1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh lào cai)

128 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu của công trình, có thể xếp thành các nhóm sau: Nhóm các công trình nghiên cứu về lý luận quyết định hình phạt gồm có: Dương Tuyết Miên, “Định tội danh và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN MẠNH THẮNG

QUYếT ĐịNH HìNH PHạT ĐốI VớI NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN

PHạM TộI THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Lào Cai)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN MẠNH THẮNG

QUYếT ĐịNH HìNH PHạT ĐốI VớI NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN

PHạM TộI THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Lào Cai)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Mạnh Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 11

1.1 Khái niệm và các đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội 11

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên 11

1.1.2 Các đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội 17

1.2 Khái niệm và các yêu cầu chung về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên 20

1.2.1 Khái niệm quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 20

1.2.2 Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên 22

1.2.3 Các căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên 28

1.3 Các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội 35

1.3.1 Nguyên tắc áp dụng Bộ luật hình sự 35

1.3.2 Nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự 37

1.3.3 Nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 40

1.4 Các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 43

1.4.1 Hình phạt cảnh cáo 44

1.4.2 Hình phạt tiền 45

Trang 5

1.4.3 Hình phạt cải tạo không giam giữ 46 1.4.4 Tù có thời hạn 46

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 48 2.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về quyết định hình

phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 48

2.1.1 Quyết định hình phạt cảnh cáo đối với người chưa thành niên

phạm tội: 48 2.1.2 Quyết định hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội 49 2.1.3 Quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa

thành niên phạm tội 51 2.1.4 Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành

niên phạm tội 54

2.2 Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên trong

trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 57 2.3 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người chưa thành

niên phạm nhiều tội 60 2.4 Tình hình người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn

quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Lào Cai 64

2.4.1 Khái quát tình hình người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn

tỉnh Lào Cai 64 2.4.2 Tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện theo

từng tội danh cụ thể 66 2.4.3 Thực tiễn quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên

phạm tội trên địa bàn tỉnh Lào Cai 69

Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYẾT

ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐÚNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 92

Trang 6

3.1 Các yêu cầu quyết định hình phạt đúng đối với người chưa

thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Lào Cai 92

3.1.1 Yêu cầu cải cách tư pháp và pháp chế xã hội chủ nghĩa 92

3.1.2 Yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em 93

3.1.3 Yêu cầu phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Lào Cai 94

3.1.4 Yêu cầu của tình hình thực tế tỉnh Lào Cai 95

3.2 Các giải pháp bảo đảm việc quyết định hình phạt đúng đối với người chưa thành niên phạm tội 96

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiê ̣n quy đi ̣nh pháp luâ ̣t hình sự hiê ̣n hành 96

3.2.2 Kiến nghị hoàn thiê ̣n quy đi ̣nh pháp luâ ̣t hình sự về quyết đi ̣nh hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 100

3.2.3 Sớm triển khai , thành lập toà án chuyên trách đối với người chưa thành niên pha ̣m tô ̣i 107

3.2.4 Một số giải pháp khác 110

KẾT LUẬN 114

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng hợp số người chưa thành niên phạm tội trên

địa bàn tỉnh Lào Cai (giai đoạn 2010 – 2014) 65

Bảng 2.2 Các tội danh do người chưa thành niên thực hiện

trên địa bàn tỉnh Lào Cai từ năm 2010 đến năm 2014 66

Bảng 2.3 Tổng số người chưa thành niên bị xét xử theo tội

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

Biểu đồ 2.1 Tổng số người chưa thành niên phạm tội tại Lào Cai

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu tình hình tội phạm do người chưa thành niên

thực hiện căn cứ vào tội phạm cụ thể trong giai đoạn

Biểu đồ 2.3 Tổng hợp kết quả xét xử trong giai đoạn từ 2010-2014 71

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta được coi là sự nghiệp lớn của đất nước, dân tộc Sự nghiệp ấy được đúc kết bởi tư tưởng của

Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi

ích trăm năm phải trồng người” [2, tr 1] Một trong những quan điểm, xuyên

suốt đường lối và các chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển đất nước, trong đó trẻ

em được ví như măng non, là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là chủ nhân tương lai kế tục sự nghiệp phát triển của đất nước Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định:

Chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ

em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức Tuy nhiên, vấn đề người chưa thành niên phạm tội hiện nay vẫn đang thu hút sự quan tâm của xã hội và các cơ quan bảo vệ pháp luật [3, tr 12]

Trong những năm qua và nhất là thời điểm hiện nay, tình trạng người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng diễn biến rất phức tạp Việc giải quyết vấn đề người chưa thành niên phạm tội là việc làm cần thiết để giữ nghiêm ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhưng cũng là một vấn đề phức tạp và tế nhị Trước hết, do xuất phát từ đặc điểm tâm lý đang phát triển, nhân cách chưa được định hình, nhận thức chưa được đầy đủ nên một số em đã có hành vi phạm tội một cách không

tự giác Mặt khác, khi phạm tội các em là những người phạm tội, nhưng đồng thời cũng là những nạn nhân của sự thiếu giáo dục, chăm sóc của gia đình, nhà trường và xã hội; hành động của các em ít nhiều bị chi phối bởi hoàn

Trang 11

cảnh khách quan hoặc bị xúi giục, lừa dối [16, tr 12] Chính vì vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề giải quyết tội phạm về người chưa thành niên là: Vấn đề không phải chỉ đơn giản là xử một vụ án, trừng phạt một tội phạm nào đó, điều quan trọng là phải tìm ra mọi cách để làm giảm bớt những hoạt động phạm pháp và tốt hơn hết là ngăn ngừa đừng để các việc sai

trái ấy xảy ra Trong khi đó, Bộ luật hình sự năm 1999 “một trong những công

cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” [23, tr 4]

lại được ban hành cách đây hơn chục năm đã bộc lộ những nhược điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu của xu thế hội nhập cũng như yêu cầu đấu tranh

có hiệu quả với tình trạng tội phạm nói chung và tội phạm người chưa thành niên nói riêng Đặc biệt là các quy định pháp luật về quyết định hình phạt chưa thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc phòng, chống tội phạm Bên cạnh đó, việc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trên thực tế còn gặp nhiều bất cập do nhận thức và vận dụng không thống nhất

Các quy định như: Căn cứ quyết định hình phạt, quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội, tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội, quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt… dẫn tới làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm người chưa thành niên Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn áp dụng để nhằm hoàn thiện, các quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt đối với họ là vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

