Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội phạm về môi trường theo luật hình sự Việt Nam Nguyễ n Tri ́ Chinh Khoa Luật Luận văn ThS. ngành: Luâ ̣ t hi ̀ nh sư ̣ ; Mã số: 60 38 40 Người hướng dẫn: TS. Phạm Văn Lợi
Trang 1Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội phạm về môi trường theo luật hình sự
Việt Nam Nguyễn Trí Chinh
Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Luâ ̣t hình sự; Mã số: 60 38 40
Người hướng dẫn: TS Phạm Văn Lợi
Năm bảo vệ: 2010
Abstract Giải quyết một số vấn đề lý luận chung đối với tội phạm về môi trường
Phân tích cấu thành tội phạm của các tội phạm về môi trường theo luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam Khái quát thực trạng môi trường, tình hình tội phạm môi trường, những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn xử lý các tội phạm về môi trường để tìm ra nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, phát triển tội phạm về môi trường Dự báo tình hình,
đề xuất các giải pháp nhằm góp phần đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các tội
phạm về môi trường
Keywords Luật hình sự; Tội phạm; Pháp luật Việt Nam; Môi trường
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, đường lối đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng từ Đại hội VI (năm 1986) đã thu được nhiều thành tựu Sau hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đã có những thay đổi lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Đời sống nhân dân ngày ngày càng được nâng cao, tình hình an ninh chính trị được giũ vững, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm Tuy nhiên, cùng với sự phát triển tích cực của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, trong xã hội cũng xuất hiện nhiều yếu tố tiêu cực mặt trái của nền kinh tế thị trường Tình hình vi phạm pháp luật nói chung và tình hình tội phạm nói riêng có chiều hướng ngày càng gia tăng Các hành vi phạm tội cũng ngày càng đa dạng và phức tạp, tinh vi và khó lường hơn Điều này được thể hiện không chỉ ở việc các lần pháp điển hoá luật hình sự mà ngày càng có nhiều hành vi mới mang tính phổ biến và nguy hiểm
cho xã hội bị coi là tội phạm đặc biệt là các tội phạm về môi trường Hiện nay, môi trường đang
là vấn đề nóng của mọi quốc gia, dù đó là quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển Sự ô nhiễm, suy thoái và những sự cố môi trường diễn ra ngày càng ở mức độ cao đang đặt con người những thảm hoạ của thiên nhiên có thể xảy ra như sự nóng nên của trái đất, lỗ hổng tầng ôzôn, tình trạng ngập lụt Vỡ vậy, vấn đề bảo vệ môi trường đó trở nờn vụ cựng cấp thiết được các quốc gia và cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm Một thực tế không thể phủ nhận là môi trường nước ta hiện nay cũng đang bị ô nhiễm và suy thoái nặng nề Đứng trước thực tế đó, nếu chúng ta không có những biện pháp hữu hiệu nhất thì chúng ta sẽ phải trả giá cho cho những tổn thất mà
Trang 2các thế hệ người Việt Nam sẽ phải gánh chịu bây giờ và trong tương lai Đặc biệt trong thời gian gần đây các phương tiện truyền thông đã nêu tên nhiều doanh nghiệp đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật về môi trường như: Công ty VEĐAN, MIWON Nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, Đảng, Nhà nước và Quốc hội đã đề ra nhiều giải pháp vừa mang tính chiến lược vừa mang tính cấp bách để bảo vệ môi trường
Trong số các biện pháp pháp lý được sử dụng để bảo vệ môi trường cú biện phỏp hỡnh
sự Bộ luật Hỡnh sự 1999, đó cú riờng Chương XVII quy định Các tội phạm về môi trường Việc tội phạm hoá những hành vi nguy hiểm cho xó hội xõm phạm tới mụi trường quy định trong Bộ luật này đó tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết cho công tác đấu tranh phũng, chống cỏc
hành vi xõm hại đến lĩnh vực môi trường
Xuất phỏt từ tỡnh hỡnh nờu trờn, việc nghiờn cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động điều tra, xử lý các vụ phạm tội về môi trường; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phũng, chống cỏc tội phạm về mụi trường là vấn đề cấp thiết
trong tình hình hiện nay Do đó, học viên đó chọn đề tài: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn
về các tội phạm về môi trường theo luật hỡnh sự Việt Nam"
2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài
Tội phạm về môi trường đó cú nhiều bài viết và đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học,
như: "Lực lượng Công an nhân dân nâng cao trách nhiệm và hiệu quả trong công tác bảo vệ
