Kiến thức: Cung cấp và phát triển cho người học những kiến thức cơ bản về văn miêu tả và văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt tiểu học như khái niệm, đặc điểm, nội dung, mục đích yê
Trang 1HỌC PHẦN: RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN BẢN Ở TIỂU HỌC
CHƯƠNG I: RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN BẢN MIÊU TẢ
MỤC TIÊU
1 Kiến thức: Cung cấp và phát triển cho người học những kiến thức cơ bản về văn miêu tả và văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt tiểu học như khái niệm, đặc điểm, nội dung, mục đích yêu cầu của việc dạy văn miêu tả cho học sinh tiểu học, các kiểu bài làm văn miêu tả, các bước tạo lập văn bản miêu tả
2 Kĩ năng: Rèn luyện và phát triển cho người học kĩ năng quan sát, tìm hiểu đối tượng miêu tả, tìm ý, lập dàn ý cho bài văn miêu tả, thực hành viết đoạn văn, bài văn miêu tả; người học có kĩ năng hướng dẫn học sinh tiểu học quan sát, tìm hiểu đối tượng và tạo lập văn bản miêu tả theo từng kiểu bài cụ thể một cách thành thạo, hành văn đúng yêu cầu, đúng phong cách văn bản và phát huy cá tính sáng tạo trong quá trình tạo lập văn bản.
3 Thái độ: Giúp người học có ý thức tự rèn luyện khả năng hành văn của bản thân; rèn luyện và sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực, đúng phong cách, đạt hiệu quả; trau dồi các kiến thức về văn học, nghệ thuật góp phần giảng dạy tốt hơn bộ môn Tiếng Việt ở trường tiểu học
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN MIÊU TẢ
1 Khái niệm văn bản miêu tả
Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, Viện ngôn ngữ, miêu tả là "dùng
ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hìnhdung được cụ thể sự vật, sự việc, hoặc thế giới nội tâm của con người" [TĐTV, 632] Như vậy, miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh, cảm xúc làm cho ngườinghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc như
Trang 2còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượngđược miêu tả Một bài văn miêu tả hay còn thể hiện khả năng quan sát tinh tế củangười viết, những rung động, tâm hồn nhạy cảm, trí tưởng tượng phong phú củangười viết đối với các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày.
Ví dụ văn bản miêu tả hoa sấu của Băng Sơn:
Mùa hoa sấu Vào những ngày cuối xuân, đầu hạ, khi nhiều loài cây đã khoác màu áo mới thì cây sấu mới bắt đầu chuyển mình thay lá Đi dưới rặng sấu, ta sẽ gặp những chiếc lá nghịch ngợm Nó quay tròn trước mặt, đậu lên đầu, lên vai ta rồi mới bay đi Nhưng ít
ai nắm được một chiếc lá đang rơi như vậy.
Từ những cành sấu non bật ra những chùm hoa trắng muốt, nhỏ như những chiếc chuông tí hon Hoa sấu thơm nhẹ Vị hoa chua chua thấm vào đầu lưỡi, tưởng như vị nắng non của mùa hè mới đến vừa đọng lại.
(Băng Sơn, Tiếng Việt 3, tập 1, NXB Giáo dục, 2007, tr.73)
2 Đặc điểm của văn bản miêu tả
a Tính chân thật
Văn miêu tả không phải là sự sao chép, thu lượm thông tin một cách máy móc
mà là kết quả của sự quan sát, nhận xét tinh tế của mỗi người trước một cảnh vật, mộtđối tượng Văn miêu tả thể hiện bản sắc, cái "tôi" của mỗi người Bởi trước một sự vật,hiện tượng giống nhau nhưng mỗi người lại có một cách quan sát, đánh giá, thể hiệntình cảm khác nhau, tùy thuộc vào vốn kiến thức, kinh nghiệm, tâm lí, tính cách, sựtinh tế, nhạy cảm và trí tưởng tượng của mỗi người
Tuy nhiên, dù trí tưởng tượng có bay bổng đến đâu thì văn miêu tả cũng cần thiếtphải thể hiện sự chân thực Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăncản sự sáng tạo của người viết nhưng đồng thời cũng không cho phép người viết "bịađặt" một cách tùy ý, vô căn cứ Bởi miêu tả dù sáng tạo đến đâu cũng không thể xa rờibản chất của đối tượng miêu tả Chẳng hạn, trong đoạn thơ miêu tả hoa lựu, quả lựucủa Phạm Hổ:
Hoa như lửa bay
Trang 3Quả sơn vàng bóng Hạt nằm như ong Từng bọng, từng bọng
Bông hoa lựu được tác giả tưởng tượng như những đốm lửa đáng tóa ra sắc đỏrực rỡ, như đang nhảy múa hết sức sinh động Màu sắc bên ngoài quả lựu được tác giảtưởng tượng và so sánh như được sơn một lớp sơn "vàng bóng", những hạt lựu bêntrong giống như những chú ong nằm khít vào nhau "từng bọng, từng bọng" Hình ảnhthơ rất sinh động, gợi cảm bởi cách tưởng tượng, so sánh tinh tế mà vẫn lột tả bản chấtcủa hoa lựu, quả lựu, khiến người đọc có thể hình dung ra ngay đặc điểm của sự vậtkhi đọc những câu thơ này
