xác định dựa vào phiếu nhập kho vật liệu không sử dụng hết hoặc phiếubáo vật tư còn lại cuối kỳ ở các bộ phận, phân xưởng hoặc địa điểm sản xuất.”
“- Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có): đây là giá trị của phế liệu thu hồi được tạicác bộ phận sản xuất trong kỳ, được xác định căn cứ vào số lượng phế liệu thu hồi
và đơn giá phế liệu mà doanh nghiệp đã sử dụng trong kỳ hạch toán.””
Chi phí NVL trực tiếp thực tế trong kỳ được xác định theo công thức:
Chi phí NVL
trực tiếp thực
tế trong kỳ
Trị giá NVL trực tiếp còn lại đầu kỳ
Trị giá NVL trực tiếp còn lại cuối kỳ
-Trị giá NVL trực tiếp xuất dùng trong kỳ
Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có)
+
Trang 37-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp“sử“dụng để sản xuất sản phẩm tại cácdoanh nghiệp chủ yếu là chi phí trực tiếp, nên thường được tập hợp trực tiếp chotừng đối tượng trên cơ sở các Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được mởcho từng đối tượng căn cứ vào các chứng từ xuất kho vật tư và báo cáo sử dụng vật
tư ở từng bộ phận sản xuất.”
“Trong trường hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan đến nhiềuđối tượng tập hợp chi phí mà không thể tập hợp trực tiếp được thì có thể sử dụngphương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp Khi đó tiêu chuẩn sử dụng để phân bổchi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho các đối tượng có thể là:”
“- Đối với chi phí nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài có thểlựa chọn tiêu chuẩn phân bổ là: chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượng sảnphẩm sản xuất ”
“- Đối với chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu tiêu chuẩn phân bổ có thể lựachọn là: chi phí định mức, chi phí kế hoạch, chi phí nguyên vật liệu chính, khốilượng sản phẩm sản xuất ”
“Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK621”- “Chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp” Trình tự kế toán theo Sơ đồ 1.1
b) Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
“Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trựctiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ,dịch vụ gồm: tiềnlương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lương của công nhân sản xuất.”
“Chi phí về tiền lương ( tiền công ) được xác định cụ thể tuỳ thuộc hình thứctiền lương sản phẩm hay lương thời gian mà doanh nghiệp áp dụng Số tiền lươngphải trả cho công nhân sản xuất cũng như các đối tượng lao động khác thể hiện trênbảng tính và thanh toán lương, được tổng hợp, phân bổ cho các đối tượng kế toánchi phí sản xuất trên bảng phân bổ tiền lương Trên cơ sở đó các khoản trích theolương ( Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn) tính vào chi phí nhâncông trực tiếp được tính toán căn cứ vào số tiền lương công nhân sản xuất của từng
Trang 38đối tượng và tỷ lệ trích quy định theo quy chế tài chính hiện hành của từng thời kỳ.”
“Giống như chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp thường làcác khoản chi phí trực tiếp nên nó được tập hợp trực tiếp vào các đối tượng tập hợpchi phí liên quan Trong trường hợp không tập hợp trực tiếp được thì chi phí nhâncông trực tiếp cũng được tập hợp chung sau đó kế toán sẽ phân bổ cho từng đốitượng theo một tiêu chuẩn phân bổ hợp lý Các tiêu chuẩn thường được sử dụng đểphân bổ chi phí nhân công trực tiếp là: chi phí tiền lương định mức (hoặc kế hoạch),giờ công định mức, giờ công thực tế, khối lượng sản phẩm sản xuất ra ”
Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK622- “Chi phí
nhân công trực tiếp” Trình tự kế toán theo Sơ đồ 1.2
c) Kế toán chi phí sản xuất chung
“Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết khác phục vụ cho quátrình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất.”
“Do CPSXC có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ trongphân xưởng nên cần thiết phải phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng chịuchi phí (sản phẩm ,dịch vụ) theo tiêu thức phù hợp.””
“Đối với CPSXC biến đổi, kế toán sẽ phân bổ hết cho lượng sản phẩm, dịch
vụ hoàn thành theo công thức:”
“Đối với định phí sản xuất chung, trong trường hợp mức sản phẩm thực tếsản xuất cao hơn mức công suất bình thường, thì định phí sản xuất chung được phân
bổ hết cho số sản phẩm sản xuất theo công thức:”
“Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất nhỏ hơn mức công xuất bình
Mức biến phí sản
xuất chung phân
cho từng đối tượng
Tổng biến phí sản xuất chung cần phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng
Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng
Mức định phí sản
xuất chung phân
cho từng đối tượng
Tổng định phí sản xuất chung cần phân bổ
=
Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng
Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng X
Trang 39thường thì phần định phí sản xuất chung phải phân bổ theo mức công suất bìnhthường ,trong đó số định phí sản xuất chung tính cho lượng sản phẩm chênh lệchgiữa thực tế so với mức bình thường được tính vào giá vốn hàng tiêu thụ Công thứcphân bổ như sau:”
“Mức CPSXC tính cho phần chênh lệch sản phẩm thực tế với công suất bìnhthường sẽ tính như sau:”
Chứng từ kế toán sử dụng để phản ánh CPSXC:“Bảng tính và phân bổ”khấu hao TSCĐ,”hóa đơn tiền điện, hóa đơn tiền nước, biên bản kiểm kê TSCĐ ”
Kế toán sử dụng tài khoản 627 - Chi phí sản xuất chung,“để tập hợp vàphân bổ”chi phí sản xuất chung Trình tự kế toán theo Sơ đồ 1.3
d) Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
“Cuối kỳ kế toán, sau khi đã tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung theo từng đối tượng trên các TK 621,
622, 627, kế toán sẽ tiến hành kết chuyển hoặc phân bổ các loại chi phí này để tậphợp toàn bộ chi phí sản xuất cho từng đối tượng chịu chi phí, tiến hành kiểm kê vàđánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ, thực hiện tính giá thành các loại sản phẩm, côngviệc, lao vụ do doanh nghiệp đã hoàn thành trong kỳ.”
“Để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hoàn thành theo
Tổng định phí sản suất chung cần phân bổ
Trang 40phương pháp kê khai thường xuyên, kế toán sử dụng tài khoản 154- Chi phí sảnxuất kinh doanh dở dang.”
“Sau khi đã tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ, để tính được giáthành sản phẩm hoàn thành, kế toán doanh nghiệp cần phải tổ chức kiểm kê, đánhgiá khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ theo các phương pháp phù hợp.”
“Thông tin về giá trị sản phẩm dở dang có ảnh hưởng và cũng tác động đếngiá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán và ảnh hưởng đến lợi nhuận trên báocáo kết quả hoạt động kinh doanh Do vậy, việc đánh giá sản phẩm dở dang có ýnghĩa quan trọng đối với công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm nói riêng cũng như đối với công tác kế toán nói chung của doanhnghiệp.Trong thực tế, các doanh nghiệp có thể lựa chọn áp dụng các phương phápsau để đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ:”
“- Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trựctiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp.”
“- Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoànthành tương đương.”
“- Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí định mức.”
“Căn cứ vào kết quả đánh giá sản phẩm dở dang và chi phí sản xuất đã tậphợp được, kế toán tổ chức tính giá thành sản phẩm, lao vụ hoàn thành bằng phươngpháp kỹ thuật phù hợp, trên cơ sở công thức tính giá thành cơ bản:””
“
Trên cơ sở, giá thành sản xuất của sản phẩm công việc lao vụ đã hoàn thành, kế
CPSX dở dang đầu kỳ
Tổng CPSX phát sinh trong kỳ