môi trường" của Trung tướng Đặng Văn Hiếu, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công
an (6/2007); "Cụng tỏc phũng, chống tội phạm về mụi trường trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế" của TS Đại tá, Nguyễn Xuân Lý, Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường (7/2007); Đề
tài khoa học cấp Nhà nước "Những vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và giải pháp
phũng, chống" do Thiếu tướng, GS.TS Nguyễn Duy Hùng, Giám đốc Học viện Cảnh sát
nhân dân (2006) làm chủ nhiệm; Đề tài Khoa học "Tội phạm về môi trường - một số vấn đề lý
luận và thực tiễn" do TS Phạm Văn Lợi, phó Viện trưởng Viện Khoa học phỏp lý - Bộ Tư
pháp (2003) làm chủ nhiệm; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa
luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Tác giả Đinh
Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Phần các tội phạm, Tập 2, NXB Thành phố
Hồ Chi Minh, 2002 Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các đề tài này mới chỉ đề cập nghiên cứu ở những góc độ khác nhau về tội phạm môi trường mà chưa nghiên cứu một cách tổng thể Hơn nữa, vấn đề về tổ chức, cán bộ theo dừi, phỏt hiện, đấu tranh và xử lý tội phạm
về mụi trường cũng như lý luận các tội phạm về môi trường cũn nhiều bất cập; việc phối kết hợp của cỏc cơ quan bảo vệ pháp luật trong lĩnh vực môi trường cũn chưa chặt chẽ , trong khi đó, tội phạm môi trường diễn biến dưới nhiều hỡnh thức khỏc nhau, với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích của luận văn trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn cỏc tội phạm về môi trường trong luật Hỡnh sự Việt Nam là nhằm hoàn thiện các quy định của
Bộ luật hình sự đối với nhóm tội về môi trường; từ đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phũng, chống cỏc tội phạm về mụi trường
3.2 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các qui định về tội phạm môi trường trong chương XVII "Các tội phạm về môi trường" của Bộ luật hình sự năm 1999; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự (Luật số 37/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009) trong đó
có sửa đổi, bổ sung một số điều trong Chương XVII (Các tội phạm về môi trường) của Bộ luật hình sự năm 1999
3.3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các qui định của pháp luật hình sự đối với nhóm tội về môi trường và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về môi trường của các cơ quan bảo vệ pháp luật Số liệu thống kê phục vụ cho việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu trong
đề tài được viện dẫn từ các báo cáo tổng kết của Bộ Tài nguyên và Môi trường; báo cáo công tác của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường, Bộ Công an; báo cáo của Viện Kiểm
Trang 3sát nhân dân tối cao; báo cáo của Toà án nhân dân tối cao và một số báo cáo chuyên đề về môi trường
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cải cách tư pháp, về tội phạm, về đấu tranh phũng, chống cỏc tội phạm nói chung và các tội phạm về môi trường nói riêng Đồng thời, dựa trên cơ sở các bài viết, các đề tài khoa học của các nhà nghiên cứu lý luận về cỏc tội phạm về mụi trường; các phương pháp mà luận văn đó vận dụng như: phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh; chuyên gia; thống kờ hỡnh sự
5 Điểm mới của luận văn
Đề tài khoa học làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội phạm môi trường
trong luật hình sự Việt Nam Điểm mới của luận văn gồm:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam;
- Chỉ ra được những vướng mắc, bất cập của các quy định hiện hành liên quan đến nhóm các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam;
- Đưa ra được hệ thống các kiến nghị, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ
luật hình sự năm 1999 về các tội phạm môi trường;
- Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, học tập, những người làm công tác thực tiễn liên quan đến lĩnh vực này cũng như các độc giả khác có quan tâm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về các tội phạm về môi trường theo luật hình sự Việt
Nam
Chương 2: Các qui định tội phạm về môi trường trong Bộ luật Hình sự Việt Nam và thực
tiễn áp dụng
Chương 3: Nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của Bộ luật Hình sự đối với
các tội phạm về môi trường