Bất kì một bài văn miêu tả nào dù hay đến mấy cũng phải làm nổi bật đặc điểmbản chất của đối tượng một cách chọn lọc, tinh tế, khéo léo Nhờ tính chân thật mà mỗikhi đọc bài văn miêu tả, người đọc gặp lại những sự vật, đối tượng quen thuộc, gần gũitrong cuộc sống hàng ngày
b Tính sinh động và tạo hình
Sinh động và tạo hình vừa là đặc trưng vừa là tiêu chí đánh giá một bài văn miêu
tả hay Tính sinh động và tạo hình chính là hệ quả của tính cụ thể, chân thực và sángtạo trong văn miêu tả Nó đòi hỏi người viết dù có miêu tả đối tượng nào, ở góc độ nàocũng phải tạo được sự hấp dẫn, truyền cảm đối với người đọc Muốn vậy, khi miêu tả,người viết cần thổi hồn vào những trang văn hơi thở của tình cảm, cảm xúc, khơi gợi
ấn tượng cho người đọc, người nghe
Một bài văn miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật, phongcảnh, con người trong đó hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sốngthực, tưởng có thể cầm nắm được, nhìn ngắm được
Vầng trăng quê em Vầng trăng vàng thắm đang từ từ nhô lên sau lũy tre làng Làn gió nồm nam thổi mát rượi Trăng óng ánh trên hàm răng, trăng đậu vào đáy mắt Trăng ôm ấp mái tóc bạc của các cụ già.
Khuya Làng quê em đã vào giấc ngủ Chỉ có vầng trăng vẫn thao thức như canh gác trong đêm.
Trang 4(Theo Phan Sĩ Châu, Tiếng Việt 3, tập 1, NXB Giáo dục, 2007, trang 142)
Trong văn miêu tả, để làm nổi bật đối tượng, người viết thường sử dụng cácphương tiện, biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa Nhờ có các phép tu từ này
mà sự vật, hiện tượng trở nên cụ thể, hình ảnh, sinh động, có hồn
c Tính thông báo thẩm mĩ và chứa đựng tình cảm của người viết
Để có được một văn bản miêu tả hay, bất kì người viết nào cũng quan sát, đánhgiá và tái hiện lại đối tượng theo quan điểm thẩm mĩ, gửi trong bài viết tình cảm, ýkiến, suy nghĩ nhất định của mình Do vậy, từng chi tiết, hình ảnh trong bài văn miêu
tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ quan của người viết
1 Phía sau làng tôi có một con sông lớn chảy qua Bốn mùa sông đầy nước Mùa
hè, sông đỏ lựng phù sa với những con lũ dâng đầy Mùa thu, mùa đông, những bãi cát non nổi lên, dân làng tôi thường xới đất, xỉa đỗ, tra ngô, kịp gieo trồng một vụ trước khi những con lũ năm sau đổ về.
2 Tôi yêu con sông vì nhiều lẽ, trong đó một hình ảnh tôi cho là đẹp nhất, đó là những cánh buồm Có những ngày nắng đẹp trời trong, những cánh buồm xuôi ngược giữa dòng sông phẳng lặng Có cánh màu nâu như màu áo của mẹ tôi Có cánh màu trắng như màu áo chị tôi Có cánh màu xám bạc như màu áo bố tôi suốt ngày vất vả trên cánh đồng Những cánh buồm đi như rong chơi, nhưng thực ra nó đang đẩy con thuyền chở đầy hàng hóa Từ bờ tre làng, tôi vẫn gặp những cánh buồm lên ngược về xuôi Lá cờ nhỏ trên đỉnh cột buồm phấp phới trong gió như bàn tay tí xíu vẫy vẫy bọn trẻ chúng tôi Còn lá buồm thì cứ căng phồng như ngực người khổng lồ đẩy thuyền đi đến chốn, về đến nơi, mọi ngả mọi miền, cần cù, nhẫn nại, suốt năm, suốt tháng, bất
kể ngày đêm.
3 Những cánh buồm chung thủy cùng con người, vượt qua bao sóng nước, thời gian Đến nay, đã có những con tàu to lớn, có thể vượt biển khơi Nhưng những cánh buồm vẫn sống cùng sông nước và con người.
(Theo Băng Sơn, Tiếng Việt 5, tập 1, NXB GD, 2007, tr 175- 176)
d Ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh
Khác với các loại văn bản khoa học, ngôn ngữ trong văn bản miêu tả là thứ ngônngữ được trau chuốt, chọn lọc, giàu cảm xúc và hình ảnh, có thể gây ấn tượng mạnh,
Trang 5tác động sâu xa trong trí tưởng tượng và cảm nhận của người đọc Ngôn ngữ trong vănmiêu tả có khả năng diễn tả cảm xúc của người viết, vẽ ra một cách sinh động, tạo hìnhđối tượng miêu tả Ngôn ngữ trong văn miêu tả biểu hiện những cung bậc cảm xúckhác nhau của người viết về đối tượng miêu tả Tạo nên màu sắc của cảm xúc và hìnhảnh, người viết phải phối hợp các từ loại động từ, tính từ với các phép tu từ so sánh,nhân hóa, ẩn dụ để tạo nên những hình ảnh ngôn ngữ sinh động, gợi cảm.
