Đặc biệt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, quyền con người của người chưa thành niên chưa thực sự được bảo vệ, đây là giai đoạn các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thường xuyên n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
GIÁP VĂN THẮNG
B¶O §¶M QUYÒN CON NG¦êI CñA NG¦êI BÞ T¹M GI÷, BÞ CAN Lµ NG¦êI CH¦A THµNH NI£N
TRONG GIAI §O¹N §IÒU TRA Vô ¸N H×NH Sù
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS CHU THỊ TRANG VÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu thống kê, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính thực tiễn, chính xác, trung thực và tin cậy Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác, tôi đã hoàn thành tất cả các môn học theo chương trình và thực hiện tất cả các nghĩa vụ về tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại Học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Giáp Văn Thắng
Trang 4NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 7
1.1 KHÁI NIỆM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM
GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 7 1.1.1 Khái quát về giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự 7 1.1.2 Khái niệm và đặc điểm quyền con người của người bị tạm giữ, bị
can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra 10 1.2 BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM
GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 18 1.2.1 Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị
can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra 18 1.2.2 Nội dung bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can
là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra 21 1.3 BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN Ở MỘT SỐ NƯỚC 28
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA
NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 35
2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 35 2.1.1 Những quy định về bảo đảm quyền con người của người bị tạm
giữ, bị can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra trước năm 2003 35 2.1.2 Quy định về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị
can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra ở Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 38 2.2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ NHỮNG VƯỚNG, MẮC BẤT
CẬP TRONG BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIÊU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 58 2.2.1 Thực trạng người chưa thành niên phạm tội từ giai đoạn 2010 – 2015 58 2.2.2 Thực tiễn thực hiện việc bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị
can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra 59
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 75
3.1 QUAN ĐIỂM VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẢM BẢO QUYỀN
CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 75 3.1.1 Quan điểm quốc tế về bảo đảm quyền của người chưa thành niên
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 75
Trang 63.1.2 Quan điểm cuả Đảng, Nhà Nước về bảo đảm quyền con người
của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra 77
3.2 KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 79
3.2.1 Bổ sung những vấn đề mang tính nguyên tắc 80
3.2.2 Sửa đổi các quy định về đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra 82
3.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 98
3.3.1 Các giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra 98
3.3.2 Xây dựng mô hình điều tra thân thiện với NCTN 101
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự BLTTH: Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra
NCTN: Người chưa thành niên NCTNPT: Người chưa thành niên phạm tội TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TTHS: Tố tụng hình sự VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số người chưa thành niên bị khởi tố, điều tra 58
Bảng 2.2: Số liệu người chưa thành niên bị tạm giữ và bị tạm
Bảng 2.3: Số liệu bị cáo là người chưa thành niên bị tạm giam
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài người, là một trong những giá trị tinh thần quý báu và cao cả nhất của nền văn minh nhân loại trong thời đại hiện nay Ở Việt Nam , bảo đảm quyền con người đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng Điều này được thể hiê ̣n ở thành quả v ề xây dựng lý luận về bảo vệ quyền con người cũng như thực tiễn bảo đảm quyền con người
Đối tượng người chưa thành niên (nói chung) và trẻ em (nói riêng), bộ phận chiếm tỷ lệ khá lớn, là những chủ thể đặc biệt, có những đặc điểm riêng
về tâm sinh lý và sự phát triển, do chưa biết cách tự bảo vệ mình khi đứng trước những sự kiện pháp lý có liên quan, nên cần phải có những bảo đảm pháp lý đầy đủ, cần thiết và đáp ứng phù hợp Nhận thức được tầm quan trọng này, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm thúc đẩy việc bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên
Liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự, trong thời gian qua, NCTNPT đang có xu hướng gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm của hành vi, theo VKSND tối cao "tỷ lệ tội phạm vị thành niên bị VKSND truy tố đã tăng lên; tỷ lệ tăng bình quân 10% hàng năm" Do đó, khi phải đối mặt với những
sự kiện pháp lý, NCTN cần một sự bảo đảm vững chắc và hữu hiệu từ phía những quy định của pháp luật TTHS Yêu cầu này đòi hỏi, bên cạnh các biện pháp nhằm bảo đảm và bảo vệ NCTN trong xã hội, thì Nhà nước, các cơ quan tiến hành tố tụng cần có những điều chỉnh kịp thời, thích hợp về chính sách hình sự cũng như thủ tục tố tụng dành cho đối tượng này để bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của họ khi tham gia tố tụng Điều này không ngoài mục đích bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự; Phù hợp với xu thế nhân đạo hóa của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền
Trang 10Hiện tại Việt Nam chưa có hệ thống tư pháp dành riêng cho NCTN
theo đúng ý nghĩa của thuật ngữ này Về thể chế, chúng ta mới chỉ có Chương XXXII (từ Điều 301 đến Điều 310) BLTTHS quy định về thủ tục tố tụng đối với NCTN Tuy nhiên, các quy định này chưa đủ chi tiết, cụ thể để các cán bộ tiến hành tố tụng bảo đảm hệ thống được vận hành phù hợp với các chuẩn mực quốc tế Điều này đồng nghĩa với việc quyền, lợi ích của con người (trong đó có thể có NCTN) chưa thực sự được bảo vệ Đặc biệt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, quyền con người của người chưa thành niên chưa thực sự được bảo vệ, đây là giai đoạn các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thường xuyên nhất các biện pháp cưỡng chế tố tụng và các biện pháp điều tra
để giải quyết vụ án Các hoạt động này có nguy cơ cao trong việc tác động tới quyền con người của NCTN phạm tội Việc bảo đảm quyền con người của NCTN phạm tội trong giai đoạn điều tra là một việc làm đầu tiên và rất cần thiết trong cơ chế bảo vệ NCTN phạm tội
Chính vì vậy, tác giả chọn việc nghiên cứu đề tài "Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền con người nói chung được các tổ chức Quốc tế, các nước trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng quan tâm nghiên cứu
* Nhóm các công trình nghiên cứu về quyền con người và bảo vệ quyền con người nói chung gồm có: Sách chuyên khảo “Quyền con người -
Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học” - GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội, 2010 (3 tập, 1010 tr), “Quyền con người” (Giáo trình
giảng dạy sau đại học) - GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb KHXH 2011
(487 tr), Sách chuyên khảo: “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ Quyền con người” GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb KHXH 2011 (431 tr), Giáo trình “Lý