Với những lý do trên, Học viên đã lựa chọn đề tài “Quyết định hình phạt đối

Trang 12

với người chưa thành niên phạm tội theo Luật Hình sự Việt Nam (Trên cơ

sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Lào Cai)” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật

học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là một vấn đề mang tính thời sự nóng bỏng và nhạy cảm, được sự quan tâm không chỉ của dư luận xã hội mà còn của các nhà nghiên cứu lập pháp, không chỉ trong nước mà còn cả dư luận quốc tế Kể từ khi nước ta phê chuẩn và tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em (Sau đây viết tắt là Công ước CRC) vào ngày 20/2/1990, đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau liên quan đến vấn đề quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hình sự nước ta, đảm bảo được các quyền và lợi ích cho người chưa thành niên phạm tội, phù hợp với Công ước CRC

Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu của công trình, có thể xếp thành các nhóm sau:

Nhóm các công trình nghiên cứu về lý luận quyết định hình phạt gồm

có: Dương Tuyết Miên, “Định tội danh và quyết định hình phạt”, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội - 2007; Đinh Văn Quế, “Một số vấn đề về

quyết định hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự năm 2009”, Tạp chí tòa

án nhân dân số 16/2005; Nguyễn Đức Tuất, “Quyết định hình phạt thế nào

khi người chưa thành niên chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt”, Tạp

chí Tòa án số 1/2010; Nguyễn Mạnh Tiến, “Bàn về quyết định hình phạt cải

tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội” Tạp chí Tòa án

số 2/2010; Quách Hữu Thái, “Những vướng mắc trong thực tiễn xét xử người

chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Tòa án số 6/2010; Nguyễn Thu Huyền,

“Những vấn đề cần xác định khi chuẩn bị xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là

Trang 13

người chưa thành niên”, Tạp chí Tòa án số 17/2010; Vũ Thị Thúy, “Bàn về việc áp dụng hình phạt trục xuất đối với người chưa thành niên phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam”, tạp chí Tòa án nhân dân số 21/2010; Quách

Thành Vinh, “Mấy vấn đề cần áp dụng đối với người chưa thành niên phạm

tội bị xử phạt tù”, Tạp chí Tòa án số 6/2011; Nguyễn Khắc Quang, “Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội” Tạp chí Tòa án

số 24/2011; Nguyễn Khắc Quang, “Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối

với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Tòa án số 7/2012; Nguyễn

Khắc Quang, “Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt”, Tạp chí Tòa án số 8/2012; Vũ Tuấn Đức và Hà

Hồng Sơn, “Một số vấn đề về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy

định tại Điều 51 Bộ luật hình sự”, Tạp chí Tòa án số 6/2013; Nguyễn Thanh

Vũ, “Những kiến nghị hoàn thiện về trách nhiệm hình sự đối với người chưa

thành niên phạm tội đáp ứng yêu cầu sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Tòa án số 16/2014; Nguyễn Trung Hoan, “Cần sớm sửa đổi,

bổ sung Chương XXXII Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên”, Tạp chí Kiểm sát số 19/2010; Lê Minh Thắng, “Thủ

tục rút gọn với việc đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong tố tụng

hình sự”, Tạp chí Kiểm sát số 6/2012; Vũ Việt Hùng, “Hoàn Thiện các quy

định về người chưa thành niên phạm tội, người bị hại và người làm chứng là trẻ em trong Bộ luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát số 6/2012; Trần

Thanh Thủy, “Sự tham gia của người bào chữa đối với người chưa thành

niên phạm tội”, Tạp chí Kiểm sát số 10/2012; Trương Trường Sơn và Hoàng

Văn Hiệu, “Hoàn thiện các quy định của pháp luật về đảm bảo các quyền của

người chưa thành niên phạm tội”, Trịnh Tiến Việt, “Cần hoàn thiện chương

X Bộ luật hình sự Việt Nam – Những vấn đề quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Tòa án số 7/2014; Nguyễn Lê Tường Vy,

Trang 14

“Căn cứ quyết định hình phạt theo Luật hình sự Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sỹ, TP Hồ Chí Minh năm 2007

Nhóm công trình nêu trên tập trung phân tích các vấn đề lý luận chung liên quan đến việc quyết định hình phạt như: Các căn cứ quyết định hình phạt, điều kiện và cách thức quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt…, nêu lên thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về vấn đề Quyết định hình phạt và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này

Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vấn đề quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, gồm có: Hà Anh

“Chế tài hình sự đối với trường hợp trẻ em và người chưa thành niên phạm tội”, nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội – 2006; Trần Văn Dũng, “Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội”, Luận văn cử nhân – năm

2011; Đào Thị Nga, “Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên”, luận văn thạc sỹ - năm 1997; Đặng Thị Thanh Thảo, “Quyết định hình phạt

đối với người chưa thành niên phạm tội”, luận văn cử nhân –năm 2011; Lê

Vũ Huy, “Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

bằng các quy định về hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam”, luận văn thạc

sỹ - năm 2011; Nguyễn Minh Hải, “Về nguyên tắc quyết định hình phạt trong

trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và đối với người chưa thành niên phạm tội”, tạp chí tòa án nhân dân số 16/2009; Dương Tuyết

Miên, “Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội”, tạp chí Luật học số 04/2009; Đoàn Tấn Minh, “Cần sửa đổi bổ sung một số quy

định về người chưa thành niên phạm tội trong Luật hình sự năm 1999”, Viện

kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, tạp chí kiểm sát số 20/2009; Đinh Văn

Quế, “Quyết định hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội”, tạp chí Tòa án nhân dân số 05/2003; Phạm Văn Thiệu, “Tổng hợp hình phạt

trong trường hợp có án treo và người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí

Trang 15

Tòa án nhân dân số 05/2008; Nguyễn Thị Trúc Vương, “Trách nhiệm hình sự

của người chưa thành niên phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam”, Luận văn

cử nhân, TP Hồ Chí Minh - năm 2001; Nguyễn Hữu Thế Trạch, “Cơ sở lý

luận và thực tiễn của việc thiết lập tòa án người chưa thành niên”, Tạp chí

khoa học pháp lý, số 03/2011; Vụ pháp chế, Bộ công an, “Những quy định

của pháp luật Việt Nam đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật” -

năm 1998; Vụ pháp luật hình sự - Hành chính, Bộ tư pháp, “Quyền trẻ em

trong pháp luật Việt Nam”, Nhà xuất bản tư pháp năm 2006; Vụ hình sự -

Hành chính, Bộ tư pháp, “Thuật ngữ tư pháp người chưa thành niên”, nhà

xuất bản tư pháp, Hà Nội - năm 2009 Trong các công trình nghiên cứu nếu trên, có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý như sau:

Luận văn Thạc Sỹ Luật học Lê Vũ Huy, “Bảo đảm quyền con người của

người chưa thành niên phạm tội bằng các quy định về hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam”, năm 2012 Trong công trình này, tác giả tập trung phân tích

các quy định về hình phạt và Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam gắn liền với việc đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên và đưa ra những bất cập của các quy định đó khi áp dụng trên thực tế như bất cập trong Điều 71 Bộ luật hình sự, bất cập trong quy định hình phạt phần các tội phạm, trong trường hợp phạm nhiều tội, có nhiều bản án… và đưa ra kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

Luận văn cử nhân Luật học của tác giả Đặng Thị Thanh Thảo, “Quyết

định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội” - năm 2011 Trong

đề tài này, tác giả đã tiến hành phân tích khái niệm người chưa thành niên và thể chế áp dụng đối với người chưa thành niên, nêu lên thực tiễn quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong phạm vi cả nước và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện

Trang 16

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Đề xuất những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cũng như đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo quyết định hình phạt đúng đối với người chưa thành niên phạm tội tại Lào Cai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu là:

- Nghiên cứu có hệ thống nhằm làm rõ cơ sơ lý luận về người chưa thành niên phạm tội, về quyết định hình phạt và cơ sở lý luận của việc ban hành các quy định về việc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

- Nghiên cứu và so sánh một số quy định về người chưa thành niên phạm tội trong các điều ước quốc tế và pháp luật hình sự một số nước trên thế giới, những vấn đề pháp lý nảy sinh, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam

- Phân tích thực trạng quy định pháp luật hình sự hiện hành về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội;

- Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật hình sự hiện hành về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại Lào Cai, qua đó nêu rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó

- Phân tích, so sánh, đánh giá xu hướng vận động của pháp luật hình sự

Trang 17

về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội hiện nay trên thế giới, từ đó đưa ra những định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn sắp tới

Nghiên cứu và đề xuất những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cũng như đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt đối

với người chưa thành niên phạm tội tại Lào Cai

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Một số quy định của pháp luật pháp luật trong nước về người chưa thành niên phạm tội và quyết định hình phạt

- Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Thực tiễn áp dụng các quy

định này tại Lào Cai trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung, đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về người chưa thành niên phạm tội và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn quyết định đối với người chưa thành niên phạm tội

- Về thời gian, đề tài nghiên cứu việc áp dụng quy định pháp luật hình

sự Việt Nam về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Trang 18

tạo con người; Các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về pháp luật nói chung, chính sách hình sự nói riêng, đặc biệt là các quan điểm về giáo dục, phòng ngừa tội phạm người chưa thành niên

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận văn là: phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp logic, phương pháp tổng hợp, phương pháp khảo sát,… Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng nghiên cứu một số bản án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội, nghiên cứu số liệu thống kê về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và tham khảo ý kiến của các chuyên gia làm công tác thực tiễn để đưa ra những kiến nghị khoa học nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

6 Ý nghĩa của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn các vấn đề có liên quan đến quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:

- Góp phần đảm bảo sự nhận thức thống nhất các quy định có liên quan đến quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến khái niệm người chưa thành niên và khái niệm người chưa thành niên phạm tội trên cơ sở phân tích các điều ước Quốc tế cũng như các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam; Làm rõ những đặc điểm cơ bản của người chưa thành niên phạm tội; Phân tích rõ những vấn đề lý luận chung về quyết định hình phạt cũng như quy định của pháp luật hình sự hiện hành về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

- Phân tích rõ các thông số về diễn biến của tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện tại Lào Cai Xác nhận những thành công đã đạt được cũng như những vướng mắc còn tồn tại qua việc đánh giá về thực

Trang 19

tiễn quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Lào Cai đối với người chưa thành niên phạm tội để đưa ra những giải pháp khắc phục

- Chỉ ra được những mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội; Chỉ ra các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó cũng như đưa ra nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục

- Luận văn xác định nguyên nhân dẫn đến các vướng mắc còn tồn tại trong thực tiễn quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Lào Cai đối với người chưa thành niên phạm tội và đề xuất các yêu cầu và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội; Các kiến nghị nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử người chưa thành niên phạm tội; Các kiến nghị hoàn thiện tổ chức

- Ngoài ra, Luận văn là tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, học tập, những người làm công tác thực tiễn liên quan đến người chưa thành niên phạm tội cũng như độc giả có quan tâm tới lĩnh vực nghiên cứu này

7 Cơ cấu của lận văn

Ngoài phần Mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về quyết định hình phạt đối với

người chưa thành niên phạm tội

Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về quyết định hình

phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Chương 3: Các yêu cầu và các giải pháp bảo đảm quyết định hình

phạt đúng đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Trang 20

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

1.1 Khái niệm và các đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên

Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, không phải từ khi sinh ra con người đã có nhận thức đầy đủ về tự nhiên, xã hội và về chính mình Khả năng nhận thức được những đòi hỏi của xã hội không tồn tại một cách bẩm sinh mà

là kết quả của quá trình sống, quá trình hoạt động giao tiếp trong môi trường

xã hội trong một thời gian nhất định Khi khả năng nhận thức những đòi hỏi của con người đạt đến một giới hạn nhất định thì họ mới hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong đời sống xã hội, mới thấy được những đòi hỏi của xã hội đối với họ và từ đó mới có thể đánh giá được ý nghĩa xã hội của hành vi

mà mình đã thực hiện

Người chưa thành niên là một đối tượng đặc biệt, được các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hết sức quan tâm Nghiên cứu khái niệm người chưa thành niên là nghiên cứu về phạm vi các đối tượng được coi là người chưa thành niên trong quy định pháp luật quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam hiện hành Những quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như văn bản pháp luật Việt Nam đã căn cứ vào sự phát triển

về thể chất và tinh thần của con người theo độ tuổi để lấy độ tuổi làm ranh giới xác định người chưa thành niên và người đã thành niên Độ tuổi được coi

là người chưa thành niên được xác định theo hai phạm vi, gồm phạm vi pháp luật quốc tế và phạm vi pháp luật Việt Nam

- Trong phạm vi pháp luật quốc tế thì độ tuổi được coi là người chưa thành niên được quy định trong các văn bản sau:

Trang 21

+ Tại quy tắc 2.1 mục a của Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14/12/1990 có quy định: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên Theo quy định trong Quy tắc này thì người chưa thành niên được xác định là người dưới 18 tuổi