Phượng không phải là một đóa, không phải vài cành; phượng đây là cả một loạt,
cả một vùng, cả một góc trời đỏ rực Mỗi hoa chỉ là một phần tử của cả xã hội thắm tươi; người ta quên đóa hoa, chỉ nghĩ đến cây, đến hàng, đến những tán hoa lớn xòe
ra như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau.
Nhưng hoa càng đỏ, lá lại càng xanh Vừa buồn mà lại vừa vui mới thực sự là nỗi niềm bông phượng Hoa phượng là hoa học trò Mùa xuân, phượng ra lá Lá xanh
um, mát rượi, ngon lành như lá me non Lá ban đầu xếp lại, còn e ấp, dần dần xòe ra cho gió đưa đẩy
(Hoa học trò, Xuân Diệu, Tiếng Việt 4, tập 2, NXB GD, 2007, tr.43)
II VĂN MIÊU TẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC
1 Nội dung chương trình
a Chương trình dạy học đoạn văn miêu tả lớp 2, 3
2
20 Tả ngắn: Tả ngắn về bốn mùa 21
21 Tả ngắn: Tả ngắn về loài chim 31
22 Sắp xếp câu thành đoạn văn 39
Trang 63 12 Nói, viết về cảnh đẹp đất nước 102
Ở chương trình lớp 2, 3 kiểu bài tả ngắn và nói, viết theo đề tài mới chỉ yêu cầuhọc sinh viết những đoạn văn ngắn với số lượng câu hạn định: từ 5 đến 7 câu
b Chương trình văn miêu tả lớp 4, 5
Học kì 1 Học kì 2 Cả năm
Cấu tạo của bài văn miêu tả đồ vật 1 1
Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật 1 1
Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối 1 1
Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối 2 2
Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối 1 1
Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối 3 3
Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật 1 1
Luyện tập miêu tả các bộ phận của con vật 1 1
Trang 7Luyện tập (quan sát và chọn lọc chi tiết) 1 1
* Ôn tập về miêu tả (tả đồ vật, tả cây cối, tả
con vật, tả cảnh, tả người)
Nhìn vào bảng thống kê có thể thấy trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, vănmiêu tả chiếm một vị trí quan trọng Ở lớp 4, văn miêu tả được dạy 30/62 tiết với ba
kiểu bài cụ thể: Tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật Chương trình TLV lớp 5 tiếp tục dạy
về văn miêu tả với hai kiểu bài: Tả cảnh – 15 tiết, tả người – 12 tiết và 10 tiết ôn tập
về 5 kiểu bài văn miêu tả Như vậy, có thể thấy văn miêu tả ở lớp 4, 5 chiếm tỉ lệ trêndưới 50% tổng thời lượng các tiết dạy học tập làm văn cho học sinh
2 Mục đích, yêu cầu
Mục đích của việc dạy văn miêu tả ở tiểu học, giúp học sinh có thói quen quansát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết truyềnnhững rung cảm của mình vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng những từ ngữ có giá trịbiểu cảm, những câu văn sáng rõ về nội dung, chân thực về tình cảm Một bài văn hay
là một bài văn mà khi đọc, người đọc thấy hiện ra trước mắt mình: con người, cảnhvật, đồ vật,…cụ thể, sống động như nó vẫn tồn tại trong thực tế cuộc sống Như vậy,
có thể xem văn miêu tả là một bức tranh về sự vật bằng ngôn từ Và để làm tốt một bàivăn miêu tả, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học Kiếnthức của các môn học này cộng với vốn sống thực tế sẽ giúp học sinh trình bày suy
Trang 8nghĩ của mình một cách mạch lạc và sống động Qua đó, bồi dưỡng cho các em tìnhyêu quê hương đất nước, vốn sống, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp.
