1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở việt nam thực trạng và giải pháp

17 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 838,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ có quy định một giải pháp trong lĩnh vực hoàn thuế GTGT là: "tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN QUỐC HÙNG

PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN QUỐC HÙNG

PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Thu Thủy

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ

TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

6

1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng, khấu trừ và

hoàn thuế giá trị gia tăng

6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng 6 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng 12

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ

GIA TĂNG Ở VIỆT NAM

27

2.1.1 Đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng 27 2.1.2 Các trường hợp hoàn thuế giá trị gia tăng 26

Trang 4

2.3 Quy trình, thời hạn giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng 40

2.3.2 Thời hạn giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng 45

2.4.2 Hóa đơn, chứng từ hoàn thuế giá trị gia tăng 54

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOÀN

THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM

71

3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế giá trị gia

tăng ở Việt Nam

71

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế giá trị gia

tăng ở Việt Nam

74

3.2.1 Thu hẹp đối tượng hoàn thuế giá trị gia tăng 74

3.2.2 Về hóa đơn hoàn thuế giá trị gia tăng 77

3.2.4 Về quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng 85

3.2.5 Phương thức giải quyết tranh chấp về hoàn thuế giá trị gia tăng 88

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) lần đầu tiên được Quốc hội khóa IX

thông qua ngày 10/5/1997 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 Việc

quy định thuế GTGT thay cho thuế doanh thu là một bước cải cách quan

trọng trong hệ thống chính sách thuế của Việt Nam Tính đến nay, Luật đã

trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Gần đây nhất, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội

khóa XII, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 03/6/2008 đã

thông qua Luật thuế GTGT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Kể từ

khi ban hành cho đến nay, thuế GTGT luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của

xã hội, của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức, cá nhân

Thuế GTGT là một sắc thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng

hóa, dịch vụ Điểm nổi bật của thuế GTGT là khắc phục được nhược điểm

thu trùng lắp, chồng chéo qua nhiều khâu của thuế doanh thu Khấu trừ là

một đặc trưng cơ bản của thuế GTGT, qua cơ chế này các doanh nghiệp

cũng thường lợi dụng để thực hiện những hành vi gian lận để chiếm đoạt tiền

của Nhà nước thông qua việc khấu trừ và hoàn thuế

Tại Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ có

quy định một giải pháp trong lĩnh vực hoàn thuế GTGT là: "tạm hoàn 90%

số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa xuất khẩu trong trường

hợp doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và hoàn tiếp

10% khi có chứng từ thanh toán"

Những chủ trương này của Nhà nước về hoàn thuế GTGT nhằm tác

động và bảo đảm tính công bằng, bình đẳng cho các chủ thể nộp thuế; kích

thích hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ; kích thích hoạt động sản xuất,

kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế đất nước nói

chung Hiệu quả tích cực từ thuế GTGT cho thấy: thu ngân sách nhà nước

tăng nhiều so với thuế doanh thu; hoạt động sản xuất, kinh doanh nội địa đã

ngày càng phát triển mạnh mẽ, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch

vụ khi xuất khẩu

Hoàn thuế GTGT là một chế định hết sức tiến bộ của Luật thuế GTGT Tuy nhiên thời gian qua, lợi dụng những chủ trương, chính sách khuyến khích của Nhà nước, hàng loạt các hành vi vi phạm như: gian lận trong lập

hồ sơ hoàn thuế, mua bán hóa đơn, chứng từ, xuất khẩu khống hàng hóa… nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp, không ngừng gia tăng về tính chất và mức độ vi phạm của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và tổ chức, cá nhân đối với các quy định về hoàn thuế GTGT của Nhà nước Những vi phạm này, đã hạn chế ưu điểm tích cực từ chính sách hoàn thuế GTGT, gây thiệt hại không nhỏ đến việc thu ngân sách nhà nước từ thuế Đồng thời, làm giảm niềm tin của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp làm ăn chân chính đối với chính sách thuế của nước ta Thực tiễn này đòi hỏi các nhà luật học cần phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hoàn thuế GTGT để chính sách này công bằng, bình đẳng hơn cho xã hội, cho các doanh nghiệp và các tổ chức kinh

tế, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước

Chính những lý do kể trên, đã giúp học viên mạnh dạn chọn đề tài:

"Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam - Thực trạng và giải

pháp" làm luận văn thạc sĩ

Với đề tài này, học viên mong muốn được tiếp tục nghiên cứu pháp luật

về hoàn thuế GTGT, qua đó phân tích, đánh giá thực trạng nhằm tìm ra những hạn chế, bất cập và đưa ra các giải pháp về hoàn thuế GTGT ở Việt Nam, góp phần làm rõ chính sách thuế GTGT của Chính phủ

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, đã có nhiều đề tài tập trung tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề xung quanh các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về thuế, Bộ Tài chính - Tổng Cục thuế cũng đã tiến hành những nghiên cứu các quy định của các nước về hoàn thuế GTGT trước khi

áp dụng chính sách hoàn thuế GTGT ở nước ta, cụ thể nghiên cứu về: Thực tiễn tại Pháp khi áp dụng Chỉ thị 2008/9/EC về các phương thức hoàn thuế GTGT cho các công ty thành lập tại một nước thành viên Các quy định chính đã được quy định ở Đạo Luật tài chính 2010 của Pháp (Mục 102), quy định về nguyên tắc nộp đơn và thủ tục hoàn thuế GTGT

Trang 6

5 6

Báo cáo khảo sát về hoàn thuế GTGT của Đức khi quy định về thủ tục

hoàn thuế GTGT tại Đức áp dụng cho các doanh nhân Đức trong hoạt động

sản xuất, kinh doanh

Thực tiễn áp dụng quy chế hoàn lại tiền thuế GTGT cho hàng hóa và

dịch vụ đủ tiêu chuẩn hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp, tổ chức,

hay hiệp hội trong hoạt động kinh doanh tại Đài Loan…

Đồng thời, nhiều hội thảo của Cục Thuế các tỉnh, thành phố ở Việt Nam

đã được tổ chức nhằm tháo gỡ và giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn

áp dụng hoàn thuế GTGT ở từng địa phương

Trong giới luật học, nhiều tác giả lựa chọn pháp luật về hoàn thuế

GTGT là đề tài nghiên cứu ở góc độ lý luận, cũng như nhiều bài viết mang

tính nghiên cứu trao đổi của các chuyên gia pháp lý đăng trên các tạp chí

chuyên ngành, cụ thể: Luận văn thạc sỹ luật học năm 2006 của Bùi Công

Quang về đề tài "Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá

trị gia tăng ở Việt Nam"; Bài viết của Nguyễn Văn Tuyến năm 2008 tại Tạp

chí Nghiên cứu lập pháp điện tử về "Một số ý kiến trao đổi, bình luận về dự

án luật thuế thu nhập doanh nghiệp và dự án luật thuế giá trị gia tăng"; Bài

viết của Lê Thị Thu Thủy năm 2008 tại Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử

về "Luật thuế giá trị gia tăng nên sửa đổi theo hướng nào" v.v…

Luận văn "Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam - Thực

trạng và giải pháp" sẽ là một trong những đề tài tiếp tục nghiên cứu, tìm

hiểu chuyên sâu về thực trạng vấn đề hoàn thuế GTGT ở Việt Nam và pháp

luật về vấn đề này

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về hoàn thuế GTGT ở

Việt Nam, kết hợp đối chiếu với các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT

ở một số nước trên thế giới Luận văn sẽ đánh giá thực trạng và chỉ ra những

hạn chế, bất cập hiện hành trong pháp luật về hoàn thuế GTGT, trên cơ sở đó

đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về hoàn thuế

GTGT ở Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu

Mặc dù các quy phạm của Luật thuế GTGT nói chung và hoàn thuế GTGT nói riêng gắn chặt với các phạm trù kinh tế, nhưng với góc độ của một luận văn thạc sĩ luật học, học viên chỉ đi sâu nghiên cứu các quy định pháp luật, các quan điểm, chính sách pháp luật có liên quan đến hoàn thuế GTGT ở Việt Nam

Các khái niệm xuất hiện trong luận văn tốt nghiệp luật học này được dừng ở mức độ sử dụng kết quả nghiên cứu của các học giả và các nhà kinh

tế học, để phục vụ tốt hơn cho việc tiếp cận các quy định pháp luật hiện hành

về hoàn thuế GTGT

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá, khảo sát, thống kê… để làm rõ các nội dung nghiên cứu trong

đề tài

5 Những đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan đến pháp luật hoàn thuế GTGT ở Việt Nam Luận văn phân tích và làm sáng tỏ thực trạng pháp luật về hoàn thuế GTGT, trên cơ sở đó nêu ra những điểm hạn chế, bất cập hiện nay trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hoàn thuế GTGT và đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật

về vấn đề này ở Việt Nam

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng và

pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở

Việt Nam

Trang 7

Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng, khấu trừ và hoàn

thuế giá trị gia tăng

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng

Tại Điều 2, Luật thuế GTGT của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 quy định: "Thuế giá trị gia

tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong

quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng"

Như vậy, thuế GTGT được coi là một loại thuế tiêu dùng và là thuế gián

thu nhằm đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nhưng được thu ở

khâu bán hàng Nói một cách khác, thuế GTGT là sắc thuế áp dụng đối với

giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở tất cả các khâu từ sản xuất, lưu

thông đến tiêu dùng Đặc biệt, thuế GTGT đánh vào khâu cuối cùng (khâu

tiêu dùng) sẽ bằng tổng giá trị các lần đánh thuế của các khâu trước đó

Dưới góc độ pháp lý, thuế GTGT là nghĩa vụ tài chính theo đó người

chịu thuế phải nộp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước, thông qua

hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Trong thực tế, phần đông các chủ thể có

nghĩa vụ nộp thuế GTGT không tự nguyện nộp thuế nếu như Nhà nước

không ràng buộc họ bằng các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc Vì vậy, những nội

dung cơ bản về thuế GTGT đã được quy định trong luật thuế GTGT năm

2008, gồm 4 chương, 12 điều

Đặc điểm thuế GTGT

Đặc điểm của thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào giá trị tăng

thêm của hàng hóa, dịch vụ trên bình diện rộng Tính gián thu của thuế

GTGT được thể hiện qua đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế là hai

chủ thể hoàn toàn khác nhau Mặt khác sắc thuế này cũng mang bản chất liên

hoàn và có tính trung lập kinh tế cao, mang những đặc tính cơ bản, đặc trưng

của một sắc thuế khoa học, tiên tiến như: tính lũy thoái, điều tiết hành vi tiêu

dùng hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, đặc điểm chính, chủ yếu của thuế GTGT

là: Thuế GTGT là sắc thuế gián thu đánh trên bình diện rộng, thuế GTGT gắn liền với chế độ sở sách kế toán và hóa đơn, chứng từ

- Thuế GTGT là sắc thuế gián thu đánh trên bình diện rộng

- Thuế GTGT gắn liền với chế độ sổ sách kế toán và hóa đơn, chứng từ

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng

Tại Khoản 1, điểm a, Điều 10 luật thuế GTGT quy định: "Số thuế giá trị

gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ

số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ"

Tại chương III, Điều 10, Nghị định số 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/12/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT của Việt Nam quy định về hoàn thuế GTGT như

sau: "Việc hoàn thuế giá trị gia tăng thực hiện theo quy định tại Điều 13 luật

thuế giá trị gia tăng"

Như vậy, hoàn thuế là việc hoàn trả lại số tiền thuế nộp thừa cho tổ chức, cá nhân nộp thuế khi:

+ Tổ chức, cá nhân nộp thuế có số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế phải nộp

+ Tổ chức, cá nhân nộp thuế có số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế phải nộp

Đặc điểm của khấu trừ và hoàn thuế GTGT

Đặc điểm của phương pháp khấu trừ là chỉ áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế

Hoàn thuế GTGT có những đặc điểm nổi bật sau:

Chủ thể được hoàn thuế GTGT là đối lượng nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật Tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật thuế GTGT quy định: "Người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ

chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng"

Trang 8

9 10

Căn cứ để được xét và chấp nhận cho hoàn thuế GTGT đó là bộ hồ sơ

hoàn thuế GTGT Hồ sơ hoàn thuế GTGT phải do chính chủ thể nộp thuế

GTGT lập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhằm chứng minh sự thỏa mãn

các điều kiện được xét và chấp nhận hoàn thuế

1.2 Các nguyên tắc hoàn thuế giá trị gia tăng

Nguyên tắc quan trọng trong hoàn thuế GTGT là chỉ hoàn thuế GTGT

đầu vào của hàng hóa, dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

chịu thuế GTGT

Nguyên tắc chỉ hoàn thuế cho các cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

chịu thuế GTGT khi họ đã thực hiện xong nghĩa vụ thuế và có đủ các điều

kiện luật định về hoàn thuế GTGT

1.3 Vai trò, ý nghĩa của hoàn thuế giá trị gia tăng

Hoàn thuế là một chế định pháp luật của Luật thuế GTGT Thông qua

việc thực hiện pháp luật thuế GTGT thì hoàn thuế GTGT đã thể hiện được

những vai trò và ý nghĩa như sau:

Thứ nhất: Hoàn thuế GTGT thể hiện tính ưu việt, vượt trội của thuế

GTGT so với thuế doanh thu Hoàn thuế GTGT đã khắc phục nhược điểm

đánh thuế trùng lặp giữa các khâu, đối với cùng một hàng hóa, dịch vụ hay

cùng một chủ thể nộp thuế, từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng của

thuế doanh thu

Thứ hai: Hoàn thuế GTGT giữ vai trò và ý nghĩa to lớn trong việc bảo

đảm tính công bằng, bình đẳng cho các chủ thể nộp thuế

Thứ ba: Hoàn thuế GTGT đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích,

đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ

Thứ tư: Hoàn thuế GTGT là động lực để doanh nghiệp kinh doanh hàng

hóa, dịch vụ chịu thuế thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hóa đơn, chứng từ, chế

độ kế toán

1.4 Nội dung của pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng

Pháp luật về hoàn thuế GTGT điều chỉnh mối quan hệ giữa một bên là

nhà nước (đại diện là cơ quan thuế) và một bên là chủ thể yêu cầu hoàn thuế

Quan hệ pháp luật này xuất hiện khi có sự kiện pháp lý là đơn yêu cầu hoàn thuế cả cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có quyền này

Quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trong lĩnh vực thuế nói chung và hoàn thuế GTGT nói riêng, quy định về hoàn thuế GTGT, cụ thể về: Đối tượng, điều kiện, các trường hợp được hoàn thuế, trình tự, thủ tục, thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế GTGT như:

Hoàn thuế GTGT được thực hiện khi có quyết định hành chính của cơ quan thuế có thẩm quyền Cơ quan thuế ra quyết định hoàn trả lại cho chủ thể nộp thuế GTGT một khoản tiền thuế nhất định Quyết định hoàn thuế được ban hành khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn

Như vậy, pháp luật về hoàn thuế GTGT được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa một bên chủ thể là nhà nước (đại diện là các cơ quan thuế có thẩm quyền) và một bên chủ thể là các

tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu hoàn thuế GTGT có liên quan đến việc hoàn lại số tiền thuế nộp thừa hoặc chưa được khấu trừ hết cho chủ thể được hoàn thuế GTGT khi đã thực hiện các quy định của pháp luật về thuế Cụ thể, pháp luật về hoàn thuế GTGT bao gồm các quan hệ pháp luật điều chỉnh về đối tượng và các trường hợp hoàn thuế GTGT bao gồm các quan hệ pháp luật điều chỉnh về đối tượng và các trường hợp hoàn thuế GTGT, điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT, quy trình, thời hạn giải quyết hoàn thuế GTGT, hồ sơ, hóa đơn hoàn thuế GTGT và giải quyết tranh chấp về hoàn thuế GTGT

Tóm lại, thông qua hoàn thuế GTGT, Nhà nước mong muốn bảo đảm

tính công bằng, bình đẳng cho các chủ thể nộp thuế, góp phần kích thích hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp; thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Như vậy, hoàn thuế GTGT cũng sẽ tạo động lực cần thiết để kích thích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, nhằm tăng kim ngạch hàng xuất khẩu của đất nước

Trang 9

Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là, cơ quan thuế nhà nước có thẩm quyền

và ngay cả các doanh nghiệp khi thực hiện chính sách về hoàn thuế GTGT

thì đều phải nghiêm chỉnh và đảm bảo tính pháp chế đối với luật thuế GTGT

và các văn bản hướng dẫn nói riêng và hệ thống về thuế của nhà nước nói

chung

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM

2.1 Đối tượng và các trường hợp hoàn thuế giá trị gia tăng

2.1.1 Đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng

Hoàn thuế GTGT chỉ áp dụng cho các chủ thể chịu thuế, nộp thuế GTGT

Tại Điều 3, Luật thuế GTGT năm 2008 quy định về đối tượng chịu thuế

"Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt

Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ 25 loại hàng hóa, dịch vụ

quy định tại Điều 5 của Luật này"

Trường hợp đối tượng nộp thuế có phát sinh số thuế đầu vào nhưng lại

không có thuế đầu ra (hàng hóa, dịch vụ bán ra không thuộc diện chịu thuế

GTGT) thì đối tượng nộp thuế cũng được hoàn thuế

2.1.2 Các trường hợp hoàn thuế giá trị gia tăng

Pháp luật về thuế GTGT không quy định cho từng đối tượng cụ thể

được hoàn thuế mà chỉ quy định các trường hợp hoàn thuế Các trường hợp

hoàn thuế đã được quy định tại mục C, Thông tư 129/2008/TT-BTC ngày

26/12/2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành Nghị định số

123/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

một số điều của luật thuế GTGT

Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều doanh nghiệp hoạt động với quy mô nhỏ

nên lũy kế số thuế đầu vào trong thời gian ba tháng cũng không đáng kể Các cơ

sở kinh doanh không có hoạt động xuất khẩu hoặc có nhưng giá trị thấp, thì dù

số thuế đầu vào trong tháng phát sinh cao đến mấy vẫn không được hoàn thuế

theo tháng mà phải chờ đủ ba tháng Điều này sẽ làm cho vốn của các doanh

nghiệp bị lưu lại khá lâu, gây ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh tiếp theo của họ Đây là một hạn chế rất lớn của quy định về hoàn thuế GTGT

2.2 Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng

Luật thuế GTGT hiện hành không quy định cụ thể điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT chung cho mọi trường hợp, mà chỉ quy định điều kiện riêng cho từng trường hợp hoàn thuế Tuy nhiên, qua các quy định hiện hành

về hoàn thuế GTGT và thực tiễn áp dụng, có thể thấy điều kiện hoàn thuế GTGT bao gồm các điểm sau đây

2.2.1 Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế

Doanh nghiệp xin hoàn thuế phải hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời có số thuế GTGT đầu vào lớn hơn thuế GTGT đầu ra Hàng hóa, dịch vụ bán ra phải là những hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT Điều đó có nghĩa rằng những hàng hóa, dịch vụ này phải không rơi vào một trong các trường hợp được quy định tại Điều 5 luật thuế GTGT năm 2008

Hàng hóa, dịch vụ bán ra phải là những hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và phải gắn liền với quá trình tạo nên hàng hóa, dịch vụ bán ra

2.2.2 Thanh toán qua ngân hàng

Chủ thể xin hoàn thuế phải xuất trình đầy đủ hóa đơn, chứng từ kê khai thuế phát sinh đầu ra và thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng hoặc hóa đơn, chứng từ chứng minh đã xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, kèm theo tờ khai với cơ quan hải quan Đối với các hóa đơn GTGT có tổng giá trị thanh toán một lần (hoặc nhiều lần cộng lại) từ hai mươi triệu đồng trở lên thì phải kèm theo chứng từ chứng minh đã thanh toán qua ngân hàng

Bất cập đầu tiên là việc áp dụng quy định "thanh toán qua ngân hàng" ở

mỗi nơi một khác nhau và không thống nhất

Bất cập tiếp theo là việc thanh toán qua ngân hàng làm mất nhiều thời gian của các doanh nghiệp

Những bất cập về điều kiện hoàn thuế GTGT kể trên đã khiến nhiều doanh

nghiệp rơi vào tình trạng "nhiều tỷ đồng tiền hoàn thuế của các doanh nghiệp"

vẫn đang tồn đọng tại cơ quan thuế, thay vì việc họ được hưởng hỗ trợ cần thiết của nhà nước thì doanh nghiệp lại phải gồng mình trả lãi ngân hàng hàng ngày

Trang 10

13 14

2.3 Quy trình, thời hạn giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng

2.3.1 Quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng

Nhằm thống nhất thủ tục hành chính trong các quy định của pháp luật

thuế, Luật quản lý thuế về hoàn thuế, ngày 14/10/2009, Tổng cục Thuế đã

ban hành Quyết định số 1458/QĐ-TCT về Quy trình hoàn thuế áp dụng giải

quyết đối với hoàn thuế GTGT theo quy định của Luật thuế GTGT bao gồm

năm bước công việc cụ thể gồm: Tiếp nhận hồ sơ; phân loại hồ sơ; giải quyết

hồ sơ hoàn thuế; thẩm định pháp chế; quyết định hoàn thuế

Trong khi số lượng hồ sơ hoàn thuế theo hướng ngày càng nhiều lên, mà

lực lượng cán bộ thuế làm về công tác giải quyết hồ sơ hoàn thuế ở các tỉnh,

thành phố vẫn còn hạn chế Hệ thống cơ sở vật chất, máy móc thiết bị mà cụ thể

là hệ thống máy tính lưu trữ, tác nghiệp về thuế chưa được kết nối trong phạm vi

cả nước đã ảnh hưởng không nhỏ trong công tác kiểm tra, xác minh hóa đơn,

chứng từ trong bộ hồ sơ xin hoàn thuế của cán bộ làm công tác giải quyết các

thủ tục về hoàn thuế GTGT Chính những vướng mắc, tồn tại kể trên đã gây

ảnh hưởng không nhỏ trong việc giải quyết hoàn thuế của các cơ quan chức

năng

2.3.2 Thời hạn giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng

Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 quy định thời hạn giải

quyết hồ sơ hoàn thuế thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế tối đa là sau 60

ngày Tuy nhiên, trong trường hợp ngành thuế nghi ngờ doanh nghiệp gian

lận thuế GTGT, cần có thời gian để xác minh thì thời hạn 15 ngày là không

đủ, bởi vì việc xác minh các hóa đơn mất nhiều thời gian, thậm chí hồ sơ gửi

đi xác minh còn không được cơ quan thuế các địa phương phản hồi

Với cơ chế chính sách "tiền thoái, hậu kiểm" thực sự tạo thuận lợi cho

các doanh nghiệp, giải phóng nguồn vốn, quay vòng vốn nhanh, bảo vệ

quyền lợi cho các doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế GTGT Qui định về

thời hạn xem xét hồ sơ hoàn thuế rất chặt, trung bình là trong 15 ngày,

nhưng không quá 30 ngày Do vậy, một số doanh nghiệp đã gian lận hồ sơ

chứng từ giả mạo để chiếm đoạt hàng tỷ đồng tiền hoàn thuế Việc kiểm tra

đối chiếu các chứng từ không thể thực hiện ngày một, ngày hai, đặc biệt trong trường hợp người bán, người mua ở địa bàn khác nhau

2.4 Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng

2.4.1 Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng

Hồ sơ hoàn thuế GTGT được quy định cụ thể cho 8 trường hợp tại Điểm 2, Mục I phần G Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế

Qua thực tế áp dụng, phần lớn các vi phạm trong hoàn thuế đã bị phát hiện rơi vào trường hợp xuất khẩu do chính sách ưu đãi của nhà nước trong khuyến khích hàng hóa xuất khẩu Hình thức gian lận phổ biến để xin hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT của Nhà nước tập trung chủ yếu

ở hai trường hợp: Thứ nhất, ngụy tạo hồ sơ xuất khẩu Nhiều doanh nghiệp đã

lợi dụng chính sách hoàn thuế GTGT, tạo dựng hồ sơ giả xin hoàn thuế đến

nhiều tỷ đồng; thứ hai, ngụy tạo hồ sơ nộp thuế GTGT đầu vào trong trường

hợp có hàng hóa thực để xuất khẩu nhưng không nộp thuế GTGT đầu vào Trong hai trường hợp này đều nảy sinh vấn đề mua, bán hóa đơn, chứng

từ nhằm hợp thức hồ sơ hoàn thuế GTGT

2.4.2 Hóa đơn, chứng từ hoàn thuế giá trị gia tăng

Theo quy định tại các Điểm 1, 2, 3, 4, 5 và 6 của Điều 15, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định:

"1 Khi bán hàng hóa, dịch vụ người bán phải lập hóa đơn Khi lập hóa đơn phải ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại Nghị định này

2 Hóa đơn phải được lập theo thứ tự số nhỏ đến số lớn Bộ Tài chính quy định thứ tự lập hóa đơn đối với trường hợp nhiều cơ sở của cùng đơn vị

kế toán sử dụng chung một loại hóa đơn có cùng tên, cùng ký hiệu

3 Ngày lập hóa đơn là ngày người bán và người mua làm thủ tục ghi nhận hàng hóa, dịch vụ đã được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng Các

Ngày đăng: 07/01/2020, 21:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w