Mục tiêu tổng quát của luận văn là khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện Tư Nghĩa trong thời gian tới.
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN BẢO NGỌC
PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÕ THỊT
Ở HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.01.05
Đà Nẵng - 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn KH: PGS TS BÙI QUANG BÌNH
Phản biện 1: TS LÊ BẢO
Phản biện 2: PGS.TS BÙI ĐỨC TÍNH
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Kinh tế Phát triển họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học
Đà Nẵng vào ngày 27 tháng 01 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư Nghĩa là vùng trọng điểm nông nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi nên đại đa số người dân ở đây làm nông nghiệp, chăn nuôi bò thịt có vị trí quan trọng trong sản xuất của các nông hộ ở huyện Tư Nghĩa Người dân có thể tận dụng nguồn phụ phẩm từ nông nghiệp như sắn, ngô để cung cấp thức ăn cho bò Tính đến năm 2016, đàn
bò toàn tỉnh có khoảng 282.525 con, tại huyện Tư Nghĩa có 24.174 con bò thịt Phát triển chăn nuôi bò là khâu đột phá chuyển dổi cơ cấu vật nuôi cây trồng trong nông nghiệp, đem lại hiệu quả cao, nâng
tỷ trọng của ngành chăn nuôi, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo tạo, công ăn việc làm, thúc đẩy KT - XH phát triển bền vững Những thuận lợi đó cộng với chủ trương, chính sách khuyến khích chăn nuôi, dự án chuyên giao con giống, kỹ thuật nuôi đem lại kết quả nhất định trong chăn nuôi bò thịt Tuy nhiên chăn nuôi bò thịt thời gian qua phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của huyện, còn một số khó khăn, tồn tại cần được tháo gỡ
Để góp phần giải quyết những vấn đề đã nêu trên, đóng góp cho sự phát triển chăn nuôi bò thịt của huyện Tư Nghĩa, tôi hình
thành và chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận văn là khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện Tư Nghĩa trong thời gian tới
Trang 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tình hình phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện Tư Nghĩa với chủ thể là các hộ nuôi bò thịt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi trong 05 năm (2013 - 2017)
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả
- Phương pháp mô tả so sánh
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên
- Phương pháp đánh giá
- Phương pháp thực chứng
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Phát triển chăn nuôi bò thịt là đề tài lần đầu tiên được nghiên cứu một cách toàn diện và được áp dụng tại huyện Tư Nghĩa
- Vận dụng lý luận phát triển ngành kinh tế quốc dân vào phát triển chăn nuôi bò thịt của huyện Tư Nghĩa với những đặc thù của địa phương
- Các giải pháp được kiến nghị dựa trên tính đặc thù của địa phương sẽ hứa hẹn có hữu ích cho hoạch định chính sách phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện Tư Nghĩa
6 Tổng quan tài liệu
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÕ THỊT
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÕ VÀ Ý NGHĨA CỦA PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÕ THỊT
1.1.1 Khái niệm phát triển chăn nuôi bò thịt
Phát triển chăn nuôi bò thịt chính là sự gia tăng về số lượng, năng suất và chất lượng đàn bò thịt, là sự biến đổi cơ cấu đàn bò, cơ cấu giá trị sản phẩm theo hướng hiệu quả và phát triển bền vững Phát triển chăn nuôi bò thịt bền vững là đích hướng tới của các nước đang phát triển vùng nhiệt đới
1.1.2 Vai trò của chăn nuôi bò thịt
- Chăn nuôi bò thịt cung cấp thực phẩm có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao phục vụ cho đời sống con người
- Chăn nuôi bò thịt cung cấp phân bón và tận dụng sức kéo phục vụ cho sản xuất trồng trọt
- Chăn nuôi bò thịt tạo thu nhập cho nông hộ, góp phần phát triển kinh tế nông hộ
- Chăn nuôi bò thịt đóng góp vào gia tăng sản lượng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
- Chăn nuôi bò thịt giúp tối ưu hóa các điều kiện tự nhiên
1.1.3 Ý nghĩa của phát triển chăn nuôi bò thịt
- Chăn nuôi trâu bò là ngành quan trọng ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở nước ta
- Phát triển chăn nuôi bò cho phép khai thác tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao cho xã hội
Trang 6- Đối với nông hộ, nhất là hộ nghèo ở các vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, chăn nuôi bò thịt do vậy mà đã trở thành kế sinh nhai, là một phương tiện xoá đói giảm nghèo, là công cụ để góp phần phát triển bền vững
- Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, việc phát triển chăn nuôi bò thịt nói riêng và ngành chăn nuôi nói chung góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, giá trị gia tăng ngày càng cao và hiệu quả kinh tế ngày càng lớn
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÕ THỊT
1.2.1 Gia tăng quy mô đàn bò thịt
Phát triển chăn nuôi bò thịt bao gồm sự gia tăng về số lượng, chất lượng và năng suất đàn bò thịt, đồng thời là sự biến đổi cơ cấu giá trị sản phẩm, cơ cấu giá trị đàn bò theo hướng phát triển bền vững và hiệu quả Về mặt số lượng, phát triển chăn nuôi bò thịt bao gồm: quy
mô đàn bò thịt tăng lên ở một khu vực hay trong một quốc gia; cơ cấu đàn, sản lượng thịt bò thu được của toàn đàn trong chu kỳ chăn nuôi; giá trị sản lượng chăn nuôi bò thịt
- Mức và tốc độ tăng trưởng giá trị sản lượng bò thịt: Tăng trưởng giá trị sản lượng bò thịt được hiểu là sự gia tăng về quy mô giá trị sản lượng bò thịt trong một thời kỳ nhất định và được phản ánh qua mức và tỷ lệ tăng giá trị sản lượng bò thịt
Trang 71.2.2 Thay đổi cơ cấu đàn bò thịt
Để nâng cao chất lượng giống bò trong chăn nuôi, ngoài việc cần cải tạo đàn giống theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao năng suất, mặt khác sử dụng các giống bò nội lai tạo với các giống có nguồn gen cao sản trên thế giới để cho ra giống mới phù hợp
có chất lượng và năng suất tốt hơn
Tiêu chí:
- Sự thay đổi tỷ lệ các loại giống đàn bò: Số lượng bò lai
và bò vàng; Tỷ lệ và sự thay đổi tỷ lệ các giống bò cho năng suất cao
- Đo lường năng suất thịt trong chăn nuôi bò thịt, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau: Trọng lượng và sự gia tăng trọng lượng bò hơi xuất chuồng của một con cho một chu kỳ chăn nuôi; Khối lượng thịt của một con cho một chu kỳ chăn nuôi; Tỷ lệ thịt xẻ
1.2.3 Lựa chọn phương thức chăn nuôi hợp lý
Hiện nay ở nước ta chăn nuôi bò thịt theo ba hình thức: Hộ gia đình, trang trại và hợp tác xã Trong đó hình thức chăn nuôi hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất Điều đó được thể hiện rõ trong chăn nuôi bò thịt như quy mô chăn nuôi nhỏ lẽ, chất lượng và năng suất sản phẩm thấp, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trong chăn nuôi rất hạn chế Tuy kinh tế trang trại có những bước phát triển nhưng phổ biến là quy mô sản xuất nhỏ, trang trại gia đình, chủ trang trại thiếu kiến thức về quản lý kinh tế Việc xác định rõ hình thức tổ chức chăn nuôi sẽ cho phép sử dụng hợp lý các yếu tố của quá trình sản xuất Tiêu chí:
- Số lượng và tỷ trọng trang trại, hộ chăn nuôi bò thịt, các hình thức liên kết sản xuất kinh doanh chăn nuôi bò thịt
Trang 8- Việc làm và thu nhập lao động: Số lao động thu hút thêm hay
số việc làm mới tạo ra từ chăn nuôi bò thịt; Mức tăng trưởng thu nhập của lao động chăn nuôi bò thịt; Số hộ nghèo tham gia chăn nuôi
và thoát nghèo; Lượng phụ phẩm nông nghiệp được khai thác cho chăn nuôi bò thịt
1.2.4 Gia tăng năng lực và cung cấp dịch vụ cho chăn nuôi
bò thịt
Nội dung:
- Trong chăn nuôi bò thịt yêu cầu vốn lớn để xây dựng chuồng trại, mua con giống, chăm sóc, nuôi dưỡng, cho tạo dựng các cơ sở chế biến, xúc tiến bán sản phẩm