Nội dung chương trình chú trọng luyện tập và thực hành nhằm rèn luyện các kĩnăng bộ phận, đồng thời bước đầu hình thành những tri thức sơ giản về văn bản nhưkết cấu 3 phần của văn bản (mở bài, thân bài, kết luận), đặc điểm, phương pháp làmbài kiểu bài văn miêu tả cụ thể Học sinh được học tập để hình thành và rèn luyện các
kĩ năng sản sinh văn bản như: kĩ năng phân tích đề; kĩ năng tìm ý và lập dàn ý; kĩ nănglựa chọn từ ngữ, tạo câu, viết đoạn và bài văn; kĩ năng đánh giá và sửa chữa văn bản.Các kĩ năng này được tổ chức học tập và rèn luyện cho học sinh qua nhiều bước, mỗibước đều có yêu cầu cụ thể và vận dụng những kiến thức đã biết để hình thành pháttriển một loại kĩ năng bộ phận, làm tiền đề cho các bước học tập tiếp theo của họcsinh
Điểm đáng chú ý của chương trình là các bài tập làm văn miêu tả đều gắn với cácchủ điểm Do vậy, trong quá trình thực hiện các kĩ năng trên học sinh được mở rộngvốn từ theo chủ đề, chủ điểm, được nói lên tâm tư, tình cảm của mình, mở rộng vốnhiểu biết về cuộc sống Từ đó, tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và tiếptục phát triển
III RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ THEO CÁC DẠNG BÀI
1 Rèn kĩ năng quan sát, tìm hiểu đối tượng
a Quan sát
Trong văn miêu tả, quan sát rất quan trọng Việc quan sát và vị trí quan sát tốt,góc quan sát phù hợp: xa hay gần, trong hay ngoài, ban ngày hay ban đêm, mùa xuân
hay mùa hạ,… sẽ giúp ta nắm được cái thần của đối tượng, cảm nhận đối tượng một
cách rõ ràng, cụ thể và tinh tế hơn Có thể thấy, qua quan sát của Tô Hoài mà chú gà
chọi hiện lên với những nét khác thường Từ đôi chân cứng lẳn như hai thanh sắt phủ đầy những vẩy lớn sắp vàng đến bộ mặt tím lịm, lùi xùi những mào, những tai và những mấy cái ria mép Nổi bật lên trên tất cả là màu của da: đỏ gay, đỏ gắt, đỏ tía, đỏ bóng Rõ ràng đây là một chú gà không giống bất cứ một chú gà nào khác Tô Hoài đã
tìm được những nét chính, nét riêng biệt của chú gà chọi
Trang 9Quan sát đối tượng không chỉ bằng thị giác như các em vẫn nghĩ, mà phải biếthuy động mọi giác quan: thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), xúc giác (sờ, nắm), vịgiác (nếm) Những đoạn văn hay và hấp dẫn là kết tinh thành công của tác giả trongviệc dùng nhiều giác quan để quan sát Cũng tả về gà nhưng nhà văn Võ Quảng lại đivào tả cụ thể ba con gà Mỗi con một dáng vẻ, một đặc điểm sinh động về tính cách.Trình tự miêu tả đi từ tiếng gáy (thính giác), đến màu sắc, hình dáng và hoạt động (thịgiác), để từ đó làm nổi bật lên tính cách của từng con (nội tâm): Con gà của anh Bốn
Linh: tiếng gáy dõng dạc, dáng đi oai vệ, kiêu hãnh, cái vẻ phớt lờ, thách thức; Còn con gà của ông Bảy Hoá lại có: bộ mã khá đẹp, lông trắng, mỏ búp chuối, mào có hai cánh như hai vỏ trai úp Đặc điểm ngoại hình ấy tạo nên ưu thế “láo khoét”, thích “tán
tỉnh” của chú gà này Cuối cùng là con gà của bà Kiến, một chú gà trống tơ, không
đẹp, không khoẻ: Lông đen, chân chì, bộ giò cao, cổ ngắn Tính nết bộc lộ rất rõ trong
tư thế: Nó xoè cánh, nghển cổ, chuẩn bị chu đáo, nhưng rốt cuộc chỉ rặn được ba tiếng éc, e, ê cụt ngủn.
Tuy nhiên, tuỳ từng kiểu bài ta có những cách quan sát khác nhau Đối với kiểu
bài tả đồ vật ta có thể quan sát theo trình tự: mắt nhìn, tay sờ, tai nghe, mũi ngửi,… nhưng đối với bài văn tả cây cối cần phải quan sát theo một trình tự: từ xa đến gần, từ
bao quát đến bộ phận, quan sát nét khác biệt của cây đó với cây khác Đối với bài văn
tả loài vật ta quan sát: ngoại hình rồi mới đến những thói quen sinh hoạt và những hoạt động của con vật Còn đối với bài văn tả cảnh, ta quan sát theo trình tự: thời gian, theo đặc điểm nổi bật của cảnh và theo từng góc độ của cảnh Với bài văn tả người, lại cần phải quan sát kĩ về: ngoại hình (tầm vóc, cách ăn mặc, khuôn mặt, mái
tóc, cặp mắt, hàm răng,…); về tính tình và hoạt động (lời nói, cử chỉ, thói quen, cách
cư xử với người khác, việc làm…)
Trong tự nhiên, mỗi sự vật có một đặc điểm riêng, chỉ khi nào ta nắm được đặcđiểm riêng đó của sự vật thì khi viết ra mới có hình ảnh như thật Thế nhưng, chỉ làmnổi bật đặc điểm bên ngoài thôi chưa đủ, mà cần nêu được cái đặc sắc ẩn chứa bêntrong sự vật đó để nói lên những suy tư, những tình cảm không chỉ của người viết gửigắm vào đó mà còn là của sự vật đó Muốn làm được điều này, dứt khoát phải có sựquan sát tinh tế và phải có được những phát hiện rất riêng về đối tượng và rung cảmvới nó Người đọc đã thực sự bất ngờ và thích thú trước những phát hiện độc đáo, mới
Trang 10mẻ của Trần Đăng Khoa khi tả: “Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi”; “Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” của chiếc lá đa rụng trong đêm vắng
b Ghi chép
Quan sát luôn đi liền ghi chép Ghi chép làm giàu thêm cho trí nhớ, ghi chép giúpcác em học sinh lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh đặc sắc Vậy thì phải ghichép thế nào? Cần phải xây dựng cho học sinh thói quen ghi chép khi quan sát Phảighi được những đặc điểm cơ bản: hình dạng, màu sắc, hoạt động,… của đối tượng, hãy
cố tìm và viết được những điều mà người khác không nhìn thấy để bài viết của mình
có cái mới, cái riêng, cái độc đáo
Quan sát và biết ghi chép lại những gì đã quan sát một cách có chọn lựa, đó làmột yếu tố rất quan trọng trong học tập phân môn Tập làm văn, đặc biệt là ở kiểu bàivăn miêu tả đối với học sinh tiểu học
2 Kĩ năng tìm ý, lập dàn ý
a Vai trò của dàn ý
Để có được bất kì một bài văn dù ngắn hay dài, người viết cũng không thể bỏ quakhâu lập dàn ý Dàn ý còn gọi là dàn bài hay đề cương, là sự sắp xếp những điều cốtyếu trong một bài văn, là hệ thống những ý chính trong một bài văn nói hoặc viết Dàn
ý giúp định hướng một cách bao quát, toàn cục nội dung chủ yếu và những yêu cầu cơbản mà bài viết cần đạt được theo yêu cầu của đề bài Nắm vững kĩ năng lập dàn ý,người viết văn sẽ có một bài viết có hệ thống và lô gic cao, đúng và đủ ý, tránh hiệntượng lạc đề hay bài văn lủng củng Nhờ có sự định hướng đùng từ dàn ý sẽ làm chovăn bản triển khai đúng trọng tâm, chặt chẽ và mạch lạc
b Các loại dàn ý
Dàn ý của một bài văn miêu tả cũng như dàn ý của bài văn phổ biến chung gồm
có ba phần: phần mở bài (đặt vấn đề), phần thân bài (giải quyết vấn đề), phần kết luận(kết thúc vấn đề)
Dàn ý của bài văn miêu tả thông thường có hai loại: dàn ý đại cương và dàn ý chitiết
* Dàn ý đại cương: là dàn ý chỉ ghi những hệ thống đề mục lớn nhất, những ýchủ yếu nhất Nhìn vào dàn ý đại cương người đọc sẽ thấy các ý chính của bài, thấy
Trang 11ngay người làm có bám sát yêu cầu của đề bài hay không Một dàn bài tốt là một dànbài bao quát toàn bộ nội dung và phạm vi vấn đề do đề bài nêu ra.
Dàn ý đại cương gồm ba phần:
1 Mở bài: Giới thiệu về đối tượng cần miêu tả
2 Thân bài:
- Luận điểm 1, luận cứ 1, luận cứ 2
- Luận điểm 2, luận cứ 1, luận cứ 2
3 Kết bài: nêu cảm nghĩ, nhận xét, đánh giá
Dàn ý đại cương là cái khung bước đầu, tập trung các ý chính để người viết hìnhdung được bài viết, cách viết của mình
* Dàn ý chi tiết: lấy cơ sở từ dàn ý đại cương, ngoài các luận điểm, luận cứ còn
có các ý nhỏ phát triển, các ý chi tiết, cụ thể hóa từ các ý lớn Dàn ý chi tiết sẽ giúpngười viết hình dung cụ thể hơn các bộ phận của bài viết, nhằm giúp chúng ta chuẩn bịtốt hơn cho chất lượng bài viết Người viết đưa các ý chi tiết, cụ thể trong dàn ý chi tiết
để lắp ráp hành văn cho hoàn chỉnh
c Các đề mục trong dàn ý
Đề mục trong dàn ý thể hiện ý lớn ý nhỏ của bài văn Mỗi dàn ý thường bao gồmmột hệ thống các đề mục Một điều hết sức lưu ý là các đề mục đó phải được sắp xếptheo cùng một hệ thống tương ứng với nhau và theo cùng một trình tự chặt chẽ
d Ngôn ngữ trong dàn ý
Ngôn ngữ trong dàn ý không đòi hỏi phải viết thành câu hoàn chỉnh như khi viếtthành bài văn, mà viết vắn tắt, thường là những câu không đầy đủ thành phần chủ - vịngữ, hoặc những câu rút gọn Cách viết như vậy sẽ giúp chúng ta ghi được nhiều ý, tiếtkiệm thời gian
3 Kĩ năng viết đoạn văn miêu tả
Quy trình hướng dẫn học sinh thực hành xây dựng đoạn văn Giáo viên hướngdẫn học sinh dựng đoạn theo các bước sau:
1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu yêu cầu của đề bài
Trang 122 Hướng dẫn học sinh thực hiện yêu cầu của bài
3 Học sinh thực hành kĩ năng
4 Đánh giá, nhận xét kết quả thực hành
4 Kĩ năng viết bài văn
Mỗi đoạn văn là một phần của bài văn Vì vậy, để viết được bài văn học sinh cần
có kĩ năng liên kết đoạn văn thành bài văn Khi viết hết mỗi đoạn, học sinh cần xuốngdòng, lời văn phải chân thực, giàu cảm xúc, hình ảnh, gợi tả, gợi cảm
Các đoạn văn trong bài phải được liên kết với nhau cùng hướng vào một nộidung, tạo thành một bài văn hoàn chỉnh
Về nội dung: các đoạn văn cùng hướng về một chủ đề, một đối tượng miêu tả
Về hình thức: để thành một bài văn hoàn chỉnh, người viết phải dùng các phépliên kết (phép nối, phép lặp, phép thế ), phát hiện mối quan hệ giữa các đoạn văn đểthực hành liên kết các đoạn thành bài
TÓM TẮT CHƯƠNG I
Nội dung của chương cung cấp những kiến thức cơ bản về văn miêu tả như kháiniệm, đặc điểm, nội dung, mục đích yêu cầu của việc dạy văn miêu tả cho học sinhtiểu học, các kiểu bài làm văn miêu tả, các bước tạo lập văn bản miêu tả Tiếp theo là
hệ thống các bài tập tương ứng với các đơn vị kiến thức giúp người học được thựchành ngay sau khi học các đơn vị kiến thức cụ thể
CÂU HỎI ÔN TẬP/ BÀI TẬP
1 Những đặc điểm của văn miêu tả có ảnh hưởng như thế nào đến việc rèn luyện
kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học?