Trang 11-luận và pháp luật về Quyền con người”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
2009, Nxb CTQG (670 tr); Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự và tố tụng hình sự ở Việt Nam, Trần Quang Tiệp, NXB Chính trị Quốc gia 2004; Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, Phạm Hồng Hải, NXB CAND năm 2004; Quyền con người trong quản lý tư pháp - Văn phòng Cao ủy Liên
hợp quốc về quyền con người và hội luật sư quốc tế - Nxb CAND, 2009
* Nhóm nghiên cứu về quyền của trẻ em, trong đó có Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
Có một số công trình tiêu biểu: Quyền, lợi ích của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 1999; Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, Hoàng Thế Liên, NXB Giáo dục 1996; Vì quyền trẻ em và sự bình đẳng của phụ nữ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000; Quyền của trẻ em và phương tiện thông tin đại chúng, NXB Chính trị quốc gia, 2000; Thúc đẩy các phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em, kinh nghiệm và sáng kiến từ các nước châu Á, NXB Chính trị quốc gia năm 2006; Quyền trẻ em (Sách chuyên đề nghiên cứu và giảng dạy và thực hiện quyền trẻ em), Trung tâm nghiên cứu quyền con người năm 2000; Vì quyền trẻ em và sự bình đẳng của phụ nữ, Viện Thông tin khoa học xã hội 1999; Quyền và bổn phận của trẻ em - những vấn đề đặt ra cho xã hội hiện nay, Đặng Cảnh Khanh, Tạp chí Cộng sản số 16/2003
Các công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu quyền của NCTN (Trẻ em) dưới giác độ là một bộ phận của quyền con người với những nội dung, tính chất đặc điểm cụ thể; Trong đó đã triển khai các vấn đề về bảo vệ chăm sóc trẻ em; Đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về bảo vệ quyền trẻ em; Hỗ trợ nâng cao năng lực nghiên cứu và tổ chức thực hiện quyền trẻ em; Tư vấn cho các cấp xây dựng cơ chế quản lý Nhà nước về thực hiện quyền trẻ em Đặc biệt
có đề cập đến các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền trẻ em nói chung
Trang 12Trong các nghiên cứu này, vấn đề quyền của NCTN trong TTHS đặc biệt cụ thể là giai đoạn điều tra vụ án hình sự vẫn chưa được đề cập trực tiếp Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đây là cơ sở đáng tin cậy để tiếp tục nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS, đây được coi là một phương thức bảo vệ riêng
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn giải quyết toàn diện, đầy đủ sâu sắc và có hệ thống những vấn đề lý luận về quyền con người của NCTN trong điều tra vụ án hình sự; Thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền con người của NCTN và đề ra các giải pháp Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự; Nâng cao nhận thức của các chủ thể tiến hành tố tụng, cũng như toàn
xã hội trong việc bảo đảm tốt hơn quyền con người của NCTN trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
3.2 Nhiệm vụ
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể, đề tài hướng tới
các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ hệ thống con người của NCTN trong pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam;
Hai là, làm rõ những quy định và yêu cầu của pháp luật tố tụng hình sự
Quốc tế trong bảo đảm quyền con người của NCTN;
Ba là, chỉ ra những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật
TTHS Việt Nam trong bảo đảm quyền con người của NCTN, cũng như những tồn tại trong thực tiễn áp dụng của hệ thống tư pháp hình sự trong việc bảo
đảm quyền con người của họ;
Bốn là, kiến giải hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật thực
Trang 13định và hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng đặc thù nhằm bảo đảm quyền
con người của NCTN
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Căn cứ trên mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, đối tượng mà đề tài tập trung nghiên cứu là những vấn đề sau:
- Hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của NCTN;
- Nghiên cứu về cơ chế bảo đảm quyền con người của NCTN phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn điều tra
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu về quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong phạm vi các quy định của Việt Nam, bao gồm: Các quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề quyền con người, quyền của NCTN, quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS; Về vai trò, nhiệm vụ bảo đảm quyền con người (trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN) của pháp luật TTHS trong nhà nước pháp quyền…; Những quy định của TTHS về vấn đề bảo đảm quyền con người của NCTN, cũng như các vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn
áp dụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ án liên quan đến NCTN
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp cụ thể như: Phân tích - tổng hợp, so sánh
Trang 146 Ý nghĩa và các đóng góp mới của đề tài
6.1 Ý nghĩa
- Ý nghĩa về lý luận:Kết quả nghiên cứu của luận án làm giàu thêm lý
luận về quyền của NCTN nói chung và quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong tố tụng hình sự nói riêng
- Ý nghĩa về thực tiễn: Với việc đưa ra nhận thức đầy đủ, toàn diện, có
hệ thống lý luận về quyền của NCTN trong TTHS và phân tích thực trạng của vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS, đem đến sự nhận thức đúng đắn đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm mục đích cuối cùng là bảo đảm quyền con người của NCTN trong thực tế
6.2 Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, nghiên cứu, đề xuất một số khái niệm về "Quyền con người
của NCTN trong giai đoạn điều tra" và "Bảo đảm quyền con người của NCTN trong giai đoạn điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam";
Thứ hai, đánh giá đầy đủ, hoàn chỉnh qua đó làm rõ những bất cập,
thiếu sót, vướng mắc đối với các quy định của BLTTHS 2003 trong việc bảo
vệ quyền con người của NCTN cũng như thực tiễn áp dụng;
Thứ ba, nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng bổ sung những quy định thể
chế; thiết chế TTHS; Gia đình - xã hội đặc thù cho NCTN nhằm tăng cường hiệu quả bảo đảm quyền con người của NCTN vi phạm pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu gồm 3 chương:
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
1.1 KHÁI NIỆM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ
ÁN HÌNH SỰ
1.1.1 Khái quát về giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự
Khi tội phạm xảy ra, việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn
và do nhiều cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản chất vụ án, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án được gọi là tố tụng hình sự
Theo định nghĩa của giáo trình Luật tố tụng hình sự Viện Nam, Khoa
luật - Đại học quốc gia Hà Nội thì: "Tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật" [9-tr.17]
Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định Như vậy, giai đoạn tố tụng hình sự được hiểu:
Là bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng
có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án hình sự một cách công minh,
Trang 16khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật
tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của công dân [7]
BLTTHS nước ta chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành bốn giai đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; Giai đoạn điều tra vụ án hình
sự và truy tố; Giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản án hình sự Đối với hoạt động xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm không phải là các giai đoạn tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà các hoạt động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại những vụ án hình sự đã xét xử có kháng cáo và kháng nghị
