FDI: Foreign direct investment - Vốn đầu tư nước ngoài FIATA: Fédération internationale des associations de transitaires et assimilés - Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận FLDC: Fir
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TE Á- LUẬT
NGUYỄN LƯƠNG MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TE Á- LUẬT
NGUYỄN LƯƠNG MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGỪƠI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu các nhân tố tác động tới sự phát triển ngành Logistics của Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây
TP.HCM, ngày 09 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3PL: Thirty part logistics - công ty logistics bên thứ 3
4P: Production right- Price right-Promotion right- Place right: Đúng sản phẩm- đúng giá- khuyến mại đúng- đúng nơi
ADB: Asian development bank -Ngân hàng phát triển châu Á
AEM Retreat: ASEAN economic ministers' retreat - Hội nghị không chính thức các bộ trưởng kinh tế ASEAN
ALA - The Australian logistics academy- Học viện ALA
APEC: Asia-Pacific economic cooperation - Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương
ASEAN: The association of Southeast Asian nations - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM: The Asia-Europe meeting - Diễn dàn hợp tác Á-Âu
ATM: ASEAN Transport ministers meeting - Hội nghị bộ trưởng giao thông vận tải các nước Asean
BIDV: Bank for investment & development of Vietnam - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
CCC: Cordinating committee on customs-Ủy ban điều phối về Hải quan
CCS: Cordinating committee on services-Ủy ban điều phối về dịch vụ ASEAN CDMA: Code division multiple access- đa truy nhập phân chia theo mã
CFS: Container freight station - nơi thu gom hàng lẻ
DN: Doanh nghiệp
DWT: Deadweight tonage - Tải trọng tổng cộng của tàu
EDI: Electronic data interchange – trao đổi dữ liệu điện tử
ERP: Enterprise resource planning- Hoạch định tài nguyên doanh nghiệp
EWEC : East-West economic corridor - Hành lang kinh tế Đông - Tây
Trang 5FDI: Foreign direct investment - Vốn đầu tư nước ngoài
FIATA: Fédération internationale des associations de transitaires et assimilés - Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận
FLDC: First logistics development company - công ty liên doanh phát triển tiếp vận số 1
GMS: the Greater Mekong subregion - Hiệp định về tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và người qua lại biên giới các nước Tiểu vùng Mê Công mở rộng GPS: Global positioning system – Hệ thống định vị toàn cầu
JIT: Just in time - Tính kịp thời
KPIs-Key Performance indicators : Chỉ tiêu hoạt động
LAN: Local area network- Mạng nội bộ
LCL: Less than container load - Dịch vụ gom hàng lẻ đường biển
MGC: MGC Institute of logistics – MIL: Viện tiếp vận MGC
MITI: The ministry of international trade and industry - Bộ thương mại và công nghiệp Nhật Bản (nay là bộ kinh tế, thương mại và công nghiệp)
MRP: Material requirement planning -Kế hoạch hóa các yêu cầu vật chất
MT: Multimodal transport documents- Hợp đồng vận tải đa phương thức
MTO: Multimodal transport operator - Người kinh doanh vận tải đa phương thức GDP: Gross Domestic product- Tổng sản phẩm quốc dân
ĐLTTHQ : Đại lý thủ tục hải quan
ODA: Official development assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 6OLS : Ordinary least squares - Phương pháp bình phương bé nhất thông thường P.E.S.L.T: Policy, Economics, Socical/Demographic, Legal, Techonogical, - chính sách, kinh tế, Xã hội/Nhân khẩu học, pháp luật, Công nghệ
P.E.S.T: Policy, Economics, Socical/Demographic, Techonogical, - chính sách, kinh tế, Xã hội/Nhân khẩu học, Công nghệ
PPP: Public-private partnership - Mô hình hợp tác phát triển công tư
R&D: Reseach and development- Nghiên cứu và phát triển
S.T.E.E.P.L.E : Socical/Demographic, Techonogical, Economics, Envirnomental, Policy, Legal, Ethical – Xã hội/Nhân khẩu học, công nghệ , kinh tế, môi trường, chính sách, pháp luật, đạo đức
SDR: Special drawing rights - Quyền rút vốn đặc biệt
SGL : Schenker-Gemadept logistics – Liên doanh Schenker – Germadept
SLA: Singapore logistics association - Hiệp hội logistics Singapore
SMC: Supply chain management – Quản trị chuỗi cung ứng
STOM: Senior economic officials meeting- Hội nghị các quan chức kinh tế cao cấp TELSOM: Telecommunications senior officials meeting - Hội nghị các quan chức cao cấp về viễn thông
TEUs: Twenty feet equivalent units- Sức chứa container, tương đương 20 “foot” TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TTHC: Thủ tục hành chính
UNESCAP : The United nations economic and social commission for Asia and the Pacific - Tổ chức kinh tế xã hội Châu Á -Thái Bình Dương
USD: United states dollar- Đồng đôla Mỹ
VIFFAS: Vietnam freight forwarders assocication - Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam VN: Việt Nam
VND: Vietnam Dong – Đồng Việt Nam
Trang 7VNPT : Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam
WAN: Wide area network - Mạng diện rộng
WB: World bank- Ngân hàng thế giới
WTO: World trade organization- Tổ chức thương mại thế giới
XNK: Xuất nhập khẩu
Zero-stock: Hàng tồn kho
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ
Bảng 1.1: Các chỉ số cấu thành các nhân tố trong mô hình 25
Bảng 2.2: So sánh thứ hạng một số chỉ tiêu của Việt Nam và ASEAN 54
Trang 8MỤC LỤC
Trang Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng, hình vẽ
Mục lục
Lời mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận để nghiên cứu những nhân tố tác động đến
sự phát triển của ngành logistics
1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành ngành logistics
1.2 Vai trò của ngành logistics trong phát triển kinh tế
1.3 Các mô hình lý thuyết nghiên cứu các nhân tố tác động tới sự phát
triển của một ngành
1.3.1 Mô hình 5 áp lực của Michael Porter
1.3.2 Mô hình P.E.S.T
1.3.3 Mô hình nghiên cứu:
1.4 Một số bài học kinh nghiệm phát triển và hội nhập ngành logistics
1.4.1 Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc
1.4.2 Bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc
1.4.3 Bài học kinh nghiệm tư Nhật Bản
1.4.4 Bài học kinh nghiệm từ Singapore
1.5 Kết luận chương 1
Chương 2: Nghiên cứu những nhân tố tác động đến sự phát triển
của ngành logistics Việt Nam trong thời gian qua
2.1 Thực trạng ngành Việt Nam trong thời gian qua
2.2 Nghiên cứu các nhân tố tác động tới sự phát triển ngành logistics
2.2.1 Định nghĩa các nhân tố
Trang 92.2.2 Thiết kế nghiên cứu
2.2.2.1 Thang đo
2.2.2.2 Mẫu và thông tin mẫu:
2.2.2.3 Thu thập thông tin
2.3 Kết quả nghiên cứu những nhân tố tác động tới sự phát triển của
ngành logistics Việt Nam
2.3.1 Mô tả mẫu
2.3.2 Kỹ thuật phân tích số liệu thống kê
2.3.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
2.3.2.2 Hệ số tương quan và phân tích hồi qui
2.3.2.3 Thang đo từng nhân tố
2.3.3 Phân tích các nhân tố tác động
2.4 Phân tích hồi quy tuyến tính
2.4.1 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến
2.4.2 Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính
2.4.3 Giải thích tầm quan trọng của các biến trong mô hình
2.4.4 Kiểm định mô hình
2.5 Tóm tắt kết quả nghiên cứu
2.6 Kết luận chương 2
Chương 3: Các giải pháp và kiến nghị để phát triển ngành logistics
Việt Nam
3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển ngành logistics
3.2 Căn cứ xây dựng giải pháp
3.3 Một số giải pháp
3.3.1 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
3.3.2 Nâng cao năng lực của nhà cung cấp nội địa, tăng cường mối liên
Trang 10kết và chuyên môn hóa trong ngành
3.3.3 Hoàn thiện vai trò của hiệp hội
3.3.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
3.4 Một số kiến nghị
3.4.1 Hoàn thiện thể chế - luật pháp
3.4.2 Tạo vốn, phát triển kế cấu hạ tầng giao thông, chính sách phát
triển vận tải
3.4.3 Đẩy mạnh hoạt động thống kê, điều tra xã hội
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục A: Kết quả phân tích thống kê từ phần mềm SPSS 16.0 96
Phụ lục A.2: Phân tích độ tin cậy Cronbach’s alpha (Reliability) 100
Phụ lục A.4: Kết quả kiểm định T-Test, ANOVA và phi tham số 118Phụ lục A.5: Phân tích hồi quy tuyến tính (Phương pháp chọn biến Enter) 119Phụ lục B: Thư điện tử gửi cho đối tượng khảo sát 125Phụ lục C: Bảng câu hỏi chính thức gửi đi khảo sát 126
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Giải trình tính thời sự, tính cấp bách của vấn đề nghiên cứu:
Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia Nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu Nhưng ngành logistics tại Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn khởi đầu, sự yếu kém về hạ tầng và công tác quy hoạch chưa theo kịp việc bốc dỡ hàng hóa hiện đại, không đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn quốc tế vẫn đang cản trở sự phát triển của ngành dịch vụ này cho dù tiềm năng phát triển hàng hóa của Việt Nam rất lớn Lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu Điều này thực sự là một thua thiệt lớn cho doanh nghiệp trong nước Chưa kể đến tình trạng thiếu điện và dịch vụ hỗ trợ giao tiếp thông tin (viễn thông)
Một số điểm yếu khác của doanh nghiệp Việt Nam là nhưng thiếu nguồn nhân lực được đào tạo chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và hiểu biết luật pháp (mặc dù Việt Nam có đội ngũ nhân lực tiềm năng cho ngành logistics); vấn đề chạy theo số lượng thay vì chất lượng - kết quả của luật doanh nghiệp mới sửa đổi có hiệu lực từ đầu năm 2000 - hầu như các công ty Việt Nam không thể chen chân được vào thị trường logistics thế giới thậm chí đủ sức tổ chức, điều hành toàn bộ qui trình hoạt động logistics Các doanh nghiệp logistics hoạt động rời rạc, thiếu hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thậm chí cạnh tranh không lành mạnh Hơn nữa, ngành dịch vụ logistics sẽ không còn được chính phủ bảo hộ nữa đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các biện pháp bảo hộ buộc phải chấm dứt Rõ ràng ngành logistics đang đứng trước viễn cảnh không mấy sáng sủa khi phải tự
Trang 12mình tạo ra khả năng cạnh tranh cao, phải đối đầu trực tiếp với các tập đoàn hàng đầu thế giới Cạnh tranh cung ứng dịch vụ logistics sẽ ngày càng gay gắt, nếu ngay từ bây giờ không có một chiến lược cho ngành này
Với tầm quan trọng và nguồn lợi từ logistics, việc phát triển cần một chiến lược dài hạn những cơ chế chính sách pháp lý phù hợp nhằm tạo điều kiện và thu hút sự đầu tư phát triển cho ngành này tại Việt Nam
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan, làm rõ điểm khác biệt của đề tài so với các đề tài đã có:
Đến nay, ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu, sách viết về ngành logistics dưới các khía cạnh khác nhau Tại các trường đại học kinh tế, trong chương trình quản trị sản xuất (Operation management-OM) có trình bày
sơ lược về quản trị dây chuyền cung ứng (Supply chain management-SCM) và quản trị vật tư Tuy vậy, theo đánh giá của VIFFAS chương trình đào tạo về logistics còn yếu và nhỏ lẻ, chủ yếu đào tạo nghiêng về vận tải biển và giao nhận đường biển với nghiệp vụ giao nhận truyền thống là chủ yếu Các kỹ thuật giao nhận hiện đại ít được cập nhật hoá, tính thực tiễn của chương trình giảng dạy không cao, làm cho người học chưa thấy hết vai trò và sự đóng góp của logistics, giao nhận vận tải trong nền kinh tế
Ngoài ra đã có một số tác giả khác đã nghiên cứu về logistics tuy nhiên các công trình nghiên cứu này mới chỉ hạn chế tại một địa phương/công ty nhất định hay chỉ đơn thuần đánh giá mang tính định tính và đưa ra giải pháp mà chưa đề cập rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng cũng như trên phạm vi toàn quốc gia
Đề tài sẽ tập trung đi sâu phân tích khá sâu các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển chung của cả ngành logistics thông qua phân tích định lượng Kết hợp giữa kết quả của phân tích định lượng với phân tích định tính, tác giả mạnh dạn đề xuất các giải pháp để có thể khắc phục những tác động của các nhan tốá từ đó
Trang 13phát triển ngành logistics Việt Nam Mặt khác đề tài cũng có nhiều điểm mới vì nó được thực hiện một cách độc lập, ít được sự thừa kế từ các công trình nghiên cứu thực tiễn trước đó về logistics.
3 Mục tiêu của đề tài và các câu hỏi nghiên cứu/các giả thuyết
* Mục tiêu của đề tài là nhằm tìm hiểu xem những nhân tố nào tác động đến khả năng cạnh tranh và hoạt động của ngành logistic Việt Nam từ khi chúng ta gia nhập WTO Mục tiêu cụ thể của đề tài là:
- Thứ nhất: Xác định xem ngành logistics Việt Nam đang ở đâu? Mức độ để Việt Nam gia nhập và cạnh tranh với các công ty trong khu vực
- Thứ hai: Sau khi xác định được vị trí, khả năng gia nhập và cạnh tranh của ngành, chúng ta tiến hành xác định những nhân tố sẽ tác động tới sự phát triển ngành logistics thông qua một số mô hình lý thuyết
- Thứ ba: sau khi xác định những tác động, bằng nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính, tác giả xem xét xem tác động nào là tác động chính
- Thứ tư: Từ việc tìm ra mô hình và sự tác động của các nhân tố, tác giả sẽ đề ra những hướng giải pháp và kiến nghị thích hợp nhằm phát triển ngành logistics
* Câu hỏi nghiên cứu:
- Khái quát được về ngành logistics Việt Nam?
- Yếu tố nào là yếu tố chính hay yếu tố có tính quyết định đến hoạt động của ngành logistics ?
- Những giải pháp nào có thể giúp cho doanh nghiệp logistics VN có thể cạnh tranh và phát triển trước những thay đổi mới mẻ của quá trình tham gia WTO?
4 Xác định đối tượng, phạm vi giới hạn nghiên cứu đề tài luận văn:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phân tích những nhân tố tác động đến ngành logistics Việt Nam và vai trò của logistics đối với nền kinh tế Đây là vấn đề rộng lớn liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, các nhân tố tác động tới một
Trang 14ngành bao gồm rất nhiều nhân tố bao gồm các nhân tố vi mô và vĩ mô Trong điều kiện giới hạn về thời gian, không gian, năng lực tài chính, nếu như nghiên cứu hết tất cả các nhân tố như vậy sẽ cần khảo sát một lượng mẫu vô cùng lớn và rất phức tạp Do vậy nhằm khắc phục những khó khăn cũng như đơn giản hóa việc nghiên cứu, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung đi sâu phân tích các nhân tố vĩ mô xuất phát từ bản thân nền kinh tế bao gồm 9 nhân tố được xây dựng thông qua mô hình 5 tác động của Michael Porter và mô hình PEST Đồng thời trên cơ sở phân tích định lượng kết hợp với hiện trạng cùng đúc kết các bài học kinh nghiệm để đưa ra các giải pháp và kiến nghị liên quan đến lĩnh vực logistics Các nhân tố khác đã và sẽ được sử dụng làm tiền đề cho các nghiên cứu khác
5 Phương pháp, phương pháp luận nghiên cứu:
Lý thuyết năm nhân tố – Michael Porter và mô hình PEST sẽ là nền tảng
cơ bản nhất để thực hiện nghiên cứu này Mô hình P.E.S.T cho các yếu tố tác động trong môi trường vĩ mô và từ mô hình 5 yếu tố của Michael Porter nghiên cứu các yếu tố trong môi trường vi mô, đã hình thành 9 nhân tố là các biến độc lập tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc là sự phát triển của ngành logistics Việc phân tích các nhân tố sẽ được tác giả dựa vào phần mềm SPSS 16.0 sẽ cho thấy các chỉ số đánh giá về vai trò của từng nhân tố
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Dựa trên những phân tích định tính, định lượng, cũng như vận dụng các lý thuyết hiện có vào nghiên cứu những tác động tới ngành logistics của Việt Nam đề tài cố gắng xây dựng nên một mô hình tổng quát nhất về những tác động này tới sự phát triển ngành logistics của Việt Nam
7 Kết cấu luận văn dự kiến gồm:
Đề tài được trình bày 91 trang được chia làm 3 chương:
Trang 15Chương1: Cơ sở lí luận để nghiên cứu những nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành logistics
Tác giả sẽ giới thiệu tổng quan về logistics; lý thuyết và mô hình làm nền tảng cho việc nghiên cứu các nhân tố tác động tới ngành logistics, giới thiệu kinh nghiệm cũng như bài học thực tiễn của một số quốc gia trong việc phát triển ngành logistics Chương này cũng sẽ giới thiệu mô hình nghiên cứu được xây dựng ban đầu từ cơ sở lý thuyết
Chương 2: Nghiên cứu những nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành logistics Việt Nam trong thời gian qua
Tác giả giới thiệu về thực trạng của Vịêt Nam, việc xây dựng thang đo, cách chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập thông tin được tiến hành như thế nào và các kỹ thuật phân tích dữ liệu thông kê được sử dụng trong đề tài này sẽ phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu được từ cuộc khảo sát bao gồm các kết quả kiểm định độ tin cậy và độ phù hợp thang đo và các kết quả thống kê suy diễn
Chương 3 Các giải pháp và kiến nghị để phát triển ngành logistics Việt Nam
Dựa vào định hướng cũng như các cơ sở để đưa ra giải pháp, tác giả sẽ đưa ra các giải pháp cũng như một số kiến nghị nhằm phát triển logistics Việt Nam và kiến nghị cho các nghiên cứu tương lai
Trang 16CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN ĐỂ NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH LOGISTICS
1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành ngành logistics
Cho đến nay, thuật ngữ logistics vẫn còn là khá xa lạ, mới mẻ đối với phần lớn người Việt Nam Gần đây, người ta bàn về việc lập các khu logistics, cảng logistics, kho logistics, doanh nghiệp logistics, nhưng “thực chất logistics là gì?”, “kinh doanh logistics ra sao?” Cho đến nay vẫn chưa tìm được thuật ngữ thống nhất, phù hợp để dịch từ logistics sang tiếng Việt, có người dịch là hậu cần, có người dịch là kho vận, dịch vụ cung ứng thậm chí là vận trù Tuy nhiên, tất cả các cách dịch đó là chưa thoả đáng, không phản ánh đầy đủ và đúng đắn bản chất của logistics Vì vậy theo tác giả, cách tốt nhất là giữ nguyên thuật ngữ logistics và chỉ nên tìm hiểu tường tận ý nghĩa của nó
Logistics theo nghĩa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ logisticsistique trong tiếng Pháp Logisticsistique lại có gốc từ từ “logisticser” nghĩa là nơi đóng quân Logistics được dùng ở Anh bắt đầu từ thế kỷ thứ 19 Một điều thú vị là từ này không hề có mối liên quan gì với từ “logistics” trong toán học, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “logisticsistikos” Logistics phát triển quá nhanh chóng, trong nhiều ngành nhiều lĩnh vực, ở nhiều nước, nên có rất nhiều tổ chức tham gia nghiên cứu, đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau, vẫn chưa có được khái niệm thống nhất về logistics Có thể nói, có bao nhiêu sách viết về logistics thì có bấy nhiêu định nghĩa về khái niệm này
Trong lĩnh vực sản xuất, logistics được định nghĩa một cách đơn giản, ngắn gọn nhất là cung ứng, là chuỗi hoạt động nhằm đảm bảo nguyên nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị, các dịch vụ cho hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp được tiến hành liên tục, nhịp nhàng và có hiệu quả; bên cạnh đó còn tham gia
Trang 17vào quá trình phát triển sản phẩm mới
Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, thì logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (Ma Shuo,
1999, Logistics and supply chain management, World Maritime University) Định nghĩa này cho thấy logistics bao gồm nhiều khái niệm, cho phép các tổ chức có thể vận dụng các nguyên lý và hoạt động logistics trong lĩnh vực của mình một cách sáng tạo, linh hoạt và có hiệu quả
Cùng với khái niệm được nêu và phân tích ở trên trong thực tế tồn tại một số khái niện khác cũng khá phổ biến như:
- Theo uÛy ban quản trị logistics, một trong những tổ chức chuyên môn hàng đầu trong lĩnh vực này thì quản trị logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu lực, hiệu quả hoạt động vận chuyển lưu trữ hàng hoá, dịch vụ và những thông tin có liên quan từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ cuối cùng với mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng (Douglas M Lambert, 1998, Fundamental of logistics, p.3, Mc Graw-Hill) Điều đó có nghĩa là logistics bao gồm mọi dịch vụ kinh doanh liên quan đến vận tải (đường biển, đường hàng không, đường bộ, đường thuỷ nội địa, lưu kho, lưu bãi, sắp xếp hàng hoá sẵn sàng cho quá trình vận tải, bao bì đóng gói, ghi ký mã hiệu, nhãn hiệu và phân phối đi các nơi theo yêu cầu của người uỷ thác
- Logistics là hệ thống các công việc được thực hiện một cách có kế hoạch nhằm quản lý nguyên vật liệu, dịch vụ, thông tin và dòng chảy của vốn nó bao gồm cả những hệ thống thông tin ngày một phức tạp, sự truyền thông và hệ thống kiểm soát cần phải có trong môi trường làm việc hiện nay
- Liên hợp quốc: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật
Trang 18liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng
- Logistics là sự duy trì, phát triển, phân phối/ sắp xếp và thay thế nguồn nhân lực và nguyên vật liệu thiết bị, máy móc
- Logistics là quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển và dự trữ hàng hoá, dịch vụ từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng (Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ, 1988)
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý các hoạt động cung cấp hàng hoá, dịch vụ
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch và thực hiện những lợi ích và công dụng của các nguồn tài nguyên cần thiết nhằm giữ vững hoạt động của toàn bộ hệ thống
- Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc (Điều 233, luật thương mại, 2005)
Chắc chắn cùng với sự phát triển của logistics sẽ xuất hiện thêm nhiều khái niệm mới về logistics, ở thời điểm này có thể định nghĩa “logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”
Một khái niệm nữa đó là ngành logistics, trước tiên ngành được hiểu là tổng thể các đơn vị kinh tế và các mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế
Trang 19cùng một ngành của nền kinh tế quốc dân, sản xuất cùng một loại hay một số loại sản phẩm hay một loại dịch vụ có quan hệ hữu cơ với nhau, và không phân biệt thành phần kinh tế, vùng kinh tế lãnh thổ, cấp quản lí Ngành được hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất và của kĩ thuật, với việc hình thành và mở rộng sự phân công lao động xã hội, trình độ chuyên môn hoá, tập trung hoá sản xuất Như vậy, ngành logistics là tổng thể các đơn vị kinh tế và mối quan hệ kinh tế hữu cơ giữa các đơn vị kinh tế cùng kinh doanh dịch vụ logistics, không phân biệt thành phần kinh tế, vùng lãnh thổ, cấp quản lý Hiện nay theo quyết định 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 thì trong hệ thống ngành kinh tế, Việt Nam không xếp riêng ngành logistics nhưng theo khái niệm khái niệm về dịch vụ logistics cũng như khái niệm ngành đã tìm hiểu ở trên, ngành logistics tạm hiểu theo hệ thống này là toàn bộ ngành vận tải kho bãi Theo nghị định 140/2007/NĐ-CP (05/09/2007) thì: Dịch vụ lô-gi-stíc là hoạt động thương mại được quy định tại điều 233 luật thương mại; thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc là thương nhân tổ chức thực hiện dịch vụ lô-gi-stíc cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó
Logistics – các giai đoạn phát triển
Ban đầu logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần Đến cuối thế kỷ 20, logistics được ghi nhận như là một chức năng kinh tế chủ yếu, mang lại thành công cho các doanh nghiệp cả trong sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ Uỷ ban kinh tế và xã hội châu A Ù- Thái Bình Dương đánh giá logistics đã phát triển qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân phối vật chất Quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan đến nhau để đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả Bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau:
Trang 20- Vận tải
- Phân phối
- Bảo quản hàng hoá
- Quản lý kho bãi
- Bao bì, nhãn mác, đóng gói
Giai đoạn 2: Hệ thống logistics: Kết hợp quản lý 2 mặt trên một hệ thống: Cung ứng vật tư và phân phối sản phẩm
Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyển cung ứng (SCM) Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ từ người cung cấp nguyên liệu – đến người sản xuất – đến người tiêu dùng Khái niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa người sản xuất với người cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan: các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin
Từ cuối thế kỷ 20, logistics được mở rộng thêm các mặt hoạt động và lợi ích, được gọi là quản trị dây chuyền cung ứng Một định nghĩa đặc thù của dây chuyền cung ứng là: “Một dây chuyền cung ứng là một mạng lưới (có thể lựa chọn) về phương tiện và phân phối để thực hiện các chức năng thu mua nguyên, phụ liệu chuyển hóa chúng thành sản phẩm trung gian và cuối cùng, rồi phân phối sản phẩm đó tới khách hàng” (Ganeshan & Harrion,1995, An introduction
to supply chain management) Dịch vụ logistics có thể thực hiện được nhờ những tiến bộ trong công nghệ tin học (để tập hợp thông tin), hiện đại hoá (đảm bảo tính linh hoạt cho sản xuất) và tiến bộ trong thông tin liên lạc cũng như công nghệ xử lý thông tin (để hợp lý hoá hệ thống) Việc sử dụng hệ thống EDI với sự hỗ trợ của mạng lưới thông tin liên lạc và công nghệ xử lý thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự sống còn trong quản lý quá trình chu chuyển hàng hoá và chứng từ Do đó, mạng lưới thông tin phải thiết kế khoa học
Trang 21có khả năng kết hợp chặt chẽ giữa tính tập trung và phân tán
Theo cách này một tổ chức hay một cá nhân sẽ đóng vai trò trung tâm, đứng ra phối hợp các công đoạn: cung cấp nguyên vật liệu – sản xuất phân phối dựa trên các dữ liệu về nhu cầu hàng hoá, dịch vụ, quy cách phẩm chất, năng lực sản xuất, lịch trình chuyên chở và nguồn cung cấp hàng hoá, dịch vụ Sự phối hợp trên phải được tổ chức khoa học chặt chẽ và có khả năng đối phó với những sự kiện ngoài dự kiến Và như vậy, vị trí của logistics trong toàn bộ quá trình phân phối vật chất thực chất là sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức và quản lý quá trình lưu chuyển hàng hóa qua nhiều công đoạn, chặng đường, phương tiện và địa điểm khác nhau Các hoạt động này phải tuân thủ đặc tính của dây chuyền: vận tải – lưu kho – phân phối và hơn thế nữa chúng phải đáp ứng yêu cầu về tính kịp thời (JIT)
Giao nhận, vận tải đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội và đây cũng là lĩnh vực có hoạt động logistics phát triển mạnh mẽ Sự phát triển của logistics trong giao nhận vận tải bắt nguồn từ sự thay đổi sâu sắc trong sản xuất và thương mại quốc tế đặt ra những yêu cầu mới đối với vận tải Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép hoạt động vận tải có hiệu quả hơn và đồng thời cũng phức tạp hơn Cách mạng container hoá trong vận tải là tiền đề cho sự ra đời của vận tải đa phương thức sẽ giúp lên kế hoạch cung ứng mua hàng hoá và giám sát mọi di chuyển hàng hoá để đảm bảo đúng loại hàng đến đúng địa điểm, đúng thời gian Ngành dịch vụ logistics chính là sự phát triển khéo léo của ngành dịch vụ vận tải đa phương thức Toàn bộ hoạt động vận tải có thể được thực hiện theo một hợp đồng vận tải đa phương thức và sự phối hợp mọi chu chuyển của hàng hoá do người tổ chức dịch vụ logistics đảm nhiệm
Trong lĩnh vực giao nhận vận tải logistics không phải là một dịch vụ đơn
Trang 22lẻ mà là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hoá, như: làm các thủ tục, giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hoá đi các địa điểm khác nhau, chuẩn bị cho hàng hóa luôn luôn sẵn sàng ở trạng thái nếu có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được Chính vì vậy khi nói tới logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống các dịch vụ sẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm được chi phí của đầu vào trong các khâu vận chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phối hàng hoá cũng như chi phí tương tự ở đầu
ra bằng cách kết hợp tốt các khâu riêng lẻ qua hệ thống logistics nêu trên (Logistics managerment, ESCAP, 2000, tr.2-4)
Từ những điều trình bày ở trên cho thấy dịch vụ logistics chính là sự phát triển ở giai đoạn cao của dịch vụ giao nhận kho vận trên cơ sở sử dụng những thành tựu của công nghệ thông tin để điều phối hàng hoá từ khâu tiền sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng, qua các công đoạn: vận chuyển, lưu kho và phân phối hàng hóa Mục tiêu của logistics là cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất Hay nói cách khác logistics sẽ giúp tiết kiệm chí phí, thời gian, từ đó nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh
1.2 Vai trò của ngành logistics trong phát triển kinh tế
Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vị trí và chiếm một khoản chi phí nhất định Một nghiên cứu gần đây của trường đại học quốc gia Michigan (Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm từ
10 đến 15% GDP của hầu hết các nước lớn ở châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế châu Á–Thái Bình Dương (Rushton Oxley & Crocher, 2000) Ngành logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và toàn cầu Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu
Trang 23quả kinh tế-xã hội Phần giá trị gia tăng do ngành logistics tạo ra ngày càng lớn và tác động của nó thể hiện rõ dưới những khía cạnh dưới đây:
- Ngành logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường Để giải quyết các thách thức do yêu cầu của sản xuất và mở rộng của thị trường hàng hóa và dịch hệ thống logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời chính xác đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu Đầu tư vào các cơ sở vận tải và phân phối, không tính các nguồn công cộng, ước lượng hàng trăm tỷ USD, cho thấy logistics là một ngành kinh doanh tiềm năng và vô cùng quan trọng
- Ngành logistics giúp tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng
- Tiết kiệm và giảm chi phi phí trong lưu thông phân phối Với tư cách là các tổ chức kinh doanh cung cấp các dịch vụ logistics chuyên nghiệp, các doanh nghiệp logistics mang lại hiệu quả cao không chỉ ở chất lượng dịch vụ cung cấp mà còn tiết kiệm tối đa về thời gian và tiền bạc cho các quá trình lưu thông phân phối trong nền kinh tế
- Một hệ thống logistics rẻ tiền và chất lượng cao sẽ giúp mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế, góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế (sự lựa chọn tất yếu cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển đất nước)
- Là một bộ phận trong GDP, ngành logistics ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lãi xuất, năng suất, chi phí, chất lượng và hiệu quả, cũng như các khía cạnh khác của nền kinh tế Một cách để chỉ ra vai trò của logistics là so sánh phí tổn của nó với các hoạt động xã hội khác Tại Mỹ chi phí logistics lớn gấp 10 lần
Trang 24quảng cáo, gấp đôi so với chi phí bảo vệ quốc gia và ngang bằng với chi phí chăm sóc sức khỏe con người hàng năm
- Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi logistics, theo đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp thỏa mãn nhu cầu của mỗi người
Quan điểm kinh doanh hiện đại ngày nay coi logistics là một chức năng độc lập, đồng thời có mối quan hệ tương hỗ với hai chức năng cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất và marketing, phần giao diện giữa chúng có những hoạt động chung Điều đó cho thấy ngành logistics là một chức năng kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội Trong thời đại ngày nay người ta luôn mong muốn những dịch vụ hoàn hảo và điều đó sẽ đạt được khi phát triển ngành logistics Đối với các doanh nghiệp:
- Ngành logistics có vai trò rất to lớn, nó giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ,…
- Trong giai đoạn hiện nay, tại các quốc gia phát triển, quản trị logistics được ghi nhận như một thành tố quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức Vai trò của nó thể hiện rất rõ nét tại các doanh nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường
- Ngành logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí sản trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Nó giúp phối hợp các biến số marketing - Mix, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, trực tiếp làm
Trang 25giảm chi phí, gián tiếp làm tăng lợi nhuận trong dài hạn
- Ngành logistics tạo ra giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm gọi là lợi ích địa điểm, lợi ích thời gian và lợi ích sở hữu Lợi ích địa điểm là giá trị cộng thêm vào sản phẩm qua việc tạo cho nó khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ đúng vị trí Lợi ích thời gian là gía trị được sáng tạo ra bằng việc tạo ra khả năng để sản phẩm tới đúng thời điểm mà khách hàng có nhu cầu, những lợi ích này là kết quả của hoạt động logistics Trong xu hướng toàn cầu hóa, khi mà thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng ngày càng trở nên xa cách về mặt địa lý thì các lợi ích về thời gian và địa điểm do logistics mang trở nên đặc biệt cần thiết cho việc tiêu dùng sản phẩm
- Ngành logistics cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu quả đến khách hàng: Logistics không chỉ góp phần tối ưu hóa về vị trí mà còn tối
ưu hóa các dòng hàng hóa và dịch vụ tại doanh nghiệp nhờ vào việc phân bố mạng lưới các cơ sở kinh doanh và điều kiện phục vụ phù hợp với yêu cầu vận động hàng hóa Hơn thế nữa, các mô hình quản trị và phương án tối ưu trong dự trữ, vận chuyển, mua hàng và hệ thống thông tin hiện đại sẽ tạo điều kiện để đưa hàng hóa đến nơi khách hàng yêu cầu nhanh nhất với chi phí thấp, cho phép doanh nghiệp thực hiện hiệu quả các hoạt động của mình
- Ngành logistics có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho doanh nghiệp Một hệ thống logistics hiệu quả có thể giúp cho việc bán hàng ở mức chi phí thấp hơn nhờ hoặc cung cấp dịch vụ khách hàng với trình độ cao hơn do dó tạo ra uy tín Mặc dù không tổ chức nào chỉ ra phần vốn quý này trong bảng cân đối tài sản nhưng cần phải thừa nhận rằng đây là phần tài sản vô hình giống như bản quyển, phát minh, sáng chế, thương hiệu
- Xét ở tầm vi mô, trước đây các công ty thường coi logistics như một bộ phận
Trang 26hợp thành các chức năng marketing và sản xuất Marketing coi logistics là việc phân phối vật lý hàng hóa Sản xuất coi logistics là việc lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy, chọn nguồn cung ứng tốt và phân phối hàng hóa thuận tiện
- Ngoài ra logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là marketing hỗn hợp (4P) Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm làm thỏa mãn khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn và địa điểm quy định Theo khảo sát của tạp chí Forture, 69% trong tổng số 500 công ty hàng đầu của Mỹ thuê ngoài dịch vụ logistics Nguyên do: (1) các công ty logistics chuyên nghiệp hơn.(2) doanh nghiệp không phải đầu tư vào hệ thống khi bãi và trang thiết bị vận tải (3) tốc độ đưa hàng ra thị trường nhanh hơn (4) doanh nghiệp không tốn kém chi phí đầu tư cho hệ thống thuê bãi và vận tải Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí nhân công mà còn cả về phương diện quản lý nhân sự … Bởi lẽ các hoạt động này ảnh hưởng và liên quan chặt chẽ đến thời gian điều hành sản xuất, kế họach sản xuất, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, tính thời vụ của sản xuất, chi phí sản xuất, thậm chí ngay cả vấn đề bao bì đóng gói sản phẩm trong sản xuất công nghiệp hiện đại
Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản do có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics Nói rõ hơn, ngành logistics tham gia vào toàn bộ quá trình làm việc của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất
1.3 Các mô hình lý thuyết nghiên cứu các nhân tố tác động tới sự phát triển của một ngành
1.3.1 Mô hình 5 áp lực của Michael Porter
Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế
Trang 27giới hiện nay, đã nhận định và cung cấp một khung lý thuyết để phân tích về các áp lực cạnh tranh và mô hình hóa sự tác động của năm lực lượng cạnh tranh tới sự phát triển của ngành (M Porter, 1998, Competitive strategy: Techniques analyzing industries and competitors) Mối quan hệ giữa những nhân tố được thể hiện qua hình 1.1
Nguồn: M Porter, 1998, Competitive strategy: Techniques analyzing industries and competitors
Hình 1.1: Mô hình 5 áp lực của Michael Porter Các nhà chiến lược đang tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình này để phân tích xem họ có nên gia nhập một thị trường nào đó, hoặc hoạt động trong một thị trường nào đó không Tuy nhiên, vì môi trường kinh doanh ngày nay mang tính
“động”, nên mô hình này còn được áp dụng để tìm kiếm trong một ngành nhất định các khu vực cần được cải thiện để sản sinh nhiều lợi nhuận hơn
- Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp:
Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định
Trang 28đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành
Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp: vấn đề này nghiên cứu khả năng thay thế những nguyên liệu đầu vào do các nhà cung cấp và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp (Switching cost)
Thông tin về nhà cung cấp: Trong thời đại hiện tại thông tin luôn là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của thương mại, thông tin về nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp, nhà cung cấp luôn gây các áp lực nhất định nếu họ có quy mô, sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quý hiếm Chính vì thế những nhà cung cấp các sản phẩm đầu vào nhỏ lẻ sẽ có rất ít quyền lực đàm phán đối với các doanh nghiệp mặc dù họ có số lượng lớn nhưng họ lại thiếu tổ chức
- Áp lực cạnh tranh từ khách hàng:
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Khách hàng phân làm 2 nhóm: + Khách hàng lẻ
+ Nhà phân phối
Cả hai nhóm đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng Áp lực cạnh tranh từ khách hàng đối với ngành cũng tương tự như áp lực từ phía nhà cung cấp, thể hiện qua:
+ Quy mô
+ Tầm quan trọng
+ Chi phí chuyển đổi khách hàng
+ Thông tin khách hàng
Trang 29Đặc biệt nhà phân phối có vai trò khá quan trọng bởi họ có thể trực tiếp đi sâu vào uy hiếp ngay trong nội bộ của doanh nghiệp, có đủ quyển lực để đàm phán với các doanh nghiệp khác về giá cả, chất lượng sản phẩm cũng như các chính sách Marketing khi đưa hàng vào trong hệ thống của mình
- Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:
Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trên trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau
+ Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành
+ Những rào cản gia nhập ngành: là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào một ngành khó khăn và tốn kém hơn, gồm:
Kỹ thuật
Vốn
Các yếu tố thương mại: Hệ thống phân phối, thương hiệu, khách hàng
Các nguồn lực đặc thù: Nguyên vật liệu đầu vào (bị kiểm soát), bằng cấp, phát minh sáng chế, nguồn nhân lực, sự bảo hộ của chính phủ
- Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế:
Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành Áp lực cạnh tranh chủ yếu của sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu so với các sản phẩm trong ngành, thêm vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng, các yếu tố khác của môi trường như văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự
đe dọa của sản phẩm thay thế
- Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành:
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp
Trang 30với nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh Trong một ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh trên các đối thủ + Tình trạng ngành: Nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng, số lượng đối thủ cạnh + Cấu trúc của ngành: Ngành tập trung hay phân tán
Ngành phân tán là ngành có rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nhưng không có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn lại Ngành tập trung: Ngành chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp nắm giữ vai trò chi phối (điều khiển cạnh tranh - có thể coi là độc quyền)
+ Các rào cản rút lui: Giống như các rào cản gia nhập ngành, rào cản rút lui là các yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp trở nên khó khăn: Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư
Ràng buộc với người lao động
Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan
Các ràng buộc chiến lược, kế hoạch
- Áp lực từ các bên liên quan mật thiết:
Đây là áp lực không được đề cập trực tiếp ngay trong ma trận nhưng cũng cần ghi chú về áp lực từ các bên liên quan mật thiết (Thomas L Wheelen & J David Hunger, 1995, Strategic management & business policy):
+ Chính phủ
+ Cộng đồng
+ Các hiệp hội
+ Các chủ nợ, nhà tài trợ, cổ đông
+ Complementor (Tạm hiểu là nhà cung cấp sản phẩm bổ sung cho một hoặc nhiều ngành khác)
1.3.2 Mô hình P.E.S.T
Nếu mô hình 5 áp lực của M-Porter đi sâu vào việc phân tích các yếu tố
Trang 31trong môi trường ngành kinh doanh thì mô hình PEST phân tích các tác động từ các yếu tố trong môi trường vĩ mô:
P (Political)- Các yếu tố chính trị và luật pháp có thể tác động tới ngành kinh doanh, ví dụ: Luật doanh nghiệp và luật đầu tư 2005
E (Economics) - Các yếu tố kinh tế, ví dụ như thay đổi trong giá dầu, hoặc GPD tăng trưởng cao
S (Sociocultrural) - Các yếu tố xã hội như thay đổi về niềm tin hoặc thái độ từ việc tăng thu nhập hoặc tiếp cận với các xu hướng quốc tế
T (Technonogical) - Các yếu tố về kỹ thuật như tăng việc sử dụng internet hoặc có thêm nhiều thông tin trên mạng về lĩnh vực kinh doanh của bạn
Đây là bốn yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế, các yếu tố này là các yếu tố vĩ mô tác động tới doanh nghiệp cũng như ngành, và ngành phải chịu các tác động của nó đem lại như một yếu tố khách quan từ đó sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp
Các yếu tố thể chế- luật pháp
Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp buộc phải tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó + Sự bình ổn: sự bình ổn trong các yếu tố xung đột chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó
+ Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu nhập sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp
+ Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật lao động, luật
Trang 32chống độc quyền, chống bán phá giá
+ Chính sách: Các chính sách của nhà nước sẽ có ảnh hưởng tới doanh nghiệp, nó có thể tạo ra lợi nhuận hoặc thách thức với doanh nghiệp Như các chính sách thương mại, chính sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng
Các yếu tố kinh tế
Các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và sự can thiệp của chính phủ tới nền kinh tế Thông thường các doanh nghiệp sẽ dựa trên yếu tố kinh tế để quyết định đầu tư vào các ngành, khu vực + Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, trong mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình
+ Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: lãi suất, lạm phát,
+ Các chính sách kinh tế của chính phủ: Luật tiền lương, các chiến lược phát triển của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành: giảm thuế, trợ cấp + Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư
Các yếu tố văn hóa xã hội
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông thường được bảo vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là các văn hóa tinh thần Tuy vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận những giao thoa văn hóa của các nền văn hóa khác vào các quốc gia Sự giao thoa này sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển vọng phát triển với các ngành
Trang 33Ngay tại Việt Nam thời gian gần đây có thể nhận ra ngay sự giao thoa của các nền văn hóa đặc biệt là văn hóa Hàn Quốc Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập khác nhau:
+ Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống
+ Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập
+ Lối sống, học thức, các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống
+ Điều kiện sống
Yếu tố công nghệ
Cả thế giới vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng loạt các công nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ Đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông hiện đại đã giúp các khoảng cách về địa lý, phương tiện truyền tải
+ Đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp vào công tác R&D
+ Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu
+ Ảnh hưởng của công nghệ thông tin, internet đến hoạt động kinh doanh
Yếu tố hội nhập
Ngoài các yếu tố cơ bản trên, yếu tố toàn cầu hóa cũng được coi như một yếu tố vĩ mô tác động đến ngành khi nghiên cứu thị trường Toàn cầu hóa đang là xu thế, và xu thế này không chỉ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, các quốc gia trong việc phát triển sản xuất, kinh doanh
+ Toàn cầu hóa tạo ra các sức ép cạnh tranh, các đối thủ đến từ mọi khu vực Quá trình hội nhập sẽ khiến các doanh nghiệp phải điều chỉnh phù hợp với các lợi thế so sánh, phân công lao động của khu vực và của thế giới
+ Điều quan trọng là khi hội nhập, các rào cản về thương mại sẽ dần dần được
Trang 34gỡ bỏ, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp lúc này không chỉ là thị trường nội địa nơi doanh nghiệp đang kinh doanh mà còn là môi trường quốc tế Tuy nhiên nếu xem xét kỹ lưỡng thì yếu tố hội nhập đều được thể trong các yếu tố cơ bản của mô hình Đây thực chất chỉ là sự chi tiết hóa ra để thấy rõ hơn tác động của hội nhập quốc tế Tương tự mô hình P.E.S.T còn được mở rộng thành các ma trận P.E.S.L.T (Bao gồm yếu tố pháp luật) và S.T.E.E.P.L.E (Thêm yếu tố nhân khẩu học và đạo đức) và càng ngày càng hoàn thiện trở thành một chuẩn mực để nghiên cứu môi trường bên ngoài của doanh nghiệp
1.3.3 Mô hình nghiên cứu:
Từ cơ sở lý thuyết từ mô hình P.E.S.T cho các yếu tố tác động trong môi trường vĩ mô và từ mô hình 5 yếu tố của Michael Porter nghiên cứu các yếu tố trong môi trường vi mô, mô hình nghiên cứu ban đầu được đề xuất với 9 nhóm yếu tố là các biến độc lập tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc là sự phát triển của ngành logistics Mô hình có thể tóm tắt như hình 1.2:
Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu ban đầu
Các yếu tố thể chế- luật pháp
Các yếu tố kinh tế
Sự phát triển của ngành
Các yếu tố văn hóa xã hội
Các yếu tố công nghệ
Yếu tố nhà cung cấp
Yếu tố khách hàng
Yếu tố đối thủ tiềm ẩn
Yếu tố sản phẩm thay thế
Yếu tố nội bộ ngành
Trang 35Từ các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành logistics, các chỉ số đánh giá cho từng nhân tố được xây dựng như bảng 1.1:
Bảng 1.1: Các chỉ số cấu thành các nhân tố trong mô hình
Các yếu tố thể chế- luật
pháp
1 Mức độ ổn định của môi trường chính trị
2 Chính sách của chính phủ
3 Hệ thống hải quan
4 Chính phủ tham gia các hiệp định thương mại Các yếu tố kinh tế 1, Qui mô vốn của ngành
2, Tỷ lệ lạm phát, GDP và thất nghiệp tính theo đầu người
3, Giá các nguyên liệu và dịch vụ đầu vào
4, Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
5, Cơ sở hạ tầng của ngành và của vùng, đất nước
6, Các mặt hàng và thị trường xuất khẩu chủ lực
7 Tỷ lệ lãi suất
Các yếu tố văn hoá xã
hội
1 Quan điểm của người dân
2, Giáo dục đào tạo về chuyên ngành
3, Ảnh hưởng của ngôn ngữ
4, Vai trò của phụ nữ và nam giới trong xã hội Các yếu tố công nghệ 1, Vai trò của công nghệ đối với giá và chất lượng
2, Công nghệ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới hơn
3, Công nghệ mới thay đổi việc phân phối
4, Công nghệ mang lại cho các doanh nghiệp cách giao tiếp mới với người tiêu dùng
Trang 36Yếu tố nhà cung cấp 1, Qui mô nhà cung cấp
2, Chi phí thay đổi nhà cung cấp
3, Mối quan hệ với các nhà cung cấp
4, Nguy cơ tăng cường hợp nhất với nhà cung cấp
5, Mức độ tập trung của các nhà cung cấp cho ngành Yếu tố sản phẩm thay
thế
1, Sự tồn tại của các dịch vụ thay thế
2, Sự tiến bộ của công nghệ đối với sản phẩm thay thế
3, Tính bất ngờ các sản phẩm dịch vụ
4 Sự đón nhận sản phẩm thay thế
5, Chi phí chuyển đổi các dịch vụ Yếu tố khách hàng 1, Qui mô của khách hàng
2, Khả năng sáp nhập/tổ chức riêng của khách hàng
3, Ảnh hưởng từ các khách hàng khác
4 Thông tin về khách hàng
5 Chi phí chuyển đổi/tìm kiếm khách hàng
6 Tác động từ các hiệp hội chủ hàng Yếu tố đối thủ tiềm ẩn 1, Mức độ chuẩn hóa của đầu vào/rào cản gia nhập
ngành
2, Khả năng thay đổi chiến lược
3, Tính đa dạng của các đối thủ
4, Sức hấp dẫn của ngành
5 Khả năng hợp tác với các đối thủ mới xuất hiện Yếu tố nội bộ ngành 1, Số lượng công ty lớn làm tăng tính cạnh tranh
2, Tính đặc trưng chuyên môn hóa của tài sản trong ngành
Trang 373, Tính kinh tế theo quy mô
4, Các rào cản ”thoát ra”
5, Cạnh tranh dữ dội dẫn đến sự sàng lọc trong ngành
6 Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa 1.4.Một số bài học kinh nghiệm phát triển và hội nhập ngành logistics
Trong quá trình phát triển ngành logistics, ngành logistics Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của rất nhiều nước trên thế giới Không cần tìm hiểu những kinh nghiệm từ các quốc gia xa xôi, ngành logistics Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia láng giềng có quá trình phát triển ngành logistics cũng như các lợi thế tương đồng và đã đạt được thành tựu to lớn trong việc phát triển ngành logistics như Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản
1.4.1.Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc
Trung Quốc đang có những bước tiến mạnh mẽ trong quá trình phát triển hoạt động logistics Sự phát triển liên tục trong suốt 3 thập kỷ, gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO năm 2001 cũng như sự bùng nổ về thương mại điện tử đã trở thành ba yếu tố chính thúc đẩy phát triển hệ thống logistics và phân phối của Trung Quốc Các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu đã đến Trung Quốc và đi cùng với nó là các nhà cung cấp dịch vụ logistics Hơn thế, nữa, sự tăng trưởng liên tục đã tạo ra thị trường nội địa rộng lớn hơn kích thích sự phát triển của hệ thống phân phối
- Sự thay đổi trong luật pháp trước và sau khi gia nhập WTO được coi là yếu tố hàng đầu giúp thúc đẩy phát triển ngành logistics đặc biệt là luật pháp áp dụng cho hai hoạt động dịch vụ kho bãi và trung tâm logistics đã được chính phủ Trung Quốc khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có thể được thành lập khi gia nhập WTO - điều mà
Trang 38trước khi gia nhập WTO là không thể (Asia information associates limited, 2002) Cùng với việc gia nhập WTO, chính phủ Trung Quốc đã và đang có nhiều chính sách hỗ trợ và phát triển ngành dịch vụ rất quan trọng này
- Đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng mạnh mẽ cho ngành logistics đã làm nên những bước tiến vượt bậc cho ngành logistics Tổng chi phí cho hoạt động logistics chiếm khoảng 18% GDP của Trung Quốc, tỷ lệ này cao gấp đôi so với tỷ lệ của các nước phát triển và ngân hàng thế giới ước tính rằng chỉ cần giảm 1% chi phí logistics thì Trung Quốc có thể tiết kiệm được 240 triệu nhân dân tệ Nhằm đảm bảo cho ngành logistics phát triển, Trung Quốc tập trung xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải cho cả đường bộ, đường sắt, đường sông, đường hàng không và đường biển trong đó rất chú trọng xây dựng hệ thống kho bãi và phát triển hệ thống thông tin liên lạc áp dụng các chương trình EDI, ERP, MRP và GPS cho quản lý dữ liệu qua mạng Chính hoạt động đầu tư mạnh mẽ và táo bạo đã thu hút sự hoạt động của các tập đoàn logistics mạnh trên thế giới đã giúp ngành logistics của Trung Quốc đạt mức tăng trưởng bình quân 25%/năm (Li & Fung Research Centre, 2008, China distribution & trading)
- Ngành dịch vụ logistics của Trung Quốc đã có sự chuyển hướng rõ rệt từ hơn một thập niên trở lại đây nhờ việc các nhà sản xuất đã chú ý đến hoạt động thuê ngoài (outsourcing) nhằm tận dụng tối đa hiệu quả hoạt động của bên thứ 3 đã phát huy lợi thế cạnh tranh của mình
- Theo xu hướng toàn cầu hóa của ngành logistics, Trung Quốc khuyến khích hoạt động mua bán, sáp nhập công ty và hợp tác với nước ngoài đã giúp cho ngành logistics phát triển mạnh mẽ và hiệu quả
Nhìn chung mức độ hoạt động của logistics hiện đại tiếp tục mở rộng và hiệu quả tăng trưởng được nâng cao (được dự đoán từ 18-20%/năm) Vai trò của ngành logistics ngày càng được khẳng định vững chắc
Trang 391.4.2 Bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc
- Yếu tố quan trọng nhất làm nên sự phát triển vuợt bậc của Hàn Quốc chính là nhận thức về vai trò của cơ sở hạ tầng, và do đó trở thành mục tiêu hàng đầu cho đầu tư Cảng là cánh tay phân phối cốt lõi của nền kinh tế Hàn Quốc Nhờ sự thay đổi nhận thức về cơ sở hạ tầng, Hàn Quốc có một hệ thống logistics nội địa xuất sắc bao gồm đường cao tốc, đường bộ, đường sắt và mở rộng đến mọi góc của đất nước Chính nhờ hệ thống cơ sở hạ tầng mà ngành logistics đã đạt được những cú bứt phá ngoạn mục
- Sự tham gia của các tập đoàn công nghiệp và tài chính, các tập đoàn vận tải mang tính toàn cầu là những đóng góp lớn cho sự phát triển ngành logistics
- Mối quan hệ giữa hải quan và các cơ quan khác của chính phủ Hàn Quốc theo mô hình cơ chế một cửa được thực hiện từ rất sớm với mục tiêu tạo thuân lợi cho thương mại đã được thúc đẩy Trong tương lai toàn bộ các cơ quan quản lý có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu sẽ tham gia hệ thống một cửa 1.4.3 Bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia có tốc độ phát triển ngành logistics nhanh nhất thế giới Đặc thù của doanh nghiệp Nhật Bản cũng tương tự doanh nghiệp Việt Nam, nhưng ngành công nghiệp giao nhận kho vận của họ vẫn phát triển nhanh đến vậy? Đó là điều doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu!
- Chính phủ Nhật Bản rất chú trọng đến việc sửa đổi những chính sách, đường lối ngành logistics với mục tiêu ủng hộ công cuộc cải tổ cơ cấu thị trường logistics và ngành công nghiệp logistics Ưu tiên trước hết giành cho hệ thống phân phối hiệu quả và chính xác nhằm nâng cao tính cạnh tranh quốc tế Nhật Bản chú trọng vào 2 chiến lược phát triển cơ bản sau:
Thứ nhất, tập trung hợp lý hóa dịch vụ logistics thành phố Ngay từ những năm 1960 Nhật Bản đã xây dựng và phát triển các bãi kho vận logistics xung
Trang 40quanh các thành phố lớn và gần các điểm mấu chốt giao thông vận tải
Thứ hai, chính phủ Nhật Bản trực tiếp chỉ đạo, dẫn dắt việc xây dựng các trung tâm kho vận logistics Chính phủ Nhật Bản giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng các trung tâm kho vận logistics và coi việc phát triển ngành logistics hiện đại là chiến lược quan trọng để nâng cao vị thế quyền lực quốc gia Nhật Bản rất chú trọng đến hiệu quả và hoạt động kiểm soát vĩ mô ngành logistics coi sự phát triển của logistics hiện đại như là một điều quan trọng cách nào để cải thiện sức mạnh toàn diện quốc gia.Vì vậy, chính phủ đã nhấn mạnh hơn về quản lý vĩ mô của nó và có hiệu lực
- Nhật Bản là quốc gia đầu tiên phát triển logistics pack và đưa ra khái niệm tiên tiến về khu logistics (cũng được đặt tên là vùng logistics) Nhật Bản đánh giá cao đóng góp rất nhiều vào phát triển vật lý phân phối ngành công nghiệp của logistics pack Logistics pack phát huy mạnh mẽ chức năng của mình phục vụ phân phối của thành phố Thực tiễn chứng minh rằng logistics pack phát huy tác dụng tích cực trên phát triển ngành logistics của Nhật Bản, đặc biệt là về sự phát triển của phân phối đô thị
- Bên cạnh đó, Nhật Bản còn sở hữu một hệ thống logistics được qui hoạch tốt trên toàn bộ lãnh thổ Chính phủ Nhật Bản đã ban hành hàng loạt chính sách khuyến khích thích hợp để hoàn thiện hệ thống đường sá, nâng cấp hệ thống giao thông vận tải đường sông - biển, giảm tắc nghẽn giao thông đường bộ thành phố và phát triển mạng lưới giao thông vận tải liên kết bao trùm lên tất cả 4 đảo lớn của đất nước cũng như tất cả các đảo khác
- Phát triển logistics 3PL đã thực sự thu hút được sự chú ý của các doanh nhân Nhật Bản
Logistics pack, các trung tâm phân phối, trung tâm logistics, và hệ thống các đường giao thông phục vụ như là nền tảng của hệ thống logistics Những thế