2 Nhận xét chương trình dạy học văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt tiểuhọc
3 Thực hành kĩ năng tìm ý, lập dàn ý cho các đề văn miêu tả sau đây:
- Tả cái trống trường em
- Tả cây bàng trong sân trường em
- Tả một đồ vật mà em yêu thích, gắn bó thân thiết với em
Trang 13- Tả một con vật nuôi trong nhà mà em yêu thích
- Tả ngoại hình của cô giáo lớp em
- Tả hình dáng của một người thân yêu nhất đối với em
- Tả một cây non mới trồng
- Tả một cây cổ thụ
- Tả chiếc cặp sách của em
- Tả cái bàn học ở lớp hoặc ở nhà của em
- Tả một ngày mới bắt đầu ở quê em
- Tả một đêm trăng đẹp
4 Thực hành viết các đoạn văn: mở bài, thân bài, kết bài cho các đề văn trên
5 Thực hành kĩ năng liên kết các đoạn văn thành bài văn cho các đề văn miêu tảtrên
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
1 Tìm hiểu về nội dung chương trình dạy văn miêu tả trong chương trình TiếngViệt Tiểu học
2 Khái quát mục đích, yêu cầu của việc dạy văn miêu tả cho học sinh tiểu học
3 Quan sát tranh, ảnh về đối tượng miêu tả và nêu đặc điểm của đối tượng
4 Thực hành viết đoạn văn miêu tả ngắn
5 Thực hành viết bài văn miêu tả
GỢI Ý TRẢ LỜI/ GIẢI BÀI TẬP
1 Những đặc điểm của văn miêu tả có ảnh hưởng như thế nào đến việc rèn luyện
kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học?
Những đặc điểm của văn miêu tả là: Tính chân thật, sinh động và tạo hình, tính thông báo thẩm mĩ và chứa đựng tình cảm của người viết, ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh.
Những đặc điểm này đòi hỏi người giáo viên tiểu học khi dạy học sinh làm vănmiêu tả cần chú ý rèn luyện cho các em kĩ năng viết được bài văn miêu tả theo các
Trang 14dạng bài đảm bảo được những đặc điểm trên Nếu bài văn chưa thể hiện các đặc điểmtrên thì chưa thể đáp ứng yêu cầu của một bài văn miêu tả.
3 Hướng dẫn lập dàn ý cho bài tả con lợn
a Mở bài: Giới thiệu con lợn
+ Phàm ăn, đói là kêu inh tai, khi ăn táp lấy táp để
+ Ưa nằm, hay ngủ và biết chọn chỗ sạch
+ Thích được tắm, khi em kì cọ mắt nó lim dim
c Kết bài:
- Nêu ích lợi của con lợn
- Nêu cảm nghĩ của em về con lợn
Trang 15CHƯƠNG II: RÈN KĨ NĂNG VIẾT THƯ
MỤC TIÊU
1 Kiến thức: Cung cấp và phát triển cho người học những kiến thức cơ bản về văn viết thư và văn viết thư trong chương trình Tiếng Việt tiểu học như khái niệm, đặc điểm, nội dung, mục đích yêu cầu của việc dạy văn viết thư cho học sinh tiểu học, bố cục bài văn viết thư, các bước tạo lập một bài văn viết thư.
2 Kĩ năng: Rèn luyện và phát triển cho người học kĩ năng phân tích, tìm hiểu yêu cầu của một bài văn viết thư cụ thể, kĩ năng diễn đạt hiệu quả, biểu cảm trong bài văn viết thư; kĩ năng hướng dẫn học sinh tiểu học tìm hiểu, phân tích yêu cầu của đề bài văn viết thư, các bước tạo lập một bài văn viết thư theo yêu cầu cụ thể một cách thành thạo, hành văn đúng yêu cầu, đúng phong cách văn bản và phát huy cá tính sáng tạo trong quá trình tạo lập văn bản.