Giai đoạn điều tra chiếm một vị trí quan trọng trong TTHS Theo quan điểm thống nhất hiện nay, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng hình sự được BLTTHS quy định trong 6 chương, từ chương VIII đến chương XIII Giai đoạn điều tra được xác định bắt đầu từ khi
có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định thì vụ án bị đình chỉ điều tra và tất nhiên các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra đối với vụ
án đó sẽ chấm dứt, nên trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt giai đoạn điều tra vụ án
Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được Luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể, theo đó thời hạn điều tra (kể
cả các lần gia hạn điều tra) đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 4 tháng, đối với tội nghiêm trọng không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm trọng không quá 20 tháng kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia ngoài các thời hạn điều tra nêu trên thì Viện trưởng VKSNDTC có quyền gia hạn thêm khi thấy cần thiết,
Trang 17thời hạn gia hạn thêm không quy định cụ thể mà tùy vào tính chất phức tạp của vụ án mà Viện trưởng VKSNDTC ấn định thời gian gia hạn
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc xét xử của Tòa án, mọi quyết định của Tòa án về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm đều phải dựa trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra Cho nên nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh tội phạm và người thực hiện tội phạm, các tình tiết khác
có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm Nhiệm
vụ trên được thực hiện bởi các chủ thể là CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Tất cả các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi chủ thể của giai đoạn điều tra đều phải tuân theo đúng các quy định của Luật tố tụng hình sự góp phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là:
Một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp
do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án Đồng thời thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan [9-tr.313;314]
Đặc điểm: Từ khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự nêu trên,
có thể rút ra các đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn này như sau:
Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá
Trang 18trình tố tụng hình sự có thời hạn xác định bắt đầu từ khi các cơ quan tiến hành
tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ
hồ sơ vụ án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án
Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là các cơ quan
có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ
án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm
Thứ ba, chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều
chỉ là CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Các tài liệu do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến hành thu thập mới được coi là những chứng cứ làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự Còn các tài liệu có liên quan đến vụ án do các hoạt động khác cung cấp như hoạt động trinh sát thì phải được CQĐT kiểm tra và thẩm định lại thì mới được coi là chứng cứ để chứng minh tội phạm
Thứ tư, biện pháp mà các chủ thể áp dụng trong giai đoạn điều tra là mọi
biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định, việc áp dụng các biện pháp đó tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án Cụ thể các biện pháp đó là: Hỏi cung bị can; Lấy lời khai người làm chứng; Lấy lời khai người bị hại; Tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Khám xét khẩn cấp; Bắt tạm giam v.v Các biện pháp được áp dụng phải theo đúng quy định của Luật tố tụng hình sự
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra
Quyền con người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự có những đặc điểm chung của quyền con người trong giai
Trang 19đoạn điều tra nhưng cũng có những đặc điểm riêng cơ bản thể hiện ở đối tượng của quyền Đó là:
Thứ nhất, đối tượng của quyền con người trong giai đoạn điều tra là người chưa thành niên từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
Quyền của người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có đối tượng đặc thù là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra, từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng với tư cách người bị bắt, bị tạm giữ hoặc là bị can
- Người chưa thành niên: Theo cách gọi thông thường thì một chu kỳ sống của con người được chia thành nhiều giai đoạn, lứa tuổi khác nhau như: Nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên và cao niên; Còn theo thuật ngữ pháp lý thì các giai đoạn, lứa tuổi chia thành: NCTN (trong đó có trẻ em) và người đã thành niên.Ở mỗi quốc gia, thuật ngữ "trẻ em" và “NCTN” được hiểu và quy định khác nhau phụ thuộc vào những đặc điểm riêng về sự phát triển sinh học, tâm sinh lý cũng như quan điểm của mỗi nước về chăm sóc, bảo vệ và giáo dục đối với trẻ em: BLHS Liên bang Nga 1996 quy định, trẻ
em được hiểu là NCTN và là người chưa đủ 18 tuổi; Thái Lan quy định NCTN là người dưới 17 tuổi…
Về phương diện quốc tế, tại Điều 1 Công ước quyền trẻ em thông qua
ngày 20/11/1989 quy định: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em
đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [13, Điều 1] Quy tắc tối thiểu phổ biến
của Liên Hợp Quốc (LHQ) về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do được LHQ thông qua ngày 14/12/1992 quy định NCTN là người dưới 18 tuổi
Ở Việt Nam,trong nhiều năm trước đây, NCTN được gọi là “vị thành niên” nhưng từ khi chúng ta có hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, thuật ngữ "vị thành niên" được đổi thành NCTN nhằm phân biệt với người thành
Trang 20niên Trong khoa học pháp lý và trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ NCTN, trong đó có NCTN được sử dụng với ý nghĩa là một người đang ở độ tuổi dưới
18 tuổi Theo từ điển Tiếng Việt: "Vị thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hay là người chưa đủ 18 tuổi" [44] Cũng theo từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng năm 2002) thì: "NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa
vụ công dân" [44] Định nghĩa này phù hợp với tinh thần của Công ước quyền
trẻ em đã nêu trên, tuy nhiên, lại đồng nhất hai thuật ngữ NCTN và Trẻ em
Theo pháp luật Việt Nam, từ những kinh nghiệm được thừa nhận trong quá khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mang lại cũng như tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế mà các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về NCTN, tuỳ theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật Trong Hiến Pháp năm 1992, BLHS năm 1999, BLTTHS năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác, đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với NCTN trong từng lĩnh vực cụ
thể Điều 18 Bộ luật dân sự quy định: "Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là NCTN" và Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002 cũng quy định: "Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" Bên cạnh đó, Điều 1 Luật Giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em quy định rõ: "Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi" [31] Như vậy, có thể thống nhất một quan điểm là NCTN
là người dưới 18 tuổi
- Người chưa thành niên phạm tội là thuật ngữ được sử dụng trong trong luật hình sự, để chỉ người phải chịu trách nhiệm hình sự có độ tuổi từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Điều 12