+ Trong hướng dẫn Riyadh của Liên Hợp Quốc về việc phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội (Hướng dẫn Riyadh năm 1990), tuy các quy định không nêu ra một cách cụ thể về khái niệm người chưa thành niên nhưng cũng đã thể hiện rõ tư tưởng người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi

+ Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989 cũng xác định độ tuổi được coi là trẻ em khi

quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp

dụng với trẻ em đó quy định độ tuổi thành niên sớm hơn” [12, tr 2]

Từ các văn bản nêu trên, có thể xác định: Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm trẻ em trong quy định pháp luật quốc tế hiện nay có sự đồng nhất với nhau, đều là người dưới 18 tuổi; Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên thì được coi là người đã thành niên và đồng thời cũng không còn là trẻ

em Tuy nhiên, đối với các quốc gia khác nhau thì việc xác định độ tuổi cho người chưa thành niên còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa, lịch sử cũng như các yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nên Công ước quốc tế về quyền trẻ em vẫn để ngỏ cho các quốc gia thành viên của Công ước quyền xác định độ tuổi thành niên sớm hơn mốc 18 tuổi nhưng phải quy định trong pháp luật của quốc gia đó

- Ở phạm vi pháp luật Việt Nam thì độ tuổi được coi là người chưa thành niên được quy định trong nhiều văn bản khác nhau, cụ thể như sau:

Trang 22

+ Theo quy định của pháp luật dân sự thì việc xác định độ tuổi được coi

là người chưa thành niên theo Điều 18 Bộ luật dân sự 2005: “Người chưa đủ

18 tuổi là người chưa thành niên” [22, tr 3]

+ Trong pháp luật lao động, độ tuổi của người chưa thành niên được

quy định tại Điều 161 Bộ luật lao động 2012 “Người lao động chưa thành

niên là người lao động dưới 18 tuổi”

+ Theo quy định của pháp luật hình sự thì việc xác định độ tuổi của người chưa thành niên phải căn cứ vào Điều 68 Bộ luật hình sự năm 1999 Dựa vào quy định tại Điều luật này thì người chưa thành niên phạm tội là người dưới 18 tuổi

Dựa vào các quy định nêu trên, có thể thấy được: Các văn bản pháp luật Việt Nam cũng căn cứ vào độ tuổi để xác định ranh giới giữa người đã thành niên và người chưa thành niên, nhưng vẫn có sự khác biệt giữa quy định của

Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự và Bộ luật lao động trong cách thức phân định ranh giới này khi Bộ luật dân sự sử dụng cụm từ “Chưa đủ” còn Bộ luật lao động và Bộ luật hình sự sử dụng từ “dưới” Tuy nhiên, trong quy định của các văn bản đã nêu thì người đã thành niên đều được xác định là người tròn 18 tuổi

và đủ ngày, đủ tháng Còn người chưa thành niên là người chưa tròn 18 tuổi Như vậy, việc xác định độ tuổi của người chưa thành niên theo quy định của pháp luật Việt Nam có sự đồng nhất với các văn bản pháp luật quốc tế

Bên cạnh đó, khái niệm trẻ em trong quy định của pháp luật Việt Nam lại không đồng nhất với khái niệm trẻ em trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc Theo quy định tại Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm

sóc và giáo dục trẻ em 2004 thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” trong khi Công ước này quy định “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi”

Tuy nhiên, việc quy định trẻ em là người có độ tuổi dưới 16 của pháp luật Việt Nam không trái với quy định của Công ước về quyền trẻ em vì Công ước

Trang 23

này để ngỏ cho các quốc gia thành viên quyền xác định độ tuổi thành niên sớm hơn mốc 18 tuổi như phân tích trên

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì khái niệm người chưa thành niên và khái niệm trẻ em là hoàn toàn khác biệt khi xác định người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, còn trẻ em là người chưa đủ 16 tuổi Sự tồn tại của hai khái niệm khác nhau như trên có thể gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên

Trong pháp luật hình sự, thuật ngữ người chưa thành niên được sử dụng dưới hai góc độ vừa là chủ thể của tội phạm vừa là đối tượng tác động của tội phạm Dưới góc độ là chủ thể của tội phạm, độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội được giới hạn hẹp hơn so với độ tuổi của người chưa thành niên trong các ngành luật khác, đó là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi Điều 68 Bộ

luật Hình sự năm 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến

dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật hình sự không trái với những quy định của Chương này” [23, tr 20] Như vậy, người

chưa đủ 14 tuổi là người không đủ năng lực trách nhiệm hình sự vì ở độ tuổi này, trí tuệ của họ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả năng tự chủ để hành động nên

họ không bị coi là người có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện Tuy nhiên, Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 cũng có sự phân hoá trách

nhiệm hình sự trong lứa tuổi người chưa thành niên: “ …Người từ đủ 16 tuổi

trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [23, tr 5]

Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và

Trang 24

tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý Cơ sở của việc miễn giảm này là xuất phát

từ việc người chưa thành niên ở độ tuổi này do khả năng nhận thức xã hội còn non nớt, bồng bột, khả năng điều khiển hành vi còn hạn chế bởi vậy họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi cho đến dưới 18 tuổi thì do đã có đủ khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội và điều khiển hành vi của mình nên họ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do mình thực hiện

Để xác định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên thì phải xác định được họ đã thực hiện một trong những hành vi tội phạm được mô tả trong Bộ luật hình sự Điều 8 Bộ luật hình sự định nghĩa tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý và vô ý Như vậy để xác định một người nào đó phải chịu trách nhiệm hình sự thì phải xác định đủ các yếu tố sau: Sự việc xảy ra có đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự; Người thực hiện hành vi phạm tội đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự; Sự việc xảy ra do lỗi của người đó

Từ những cơ sở các lập luận trên, có thể đưa ra định nghĩa về người chưa

thành niên phạm tội như sau: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ

16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, và trong một số trường hợp đặc biệt từ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (Cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm”

Như vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là dấu hiệu bắt buộc khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Một người chưa đủ tuổi theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người đó chưa thể trở thành chủ thể của tội phạm và đương nhiên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự Bên cạnh đó, việc xác định chính xác tuổi còn

Trang 25

nhằm giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đúng chính sách, chủ trương, nguyên tắc và đường lối xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Tòa án nhân dân tối cao thì cách xác định tuổi theo quy định của Luật hình sự

là tính theo tuổi tròn, tuổi đủ, nghĩa là phải đủ ngày, đủ tháng Chẳng hạn như một người thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm người đó đạt độ tuổi là