3 Thái độ: Giúp người học có ý thức tự rèn luyện khả năng hành văn của bản thân; rèn luyện và sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực, đúng phong cách, đạt hiệu quả; trau dồi các kiến thức về văn học, nghệ thuật góp phần giảng dạy tốt hơn bộ môn Tiếng Việt ở trường tiểu học
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN VIẾT THƯ
1 Khái niệm văn viết thư
Viết thư là một thể loại văn bản nhật dụng mà người viết dùng để thăm hỏi, thôngbáo tin tức, trao đổi ý kiến, chia sẻ vui buồn, bày tỏ tình cảm với bạn bè, người thânhoặc những người mình yêu mến
Như vậy, thể loại văn viết thư là một thể loại nhằm mục đích chủ yếu để trao đổithông tin và bày tỏ tình cảm giữa những con người thường có khoảng cách xa vềkhông gian địa lí (hoặc trong những trường hợp khó giãi bày, khó nói chuyện một cáchtrực tiếp)
2 Đặc điểm văn viết thư
Văn viết thư khác với văn miêu tả hay kể chuyện ở chỗ đây là một kiểu văn bảnnhật dụng, có thể được sử dụng phổ biến trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Trước
Trang 16đây, khi chưa có sự phát triển về công nghệ thông tin và truyền thông, internet thì viếtthư là cách phổ biến và hữu ích để trao đổi thông tin, suy nghĩ, tình cảm giữa nhữngngười có khoảng cách xa về không gian địa lí Là một kiểu văn bản nhật dụng, viết thư
có cấu trúc khá rõ ràng, mạch lạc với những yêu cầu cụ thể cho từng phần: đầu thư,chính thư, kết thư Điều này sẽ được trình bày cụ thể trong phần bố cục bài văn viếtthư ở phần sau
Do được sử dụng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày nên văn viết thư thường sửdụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với ngôn ngữ đời sống nhưng không khô khan màngược lại chứa đựng tình cảm, cảm xúc của người viết với mong mỏi được chia sẻ vớingười nhận thư
Tùy theo nội dung và mục đích viết thư, trong văn viết thư cũng có thể sử dụngcác phương tiện và biện pháp nghệ thuật, tu từ Nhưng chủ yếu dùng để diễn tả suynghĩ, tình cảm, cảm xúc của người nói, người viết với người đọc thư
Nhiều bạn cho rằng: học viết thư bây giờ là "cổ" quá, cần thông tin gì thì "chat"qua thư điện tử hoặc điện thoại hỏi thăm Nhưng viết thư cũng là một nét văn hóa đẹp
mà các em cần biết và cũng cần có thói quen viết thư Rất nhiều bức thư đã đi vào lịch
sử như: Bức thư của Bác Hồ gửi học sinh nhân ngày khai trường, Bức thư của tổngthống Mĩ Abraham Lincoln gửi thầy hiệu trưởng ngôi trường nơi con mình học Viếtthư không hề khó, không quan trọng ở vấn đề viết dài hay ngắn mà cần thiết là bày tỏđược tình cảm chân thành của mình với người nhận thư
II VĂN VIẾT THƯ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC
1 Nội dung chương trình
Học sinh tiểu học bắt đầu được học và rèn luyện kĩ năng viết thư từ lớp 3, và tiếptục bước sang chương trình lớp 4, với số lượng các bài cụ thể như sau:
5 Viết thư (Kiểm tra viết) 52
Trang 17Như vậy, có thể thấy số lượng các tiết học và rèn kĩ năng viết thư cho HS tiểuhọc không nhiều Nhưng đây cũng là một kĩ năng khá quan trọng trong quá trình họctập và giao tiếp của HS, cần thiết được rèn luyện.
2 Mục đích, yêu cầu
Mục đích các bài văn viết thư là giúp HS biết cách tạo lập một văn bản ngắndùng để trao đổi thông tin, thăm hỏi, chia sẻ tình cảm, cảm xúc với bạn bè, người thân.Đây cũng là một cách giúp HS được rèn luyện cách chia sẻ tình cảm một cách chânthành, giúp các em biết cách tạo dựng mối quan hệ bạn bè, tiền đề để sau này các em
sẽ mở rộng những mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống
Các bài tập làm văn viết thư chủ yếu yêu cầu HS biết cách viết một bức thư ngắngửi cho bạn bè, người thân trao đổi, chia sẻ những thông tin, suy nghĩ xung quanh việchọc tập và cuộc sống hàng ngày của các em Đây cũng là cách giúp các em biết thểhiện tình cảm, biết quan tâm đến những người xung quanh trong cuộc sống hàng ngàycủa các em
III RÈN KĨ NĂNG VIẾT THƯ
1 Bố cục bài văn viết thư
Muốn viết được một bức thư, các em cần chú ý cấu trúc sau:
a) Phần đầu thư:
- Nơi và ngày tháng năm viết thư (VD: Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2015 )
- Lời xưng hô với người nhận thư: có thể coi đây là lời chào đối với những
người nhận thư, thường viết là: Ông bà xa nhớ!; Bố kinh yêu!; Lan thân mến! không viết là: Chào bạn!; Con chào bố! như gặp gỡ thông thường.
b) Phần nội dung chính của bức thư:
- Lí do, mục đích viết thư: không nhất thiết phải nêu rõ mình viết thư cho bạn
(cho ông bà, bố mẹ ) để làm gì Có thể nêu lí do ngắn gọn: Lâu lắm mình không được gặp bạn Mình rất nhớ bạn Hôm nay mình viết thư cho bạn đây.