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG THEO LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trong chương này, tác giả tập trung nghiên cứu làm rõ khái niệm môi trường, khái niệm tội phạm môi trường, Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc qui định các tội phạm môi trường,
quá trình hình thành các qui định về tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam, nghiên cứu các quy định về tội tội phạm môi trường trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế
giới
1.1 Khái niệm về môi trường
Môi trường là một khái niệm có nội hàm rất rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Môi trường của một vật thể hoặc của một sự kiện là tổng hợp các yếu tố, điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến các vật thể, sự kiện đó Bất cứ một vật thể, sự kiện nào cũng tồn tại trong một môi trường Khái niệm môi trường được cụ thể hoá đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu
Theo Tuyên ngôn của UNESCO (1981) thì môi trường được định nghĩa như sau: Môi trường
la toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người sáng tạo ra xung quanh mình, trong đó
Trang 4con người sinh sống bằng lao động của mình đã khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự
nhiên và xó hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xó hội loài người và các thể chế môi trường có thể định nghĩa như là tổ hợp của các yếu tố khí hậu, sinh thái học, xó hội
và thổ nhưỡng tác động lên cơ thể sống và xác định các hỡnh thức sinh tồn của chỳng Vỡ thế, mụi trường bao gồm tất cả mọi thứ mà có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vi của các cơ thể sống hay các loài, bao gồm ánh sáng, không khí, nước, đất và các cơ thể sống khác
Theo khoản 1, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 thỡ khỏi niệm mụi trường được hiểu như sau: Môi trường "bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,
có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật"
1.2 Khái niệm tội phạm về môi trường
Bộ luật hình sự không đưa ra khái niệm chung của tội phạm về môi trường Phân tích khoa học khái niệm này là khởi điểm cho việc giải quyết về bản chất tất cả các vấn đề của trách nhiệm hỡnh sự trong lĩnh vực bảo vệ mụi trường Việc hiểu đúng đắn tội phạm về môi trường là cơ sở phương pháp luận cho quá trỡnh lập phỏp đối với loại tội phạm này Trong trường hợp không có sự nhận thức đúng đắn về những tội phạm này sẽ không thể xây dựng được các hỡnh thức chế tài, phạm vi và nhiệm vụ của hoạt động phũng ngừa
Một số tác giả cho rằng: "Tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho xó hội, do những người có năng lực trỏch nhiệm hỡnh sự thực hiện, xõm hại đến sự bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xó hội phỏt sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ mụi trường, gây ra những hậu quả xấu đối với môi trường sinh thái" Trong khái niệm này có hai điểm chưa được rừ ràng:
Thứ nhất, khái niệm trên chưa chỉ ra đặc trưng hết sức quan trọng của tội phạm nói
chung, tội phạm về môi trường nói riêng, mà được tất cả các nhà luật học công nhận: "tội phạm là hành vi vi phạm phỏp luật hỡnh sự" Cũng chớnh vỡ lý do này nờn khỏi niệm trên chưa hoàn toàn chính xác Không ai nghi ngờ "Hành vi nguy hiểm cho xó hội" là đặc trưng chung của các hành vi vi phạm pháp luật như: vi phạm hành chính, tội phạm, vi phạm kỷ luật v.v , vậy khái niệm nêu trên có thể bao gồm cả những hành vi vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực môi trường
Thứ hai, khái niệm trên có thể gây sự hiểu nhầm giữa đối tượng và khách thể của tội
phạm Khách thể của tội phạm là những quan hệ xó hội và lợi ớch xó hội bị xõm hại và được chỉ ra rất rừ ràng trong Điều 1 Bộ luật Hỡnh sự 1999:
Khái niệm tội phạm về môi trường cũng đó được đưa vào giáo trỡnh giảng dạy Giỏo trỡnh của Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: "Các tội phạm về môi trường là các hành vi nguy hiểm cho xó hội vi phạm cỏc quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, qua đó gây thiệt hại cho môi trường" Khái niệm này có ưu điểm là rất ngắn gọn, tuy nhiên cũng cũn cú vài điểm cần bàn thêm:
- Cũng giống như ở khái niệm trước, khái niệm tội phạm về môi trường trong giáo trỡnh Luật Hỡnh sự của Trường Đại học Luật Hà Nội chưa tạo ra được sự khác biệt giữa tội phạm
về môi trường và hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