17 tuổi 11 tháng 28 ngày thì người đó vẫn là người chưa thành niên

Việc xác định tuổi của người thực hiện tội phạm sẽ căn cứ trên những giấy tờ ghi nhận ngày sinh của họ có giá trị pháp lý như: Giấy khai sinh, giấy chứng sinh, giấy chứng minh nhân dân, sổ đăng ký hộ khẩu… của họ Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm sinh của người thực hiện tội phạm vì những lý do khách quan như họ không có giấy khai sinh, không có giấy tờ tùy thân…gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp và Bộ lao động, thương bình và xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH vào ngày 12/7/2011về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự sẽ tính như sau:

- Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của người phạm tội;

- Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của quý đó làm ngày sinh của người phạm tội;

Trang 26

- Nếu xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày 30/6 hoặc 31/12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của người phạm tội;

- Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm thì lấy ngày 31/12 của năm đó làm ngày sinh của người phạm tội

Trong trường hợp đặc biệt, nếu không xác định được năm sinh của người phạm tội thì tiến hành trưng cầu giám định để xác định tuổi của người phạm tội

Như vậy, căn cứ vào quy định của Thông tư liên tịch số VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH thì việc xác định tuổi của người thực hiện tội phạm được thực hiện theo nguyên tắc suy đoán có lợi cho họ Nguyên tắc này xuất phát từ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi xác

01/2011/TTLT-định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố

tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội” và “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [23, tr.2] Do đó, trong trường

hợp các cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của người thực hiện tội phạm thì các cơ quan này xác định tuổi theo nguyên tắc suy đoán có lợi, tức xác định mức tuổi thấp nhất cho họ

1.1.2 Các đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội

Qua nghiên cứu về những trường hợp phạm tội do người chưa thành niên thực hiện, có thể thấy được người chưa thành niên phạm tội có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

- Thứ nhất: Người chưa thành niên là người đang ở trong quá trình phát triển về thể chất và tâm, sinh lý Họ chưa có nhận thức đầy đủ về những chuẩn mực, giá trị đạo đức, chưa có cuộc sống tự lập cũng như tính tự chủ

Trang 27

còn rất thấp, tò mò, hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, thử nghiệm những điều chưa biết Hơn nữa, người chưa thành niên còn là những đối tượng rất dễ dàng tiếp thu, bắt chước những hành vi, sự việc ngoài đời, nhất là những hành động mang tính chất phiêu lưu, mạo hiểm Nhiều lúc họ có sự nhầm lẫn, ảo tưởng giữa những hành vi mang tính chất kích động, bạo lực với hành động anh hùng nên

đã dẫn đến việc phạm tội;

- Thứ hai, độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc về giai đoạn mất cân bằng tạm thời về cảm xúc Theo y học, ở giai đoạn này tuyến nội tiết hoạt động mạnh làm ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương và dễ gây nên những xúc động mạnh, những phản ứng vô cớ cũng như những hành vi bất thường Trong khi đó sự mất cân bằng giữa tim và hệ mạch gây thiếu máu cục bộ trên

vỏ não làm hệ tim mạch rối loạn dẫn đến mệt mỏi, dễ bị kích thích và dễ nổi nóng Khi không làm chủ được cảm xúc của mình, họ có những hành động thiếu suy nghĩ, mù quáng Đồng thời, người chưa thành niên chưa có nhiều kinh nghiệm sống nên khả năng kiềm chế không cao, từ đó dẫn đến việc phạm tội Trên thực tế, có nhiều trường hợp người chưa thành niên phạm tội cố ý gây thương tích, giết người,… chỉ vì những mâu thuẫn, những xích míc nhỏ trong cuộc sống;

- Thứ ba, người chưa thành niên luôn mong muốn trở thành người lớn

và muốn được đối xử như người lớn Ở độ tuổi này, người chưa thành niên tự cho mình không còn là trẻ con, không phụ thuộc vào người lớn, thích suy nghĩ và hành động theo cách riêng của mình Để khẳng định sự trưởng thành, người chưa thành niên thường có khuynh hướng phản ứng lại sự kiểm soát giám sát từ gia đình như bỏ học, tụ tập thành băng, nhóm ăn chơi lêu lổng và

từ đó thực hiện tội phạm;

- Thứ tư, giai đoạn từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là giai đoạn dậy thì của người chưa thành niên Ở giai đoạn này, người chưa thành niên có sự

Trang 28

phát triển mạnh mẽ về cảm xúc giới tính cũng như có sự đánh giá về bản thân Người chưa thành niên bắt đầu có kích thích quan tâm đến người khác giới,

có những cảm giác và cảm xúc giới tính mới lạ Trong giai đoạn này, những cảm xúc được giữ kín và chứa đựng nhiều tâm trạng vui, buồn, nhớ nhung, thích được âu yếm, quan tâm,… có lúc lại chán nản, bi quan, thù ghét người này, người kia, bất mãn với cách cư xử của người khác đối với mình Không

ít hành vi phạm tội xảy ra chỉ vì người chưa thành niên ghen tuông hoặc vì bị

họ từ chối tình cảm mà không kiềm chế được hành động của mình;

- Thứ năm, người chưa thành niên có sự hạn chế về ý thức pháp luật thể hiện ở cả ba yếu tố: Sự hiểu biết pháp luật, niềm tin đối với pháp luật và thái

độ, hành động thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu pháp luật Thực tế cho thấy nhận thức và quan điểm về pháp luật của người chưa thành niên chưa được hình thành đầy đủ hoặc lệch lạc theo cách hiểu chủ quan của họ Những khiếm khuyết này ở người chưa thành niên phạm tội khá phổ biến với tính chất và cường độ mạnh hơn người trưởng thành vì sự lệch lạc trong ý thức pháp luật của họ thường xuyên có sự tác động qua lại với các khuyết tật khác của cá nhân và nhất là tác động tiêu cực của môi trường xã hội Ý thức pháp luật là nhân tố rất quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của người chưa thành niên nên khi họ không hiểu đúng đắn về pháp luật thì họ dễ dàng thực hiện tội phạm Có nhiều trường hợp người chưa thành niên phạm tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 Bộ luật hình sự) Hay tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 Bộ luật hình sự) nhưng khi thực hiện hành vi thì họ không biết mình phạm tội vì không hiểu rõ các quy định của pháp luật hình sự

Do đó, khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì Tòa án cần phải cân nhắc các đặc điểm nêu trên của họ để lựa chọn loại hình phạt với mức hình phạt hợp lý nhằm giúp họ nhận ra những sai lầm, khuyết điểm của mình Việc quyết định hình phạt đối với người chưa thành