- Hỏi thăm người nhận thư: Nêu các câu hỏi về những vấn đề mình cần biết về người nhận thư Thông thường có thể hỏi thăm sức khỏe, gia đình, công việc hay một số vấn đề nào mà mình quan tâm
- Thông báo tình hình bản thân (sức khỏe, gia đình,việc học tập và nôi dung
Trang 18khác cần trao đổi, báo tin cho người nhận thư (nếu có).
(Cũng có thể xen kẽ phần hỏi thăm và phần thông báo tình hình bản thân: VD: Dạo này Nam và gia đình có khỏe không? Còn tớ vẫn khỏe Từ đầu năm đến giờ cậu được bao nhiêu bông hoa điểm tốt rồi? Chắc cậu vẫn luôn xuất sắc môn Toàn phải không? Còn tớ việc học cũng khá tốt )
c) Phần cuối thư
- Lời chúc: Lời chúc cần chân thành, phù hợp với công việc, vai vế người nhận
thư không nên viết một cách sáo rỗng, "công thức'' Viết cho ông bà có thể là: "Cháu chúc ông bà mạnh khỏe, sống lâu trăm tuổi", nhưng không thể dùng câu này để chúc
bố mẹ, bạn bè
- Lời hứa: Nội dung này không nhất nhất thiết phải có trong mọi bức thư
- Lời chào: trong bức thư lời chào cũng không như lời tạm biệt thông thường,
có thể viết: "Cháu ngoan của ông bà! Con gái yêu của bố! Bạn thân của cậu
- Chữ kí và tên người viết
2 Kĩ năng diễn đạt trong bài văn viết thư
- Nếu viết thư để làm quen thì người viết cần phải giới thiệu tên, tuổi, địa chỉ của mình để người nhận thư biết mình là ai
- Khi viết thư cần hết sức tránh gạch xóa, viết sai chính tả Vì đó là thể hiện sự cẩu thả, thiếu tôn trọng người nhận thư đấy GV cũng cần lưu ý các em HS chú ý trình bày đúng thể thức bức thư: xuống dòng sau mỗi phần
- Để lời lẽ trong thư được tự nhiên, có sự liên kết giữa các phần, GV cần lưu ý các em HS có thêm các câu nói thân mật như: Bà ơi!, Lan à!
- Lời lẽ viết thư phải phù hợp với đối tượng nhận thư: viết cho người trên thì lời
lẽ và xưng hô phải lễ phép, viết cho bạn bè cùng trang lứa thì giọng điệu thân mật, cởi
mở Dù viết cho đối tượng nào thì lời văn, ngôn từ bao giờ cũng cần thể hiện sự chân thành, không sáo rỗng, giả tạo
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Nội dung chương nhằm cung cấp cho người học học những kiến thức cơ bản vềvăn viết thư và văn viết thư trong chương trình Tiếng Việt tiểu học như khái niệm, đặcđiểm, nội dung, mục đích yêu cầu của việc dạy văn viết thư cho học sinh tiểu học, bốcục bài văn viết thư, các bước tạo lập một bài văn viết thư Cuối chương là hệ thống
Trang 19các bài tập rèn luyện kĩ năng viết thư phù hợp với HS lứa tuổi tiểu học, để người học
có điều kiện thực hành thuần thục các kĩ năng sau này sẽ hướng dẫn HS trong quátrình giảng dạy tại các nhà trường
CÂU HỎI ÔN TẬP/ BÀI TẬP
1 Khái niệm văn viết thư, đặc điểm văn viết thư
2 Viết một bức thư cho bạn ở các tỉnh miền Nam (hoặc miền Trung) để làm quen
và hẹn bạn cùng thi đua học tốt
3 Viết một bức thư ngắn (khoảng 10 câu) cho một bạn nước ngoài để làm quen và
tỏ tình thân ái
4 Nhân dịp năm mới, hãy viết thư cho người thân (ông bà, cô giáo cũ, bạn cũ )
để thăm hỏi và chúc mừng năm mới
5 Nhân dịp sinh nhật của một người bạn thân đang ở xa, em hãy viết một bức thư
để thăm hỏi và chúc mừng sinh nhật bạn đó
6 Nghe tin quê bạn bị thiệt hại do bão, lũ em hãy viết thư thăm hỏi và động viênbạn em
7 Nghe tin gia đình người thân có chuyện buồn (có người đau ốm, có ngườimất ) em hãy viết thư thăm hỏi và động viên người đó
3 Nghiên cứu nội dung chương trình dạy viết thư trong SGK Tiếng Việt tiểu học
4 Tập tìm ý, lập dàn ý, viết một bức thư hoàn chỉnh theo yêu cầu của đề bài
GỢI Ý TRẢ LỜI/ GIẢI BÀI TẬP
3 Viết một bức thư ngắn (khoảng 10 câu) cho một bạn nước ngoài để làm quen và
tỏ tình thân ái