- Việc đưa "thiệt hại cho môi trường" vào trong khái niệm tội phạm về môi trường có thể dẫn tới sự hiểu lầm Yếu tố "thiệt hại" trong cấu thành tội phạm chỉ bắt buộc đối với những cấu thành tội phạm vật chất Những cấu thành hỡnh thức khẳng định việc tội phạm đó được thực hiện (hoàn thành) ngay khi đó thực hiện hành vi, bất kể hành vi đó đó gõy ra thiệt hại hay chưa Như vậy, sử dụng cấu trúc "gây thiệt hại cho môi trường" trong khái niệm có thể dẫn tới sự hiểu nhầm rằng: "tất cả tội phạm về môi trường có cấu thành vật chất"
Trang 5- Ngoài ra, khái niệm kể trên chưa chỉ rừ khỏch thể bị xõm hại Cú thể núi rằng, một trong những đặc trưng cơ bản nhất của tội phạm cụ thể chính là khách thể giúp phân biệt với các tội phạm khác
Trên cơ sở phân tích ở trên, chúng tôi cũng mạnh dạn đưa quan điểm đối với khái niệm tội phạm về môi trường như sau: "Tội phạm về môi trường là những hành vi nguy hiểm cho
xó hội được quy định trong Bộ luật Hỡnh sự Việt Nam, xõm hại tới cỏc quan hệ xó hội về bảo vệ môi trường"
1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc qui định các tội phạm môi trường trong luật hình sự
Thứ nhất Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đó ý thức ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của
việc bảo vệ môi trường và do vậy đó ghi nhận điều đó ở Hiến pháp năm 1992 của nước ta (Điều 29) đó quy định rừ: "Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xó hội, mọi cỏ nhõn phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyờn thiờn nhiờn và bảo vệ mụi trường
Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường"
Trên cơ sở quy định hiến định đó, Nhà nước ta đó ban hành nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật khác nhau để ngăn chặn, phũng chống, xử lý triệt để các hành vi xâm hại đến môi trường Trong số các biện pháp pháp lý được sử dụng để bảo vệ môi trường có biện pháp pháp lý hỡnh sự
Thứ hai, việc bảo vệ môi trường bằng các biện pháp pháp lý hỡnh sự chính là việc tội
phạm hoỏ cỏc hành vi nguy hiểm cho xó hội xõm phạm mụi trường Phạm vi của việc bảo vệ môi trường bằng các biện pháp pháp lý hỡnh sự và hiệu quả của việc bảo vệ đó ở một mức độ rất lớn tuỳ thuộc vào việc tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm xâm phạm lĩnh vực nói trên
Do vậy, cần phải xem xét một cách kỹ lưỡng, đầy đủ các nhân tố quyết định mức độ, tính chất và các phương thức của việc tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm cho xó hội xâm phạm môi trường
Thứ ba, việc tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm cho xó hội xõm phạm mụi trường được
xác định bởi cả những nhân tố đũi hỏi chớnh trị thuộc cả chớnh sỏch đối nội lẫn chính sách đối ngoại của Nhà nước ta
Thứ tư, việc tội phạm hoỏ cỏc hành vi nguy hiểm cho xó hội xõm phạm mụi trường đó
ghi nhận trong Bộ luật hỡnh sự ở một chừng mực rất lớn được quyết định bởi trạng thái và sự phát triển của các ngành pháp luật khác, trước hết là luật hiến pháp và luật môi trường
Thứ năm, khi tội phạm hoỏ cỏc hành vi nguy hiểm cho xó hội xõm phạm mụi trường, nhà
làm luật nước ta đó cân nhắc cả các nhân tố tội phạm học như; thực trạng, cơ cấu và diễn biến của các hành vi xâm hại trong lĩnh vực đó Việc nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng các hành
vi xâm hại môi trường là một trong những loại hành vi xảy ra phổ biến nhất ở nước ta hiện nay và các thiệt hại do các hành vi đó gây ra có chiều hướng ngày càng trở nên nghiêm trọng
Thứ sáu, hiệu quả của việc tội phạm hoỏ cỏc hành vi nguy hiểm cho xó hội xâm hại cho
môi trường tuỳ thuộc không nhỏ vào trạng thái ý thức pháp luật về lĩnh vực đó Việc toàn dân thảo luận Hiến pháp năm 1992 trước đây và thảo luận việc sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm 1992 vừa qua, cũng như thảo luận Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến việc bảo vệ môi trường và Bộ luật Hỡnh sự năm 1999 trong thời gian qua cho thấy phần lớn nhân dân ta đều đỏi hỏi phải tăng cường việc bảo vệ môi trường, trong đó có việc tăng cường bảo vệ môi trường bằng các biện pháp pháp lý hỡnh
sự
Thứ bảy, việc tội phạm hoỏ cỏc hành vi nguy hiểm cho xó hội xõm phạm mụi trường
được nhà làm luật nước ta thực hiện đó cõn nhắc cả cỏc quy luật sinh thỏi chẳng hạn quy luật: mụi trường là một hệ thống thống nhất, tất cả các yếu tố của môi trường có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Việc xâm phạm đến một trong những yếu tố của môi trường có thể gây tác
Trang 6hại đến hoạt động của toàn bộ hệ thống,do vậy một mắt xích nào đó của hệ thống đó không được bảo vệ thỡ điều đó có thể đe doạ toàn bộ hệ thống
Thứ tám, các nhu cầu khách quan của xó hội và cỏc điều kiện của việc tội phạm hoá các
hành vi nguy hiểm cho xó hội xõm phạm mụi trường đó được nhà làm luật "chuyển tải một cách đúng đắn ngôn ngữ của luật hỡnh sự" để thực hiện được điều đó việc tội phạm hoá đó đáp ứng các đũi hỏi và quy tắc pháp lý nhất định của kỹ thuật lập pháp Việc tuân thủ các đũi hỏi và quy tắc đó là nhằm khắc phục cả những chỗ hổng lẫn những điều "dư thừa" trong việc bảo vệ môi trường bằng các biện pháp pháp lý hỡnh sự; phõn biệt một cỏch rừ ràng cỏc tội phạm về mụi trường với các vi phạm hành chính và kỷ luật trong lĩnh vực môi trường
Thứ chín, Cùng với việc mở rộng nhóm các khách thể tự nhiên được bảo vệ bằng các
biện pháp pháp lý hỡnh sự và nhúm cỏc hành vi bị truy cứu trỏch nhiệm hỡnh sự, nhà làm luật đó xỏc định rừ cỏc điều kiện,tiêu chuẩn của việc tội phạm hoá loại hành vi xâm hại đến môi trường
1.4 Sự hình thành các qui định về tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam
1.4.1 Cỏc quy định về tội phạm mụi trường trong Bộ luật Hỡnh sự 1985
Để đảm bảo cho sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, trên cơ sở Hiến định, một
số hành vi xâm hại đến các yếu tố của môi trường gây hậu quả nghiêm trọng được coi là tội phạm và cá nhân vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hỡnh sự đó được đưa vào trong Bộ luật Hỡnh sự 1985 Một số tội phạm cụ thể về môi trường được ghi nhận trong Bộ luật, tại Chương VII "Các tội phạm về kinh tế" và Chương VIII "Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lí hành chính", đó là: Điều 180 Tội vi phạm các quy định về quản
lý và bảo vệ đất đai; Điều 181 Tội vi phạm và quản lý các quy định về quản lý và bảo vệ rừng; Điều 195 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng; Điều 216 Tội vi phạm về bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng
1.4.2 Cỏc quy định về tội phạm mụi trường trong Bộ luật Hỡnh sự 1999
Để phù hợp với các quy định về bảo vệ môi trường trong các lĩnh vực chuyên ngành, việc bảo vệ môi trường quy định trong pháp luật hỡnh sự được đặc biệt coi trọng và ghi nhận tại Chương XVII, phần Các tội phạm về môi trường của Bộ luật Hỡnh sự 1999 Bộ Luật này đó thay thế cơ bản các quy định về các tội phạm về môi trường trong Bộ luật Hỡnh sự 1985; đồng thời, bổ sung thêm một số tội danh mới xuất hiện trong thời gian gần đây Đây là thể hiện sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước ta trước thực trạng môi trường tiếp tục bị suy thoái, ô nhiễm với mức độ cao; thể hiện thái độ kiên quyết, xử lý kịp thời, nghiờm khắc đối với các hành vi làm suy thoái, ô nhiễm môi trường, xâm hại đến các yếu tố của môi trường thiên nhiên Các tội phạm về môi trường là một chương mới được bổ sung vào Bộ luật Hỡnh sự 1999, chương XVII, chương này gồm 10 Điều, được sắp xếp theo 5 nhóm hành vi xâm hại đến môi trường
Tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khoá XXII đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự (Luật số 37/2009/QH 12 ngày 19 tháng 6 năm 2009) trong đó có sửa đổi,
bổ sung một số điều trong Chương XVII (Các tội phạm về môi trường) của Bộ luật hình sự năm 1999
1.5 Những quy định về tội phạm môi trường trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước trên thế giới như Vương quốc Thái Lan, Singapo, Malaixia, Phillipiin cho thấy tội phạm về môi trường trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới có những quy định khác nhau.Có nước quy định tại chương (tiết) các tội phạm về môi trường, có nước lại tách ra thành các điều luật cụ thể; có nước quy định hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường phải chịu trách nhiệm pháp lý về mặt hình sự
ở các ngành luật cụ thể Tuy nhiên, dù cách thức quy định khác nhau, nhưng có điểm tương
Trang 7đồng là các hành vi xâm hại đến môi trường một cách nghiêm trọng đều bị xem là loại tội phạm cần phải trừng phạt nghiêm khắc
Chương 2
CÁC QUI ĐỊNH TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Trong chương này, tác giả phân tích các quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm môi trường và thực tiễn áp dụng, chỉ ra những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về môi trường
2.1 Các qui định về tội phạm môi trường trong Bộ luật hình sự Việt Nam
2.1.1 Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm về môi trường
2.1.1.1 Khách thể của tội phạm về môi trường
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe doạ thực
tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định