Trang 21BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung), NCTNPT được phân chia thành hai nhóm, mỗi nhóm có đặc điểm riêng: a Từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (thuộc nhóm đối tượng được quy định là trẻ em), đặc điểm của nhóm này là: Vừa vượt qua giai đoạn trẻ con, gần gia đình và sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình; b Nhóm thứ hai, từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhóm này có đặc điểm đang ở giai đoạn sắp bước vào tuổi thành niên, nhận thức xã hội khá hơn nhóm thứ nhất nhưng vẫn chưa tách khỏi gia đình, kinh tế còn phụ thuộc vào gia đình
Như vậy, có thể nói rằng khái niệm người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật Việt Nam không đồng nhất với khái niệm "người chưa thành niên" và khái niệm trẻ em Trẻ em là người dưới 16 tuổi, NCTN là người dưới 18 tuổi, còn người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
- Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
Người chưa thành niên trong TTHS, trước hết, đó là người có độ tuổi từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tương ứng với qui định về người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự do những người này thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp hình sự nên mới bị áp dụng các biện pháp của TTHS để ngăn chặn tội phạm hoặc điều tra thu thập chứng cứ Thứ hai, những người trong độ tuổi nêu trên đã, đang hoặc sẽ thực hiện hành vi phạm tội cần phải điều tra thu thập chứng cứ để chứng minh; Thư ba, khi tham gia tố tụng họ có những quyền và nghĩa vụ pháp lý theo qui định của luật tố tụng hình sự ở vai trò tương ứng, chẳng hạn: Họ là người bị tạm giữ thì
có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ theo qui định của luật TTHS; Thứ tư, bên cạnh các quyền và nghĩa vụ pháp lý chung của những người tham gia tố tụng tương ứng họ còn có các quyền và nghĩa vụ chỉ áp dụng riêng đối với người chưa thành niên theo qui định của pháp luật
Từ những phân tích có thể hiểu người bị bắt, bị tạm giữ, bị can là NCTN trong giai đoạn điều tra như sau: Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can là
Trang 22NCTN trong TTHS là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, bên cạnh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của người tham gia tố tụng tương ứng họ còn có các quyền và nghĩa vụ riêng theo qui định của pháp luật khi tham gia tố tụng hình sự ở giai đoạn điều tra
Như vậy, đối tượng bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự là những người từ 14 đến dưới 18 tuổi Tuy nhiên, với đặc điểm
là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra nên phạm vi giới hạn của đối tượng bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên lúc này chính là những người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra đó là người bị bắt, bị tạm giữ và bị can Đặc điểm này cho thấy phạm vi nghiên cứu không đề cập đến đối tượng người chưa thành niên là người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong tố tụng hình sự Mà đề tài chỉ nghiên cứu về quyền của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra tức là người đang bị tình nghi thực hiện tội phạm
Thứ hai,quyền con người của người chưa thành niên trong TTHS là những quyền con người nói chung trong tố tụng hình sự được quy định ở trong các văn bản tố tụng và thực tiễn thực hiện các văn bản đó ở Việt Nam
Đó là các quyền cơ bản của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Đồng thời các quyền này được thực hiện bởi các chủ thể tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhằm đảm bảo các yêu cầu của quyền con người được áp dụng đối với người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra
Thứ ba, quyền con người của người chưa thành niên trong TTHS ở giai
đoạn điều tra có những đặc điểm riêng, thể hiện tính chất riêng của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Chính vì vậy quyền con người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có những quyền riêng như: a quyền cơ bản của NCTN được luật pháp quốc tế quy định thông
Trang 23qua các nguyên tắc sau: Trong bất kỳ hoàn cảnh, điều kiện nào, sự an toàn của NCTN phải được đặt lên hàng đầu; Không bị phân biệt đối xử - tất cả các em đều được đối xử công bằng, không thiên vị, bất kể giới tính, độ tuổi, dân tộc, tôn giáo…; NCTN phải được đối xử một cách lịch sự, tôn trọng phẩm giá và chuyên nghiệp; Trước khi xét xử, NCTN luôn luôn được suy đoán vô tội; NCTN được đối xử theo những quy định đã nêu trong hệ thống pháp luật của quốc gia; b Quyền cơ bản của NCTN phạm tội trong giai đoạn điều tra: Tất
cả những tiếp xúc giữa cán bộ thực thi pháp luật(2) và NCTN phải mang tính thân thiện, nhạy cảm, phải diễn ra trong một môi trường phù hợp, hỗ trợ và đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của lứa tuổi; Trong quá trình giao tiếp với NCTN, phải sử dụng ngôn ngữ phù hợp và dễ hiểu với các em; Cấm các biện pháp điều tra tùy tiện(3), trong mọi trường hợp, quyền riêng tư của các em phải được bảo vệ; Những thông tin cá nhân và mang tính nhạy cảm liên quan đến NCTN phải được xử lý cẩn thận và được bảo đảm bí mật; Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cán bộ thực thi pháp luật cũng phải tôn trọng và bảo vệ phẩm giá của con người, nêu cao các nguyên tắc nhân quyền cho tất cả mọi người, trong đó có NCTN; NCTN có quyền ghi lại một cách chi tiết, đầy đủ tất cả những lời khai khi cán bộ thực thi pháp luật lấy lời khai hoặc hỏi cung; NCTN có quyền được bảo vệ khỏi vũ lực và các hình thức lạm dụng của các
cơ quan công quyền trong quá trình điều tra; Trong bất kỳ trường hợp nào, cán bộ điều tra đều phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật; Cần tránh những trì hoãn không cần thiết khi xử lý các vụ liên quan đến NCTN phạm tội; Việc giam giữ NCTN phạm tội cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nếu mục đích chỉ là để phục vụ công việc của cán bộ điều tra; Các cán bộ thực thi pháp luật cần sử dụng quyền tự quyết trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng trong đó
có giai đoạn điều tra; NCTN có quyền trình bày quan điểm của mình và những quan điểm này phải được tôn trọng, xem xét một cách thận trọng;
Trang 24NCTN có quyền mong muốn rằng các hoạt động điều tra sẽ được tiến hành theo đúng luật pháp và với lý do thích hợp; c Quyền cơ bản của NCTN khi bị bắt giữ hoặc bị giam giữ: Mọi người, trong đó có NCTN đều có quyền được
tự do và được an toàn, trong đó có tự do đi lại; NCTN có quyền không bị bắt giữ và bị giam giữ tùy tiện; NCTN bị bắt giữ cần phải được thông báo vào thời điểm bị bắt và thông báo về lý do bắt giữ; Không NCTN nào có thể bị tước quyền tự do trừ những trường hợp phù hợp với những thủ tục đã quy định trong pháp luật của quốc gia; Khi bị giam giữ, NCTN phải được giam riêng với người đã thành niên; Những NCTN bị giam giữ phải được gặp mặt
và có liên lạc với gia đình mình; NCTN có quyền được thông tin kịp thời về tội danh bị cáo buộc; Giam giữ chỉ được sử dụng như là biện pháp cuối cùng, giam giữ trong thời gian chờ xét xử chỉ được coi là ngoại lệ chứ không được coi là nguyên tắc; NCTN có quyền được thông báo kịp thời, có sự hiện diện
và tham gia của cha mẹ (hoặc người lớn giám hộ) khi bị giam giữ hoặc bị bắt giữ, trong các lần lấy lời khai hoặc hỏi cung; Cung cấp tham vấn pháp lý một cách kịp thời cho tất cả những người bị giam giữ hoặc bị bắt giữ; NCTN có quyền giữ im lặng và không bị buộc tội trong quá trình lấy lời khai và hỏi cung; NCTN có quyền được chăm sóc y tế kịp thời khi cần thiết, có bác sĩ nữ chăm sóc cho NCTN nữ; Khi bị giam giữ, NCTN phải được chăm sóc, bảo vệ
và hỗ trợ cần thiết, tùy vào độ tuổi, giới tính và tính cách của các em; Khi bị giam giữ, quyền riêng tư của NCTN phải được tôn trọng và bảo mật; Việc sử dụng vũ lực hoặc các biện pháp giới hạn khác đối với NCTN chỉ là ngoại lệ, chỉ được sử dụng khi tất cả các biện pháp kiểm soát khác đã thất bại Nếu có
sử dụng thì chỉ trong khoảng thời gian ngắn nhất; d Quyền của NCTN khi bị xét xử và tuyên án: Giam giữ chỉ là biện pháp cuối cùng và nếu có chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian ngắn nhất; NCTN có quyền giữ im lặng và quyền được chuyển đến những dịch vụ hỗ trợ phù hợp; NCTN có quyền được
Trang 25bảo vệ khỏi sự đối xử và trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, của các cơ quan chính quyền và các cơ quan khác; NCTN có quyền mong muốn rằng quyền tự quyết sẽ được sử dụng khi kết án, trong đó có các biện pháp thay thế; Áp dụng xử lý theo hướng không giam giữ để tránh các thủ tục xét xử chính thức
và chuyển sang các chương trình hoà nhập cộng đồng phù hợp; e Quyền của NCTN khi bị tước quyền tự do: NCTN bị tước quyền tự do có quyền sử dụng những phương tiện và dịch vụ đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe và phẩm giá con người; NCTN có quyền được cung cấp đầy đủ thực phẩm, nước uống sạch, chỗ ngủ sạch sẽ, quần áo phù hợp với thời tiết cũng như việc phòng bệnh và chữa bệnh; NCTN được tiếp cận với các chương trình, hoạt động vui chơi giải trí có ý nghĩa cho việc phục hồi, tái hòa nhập và phát triển của họ; NCTN có quyền hưởng sự giáo dục và được đào tạo nghề để chuẩn bị cho mình có việc làm trong tương lai; Cán bộ ở các cơ sở quản lý giáo dục tập trung cần được đào tạo về việc đối xử với NCTN sao cho phù hợp Nghiêm cấm việc sử dụng vũ lực hoặc các hình thức trừng phạt, truy bức, nhục hình; đồng thời có cơ chế bảo vệ NCTN tránh khỏi mọi hình thức lạm dụng hoặc bóc lột; NCTN cần được hỗ trợ khi các em trở về với gia đình và xã hội, được
ưu tiên đi học và tìm việc làm sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dục Nên áp dụng việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại các cơ sở quản lý giáo dục tập trung, hỗ trợ và giám sát NCTN ở cộng đồng sau khi chấp hành xong biện pháp này Chính quyền các cấp phải cung cấp và đảm bảo các dịch vụ hỗ trợ cho NCTN khi các em trở về cộng đồng và giảm bớt các định kiến đối với các em.Đại diện của các cơ quan cung cấp các dịch vụ này cần được tiếp cận với NCTN khi các em bị giam giữ nhằm hỗ trợ các em khi trở về cộng đồng
Nội dung các quyền của NCTN trong TTHS cũng mang đầy đủ các quyền của người tham gia tố tụng tùy theo các giai đoạn tố tụng Khi người
Trang 26tham gia TTHS là NCTN, họ còn được hưởng các ưu biệt so với người thành niên NCTN như đã đề cập, được xếp vào nhóm đối tượng đặc biệt: Nhóm người dễ bị tổn thương (vulnerable group) - khái niệm phổ biến trong các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người, nhóm đối tượng cần được chú ý, bảo vệ đặc biệt so với những nhóm đối tượng khác Do vậy, pháp luật nói chung và pháp luật TTHS nói riêng phải bảo đảm cho loại đối tượng đặc biệt này ở cấp độ cao hơn bằng một chế định về loại thủ tục tố tụng đặc biệt theo hướng ưu tiên, nhân đạo hơn, gần gũi hơn, với nhiều quan tâm hơn
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, NCTN phạm tội thường có các
tư cách tố tụng như người bị bắt, bị tạm giữ, bị can Họ bị áp dụng các biện pháp tố tụng như khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đặc biệt
là bị áp dụng biện pháp điều tra, nhằm xác định sự thật của vụ án Với tính chất là đối tượng chưa có nhận thức đầy đủ về xã hội, pháp luật, còn phụ thuộc chặt chẽ vào gia đình nên NCTN là đối tượng dễ bị xâm phạm về quyền
và lợi ích, đặc biệt trong giai đoạn điều tra, việc các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các biện pháp điều tra, các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra có tác động trực tiếp nhất đến quyền của NCTN
Từ các phân tích trên, có thể hiểu: Quyền con người của người chưa thành niên là người bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
là quyền của người tham gia tố tụng hình sự ở vai trò tương ứng và những quyền riêng biệt chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên theo qui định của pháp luật trong quá trình điều tra vụ án hình sự
1.2 BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
1.2.1 Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra
Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm "bảo đảm" được định nghĩa như
Trang 27sau: "Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những
gì cần thiết" [44, tr.38] Như vậy, nếu xuất phát từ cách định nghĩa khái niệm
"bảo đảm" của Từ điển Tiếng Việt, có thể hiểu bảo đảm quyền của NCTN trong giai đoạn điều tra là những hoạt động, những công việc tạo ra các điều kiện,tiền đề cần thiết làm cho quyền của NCTN trong giai đoạn điều tra được
có đầy đủ,được ghi nhận đầy đủ, được thực hiện đầy đủ
Về chủ thể bảo đảm - chủ thể của những hoạt động, những công việc
nêu trên, ở bình diện chung, Nhà nước thay mặt cho xã hội thực hiện những bảo đảm cho quyền của NCTN trong TTHS nói chung và NCTN trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng Nhà nước phải xây dựng hệ thống pháp luật hình sự và TTHS ghi nhận các quyền ưu tiên đối với NCTN trên phương diện luật nội dung và luật tố tụng Nhà nước giao trách nhiệm áp dụng pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng, bảo đảm các quyền trên phương diện luật nội dung và luật tố tụng mà NCTN được hưởng cho hệ thống tư pháp hình sự
Hệ thống tư pháp hình sự bằng các quy định của luật hình sự, luật TTHS, luật thi hành án hình sự, bằng sự tồn tại của các thể chế và cơ chế vận hành, thông qua hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động công tố của Viện kiểm sát, hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành án có trách nhiệm bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS được thực hiện Như vậy, chủ thể của trách nhiệm bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS trước hết là các cơ quan xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS Tuy nhiên, cụ thể hóa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, các chủ thể thực hiện việc bảo đảm quyền con người của NCTN là Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát Các cơ quan này có trách nhiệm trong việc đảm bảo quyền của NCTN là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra
Từ phân tích về vai trò, trách nhiệm của các chủ thể nêu trên, bảo đảm
Trang 28quyền của NCTN trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là được hiểu là hoạt động của các cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hệ thống tư pháp hình
sự và các chủ thể khác trong việc bảo đảm cho các quyền mà NCTN phạm tội
là người bị bắt, người bị tạm giữ bị can được hưởng trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự
Về đối tượng bảo đảm, các quyền của NCTN trong TTHS bao gồm
những quyền đặc thù, dành riêng cho NCTN trên cơ sở các quyền con người của người tham gia TTHS Đây là các quyền được xác lập và thực hiện theo hướng ưu tiên đối với NCTN, phù hợp với các đặc điểm tâm - sinh lý của NCTN và hoạt động giáo dục NCTN, thể hiện trách nhiệm xã hội và bản chất dân chủ, nhân văn của Nhà nước Do vậy, từ góc độ đối tượng bảo đảm, bảo đảm quyền của NCTN phạm tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là quá trình bảo đảm hiện thực hóa các quyền tố tụng đặc thù của người bị bắt, người
bị tạm giữ, bị can trên cơ sở các quyền tố tụng cơ bản mà NCTN được hưởng
ở các vị trí pháp lí tương ứng khi tham gia quan hệ TTHS
Về các hoạt động bảo đảm, bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS bao
gồm những bảo đảm về xây dựng pháp luật (xây dựng các định chế pháp lý về quyền của NCTN trong TTHS); Bảo đảm về thực hiện pháp luật (vận hành hệ thống tư pháp hình sự với sự tham gia của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng).Các hoạt động này chỉ đạt được kết quả tốt trên cơ sở những bảo đảm chung về chính trị, kinh tế, xã hội và hệ thống pháp luật để ghi nhận và hiện thực hóa các quy định về quyền con người nói chung và quyền con người trong lĩnh vực tư pháp nói riêng Như vậy, ở phương diện các nội dung bảo đảm quyền của NCTN phạm tội trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự là tổng thể các bảo đảm về pháp luật và thực hiện pháp luật trên cơ