- Lao động trong chăn nuôi bò đòi hỏi phải có kỹ thuật, nhất là các khâu như dọn vệ sinh, cắt cỏ, nuôi dưỡng, chăm sóc,
- Để phát triển chăn nuôi bò thịt cần quan tâm giải quyết cả số lượng, chất lượng và giá trị dinh dưỡng của thức ăn, chế biến và dự trữ thức ăn cho bò
- Đất đai là cơ sở quan trọng để người chăn nuôi tiến hành xây dựng trang trại chăn nuôi, trồng cỏ và chăn thả bò thịt
- Khâu cung cấp dịch vụ thú y và chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi bò thịt có vai trò quan trọng, bảo đảm cho chăn nuôi bò thịt
có được năng xuất cao hơn, tiết kiệm được chi phí sản xuất
Trang 9- Về lao động: Giá trị sản lượng chăn nuôi bò thịt/1 lao động; Mức tăng Giá trị sản lượng chăn nuôi bò thịt /1 lao động tăng thêm
1.2.5 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phầm chăn nuôi
Thị trường quyết định quy mô cũng như chất lượng sản phẩm của các ngành sản xuất nói chung và chăn nuôi bò thịt nói riêng Việc tiêu thụ sản phẩm thông suốt sẽ bảo đảm chu kỳ kinh doanh chăn nuôi giúp giảm thiểu chi phí khi phải kéo dài chu kỳ chăn nuôi
do thị trường tiêu thụ bị đình trệ Ngoài ra, việc tiêu thụ kịp thời còn đảm bảo được chất lượng của thịt bò, giảm bớt chi phí kho bãi, bảo quản
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÕ THỊT
1.3.1 Các yếu tố về tự nhiên
1.3.2 Các yếu tố về kinh tế - xã hội
1.3.3 Các yếu tố về kỹ thuật
Trang 10CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÕ THỊT Ở HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÕ THỊT Ở HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.Tình hình phát triển kinh tế và sản xuất nông nghiệp 2.1.3 Chính sách phát triển chăn nuôi bò thịt
2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÕ THỊT Ở HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.2.1 Tình hình gia tăng quy mô đàn bò thịt
Theo niên giám thống kê của huyện Tư Nghĩa năm 2015, tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 53,12% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp (bao gồm trồng trọt và chăn nuôi) Đối với nội bộ ngành chăn nuôi, đã có sự dịch chuyển giữa gia súc và gia cầm; cơ cấu giá trị sản xuất ngành gia súc đã tăng từ 78,31% năm2011 lên 80,2% vào năm 2015; ngược lại, gia cầm đã giảm từ 13,89% xuống còn 7,42% Nhìn chung cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi của huyện có sự thay đổi nhưng không đáng kể
Quy mô đàn bò thịt ở huyện Tư Nghĩa có sự tăng trưởng qua các giai đoạn, năm 2013 là: 22.448 con, năm 2014 là: 22.762 con(tăng 1,39% so với năm 2013), năm 2015 là:23.094 con (tăng 1,45% so với năm 2014), năm 2016 là: 24.174 (tăng 4,76% so với năm 2015)
Trang 11Hình 2.2 Tình hình số lượng đàn bò thịt ở huyện Tư Nghĩa
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa 2013-2016)
Bảng 2.1 Tình hình gia tăng số lượng và quy mô đàn bò tại Tư Nghĩa
Nội
dung
Đơn vị tính 2013 2014 2015 2016
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tư Nghĩa 2013-2016)
Tuy nhiên, quá trình phát triển chăn nuôi bò thịt, mặc dù trong thực tế đã cho thấy những lợi thế và hiệu quả của nó, nhưng trong những năm qua vẫn chưa được coi là một ngành sản xuất có thể đem lại sự thay đổi, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương Chính quyền nhiều nơi chưa quan tâm, thiếu chiến lược phát triển toàn diện lâu dài và sự đầu tư thích đáng cho ngành chăn nuôi bò
Trang 12thịt Bên cạnh đó, đa số người dân vẫn coi đây là nghề phụ, thiếu sự đầu tư phát triển trên quy mô lớn
2.2.2 Tình hình thay đổi cơ cấu đàn bò thịt
Nhìn chung, trong thời gian gần đây, cơ cấu đàn bò thịt ở huyện Tư Nghĩa có sự biến động không lớn giữa các nhóm bò trong tổng đàn Theo số liệu điều tra tại Bảng 2.3, đàn bò thịt đang nuôi dưỡng tại huyện Tư Nghĩa có cơ cấu nhóm trên 36 tháng tuổi chiếm 5,7% trong tổng đàn, nhóm từ 25 đến 36 tháng tuổi chiếm 40,78%, nhóm từ 13 đến 24 tháng tuổi chiếm 26,33% và nhóm từ 1 đến 12 tháng tuổi chiếm 27,19%
Bảng 2.3 Tổng hợp số liệu điều tra cơ cấu đàn bò thịt năm 2016
Từ 25 -
36 tháng tuổi
Từ 13 -
24 tháng tuổi
Từ 1 -
12 tháng tuổi
II Cơ cấu (%) 100 5,70 40,78 26,33 27,19
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra – 2016)
Qua khảo sát, những năm vừa qua năng suất và chất lượng giống bò thịt ở huyện Tư Nghĩa đã được cải thiện một cách rõ rệt Công tác cải tạo đàn bò vàng theo hướng Zêbu hóa đã được các cấp,
Trang 13ngành quan tâm đầu tư triển khai bằng nhiều nguồn vốn của Trung ương, địa phương và của dân đóng góp Thông qua các chương trình,
dự án trên, cùng với số đực giống tự có trong dân đã bước đầu cải tạo đàn bò địa phương, đưa tỷ lệ bò lai đạt 79,74% trong tổng đàn Thực tế cho thấy, các bò đực giống lai Sind đưa về chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đều thích nghi, sinh trưởng phát triển tốt, đang được yêu cầu nhân rộng trên địa bàn huyện
7.9
2.1
Tỷ lệ bò lai - 79,74%
Tỷ lệ bò vàng 20,26%
Hình 2.4 Cơ cấu giống bò thịt ở huyện Tư Nghĩa
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài – 2016)
Tuy nhiên, thực tế cho thấy các địa phương trong huyện còn gặp nhiều khó khăn về giống, nhất là giống bò lai sind vừa thiếu vừa kém chất lượng Đa số các trang trại và hộ dân còn đơn điệu về giống, hệ thống cung cấp giống chưa đảm bảo số lượng và chất lượng Việc thiếu giống cao sản, chất lượng nên sản phẩm làm ra chưa chất lượng và không nhiều, không tạo thành vùng hàng hoá lớn
là một trong những nguyên nhân tiêu thụ sản phẩm khó khăn và sức hấp dẫn của chăn nuôi bò thịt chưa lớn như kỳ vọng
2.2.3 Tình hình lựa chọn phương thức chăn nuôi hợp lý
Chăn nuôi bò thịt ở huyện Tư Nghĩa chủ yếu là phương thức chăn nuôi truyền thống, với quy mô từ 1-2 con là phổ biến để tận dụng phế phụ phẩm nông sản và lao động phụ trong gia đình và sử dụng sức kéo trong nông nghiệp Theo kết quả khảo sát tại Bảng 2.5
Trang 14cho thấy: Phần lớn hộ chăn nuôi bò với quy mô chăn nuôi nhỏ, số hộ
có quy mô chăn nuôi lớn rất ít Tỷ lệ hộ chăn nuôi từ 1 - 2 con bò thịt chiếm tới 80% năm 2015 và 80.84% năm 2016 Tỷ lệ hộ nuôi từ 3 -
5 con chỉ chiếm 18% năm 2015 và 18.7% năm 2016 Tỷ lệ hộ nuôi
trên 5 con chỉ dao động trong khoảng 2% tổng số hộ được khảo sát
Bảng 2.5 Quy mô chăn nuôi bò tại huyện Tư Nghĩa
(Nguồn: Khảo sát của đề tài năm 2015 và 2016)
Bên cạnh đó, tại các xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Thuận, Nghĩa Thắng, Nghĩa Điền tổng cộng có trên 150 hộ theo đuổi nghề nuôi vỗ béo bò Ngoài ra, trên địa bàn đang có dự án Trang trại chăn nuôi bò cái giống theo Quy chuẩn quốc gia và bò thịt chất lượng cao do Công ty TNHH Chăn nuôi Thuận Đức làm chủ đầu tư và Dự án Trang trại chăn nuôi gia súc chất lượng cao mang tên Sông Trà do Công ty TNHH Sản xuất thương mại dịch vụ Sông Trà Quảng Ngãi làm chủ đầu tư
Trang 154.02 0.9
0.83
2
Hộ xuất chuông
Hộ xuất chuồng 2 con
Hộ xuất chuồng 3 con
Hộ xuất chuồng 4 con
Hộ xuất chuồng từ 5
-8 con
Hình 2.5 Tỷ lệ số lượng bò xuất chuồng
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra 2016
Theo số liệu điều tra cho thấy số lượng bò xuất chuồng trong năm 2016 của các hộ điều tra bình quân 2,2 con, hộ nhiều nhất là 8 con và hộ ít nhất là 1 con Tỷ lệ số hộ xuất chuồng 1 con chiếm 34%,
2 con là 40,2% và 3 con 9,1% và 4 con là 8,3% Từ 5 tới 8 con chỉ hơn 2% mỗi nhóm Lượng xuất chuồng này do quy mô chăn nuôi bò thịt còn nhỏ nên lượng xuất chuồng ít
15
35 40
10
Dưới 100kg
Từ 100kg - 125kg
Từ 125kg - 150kg Trên 150kg
Hình 2.6 Tỷ trọng các nhóm trọng lượng xuất chuồng
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra – 2016)
Hình 2.6 mô tả tỷ trọng các nhóm trọng lượng xuất chuồng của đàn bò các hộ điều tra Dưới 100 kg khi xuất chuồng chiếm 15%,
từ 100kg - 125 kg là 35%, từ 125kg - 150kg là 40%, trên 150kg là