Đối với các tội phạm về môi trường khách thể loại của các tội phạm về môi trường là tổng thể những quan hệ xó hội về giữ gỡn mụi trường trong sạch, sử dụng hợp lý những tài nguyờn của nú và đảm bảo an toàn môi trường cho dân cư
2.1.1.2 Mặt khách quan của tội phạm về môi trường
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan
Các tội phạm về môi trường có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các quy định của pháp luật về sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gỡn
và bảo vệ mụi trường Các hành vi tội phạm về môi trường rất đa dạng: gây ô nhiễm môi trường, huỷ hoại tài nguyên môi trường, không thực hiện quy tắc bảo vệ môi trường, gây dịch bệnh v.v
2.1.1.3 Mặt chủ quan của tội phạm về môi trường
Mặt chủ quan của các tội phạm về môi trường được thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý Nghĩa là người phạm tội biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn có
ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Động cơ và mục đích của các tội phạm về môi trường rất đa dạng, có thể là vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác… nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Trong mặt chủ quan của tội phạm về môi trường, mục đích và động cơ hầu như không có ý nghĩa để định tội
2.1.1.4 Chủ thể của tội phạm về môi trường
Chủ thể của các tội phạm về môi trường là tất cả những người có năng lực trách nhiệm hỡnh sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên có thể nhận thấy tồn tại vấn đề tuôi chịu trỏch nhiệm hỡnh sự đối với tội phạm
cụ thể về môi trường là từ đủ 14 tuổi
2.1.1.5 Hình phạt đối với các tội phạm môi trường
Nếu như BLHS năm 1985 coi tội phạm về môi trường là tội phạm ớt nghiờm trọng với mức cao nhất của khung hỡnh phạt là 2 năm, thỡ Bộ luật Hỡnh sự năm 1999 đánh giá 6/10 tội
là rất nghiêm trọng, trong đó cá biệt có khung hỡnh phạt cao nhất đến 15 năm Số tội phạm
về môi trường cũn lại đều được đưa vào danh mục các tội phạm nghiêm trọng Ngoài ra, hầu như tất cả các tội phạm về môi trường cũn quy định hỡnh phạt bổ sung
Trang 8Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hỡnh sự số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009, tại Chương XVII của Bộ luật Hỡnh sự đã cụ thể hóa, bổ sung và nõng mức hỡnh phạt của tất cả các điều luật:
Về hình phạt tù: hầu hết các tội danh của chương này đều qui định mức phạt tù từ 6 tháng đến 10 năm, cá biệt có thể lên tới 15 năm
Về hình phạt tiền (với tư cách là hình phạt chính): Đối với các tội phạm về môi trường, các nhà làm luật đã mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính Mức phạt tiền được qui định trong phần lớn các điều luật của chương này là từ 10 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cá biệt có thể lên đến 01 tỷ đồng
Về hình phạt cải tạo không giam giữ được qui định với tư cách là hình phạt chính ở 10 trong số 11 điều luật
Ngoài các hình phạt chính, thì tất cả các điều luật trong chương này đều qui định hai hình phạt bổ sung là:
- Hỡnh phạt tiền với tư cách là hỡnh phạt bổ sung trong trường hợp xét thấy hỡnh phạt tự vẫn chưa thỏa đáng thỡ điều luật cho phép áp dụng thêm hỡnh phạt tiền với tư cách là hỡnh phạt bổ sung
- Hỡnh phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp xét thấy nếu họ giữ chức vụ, hành nghề, hoặc làm các công việc liên quan thỡ cú nguy cơ là họ sẽ tiếp tục gây nguy hại cho môi trường
* Các tội phạm cụ thể:
Trong phần này tác giả trình bày khái niệm, dấu hiệu pháp lý đặc trưng, hình phạt của các tội phạm về môi trường theo pháp luật hình sự Việt Nam
2.2 tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tội phạm môi trường
2.2.1 Thực trạng, nguyên nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Trong phần này tác giả trình bày thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong các lĩnh vực sau: Trong hoạt động của làng nghề, sản xuất nông nghiệp; trong quản lý
và xử lý chất thải nguy hại; trong quản lý, xử lý chất thải công nghiệp nguy hại, rác thải sinh
hoạt; trong vệ sinh an toàn thực phẩm, dịch bệnh; trong bảo vệ rừng, động - thực vật hoang
dó; trong khai thác khoáng sản đây là những lĩnh vực vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường diễn ra ngày càng phức tạp và có chiều hướng tăng lên Đồng thời trong phần này tác giả cũng nêu lên một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tỡnh hỡnh vi phạm phỏp luật về bảo vệ mụi trường
2.2.2 Việc áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về môi trường
* Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của cơ quan tài nguyên, môi trường đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Từ năm 2005, thanh tra chuyên ngành môi trường phối hợp với các đơn vị quản lý nhà nước bắt đầu triển khai thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính tại các địa phương Năm 2005, cả nước đã thanh, kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính 172 tổ chức với số tiền 1.565.000.000 đồng; năm 2006, xử phạt vi phạm hành chính 344 tổ chức với tổng số tiền 4.110.000.000 đồng; năm 2007, xử phạt 861 tổ chức và 02 cá nhân với tổng số tiền 8.736.000.000 đồng; năm 2008, xử phạt 1.776 tổ chức và 09 cá nhân với tổng số tiền là 19.300.000.000 đồng, truy thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trốn nộp trên 127 tỷ đồng
* Công tác điều tra, xử lý các tội phạm về môi trường của lực lượng Cảnh sát nhân dân
Cho đến nay, Bộ luật Hỡnh sự đó cú hiệu lực và thực thi trờn thực tế 10 năm, nhưng thực tế
là mặc dù tỡnh trạng vi phạm phỏp luật về mụi trường có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, số vụ việc vi phạm bị phát hiện tăng lên không ngừng nhưng số lượng vụ việc bị xử lý hỡnh
sự lại rất hạn chế (khoảng 1,1% tổng số vụ vi phạm pháp luật về môi trường) Ví dụ, trong năm 2008, thông qua hoạt động của Cục Cảnh sát môi trường thỡ đó điều tra phát hiện trên
Trang 9700 vụ vi phạm pháp luật về môi trường, làm rừ hơn 380 đối tượng (tổ chức và cá nhân) nhưng lại chỉ chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố được 8/700 vụ, với 13/380 đối tượng Theo số liệu thống kê tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi truờng của Cục cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường thì từ ngày 01 tháng 12 năm 2009 đến ngày 31 tháng 5 năm 2010, lực lượng Cảnh sát môi trường các cấp đã điều tra khám phá 3.012 vụ, 1.034 tổ chức, 2.096 cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xử phạt vi phạm hành chính trên 17 tỷ đồng, đề nghị khởi tố 72 vụ, 101 đối tượng
* Công tác truy tố các vụ án về tội phạm môi trường của Viện kiểm sát nhân dân các cấp
Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê tội phạm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì năm 2007, Viện kiểm sát các cấp truy tố 145 vụ án trên tổng số 263 bị can; năm 2008, truy tố
126 vụ án trên tổng số 231 bị can; năm 2009, truy tố 118 vụ án trên tổng số 271 bị can; 6 tháng đầu năm 2010, truy tố 52 vụ trên tổng số 113 bị can
* Công tác xét xử các vụ án về tội phạm môi trường của Toà án nhân dân các cấp
Theo số liệu thống kê của Toà án nhân dân tối cao, kể từ năm 2001 đến ngày 31 tháng 7 năm 2010, ngành Toà án nhân dân đó xột xử 1.098 vụ án các loại về tội phạm môi trường với 1.913 bị cáo Trong đó tội gây ô nhiễm nguồn nước (Điều 183) tổng số đó thụ lý 18 vụ với 25
bị cáo, đó xột xử 17 vụ với 24 bị cáo và hoàn lại Viện kiển sát 01 vụ với 01 bị cáo; Tội gây ô nhiễm đất (Điều 184) tổng số đó thụ lý 01 vụ với 01 bị cáo, đó xột xử 01 vụ với 01bị cỏo và hoàn lại Viện kiển sỏt khụng; Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường (Điều 185) tổng số đó thụ lý 02 vụ với 04
bị cỏo, đó xột xử 02 vụ với 04 bị cáo và hoàn lại Viện kiển sát không; Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186) tổng số đó thụ lý 11 vụ với 17 bị cáo, đó xột xử 10 vụ với 16 bị cáo và hoàn lại Viện kiển sát 01 vụ với 01 bị cáo; Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187) tổng số đó thụ lý 04 vụ với 11bị cỏo, đó xột xử 02 vụ với 05 bị cỏo và hoàn lại Viện kiển sỏt 02 vụ với 06 bị cỏo; Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188) tổng số đó thụ lý 24 vụ với 17 bị cỏo, đó xột xử 23 vụ với 56 bị cáo và hoàn lại Viện kiển sát 01 vụ với 01 bị cáo; Tội huỷ hoại rừng (Điều 189) tổng số đó thụ lý 747 vụ với 1.671 bị cỏo, đó xột xử 514 vụ với 990 bị cáo, đỡnh chỉ xột xử 17 vụ với 19 bị cỏo, chuyển
hồ sơ vụ án 08 vụ với 36 bị cáo, hoàn lại Viện kiểm sát 115 vụ với 315 bị cáo; Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dó quý hiếm (Điều 190) tổng số đó thụ lý 619 vụ với 1.005 bị cỏo, đó xột xử 526 vụ với 844 bị cỏo, đỡnh chỉ xột xử 10 vụ với 16 bị cỏo, hoàn lại Viện kiểm sỏt 40 vụ với 71bị cỏo; Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đỗi với khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191) tổng số đó thụ lý 05 vụ với 05 bị cỏo, đó xột xử 04 vụ với 04 bị cỏo, hoàn lại Viện kiểm sỏt 01 vụ với 01 bị cỏo; ngành Toà án chưa xét xử vụ án nào về tội gây ô nhiễm không khí (Điều 182)
Nguyờn nhõn của tỡnh hỡnh tội phạm về mụi trường và những hạn chế của công tác điều tra, truy tố và xét xử tội phạm về môi trường
Thứ nhất, chưa có sự hướng dẫn kịp thời về Chương - Các tội phạm môi trường trong
Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hỡnh sự 2009 Hiện nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn việc
áp dụng các điều luật về tội phạm môi trường, cấu thành cơ bản của các tội quy định trong Chương này cũng có những nét đặc thù, nhiều tỡnh tiết định lượng, định tính chưa được cụ thể hoá đũi hỏi phải được nghiên cứu, hướng dẫn để áp dụng thống nhất trong thực tiễn đấu tranh phũng, chống loại tội phạm này
Thứ hai, công tác phối hợp giữa các lực lượng liên quan đến điều tra các vụ án về môi
trường chưa được chặt chẽ và hiệu quả Đặc biệt là sự phối hợp giữa cơ quan điều tra của lực lượng cảnh sát nhân dân và thanh tra chuyên ngành về điều tra tội phạm môi trường
Thứ ba, cụng tỏc tổ chức phũng ngừa và đấu tranh phũng chống tội phạm mụi trường
chưa được tiến hành một cách đồng bộ, chưa xây dựng được kế hoạch hợp lý, cụ thể nhằm phối hợp các hoạt động của các bộ, ngành có liên quan để thực hiện chiến lược về bảo vệ môi trường của Đảng và Nhà nước
Trang 10Thứ tư, việc nhận diện được một hành vi vi phạm môi trường là rất khó, đũi hỏi phải cú
sự trợ giỳp của cỏc phương tiện khoa học kỹ thuật, phải có sự đánh giá của các cơ quan chuyên ngành, phải định tính, định lượng cụ thể mới có thể xác định đó là một hành vi vi phạm pháp luật về môi trường
Thứ năm, về quan niệm và nhận thức, trong một thời gian dài, vấn đề bảo vệ môi trường
cũn bị xem nhẹ, chưa coi vấn đề môi trường là cấp thiết cần ưu tiên giải quyết, ý thức phỏp luật, ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận nhân dõn cũn nhiều hạn chế, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và bộ phận dân cư miền núi, vùng sâu vùng xa nhiều người cũn chưa hiểu được thế nào là môi trường trong lành; như thế nào là gây ô nhiễm môi trường; tội phạm về môi trường
Thứ sáu, cụng tỏc giỏo dục ý thức bảo vệ môi trường đối với các tầng lớp dân cư trong
xó hội cũn nhiều hạn chế Việc phổ biến, giáo dục pháp luật về môi trường nói chung cũn mang tớnh hỡnh thức, khuếch trương phong trào mà chưa tiến hành một cách thường xuyên, sâu rộng trong quần chúng nhân dân
Chương 3
NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG
Chương này, tác giả đưa ra hệ thống những kiến nghị nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của Bộ luật Hình sự về các tội phạm về môi trường
3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật Hình
sự đối với các tội phạm về môi trường
Quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới thì cũng nảy sinh nhiều vấn đề thách thức, trong đó có vấn đề bảo vệ môi trường Tình hình tội phạm
về môi trường và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam gia tăng một cách nhanh chóng trong những năm qua Trong thời gian tới, tình hình tội phạm về môi trường tiếp tục diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ vi phạm
Sự cần thiết nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về môi trường còn xuất phát trên những cơ sở sau:
Thứ nhất: Về yêu cầu cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp
Thứ hai, Về yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội phạm về môi
trường nói riêng
Thứ ba, Về yêu cầu phải khắc phục những yếu kém của việc áp dụng những quy định của
pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật Hình sự đối với các tội phạm về môi trường
3.2.1 Hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về môi trường
Trên cơ sở phân tích những quy định về các tội phạm môi trường, những vướng mắc mà thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này đặt ra cho khoa học pháp lý hình sự phải
nghiên cứu giải quyết như:
- Trong cấu thành tội phạm về môi trường (trước khi sửa đổi) phần lớn đũi hỏi phải cú đồng thời ba yếu tố mới xử lý hỡnh sự được: (1) thải chất gây ô nhiễm môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép; (2) hành vi thải chất gây ô nhiễm môi trường trước đó phải bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng cố tỡnh khụng thực hiện cỏc biện phỏp khắc phục; (3) gõy hậu quả nghiờm trọng Quy định này hạn chế khả năng truy cứu trỏch nhiệm hỡnh sự đối với các tội phạm này, bởi lẽ, việc chờ hội tụ đủ cả 3 yếu tố nói trên là rất khó khăn, nhất là trong việc xác định hậu quả về môi trường