Trang 29

niên cần thực hiện theo hướng giúp đỡ, giáo dục và tạo điều kiện để họ sửa chữa những sai lầm, trở thành những công dân có ích cho xã hội

1.2 Khái niệm và các yêu cầu chung về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên

1.2.1 Khái niệm quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Quyết định hình phạt là một trong những khâu quan trọng của quá trình

áp dụng pháp luật hình sự, được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự Sau khi Tòa án thực hiện việc ổn định tội danh đối với người phạm tội, nếu không có căn cứ để ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt thì Tòa án phải quyết định hình phạt đối với họ

Khi quy định về các loại hình phạt trong những điều luật của Bộ luật hình sự, nhà làm luật chỉ có khả năng quy định những hình phạt với giới hạn tương đối nằm trong phạm vi khung hình phạt của từng tội phạm cụ thể Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và của các nguyên tắc của luật hình

sự, hình phạt áp dụng đối với người phạm tội phải cụ thể và nằm trong phạm vi điều luật quy định Bên cạnh đó, hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội phải tương xứng với tích chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, phù hợp với nhân thân người phạm tội Vì vậy, nhiệm vụ của Tòa án khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội là phải lựa chọn loại hình phạt cụ thể cùng với một mức hình phạt cụ thể theo quy định của Bộ luật hình sự

Hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đạt được mục đích của hình phạt Theo đó, mục đích phòng ngừa riêng và mục đích phòng ngừa chung của hình phạt có đạt được hay không và đạt ở mức độ nào phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định hình phạt Có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến việc đạt được mục đích của hình phạt như:

Trang 30

Xây dựng pháp luật hình sự, chấp hành hình phạt, ý thức pháp luật… nhưng hoạt động quyết định hình phạt chính là yếu tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu Các yếu tố còn lại chỉ phát huy tác dụng đầy đủ khi Tòa án thực hiện việc quyết định hình phạt một cách đúng đắn và chính xác

Trong khoa học pháp luật hình sự hiện nay, khái niệm quyết định hình phạt có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào phạm vi và đối tượng của việc quyết định hình phạt, cụ thể như sau:

- Quyết định hình phạt theo nghĩa hẹp là quyết định hình phạt chính và quyết định hình phạt bổ sung để áp dụng đối với người phạm tội;

- Quyết định hình phạt theo nghĩa rộng bao gồm việc quyết định hình phạt chính, quyết định hình phạt bổ sung, quyết định biện pháp chấp hành hình phạt (quyết định của người phạm tội được hưởng án treo) và quyết định các biện pháp tư pháp có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt (quyết định

áp dụng các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 41, Điều 42, Điều 43

và Điều 70 Bộ luật hình sự);

- Quyết định hình phạt theo nghĩa rộng hơn nữa là việc quyết định các biện pháp xử lý đối với người phạm tội (bao gồm cả việc quyết định miễn hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự hoặc quyết định hình phạt theo các nghĩa nêu trên)

Tuy nhiên, khái niệm quyết định hình phạt theo nghĩa hẹp thường được

đa số các tác giả ghi nhận trong các sách, báo pháp lý Như vậy, căn cứ vào phạm vi và đối tượng của việc quyết định hình phạt, có thể định nghĩa về quyết định hình phạt như sau:

Quyết định hình phạt là việc Tòa án tuân thủ các nguyên tắc và căn cứ quyết định hình phạt để lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể theo quy định của pháp luật hình sự đối với người phạm tội cụ thể [19, tr 161]

Đối với người chưa thành niên việc quyết định hình phạt của Tòa án sẽ

Trang 31

mang tính chất khoan hồng hơn so với người đã thành niên phạm tội Người chưa thành niên phạm tội sẽ được áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với người đã thành niên phạm tội tương ứng và chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ

họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Việc quyết định hình phạt phải dựa vào các căn cứ và các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên Từ những nhận định trên tác giả đưa ra khái niệm về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội như sau:

Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên là việc Tòa án tuân thủ các nguyên tắc và căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phù hợp với các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên để lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể theo quy định của pháp luật hình sự đối với người phạm tội là người chưa thành niên

1.2.2 Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên

Khi quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng thì Tòa án cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản được quy định trong pháp luật hình sự Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng và

áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án quyết định hình phạt đúng đối với người phạm tội nói chung và người phạm tội là người chưa thành niên nói riêng Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam thì các nguyên tắc sau đây là các nguyên tắc mà Tòa án cần phải tuân thủ khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội nói chung và người phạm tội là người chưa thành niên nói riêng:

1.2.2.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Pháp chế là việc tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt để

từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân Đối với các cơ quan tiến

Trang 32

hành tố tụng khi tham gia vào việc giải quyết các vụ án hình sự thì phải triệt

để tuân thủ các quy định của pháp luật, trong đó có các quy định của pháp luật hình sự khi thực hiện hoạt động quyết định hình phạt

Như vậy, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quyết định hình phạt có thể được hiểu là Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh và triệt để các quy định của pháp luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội Đây là nguyên tắc cực kỳ quan trọng và là tiền đề để áp dụng các nguyên tắc khác vào thực tiễn quyết định hình phạt Nguyên tắc pháp chế được thể hiện trong các quy định ở phần chung của Bộ luật hình sự thì nguyên tắc này được

thể hiện một số nội dung như: “Chỉ những người phạm tội đã được Bộ luật

hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [23, Điều 2]; “Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [23, Điều 26]

hay “Khi quyết định hình phạt tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình

sự,…” [23, Điều 45] …Ở quy định của phần các tội phạm, nguyên tắc này thể

hiện ở việc Bộ luật hình sự quy định cụ thể, rõ ràng khung hình phạt cũng như loại hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm cụ thể

Quyết định hình phạt là thẩm quyền đặc biệt của Tòa án và chỉ có Tòa

án mới có quyền nhân danh nhà nước tuyên hình phạt đối với người phạm tội sau khi đã có đầy đủ chứng cứ để xác định hành vi của người phạm tội thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể Vì vậy, Tòa án phải tuân thủ các quy định trình tự, thủ tục khi áp dụng loại hình phạt cụ thể cũng như chỉ có thể quyết định những hình phạt đã được quy định trong Bộ luật hình sự thuộc khung hình phạt của tội phạm đó Vấn đề này phải được tuân thủ chặt chẽ bởi hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước và sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với quyền lợi của người bị áp dụng

Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn đòi hỏi khi quyết định hình phạt thì Tòa án phải tuân thủ các quy định của Bộ luật hình sự về nội dung, phạm vi,

Trang 33

điều kiện áp dụng các loại hình phạt Điều đó có nghĩa là Tòa án tuyên một hình phạt phải có tính xác định, có căn cứ, lập luận và hợp lý Tính xác định thể hiện ở việc hình phạt được quyết định phải cụ thể về loại hình phạt, mức hình phạt và thời hạn Tính có căn cứ, lập luận thể hiện ở nội dung: Hình phạt phải được quyết định dựa trên việc nghiên cứu, làm sáng tỏ các tình tiết, các căn cứ cho việc quyết định hình phạt và được kiểm tra lại lần nữa trong quá trình thẩm vấn, xét xử tại phiên tòa Tính hợp lý trong quyết định hình phạt thể hiện khi quyết định hình phạt việc lựa chọn loại, mức hình phạt và thời gian áp dụng phải đúng quy định của pháp luật cũng như phải phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc pháp chế nên pháp luật hình sự Việt Nam không thừa nhận nguyên tắc tương tự trong quyết định hình phạt

1.2.2.2 Nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt

Nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt được hiểu là hình phạt mà Tòa án áp dụng phải phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm cũng như các đặc điểm nhân thân của người phạm tội Hình phạt càng phù hợp với hành vi phạm tội thì nguyên tắc công bằng càng được thể hiện triệt để

Nguyên tắc công bằng được thể hiện rõ trong quy định tại Điều 3 Bộ

luật hình sự: “Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không

phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội”

Nội dung của nguyên tắc này không chỉ đặt ra với người phạm tội cụ thể mà

nó còn được xem xét, đánh giá so với các tội phạm khác và những người phạm tội khác Các quy định ở Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự đã thể hiện rất rõ nguyên tắc công bằng bởi thông qua quy định về tội phạm và hình phạt của từng tội phạm cụ thể, nhà làm luật không cào bằng trong quyết định

Trang 34

hình phạt, xử lý tội phạm mà căn cứ vào từng hành vi phạm tội cụ thể để có các chế tài khác nhau

Nội dung của nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt đòi hỏi loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể do Tòa án tuyên phải tương xứng với hành vi phạm tội, nghĩa là trong những điều kiện giống nhau, nếu tội phạm càng nguy hiểm thì hình phạt càng nghiêm khắc và ngược lại Mặt khác, nguyên tắc công bằng còn đòi hỏi khi quyết định hình phạt thì Tòa án cần phải cân nhắc đến các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội và các tình tiết khác có trong vụ án Hình phạt bao giờ cũng được áp dụng cho từng người phạm tội cụ thể mà họ có những đặc điểm, tính cách, địa vị khác nhau trong xã hội và họ cũng có nguyên nhân, điều kiện thúc đẩy, cách thức thực hiện tội phạm khác nhau nên việc quyết định hình phạt phải phù hợp với các yếu tố này

Như vậy, việc cân nhắc về tội phạm cụ thể mà người phạm tội đã phạm, đặc điểm nhân thân và các tình tiết khác trong vụ án để đảm bảo tính công bằng theo tinh thần của nguyên tắc này cần phải đặt trong một thể thống nhất biện chứng, nghĩa là phải xem xét toàn bộ các tình tiết của vụ án mà không bỏ sót bất cứ các tình tiết nào có liên quan đến hành vi phạm tội Nếu tòa án quá coi trọng một trong các yếu tố nêu trên mà coi thường các yếu tố còn lại thì Tòa án sẽ không thể quyết định một hình phạt công bằng và thỏa đáng đối với người phạm tội

1.2.2.3 Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt

Cá thể hóa hình phạt là việc từng cá nhân phạm tội cụ thể phải chịu mức hình phạt tương xứng với đặc điểm nhân thân và hành vi phạm tội của mình Ngay cả trong một vụ án có nhiều bị cáo thì mỗi bị cáo phải chịu hình phạt dựa theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

mà người đó thực hiện

Trang 35

Nội dung của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đòi hỏi khi quyết định hình phạt thì Tòa án phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để từ đó Tòa án quyết định hình phạt cụ thể đối với từng người phạm tội cụ thể Đối với những vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm thì cho dù những người này phạm cùng một tội nhưng phương thức, thủ đoạn, mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như nguyên nhân và điều kiện phạm tội của từng người phạm tội là khác nhau dẫn đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với từng người phạm tội là khác nhau Mặt khác, mỗi người phạm tội sẽ có những đặc điểm về nhân thân khác nhau, cũng như các tình tiết tặng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng người phạm tội cụ thể, Tòa án cần phải căn

cứ vào tất cả các yếu tố đó để quyết định hình phạt sao cho hợp lý và phù hợp với tính chất nguy hiểm của từng người phạm tội Đây là nội dung được thể

hiện tại Điều 53 Bộ luật hình sự: “…Khi quyết định hình phạt đối với những

người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm”

1.2.2.4 Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa

Nhân đạo là đối xử nhân từ, độ lượng, khoan dung đối với con người, chăm lo cho con người, coi con người là vốn quý nhất của xã hội

Khi quyết định hình phạt, nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi Tòa án phải cân nhắc lợi ích của xã hội, của nhà nước và của người phạm tội trong một tổng thể hài hòa, biện chứng, thống nhất và hợp lý Nhân đạo xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Tòa án phải có thái độ đúng đắn đối với lợi ích của nhà nước, của xã hội lẫn lợi ích của người phạm tội vì không thể nói đến nhân đạo khi quyết định hình phạt mà quá đề cao lợi ích của nhà nước, của xã hội mà xem thường lợi ích của người phạm tội hoặc ngược lại

Trang 36

Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa thể hiện thông qua các nội dung sau đây:

- Khi quyết định hình phạt, Tòa án cân nhắc đến một số tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm vì lý do nhân đạo như: “…khoan hồng đối với người tự thú,

thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” [23, Điều 3]

Nguyên tắc này còn được thể hiện thông qua các quy định về quyết định hình

phạt trong một số trường hợp đặc biệt như: “…Không áp dụng hình phạt tử

hình đối với người chưa thành niên phạm tội, phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm hoặc bị xét xử” [23, Điều 35];

- Nội dung của nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong quyết định hình phạt còn thể hiện ngay trong quy định của Bộ luật hình sự về mục đích của hình phạt Theo quy định của Điều 27 Bộ luật hình sự thì:

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [23, Điều 27]