sở các bảo đảm chung về chính trị, kinh tế, xã hội và hệ thống pháp luật
Qua phân tích, tổng hợp từ các giác độ tiếp cận nêu trên, chúng tôi đưa
Trang 29ra khái niệm bảo đảm quyền của NCTN phạm tội trong điều tra vụ án hình sự
như sau: Bảo đảm quyền của NCTN phạm tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật nhằm thiết lập, triển khai đầy đủ các quyền của NCTN là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can trên cơ sở những bảo đảm chung cho quyền con người và quyền con người trong lĩnh vực tư pháp
1.2.2 Nội dung bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra
1.2.2.1 Phạm vi và lĩnh vực bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra
Các quyền tố tụng cơ bản mà NCTN được hưởng khi tham gia tố tụng hình sự là các quyền cơ bản mà mọi công dân đều được hưởng khi tham gia TTHS Các quyền này thuộc về nhóm quyền dân sự trong hệ thống các quyền con người, bao gồm: Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe; Quyền được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, các quyền tự do dân chủ; Quyền bình đẳng trước pháp luật , được quy định ở các mức độ, tính chất
khác nhau tùy thuộc các tư cách tham gia tố tụng là người phạm tội hay người
bị hại, người làm chứng.Trong giai đoạn điều tra, NCTN là người phạm tội
được xác định là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can do đó quyền của NCTN phạm tội trong giai đoạn điều tra được xác định bởi các nội dung sau:
- Quyền được biết mình bị truy cứu trách nhiệm hình sự (bị khởi tố,
bị truy tố, bị đưa ra xét xử) về tội trạng gì (tội danh cụ thể nào, loại tội phạm cụ thể nào);
- Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ Đây là quyền được người có thẩm quyền thông báo, giải thích về các quyền và nghĩa vụ;
- Quyền trình bày lời khai Trình bày lời khai là quyền nên có thể thực hiện hoặc không thực hiện Trường hợp họ không khai báo thì không bị bắt
Trang 30buộc phải khai báo, việc bị can không khai báo, không hợp tác với Cơ quan điều tra không làm tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với họ;
- Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và yêu cầu Đây là một quyền quan trọng giúp cho họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và quyền này được cụ thể hóa từ quyền bào chữa
- Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu họ thấy những người này không vô tư khi làm nhiệm vụ làm cho việc giải quyết vụ án không khách quan, công bằng và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ;
- Quyền bào chữa Có thể nói đây là quyền tố tụng đặc trưng nhất, quan trọng nhất của người bị buộc tội Trong TTHS chỉ có những người bị buộc tội như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền bào chữa Quyền bào chữa của bị can và sự đảm bảo cho bị can thực hiện được quyền bào chữa
có nhiều ý nghĩa trong TTHS;
- Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Trong TTHS, đây là một quyền tố tụng quan trọng của người phạm tội vì thông qua quyền này bị can, bị cáo có cơ hội được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, qua đó còn góp phần đảm bảo cho các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và cá nhân có thẩm quyền được đúng đắn hơn;
Các quyền đặc thù theo hướng ưu tiên dành cho NCTN khi tham gia tố tụng hình sự.Các quyền đặc thù theo hướng ưu tiên dành cho NCTN phạm tội tham gia TTHS trong giai đoạn điều tra bao gồm:
(i) Quyền ưu tiên được điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với tâm lý, lứa tuổi Đây là quyền ưu tiên cơ bản mà NCTN phạm tội được hưởng khi tham
gia tố tụng, đòi hỏi tất cả các quy trình, thủ tục tố tụng, người tiến hành tố tụng, các cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho hoạt động tố tụng cũng phải
Trang 31phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của họ Việc bảo đảm quyền được đối xử phù hợp với tâm lý lứa tuổi đòi hỏi một bộ máy tố tụng thân thiện với những người tiến hành tố tụng có hiểu biết về tâm lý lứa tuổi chưa thành niên, có kiến thức về khoa học giáo dục, có kỹ năng giao tiếp, có thái độ tôn trọng, cởi
mở đối với NCTN Ngoài ra, các thiết chế tư pháp vật thể như buồng hỏi cung, nhà tạm giữ, trại tạm giam, phòng xử án cũng phải được xây dựng trên các nguyên tắc của tâm lý học tư pháp: Tạo cho NCTN cảm nhận sự thân thiện, tạo cảm giác mang tính giáo dục cảm hóa con người mà không phải là trừng phạt, đe dọa con người
(ii) Quyền ưu tiên được giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời Thời
hạn tố tụng trong vụ án về NCTN phải ngắn hơn so với thời hạn tố tụng đối với người thành niên Đặc điểm này thể hiện ở thời hạn tiến hành các hoạt động tố tụng phải ngắn hơn so với thời hạn thông thường Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, những lo sợ quá mức về số phận pháp lý (về mức án,
về thời gian bị giam giữ cải tạo), về sự lên án của dư luận xã hội và tâm lý căng thẳng khi phải đối mặt với những đối tượng đồng phạm, với người bị hại (lo sợ bị phản bội, bị trả thù…), cộng thêm sự thiếu hiểu biết về pháp luật và cuộc sống, tất cả những yếu tố đó tạo cho NCTN một tâm lý chán nản, mệt mỏi và bi quan hơn so với người thành niên, tâm lý đó dễ tạo ra những hành động tiêu cực từ chính bản thân NCTN
Lứa tuổi chưa thành niên cũng là lứa tuổi học sinh, nếu thời hạn tố tụng càng kéo dài thì càng hạn chế khả năng được đến trường và tham dự các
kỳ thi quan trọng của NCTN (thi tốt nghiệp trung học cơ sở, thi đầu vào các trường trung học phổ thông, thi đầu vào các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề) Đặc điểm này cũng đòi hỏi phải hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra
bổ sung, hủy án để điều tra lại, xét xử lại thường làm cho thời gian giải quyết
vụ án kéo dài không hạn định
Trang 32(iii) Quyền ưu tiên được bảo đảm giữ bí mật thông tin cá nhân của NCTN
Mọi hoạt động tố tụng liên quan đến NCTN đặc biệt NCTN trong bị bắt, bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra phải được tiến hành trong môi trường thuận tiện cho việc bảo đảm bí mật đời tư và danh dự, nhân phẩm của họ
(iv) Quyền ưu tiên về người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Sự hiện diện bắt buộc của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố
tụng có hiểu biết về tâm sinh lí NCTN, có kỹ năng và tâm huyết làm việc với NCTN vừa là quyền lợi của NCTN, vừa là biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện các quyền khác mà NCTN được thụ hưởng theo quy định của pháp luật Bởi lẽ, những người này chính là các chủ thể áp dụng pháp luật, cụ thể hóa các quyền của NCTN trong TTHS, là các chủ thể bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NCTN, đấu tranh cho các quyền lợi của NCTN trong TTHS Nói cách khác, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm
sự có mặt của các chủ thể đặc biệt này trong quá trình giải quyết vụ án NCTN cũng là sự bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS và khi được pháp luật ghi nhận, nội dung này cũng trở thành một loại quyền được ưu tiên về người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng của NCTN trong TTHS
Các quyền ưu tiên với NCTN phạm tội(i) Quyền ưu tiên được xác định
rõ những đặc thù về đối tượng chứng minh
Như đã phân tích, có rất nhiều điểm khác biệt về tâm lý tư pháp, về cơ cấu tội danh và loại tội phạm cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại án mà NCTN phạm tội thực hiện so với người thành niên thực hiện NCTN phạm tội được hưởng nhiều chính sách hình sự nhân đạo, thể hiện sự khoan hồng đặc biệt của pháp luật Mặt khác, mục đích của thủ tục tố tụng đối với NCTN chủ yếu nhằm giáo dục, cải tạo NCTN thành người lương thiện, có ích cho xã hội Vì vậy, khi giải quyết vụ án NCTN phạm tội, pháp luật của mỗi quốc gia thường yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm
Trang 33rõ những vấn đề đặc thù thuộc về đối tượng chứng minh để: Thứ nhất, khi xét
xử, Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự (áp dụng chính xác dạng mức,
trách nhiệm hình sự ưu biệt mà pháp luật quy định riêng đối với NCTN); Thứ hai, các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết đúng đắn các vấn đề phân loại
xử lý trong vụ án (bắt, giữ, giam, tha mà pháp luật quy định riêng đối với
NCTN); Thứ ba, các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra được nguyên nhân điều
kiện phạm tội để có giải pháp phòng ngừa và giáo dục, cải tạo NCTN một cách có hiệu quả
(ii) Quyền ưu tiên được áp dụng các biện pháp ngăn chặn phi giam giữ Trước hết, các biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với NCTN chỉ là biện
pháp cuối cùng, đặc biệt là các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam Điều này xuất phát từ việc NCTN nếu bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế
tố tụng thì những ảnh hưởng của các biện pháp này nghiêm trọng hơn so với người thành niên Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không chỉ căn cứ vào các dấu hiệu trốn tránh và gây khó khăn cho hoạt động giải quyết án mà còn phải căn cứ vào độ tuổi, loại tội phạm, mức độ tội phạm và nhân thân của người phạm tội Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cũng phải ngắn hơn thời hạn áp dụng đối với người thành niên Đặc điểm này cũng đòi hỏi trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng khi đã áp dụng biện pháp tạm giam luôn phải xem xét sự cần thiết của việc tạm giam, có cần thiết tiếp tục áp dụng nữa hay có thể thay thế bằng một biện pháp ít nghiêm khắc hơn, thậm chí không cần thiết áp dụng thêm bất kỳ biện pháp ngăn chặn nào khác
(iii) Quyền ưu tiên về chế độ giam giữ, chấp hành hình phạt Quyền ưu
tiên về chế độ giam giữ, chấp hành hình phạt tù bao gồm các nội dung sau đây:
Một là, môi trường giam giữ riêng biệt: Xuất phát từ việc phải ngăn
chặn tối đa sự tiếp xúc giữa NCTN với những tiêu cực trong các môi trường
Trang 34giam giữ, cải tạo, một nguyên tắc được đặt ra trên các luận điểm của giáo dục học là không được giam giữ chung NCTN với người thành niên và giữa NCTN có sự khác biệt về giới tính, về loại tội danh và loại tội phạm Nguyên tắc này nhằm tránh cho NCTN phải chịu tác động tiêu cực từ những đối tượng phạm tội đã thành niên về quan điểm sống, tránh khỏi sự xúi giục chống đối hoặc các hành vi bạo hành về thể chất và tinh thần từ những đối tượng phạm tội đã thành niên, ảnh hưởng đến khả năng giáo dục cải tạo NCTN cũng như tiến độ, kết quả của quá trình chứng minh và giải quyết vụ án
1.2.2.2 Phương thức bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra
(i) Việc quy định nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng đối với NCTN là một phương thức bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS Cấu thành nên quyền của NCTN trong TTHS là: (i) các quyền con người nói chung và quyền con người của người tham gia tố tụng nói riêng (các quyền chung); (ii)
với những đặc thù về độ tuổi, nội dung quyền của NCTN trong TTHS được quy định theo hướng ưu đãi hơn về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án và các chế độ đối xử phù hợp với lứa tuổi theo hướng nhân đạo hơn, gần gũi hơn, nhanh gọn hơn (các quyền đặc thù) Và như vậy, bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS cũng có nghĩa là phải bảo đảm cả các quyền chung và quyền đặc
thù cho NCTN Nếu các quyền chung tồn tại dưới dạng các quyền (i) được ghi nhận trực tiếp dành cho người được thụ hưởng; (ii) được ghi nhận gián tiếp qua các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng thì quyền đặc thù đối với NCTN trong TTHS được
ghi nhận chủ yếu qua hình thức gián tiếp trong các quy định về nghĩa vụ của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
(ii) Bảo đảm các quyền đặc thù đối với NCTN cũng là phương thức bảo đảm các quyền chung mà NCTN được hưởng trong TTHS với các phân
Trang 35tích nêu trên, các quyền mà NCTN được hưởng khi tham gia TTHS được phân loại thành hai cấp độ quyền mà không phải là mối quan hệ giữa hai loại quyền khác nhau, đó là mối quan hệ giữa cấp độ các quyền chung(quyền cơ bản) và quyền đặc thù (quyền ưu tiên) mà không phải là các quyền có tên gọi
và tính chất khác nhau
(iii) Bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS là sự kết hợp giữa bảo đảm pháp luật TTHS và thực hiện pháp luật với vai trò quan trọng của các chủ thể bào chữa, đại diện cho NCTN trong quá trình giải quyết vụ án
Để có thể bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS một cách đầy đủ, đồng
bộ và khả thi, phải giải quyết tốt cả hai khâu pháp luật và thực hiện pháp luật
mà cụ thể là pháp luật TTHS và thực hiện pháp luật TTHS
Như vậy, việc pháp luật ghi nhận quyền của NCTN trong TTHS chính là sự bảo đảm về mặt pháp lý của Nhà nước đối với quyền của NCTN, quy định khung khổ pháp lý cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy TTHS và
sự tham gia của các chủ thể khác vào TTHS để bảo đảm quyền và lợi ích cho NCTN
Ngay từ khâu thiết kế các quyền của NCTN trong TTHS, các nhà xây dựng pháp luật đã phải tính tới yếu tố khả thi của các quy định Tuy nhiên, việc bảo đảm trực tiếp quyền của NCTN trong TTHS lại triển khai trong từng quốc gia, từng địa phương, bởi từng cơ quan tiến hành tố tụng Điều này có nghĩa việc bảo đảm quyền tố tụng cho NCTN trong TTHS sẽ phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng, vào các thiết chế
tố tụng hay xa hơn nữa là phụ thuộc và từng hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị cụ thể nếu không có sự ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp lý Do đó, nếu không chú ý tới khâu thực hiện pháp luật thì các quyền của NCTN nói chung
và quyền của NCTN trong TTHS nói riêng chỉ mang tính chất lý thuyết và không có tính khả thi
Trang 36Trong khâu thực hiện pháp luật, sự tham gia của hai tư cách người bào chữa và người đại diện hợp pháp là đặc biệt quan trọng Ở nhiều vụ án, có thể chỉ có một chủ thể - người đại diện hợp pháp thực hiện vai trò của cả hai tư cách trên nhưng pháp luật quốc tế luôn khuyến nghị pháp luật TTHS của các quốc gia bảo đảm sự có mặt của cả hai chủ thể thực hiện hai tư cách: Luật sư hoặc người trợ giúp pháp lý với tư cách người bào chữa và gia đình hoặc nhà trường, người đỡ đầu, người giám hộ với tư cách người đại diện hợp pháp Bởi lẽ, sự tham gia của những người này bảo đảm cho các quyền của NCTN trong TTHS sự được thực hiện - do NCTN chưa có khả năng tự bào chữa, luôn có nhu cầu được giáo dục, được hỗ trợ về tâm lý, tái định hướng nhân cách và lí tưởng sống Đối với nhiều trường hợp NCTN phạm tội và NCTN là người bị hại, người làm chứng, sự hỗ trợ về tâm lý, tái định hướng nhân cách
và lí tưởng sống từ phía người bào chữa, người đại diện trong quá trình tố tụng cho NCTN trở nên cấp bách hơn, thiết thực hơn, quan trọng hơn khung hình phạt cao hay thấp, mức bồi thường thiệt hại nhiều hay ít là đối tượng được quan tâm của hầu hết những người thành niên tham gia TTHS
1.3 BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở MỘT SỐ NƯỚC
Phần này, tác giả nghiên cứu mô hình bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS ở một số nước trên thế giới Các mô hình này được lựa chọn nghiên cứu vì mỗi một mô hình đại diện cho một phương pháp pháp luật Có thể tìm hiểu qua một số Quốc gia điển hình:
Thái Lan, đã có hệ thống tư pháp riêng cho thanh thiếu niên từ năm
1951 Đạo luật về Toà gia đình và NCTN hiện nay đang áp dụng đã được ban hành từ năm 1991 [57] Đạo luật này đã tạo ra một hệ thống Toà án chuyên trách có quyền tài phán đối với hai nhóm vụ án chính là: 1) những vụ án có trẻ em vi phạm pháp luật; và 2) những vụ án liên quan tới các vấn đề gia đình bao gồm ly hôn, tiền cấp dưỡng nuôi con, quyền nuôi con và thăm nom con
Trang 37Hiện Thái Lan đang thử nghiệm một chương trình mới nhằm ngăn ngừa trẻ em thực hiện hành vi phạm tội và giảm tỷ lệ tái phạm trong nhóm thanh thiếu niên vi phạm pháp luật Chương trình này được các Thẩm phán của Toà Gia đình và Trẻ em xây dựng với tên gọi là “Mô hình mới” Chương trình đã tạo nên một chuỗi các biện pháp liền mạch từ phòng ngừa tội phạm chưa thành niên tới xử lý chuyển hướng cho các vi phạm ít nghiêm trọng và kế hoạch điều chỉnh các hành vi bạo lực cho NCTN thực hiện các hành vi phạm pháp nghiêm trọng Báo cáo của các Thẩm phán tham gia vào dự án thí điểm
mô hình mới này đã chỉ ra rằng tỷ lệ tái phạm trong thanh thiếu niên được dự
án hỗ trợ đã giảm mạnh (từ 12.31% xuống còn 1.86%) kể từ khi dự án bắt đầu được thực hiện năm 2002
Canada, có Đạo luật về Tội phạm chưa thành niên năm 1908 gần như
hoàn toàn dựa theo Đạo luật về Toà NCTN của bang Illinois, Mỹ Đạo luật về Thanh thiếu niên Vi phạm pháp luật (1984-2003) đã chuyển hướng nhấn mạnh hơn vào khía cạnh xử phạt và cùng với đó cũng trao quyền tố tụng rộng rãi hơn cho trẻ em vi phạm Năm 2003, Canada lại một lần nữa sửa đổi, thông qua Đạo luật về Tư pháp Hình sự đối với Thanh thiếu niên (YCJA., S.C 2002) Đạo luật Tư pháp Hình sự đối với Thanh thiếu niên của Canada là một
mô hình có nhiều điểm đáng học tập [54] Bởi lẽ: Thứ nhất, Đạo luật này đã
tạo ra một hệ thống tư pháp riêng biệt cho thanh thiếu niên phù hợp với các
quy định quốc tế; Thứ hai, Đạo luật đã giúp chuyển hướng cho một số lượng
rất lớn người vi phạm lần đầu và vi phạm ít nghiêm trọng ra khỏi hệ thống tư pháp chính thức thông qua việc áp dụng các nguyên tắc tư pháp phục hồi và
các biện pháp thay thế tại cộng đồng; Thứ ba, Đạo luật này giới hạn việc giam
giữ NCTN chỉ được áp dụng với những trường hợp phạm tội nghiêm trọng
Philippin, Đạo luật về Tư pháp và Phúc lợi NCTN 2006 [59] đã vạch
ra một hệ thống xử lý chuyển hướng chi tiết, linh hoạt Các phương án này
Trang 38bao gồm buộc bồi thường, buộc xin lỗi, buộc chịu giám sát, nhận tham vấn cho NCTN và gia đình, buộc tham gia các khoá tập huấn về các chủ đề như chế ngự nóng giận, giải quyết mâu thuẫn, buộc lao động phục vụ cộng đồng,
và buộc tham gia các chương trình tại cộng đồng Toà án cũng có thể ra lệnh phạt tiền, khiển trách, nộp án phí và buộc đưa vào chăm sóc tập trung hoặc giam giữ
New Zealand, năm 1989 đã thông qua Đạo luật về Trẻ em, Thanh thiếu
niên và Gia đình [56] Đạo luật này điều chỉnh các vấn đề trẻ em và thanh thiếu niên cần được chăm sóc và bảo vệ cũng như trẻ em vi phạm pháp luật Đạo luật này là một nỗ lực ban đầu nhằm lồng ghép tinh thần của Công ước
về Quyền trẻ em vào luật pháp bản địa và đánh giá sự đóng góp của những thành viên trong cộng đồng thổ dân đối với cuộc sống của trẻ em, các gia đình
và cộng đồng Đặc biệt, New Zealand đã đạt được tiếng vang lớn trong việc
áp dụng biện pháp họp gia đình và các phương pháp truyền thống bản địa vào giải quyết các mâu thuẫn có liên quan tới trẻ em cần được chăm sóc và bảo vệ
và trẻ em vi phạm pháp luật Rất nhiều nước trên thế giới trong đó có Thái Lan đã kế thừa những biện pháp này
New South Wales, có hệ thống luật pháp chủ yếu dựa trên thông luật
của Anh.Theo thời gian, NSW đã xây dựng được một hệ thống luật phức tạp trong xử lý trẻ em và thanh thiếu niên Hệ thống này bao gồm Đạo luật về Thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, Đạo luật tố tụng hình sự trẻ em, Đạo luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên, và Đạo luật về cho nhận con nuôi năm 2000 [55] Mục tiêu của Đạo luật về Thanh thiếu niên phạm pháp là nhằm chuyển hướng NCTN ra khỏi hệ thống xét xử chính thức và thúc đẩy các mục tiêu tư pháp mang tính phục hồi và cân bằng Đạo luật này được áp dụng đối với các vi phạm nhỏ có thể xét xử chiếu lệ và cũng có thể
áp dụng để xử lý một số hành vi có thể truy tố nhưng ở mức độ ít nghiêm
Trang 39trọng New South Wales đã có hệ thống pháp luật rất toàn diện về tất cả các lĩnh vực trong mối quan hệ tương tác giữa các cơ quan nhà nước với trẻ em
và gia đình các em
Nhật Bản, đã có một hệ thống tư pháp riêng cho trẻ em vi phạm pháp
luật từ năm 1949 Luật NCTN của Nhật Bản hoàn toàn dựa trên nền tảng phúc lợi để điều chỉnh, đặc biệt là đối với trẻ em dưới 14 tuổi Gần đây, cùng với
xu hướng tăng của tội phạm và một số vụ phạm tội do trẻ em thực hiện gây chấn động lớn, Nhật Bản đã tăng cường quyền lực của nhà nước trong việc xử
lý các bị can thanh thiếu niên, đặc biệt là với quyết định về việc giảm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và kéo dài thời hạn cho phép giữ NCTN trong cơ sở giam giữ [52] Luật sửa đổi cũng quy định thiết lập một hệ thống mới có chức năng chuyển các vụ án nghiêm trọng từ Toà Gia đình sang Toà dành cho người trưởng thành Năm 2004, Uỷ ban về Quyền Trẻ em của Liên hợp quốc
đã bày tỏ quan ngại về xu hướng thay đổi này và kết luận rằng việc áp dụng thủ tục tố tụng hình sự là “không phù hợp đối với trẻ em”
Scottland, đại diện mô hình mang tính phúc lợi thuần tuý cho trẻ em có
nguy cơ cao, đã xây dựng một hướng tiếp cận đặc biệt đối với trẻ em có nguy
cơ với sự ra đời hệ thống xét xử các vụ án trẻ em của Scottland từ 1971 [53] Đóng góp độc đáo của mô hình này là đã chia tách chức năng điều tra tìm hiểu sự thật về vụ việc ra khỏi chức năng xử lý vụ việc Chức năng tìm hiểu
sự thật được giao cho Toà án trong khi mô hình này lại dựa vào các thành viên trong cộng đồng để quyết định về những hành động cần thiết để bảo vệ hoặc phục hồi cho trẻ em và thanh thiếu niên
Cộng hoà Séc, là một quốc gia có chủ quyền mới được thành lập, đã
thông qua luật mới về các vấn đề NCTN có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm
2004 [58] Luật này được xây dựng dựa trên những điểm ưu việt của mô hình Toà án phúc lợi, nhưng cũng lồng ghép một số xu hướng mới hơn trong tư
Trang 40pháp NCTN như việc áp dụng các nguyên tắc tư pháp phục hồi và tăng cường vai trò của cán bộ giám sát thử thách trong việc quản lý giám sát thanh thiếu niên được chuyển hướng xử lý ra ngoài hệ thống tư pháp chính thức hoặc được áp dụng các biện pháp thay thế cho hình phạt tù Với mô hình hiện nay, Cộng hoà Séc đang có một hệ thống gần như đồng nhất với những hệ thống
đã được thiết lập tại các quốc gia Châu Âu khác, đã tiếp thu triết lý khởi phát của Toà án NCTN - đó là thừa nhận sự khác biệt về mặt phát triển giữa thanh thiếu niên và người trưởng thành Bên cạnh đó, luật này cũng đã lồng ghép những hướng tiếp cận mới về tư pháp phục hồi trong xử lý NCTN phạm pháp
Hoa Kỳ, không có một hệ thống Toà NCTN thống nhất mà từng bang
có trách nhiệm thiết kế và thực hiện hệ thống Toà riêng của mình Do đó phương án hiệu quả nhất của chính quyền liên bang trong việc tác động vào chính sách tư pháp NCTN của các bang là đặt các điều kiện đi kèm với những khoản ngân quỹ mà liên bang cấp cho chính quyền các bang Dù đại đa số các bang vẫn đang duy trì quyền tài phán của Toà án NCTN đối với cả công tác bảo vệ trẻ em lẫn tư pháp NCTN, nhưng hiện cũng đã có một số bang và các đơn vị cấp dưới bang bắt đầu đưa vào thử nghiệm mô hình Toà gia đình [51]
Nhận xét: Không chỉ do quan điểm pháp luật khác nhau, vì nhiều vấn
đề khách quan và chủ quan, pháp luật Việt Nam mặc dù đã có những nỗ lực không nhỏ trong việc nội luật hóa các chuẩn mực, yêu cầu về bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS đặc biệt là quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự cũng như tiếp thu các kinh nghiệm lập pháp nước ngoài nhưng vẫn còn những bất cập tương đối lớn, cụ thể:
Một là, các văn bản pháp luật quốc tế yêu cầu quốc gia thành viên ban
hành các thủ tục, đạo luật, thành lập các cơ quan chuyên trách xử lí NCTN vi phạm pháp luật, đặc biệt khuyến nghị các quốc gia thành lập tòa án chuyên trách thực hiện việc xét xử NCTN phạm tội So với các yêu cầu trên, pháp