Mục đích của hình phạt là nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm chứ không chỉ nhằm mục đích trừng trị hay trả thù người phạm tội Đối với người phạm tội thì vẫn phải đảm bảo đầy đủ quyền con người cho họ nên khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội phải hướng đến mục tiêu giúp họ từ bỏ con đường phạm tội chứ không nhằm triệt tiêu, loại trừ họ ra khỏi đời sống xã hội;

- Mặc dù hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhưng hệ thống hình phạt nước ta có tính nhân đạo sâu sắc Điều này thể hiện ở chỗ hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam có nhiều loại hình

Trang 37

phạt không tước tự do Bên cạnh đó, hệ thống hình phạt không quy định những loại hình phạt mà nội dung của nó khi áp dụng có thể gây đau đớn về thể xác hoặc hạ thấp phẩm giá con người Mặt khác, hình phạt tù chung thân

và tử hình chỉ được áp dụng trong các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và khi quyết định hình phạt thì Tòa án cũng hạn chế áp dụng hai loại hình phạt này;

- Cuối cùng, khi quyết định hình phạt đối với những trường hợp phạm tội đặc biệt nguy hiểm, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tổ chức… thì Tòa án cần phải quyết định nghiêm khắc để bảo vệ có hiệu quả lợi ích của xã hội, của nhà nước, của công dân khỏi bị xâm hại bởi hành vi của các tội phạm này

1.2.3 Các căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội nói chung và người phạm tội là người chưa thành niên nói riêng thì Tòa án cần phải dựa vào các

quy định tại Bộ luật hình sự: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy

định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [23, Điều 45] Như vậy, dựa theo quy định này thì

các căn cứ quyết định hình phạt nói chung và căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên bao gồm bốn căn cứ sau đây:

1.2.3.1 Các quy định của Bộ luật hình sự

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc công bằng đòi hỏi những vấn đề liên quan đến tội phạm và hình phạt làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt phải được quy định trong Bộ luật hình sự Những quy định này được xem là khuân mẫu pháp lý buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với người phạm tội Do đó, khi quyết định hình phạt thì Tòa án phải căn cứ vào “Các quy định

Trang 38

của Bộ luật hình sự” để lựa chọn loại hình phạt với những hình phạt cụ thể nhằm áp dụng đối với người phạm tội

Các quy định của Bộ luật hình sự mà Tòa án phải căn cứ vào để quyết định hình phạt đối với người phạm tội bao gồm các quy định ở phần chung và các quy định ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, cụ thể như sau:

- Các quy định ở phần chung của Bộ luật hình sự làm cơ sở pháp lý cho việc quyết định hình phạt gồm:

+ Quy định về nguyên tắc xử lý (Điều 3 Bộ luật hình sự);

+ Quy định liên quan đến các loại hình phạt chính và hình phạt bổ sung như: Mục đích hình phạt, nội dung, phạm vi, điều kiện của các loại hình phạt (Từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật hình sự);

+ Quy định về các biện pháp tư pháp (Từ Điều 41 đến Điều 44 Bộ luật hình sự và Điều 70 Bộ luật hình sự);

+ Quy định về căn cứ quyết định hình phạt (Điều 45 Bộ luật hình sự); + Quy định về quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt (Điều 47, 50 đến Điều 53 Bộ luật hình sự);

+ Quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 46 Bộ luật hình sự) và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 48 Bộ luật hình sự);

+ Quy định về các biện pháp miễn giảm trách nhiệm hình sự được áp dụng trong hoạt động quyết định hình phạt như: Miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25 Bộ luật hình sự), miễn hình phạt (Điều 54 Bộ luật hình sự), án treo (Điều 60 Bộ luật hình sự);

+ Quy định ở Chương X phần chung Bộ luật hình sự có tính nguyên tắc chung cho việc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

- Các quy định ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự

Khi quyết định hình phạt thì Tòa án dựa vào các quy định tại Điều khoản nào của Bộ luật hình sự Trên cơ sở đó, Tòa án sẽ xác định được khung

Trang 39

hình phạt chính và hình phạt bổ sung Cuối cùng, Tòa án sẽ lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể cần áp dụng đối với người phạm tội

Trong mọi trường hợp quyết định hình phạt, Tòa án đều phải dựa vào các căn cứ quy định ở phần chung và phần các tội phạm của Bộ luật hình sự

vì đây là những căn cứ chung, có tính chất bắt buộc để hoạt động quyết định hình phạt được tiến hành đúng đắn và chính xác

1.2.3.2 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là dấu hiệu về nội dung của tội phạm Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thể hiện trên hai khía cạnh là: Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

- Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là đặc tính về “Chất” của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, cho phép phân biệt các tội phạm

cụ thể trong cùng một nhóm tội phạm hoặc các trường hợp phạm tội của một tội phạm cụ thể

- Mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là đặc tính về “Lượng” của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, cho phép phân biệt các tội phạm

cụ thể trong cùng một nhóm tội phạm hoặc các trường hợp phạm tội của một tội phạm cụ thể

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội là hai mặt thống nhất biện chứng của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đã được nhà làm luật sử dụng làm căn cứ chủ yếu khi quy định tội phạm, quy định loại hình phạt và khung chế tài đối với từng tội phạm

cụ thể Do đó, trong quá trình quyết định hình phạt, để lựa chọn được loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung chế tài cho phép thì Tòa án bắt buộc phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm phụ thuộc vào

Trang 40

các yếu tố sau: Tính chất của quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại; Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện; Mức độ nghiêm trọng của hậu quả do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra; Thủ đoạn và phương pháp thực hiện tội phạm; Hình thức và mức độ lỗi; động cơ, mục đích của người có hành vi phạm tội; Hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra; Các tình tiết về nhân thân có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

1.2.3.3 Căn cứ vào nhân thân người phạm tội

Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ Nhân thân người phạm tội được coi là căn cứ để quyết định hình phạt nhằm đạt được mục đích của hình phạt là trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa họ phạm tội mới

Tuy nhiên, không phải tất cả những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội đều có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt mà chỉ có những đặc điểm về nhân thân liên quan đến mục đích hình phạt sau đây mới được cân nhắc khi quyết định hình phạt

- Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thông qua ảnh hưởng đến mức độ lỗi của người phạm tội như: Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo; Phạm tội lần đầu,…

- Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của họ và do vậy đòi hỏi tòa án phải xem xét đến khi quyết định hình phạt, để đảm bảo hình phạt đã tuyên có tính chất thực tế, phù hợp với các nguyên tắc của Luật hình sự, chính sách của nhà nước (Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo,…) cũng như đáp ứng được mục đích trừng trị, giáo dục

Ngày đăng: 07/01/2020, 22:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm