Vì thế, đề tài: “Tìm hiểu sự biến đổi chức năng gia đình nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Phố, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh được thực hi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
***
-NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
TÌM HIỂU SỰ BIẾN ĐỔI CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Phố - huyện Hương Khê –
tỉnh Hà Tĩnh)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
***
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU SỰ BIẾN ĐỔI CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Phố - huyện Hương Khê –
tỉnh Hà Tĩnh)
Tên sinh viên: NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG Chuyên ngành đào tạo: XÃ HỘI HỌC
Lớp: K55 XHH Niên khóa: 2010 – 2014 Giảng viên hướng dẫn: CỬ NHÂN NGUYỄN THỊ THU HÀ
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này được thực hiện một cách nghiêm túc,trung thực bằng nỗ lực nghiên cứu của chính tác giả, không gian lận, khôngsao chép từ các tài liệu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của toàn bộ nội dung khóaluận tốt nghiệp
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội cùng các thầy cô giáo trong khoa Lý luận chính trị và xã hội, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn
cô giáo Nguyễn Thu Hà, cô là người đã trực tiếp chỉ báo, hướng dẫn và giúp
đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài này.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo trong UBND xã Gia Phố đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin, số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài.
Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và gia đình đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quí báu để tôi hoàn thành luận văn.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và cùng toàn thể bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nôi, ngày 5 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Hiện nay, gia đình nói chung và chức năng của gia đình nói riêng đang
có sự biến đổi mạnh mẽ, kể cả ở khu vực nông thôn - dưới tác động của quátrình đô thị hóa, cũng như quá trình xây dựng nông thôn mới
Quá trình xây dựng nông thôn mới đã mang lại những biến đổi tích cực,
góp phần làm thay đổi bộ mặt của xã hội nông thôn Vì thế, đề tài: “Tìm hiểu
sự biến đổi chức năng gia đình nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới (Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Phố, huyện Hương Khê, tỉnh
Hà Tĩnh) được thực hiện nhằm tìm hiểu sự biến đổi chức năng của gia đình
nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới, bao gồm các chức năngnhư chức năng sinh sản, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế Đối với chứcnăng sinh sản, trước và sau năm 2009, các hộ gia đình vẫn luôn mong muốn
có con Tuy nhiên, sau năm 2009, quan niệm sinh con trai ít nhiều đã có sựthay đổi, vấn đề kế hoạch hóa gia đình được thực hiện tốt hơn Đối với chứcnăng giáo dục, sau năm 2009, các bậc cha mẹ luôn tạo điều kiện cho con cáiđược ăn học như mua sắm đồ dùng học tập cho con, cho con đi học thêm,dành nhiều thời gian quan tâm đến con Đồng thời, vấn đề định hướng nghềnghiệp cho con được nhiều bậc cha mẹ quan tâm hơn hẳn Đối với chức năngkinh tế, bên cạnh hoạt động sản xuất nông nghiệp, hoạt động phi nông nghiệpđược nâng cao, tăng nguồn thu nhập và chi tiêu cho gia đình, đời sống ngườidân được nâng cao hơn
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HỘP vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Khách thể nghiên cứu 3
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU và cơ sỞ LÝ LUẬN 4
2.1 Tổng quan tài liệu 4
2.2 Cơ sở lý luận 7
2.2.1 Khái niệm gia đình 7
2.2.2 Khái niệm chức năng gia đình và các chức năng cơ bản của gia đình 7
2.2.3 Khái niệm biến đổi xã hội 9
2.3 Cách tiếp cận gia đình với tư cách là thiết chế xã hội 11
2.4 Cách tiếp cận cấu trúc chức năng 11
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
Trang 73.1 Địa điểm nghiên cứu 14
3.2 Phương pháp thu thập thông tin 16
3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 16
3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 16
3.3 Khung phân tích 17
3.4 Xử lý thông tin 17
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
4.1 Sự biến đổi chức năng sinh sản 18
4.1.1 Số con mong muốn 18
4.1.2 Mong muốn sinh thêm con 20
4.1.3 Quan niệm về giá trị người con trai 23
4.2 Sự biến đổi chức năng giáo dục 26
4.2.1 Đầu tư học tập cho con 27
4.2.2 Định hướng nghề nghiệp cho con 31
4.2.3 Những đức tính cha mẹ thường dạy con 34
4.3 Sự biến đổi chức năng kinh tế 37
4.3.1 Hoạt động tạo thu nhập 37
4.3.2 Hoạt động chi tiêu 42
PHẦN 5: KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 49
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 8Bảng 4.1: Số con mong muốn 18
Bảng 4.2: Mong muốn sinh thêm con 20
Bảng 4.2.1: Lý do sinh thêm con 21
Bảng 4.2.2 Lý do không sinh thêm con 22
Bảng 4.3: Sự quan trọng của quan niệm về giá trị người con trai 23
Bảng 4.3.1: Lý do của sự quan trọng 24
Bảng 4.3.2: Lý do của sự không quan trọng 24
Bảng 4.4: Thời gian cha mẹ dạy con học 27
Bảng 4.5: Mua sắm đồ dùng học tập cho con 28
Bảng 4.5.1: Lý do không mua sắm đồ dùng học tập cho con 28
Bảng 4.6: Cho con học thêm 30
Bảng 4.7: Chi tiêu hàng tháng cho việc học của con 30
Bảng 4.8: Định hướng nghề nghiệp cho con cái 31
Bảng 4.8.1: Lý do định hướng nghề nghiệp cho con 32
Bảng 4.8.2: Lý do không định hướng nghề nghiệp cho con 33
Bảng 4.9: Những đức tính cha mẹ chú trọng dạy dỗ con cái 34
Bảng 4.10: Môi trường giáo dục tốt nhất cho con 35
Bảng 4.11: Hoạt động tạo thu nhập chủ yếu của gia đình 38
Bảng 4.12: Hoạt động mang lại thu nhập nhiều nhất cho gia đình 40
Bảng 4.13: Mức thu nhập của gia đình 42
Bảng 4.14: Hoạt động chi tiêu chủ yếu của gia đình 43
Bảng 4.15: Hoạt động chi tiêu nhiều nhất trong gia đình 44
Bảng 4.16: Mức chi tiêu của gia đình 45
Trang 9DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 1: Thu nhập của người dân ở địa phương sau NTM 39Hộp 2: Mức thu nhập của người dân trước và sau NTM 41
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 11PHẦN 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời cũng là một thiết chế xã hội.Gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho cácthành viên của mình Vì vậy, sự phát triển của gia đình có vai trò quan trọngtrong quá trình phát triển của xã hội Một mặt, gia đình duy trì, tạo ra sự ổnđịnh về đời sống vật chất, nguồn lao động cho xã hội Mặt khác, gia đình làmôi trường giáo dục đầu tiên nhằm xây dựng hoàn thiện và củng cố nhân cáchcon người Sỡ dĩ vậy là do gia đình đã đảm nhận những chức năng không thểthiếu như: chức năng sinh sản, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế
Trong giai đoạn hiện nay, gia đình Việt Nam nói chung, gia đình nôngthôn nói riêng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Kết cấu gia đìnhbiến đổi và rạn nứt, dẫn đến tình trạng ly hôn, ly thân, đã để lại những hậuquả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với gia đình và xã hội Các giá trị tốt đẹpcủa gia đình như: hiếu nghĩa, thủy chung, kính trên, nhường dưới đang cóbiểu hiện xuống cấp Sự xung đột giữa các thế hệ về lối sống và việc chămsóc, nuôi dưỡng người cao tuổi đang đặt ra những thách thức mới Nhiều tệnạn xã hội đã và đang xâm nhập, tác động xấu vào các gia đình Bên cạnh đó,nhận thức của một bộ phận người dân về vị trí và vai trò của gia đình còn hạnchế Công tác giáo dục đời sống gia đình, việc cung cấp các kiến thức làm cha
mẹ, các kỹ năng ứng xử của các thành viên trong gia đình chưa được coitrọng Nhiều gia đình do tập trung làm kinh tế đã xem nhẹ việc chăm sóc,
giáo dục và bảo vệ các thành viên, đặc biệt là trẻ em (Nguyễn Quốc Thanh,
2014).
Có thể nói, gia đình và chức năng của gia đình đang có sự biến đổimạnh mẽ, kể cả ở khu vực nông thôn - dưới tác động của quá trình đô thị hóa,cũng như quá trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là một
Trang 12chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm tạo điều kiện cho kinh
tế nông thôn phát triển, từ đó nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củangười dân xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại Quá trình xây dựngnông thôn mới đã mang lại những biến đổi tích cực, góp phần làm thay đổi bộmặt của xã hội nông thôn Tuy nhiên, nông thôn cũng đang đối mặt với nhữngvấn đề nảy sinh từ sự biến đổi đó, trong đó có gia đình và các chức năng của
nó như chức năng sinh sản, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế Vậy sựbiến đổi chức năng gia đình diễn ra như thế nào trong việc thực hiện xây dựngchương trình nông thôn mới? Để trả lời câu hỏi đó, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Tìm hiểu sự biến đổi chức năng của gia đình nông thôn trong quá
trình xây dựng nông thôn mới” (nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Phố, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh).
1 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu sự biến đổi chức năng của gia đình nông thôn trong quá trình
xây dựng nông thôn mới.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu sự biến đổi chức năng của gia đình nông thôn
2.2 Khách thể nghiên cứu
Gia đình nông thôn thuộc xã Gia Phố, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 132.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu sự biến đổi chức nănggia đình nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới, cụ thể sự biếnđổi về các chức năng như chức năng sinh sản, chức năng giáo dục, chức năngkinh tế của các hộ gia đình nông thôn
Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 1 tới tháng 5 năm2014
Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành tại xã Gia Phố, huyệnHương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 14PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tổng quan tài liệu
Gia đình là một thiết chế xã hội cơ bản và có nhiều chức năng, cùng với
sự biến đổi bối cảnh kinh tế - xã hội, các chức năng gia đình cũng biến đổidưới nhiều chiều khác nhau Có thể nói, quá trình công nghiệp hóa và toàncầu hóa đã tạo nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt gia đình trước nhiều khókhăn, thách thức Mặt trái của cơ chế thị trường, cộng với lối sống thực dụng,tác động mạnh tới các giá trị đạo đức truyền thống và lối sống lành mạnh Nhiềugia đình nếu không được hỗ trợ, không được chuẩn bị đầy đủ sẽ không đủ năng lựcđối phó với những thay đổi nhanh chóng kinh tế - xã hội và không làm tròn các
chức năng vốn có của mình (Unicef và cộng sự, 2008) Vì vậy, nghiên cứu về chức
năng của gia đình sự biến đổi của nó được nhiều học giả quan tâm Các nghiên cứu
(Vũ Tuấn Huy, 1995; Trịnh Hòa Bình, 2008; Hà Việt Hùng, 2010; Lê Ngọc Văn, 2012) đã chỉ rõ biến đổi gia đình cũng mang những nét cơ bản của biến đổi xã hội.
Sự biến đổi đó được thể hiện ở các khía cạnh từ cấu trúc gia đình cho đến các chứcnăng của gia đình và các mối quan hệ trong gia đình Điều đó có nghĩa là biến đổigia đình đã và đang hiện diện trong bối cảnh kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay,đặc biệt là ở khu vực nông thôn
Luận điểm cơ bản trong cách tiếp cận chức năng là phân tích cơ cấu củamột xã hội, nhưng mối liên hệ giữa các hệ thống khác nhau Cách tiếp cận này
coi xã hội tương tự như cơ thể sống bao gồm nhiều cơ quan, bộ phận (Lê Ngọc Hùng, 2008) Các bộ phận, cơ quan cùng hoạt động với nhau để cơ thể
sống được Các bộ phận khác thực hiện các chức với nhau và toàn cơ thể khicác chức năng những bộ phận hoặc hệ thống xã hội thay đổi thì sẽ dẫn đếnthay đổi của các bộ phận khác trong hệ thống xã hội Theo cách hiểu của cáchtiếp cận này, gia đình được coi là một thành phần trong cấu trúc xã hội, nóthực hiện những chức năng cơ bản của xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của các
thành viên trong gia đình và góp phần ổn định xã hội (Lê Ngọc Văn, 2012).
Trang 15Nhìn chung trong lĩnh vực nghiên cứu về gia đình, cách tiếp cận cấu trúc chứcnăng là một trong những cách tiếp cận lý thuyết chủ đạo được dùng để lý giảigia đình hoạt động thế nào, gia đình với xã hội bên ngoài và với các thànhviên ra sao Nhà xã hội học người Anh – Anthony Giddens cho rằng conngười với tư cách là những hình thể tái tạo cấu trúc chức năng, đồng thờihành động của họ bị chi phối bởi cấu trúc xã hội Sự thay đổi cấu trúc kéotheo sự thay đổi hàng loạt các chức năng, chức năng kinh tế bị xé lẻ, chứcnăng giáo dục thiếu hụt sự giáo dục con cái, của cha hoặc mẹ, sự thay đổi nàybuộc từng cá nhân trong cấu trúc gia đình phải có những cách ứng phó của
mình phù hợp với những qui tắc của cấu trúc gia đình (Phan Thuận, 2009).
Gia đình là một thiết chế xã hội và có đầy đủ những chức năng cơ bảncủa nó Đồng thời gia đình luôn có mối quan hệ với các thiết chế xã hội khác
và cũng chịu tác động của bối cảnh xã hội mà nó đang tham gia Do đó nhữngbiến đổi kinh tế - xã hội đã diễn ra mạnh mẽ trên khía cạnh của đời sống kinh
tế - xã hội kéo theo sự biến đổi chức năng gia đình Nhìn chung các chứcnăng cơ bản của gia đình: chức năng giáo dục, chức năng kinh tế, chức năngsinh sản, được phục hồi có điều kiện thực hiện tốt hơn và có vai trò đặc biệtquan trọng không chỉ đối với từng thành viên gia đình mà còn tác động mạnh
mẽ đến sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội đất nước Lập luận về việc
gia đình thực hiện chức năng gì cho các thành viên, các tác giả (Mai Huy Bích, 2011); Lê Ngọc Văn, 2011) đã khẳng định kết quả nghiên cứu của
Murdock (1957) có 3 chức năng cơ bản: chức năng giáo dục, chức năng kinh
tế và chức năng sinh sản Có thể thấy, nếu không có chức năng sinh sản thì sẽkhông có các thành viên của xã hội, nếu không có chức năng kinh tế thì cuộcsống sẽ không còn nữa, ví dụ như: cung ứng và chế biến món ăn và nếukhông có chức năng giáo dục sẽ không có văn hóa, mà nếu không có văn hóathì xã hội con người sẽ không thể vận hành Chỉ có gia đình mới thực hiện
Trang 16được các chức năng trên Do đó gia đình có vai trò cực kì quan trọng đối với
đời sống xã hội (Dẫn theo Mai Huy Bích, 2011).
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, thiết chế gia đình và xã hội ở khuvực nông thôn nước ta đã có những thay đổi để thích ứng với những điều kiệnkinh tế – xã hội mới Điều này được thể hiện qua những thay đổi trong phâncông lao động gia đình, trong các quan hệ kinh tế giữa các thành viên tronggia đình và họ tộc, trong các quan hệ giữa các đơn vị kinh tế (thường là hộ giađình) với nhau Cũng có thể thấy những thay đổi trong cơ cấu đầu tư của các gia đìnhvào các hoạt động kinh tế, đầu tư cho nguồn nhân lực gia đình, cơ cấu sử dụng thời
gian (Trịnh Duy Luân, 2009) Bên cạnh đó, những quan hệ gia đình, và rộng hơn là
các quan hệ họ hàng, thân tộc ở khu vực nông thôn cũng đang biến đổi theo hướnglinh hoạt hơn, hiện đại hơn Đồng thời với việc quan hệ hôn nhân ngày càng tự dohơn, cũng là sự gia tăng về tỷ lệ ly hôn Những thiết chế có tác dụng duy trì, củng cốquan hệ họ hàng, thân tộc cũng giảm dần về quy mô cũng như yêu cầu bắt buộc do
sự phát triển tình trạng lao động nông thôn "ly nông, ly hương" ngày càng nhiều, dotính chất ngày càng đa dạng của các ngành nghề lao động sản xuất
Đô thị hóa là quá trình gây nhiều tác động làm thay đổi kinh tế xã hộicủa khu vực nông thôn, trong đó có gia đình nông thôn Dưới tác động của đôthị hóa, các chức năng của gia đình đều có sự biến đổi Đối với chức năngkinh tế, việc gia đình chuyển hoạt động tạo thu nhập từ nông nghiệp sang phinông nghiệp làm cho các thành viên trong gia đìnhcó xu hướng đọc lập vềkinh tế Đối với chức năng giáo dục, việc tạo điều kiện cho con cái ăn họcluôn được các gia đình quan tâm, song vẫn thiếu tính chủ động và thiếu tínhđịnh hướng nghề nghiệp cho thế hệ sau Đối với chức năng tái sản xuất, sự tácđộng của đô thị hóa có phần không rõ nét Thực tế, cho dù nằm trong hayngoài vùng đô thị hóa, các gia đình vẫn mong muốn có con sau khi thành lập
(Ngô Trung Thành và cộng sự, 2012).
Trang 17Những nghiên cứu trên đã cung cấp cơ sở để tác giả triển khai thực hiện
đề tài “Tìm hiểu sự biến đổi chức năng của gia đình nông thôn trong quá
trình xây dựng nông thôn mới” (Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Phố, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh).
2.2 Cơ sở lý luận
2.2.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt liên kết con người lại với nhaunhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái Các mối quan hệ giađình còn được gọi là mối quan hệ họ hàng Đó là những sự kiện ít nhất cũng làcủa hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi Những
người này có thể sống cùng hoặc khác mái nhà (Lê Thị Quý, 2011).
2.2.2 Khái niệm chức năng gia đình và các chức năng cơ bản của gia đình
Chức năng của gia đình là phương thức biểu hiện hoạt động sống củagia đình và các thành viên Gia đình được sinh ra, tồn tại và phát triển với sứmệnh đảm đương những chức năng đặc biệt mà tự nhiên và xã hội đã traocho Gia đình bao gồm những chức năng cơ bản:
Chức năng tái sản xuất ra con người (tái sinh sản): Tái sản xuất ra conngười và xã hội Gia đình có chức năng duy trì và phát triển nòi giống Đây làchức năng đặc biệt của gia đình mà không có một thiết chế xã hội nào có
được Gia đình còn là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng con người (Lê Thị Quý, 2011) Trước đây, với quan niệm trời sinh voi sinh cỏ, sinh đẻ là việc riêng
của từng gia đình và phó mặc cho khả năng sinh sản tự nhiên, vì thế chấtlượng cuộc sống không được đảm bảo Hiện nay, cần phải thực hiện kế hoạchhóa gia đình nhằm hạn chế việc sinh đẻ ở mức vừa phải cho phép, mỗi giađình chỉ có từ 1 đến 2 con để nuôi dạy cho tốt Vì tái sản xuất ra con người,không chỉ quan tâm tới số lượng mà còn chú ý tới chất lượng của thế hệ maisau và thế hệ hiện tại
Trang 18Chức năng giáo dục: Là một chức năng quan trọng của gia đình mà xãhội (nhà trường, các tổ chức quần chủng ) không thể thay thế được Giáo dục
là một bộ phận của xã hội hóa Giáo dục là sự truyền dạy của một người đếnngười khác, còn xã hội hóa là cả sự truyền dạy lẫn tiếp thu và phản hồi tíchcực của con người Xã hội hóa còn bao hàm cả ý nghĩa tự giáo dục của con
người (Lê Thị Quý, 2011) Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên nhằm
hoàn thiện, củng cổ nhân cách con người Gia đình giúp trẻ em nắm vữngnhững vai trò xã hội, những chuẩn mực, giá trị theo sự đòi hỏi của xã hội đểcác cá nhân có thể phát triển một cách toàn diện Tuy nhiên, việc giáo dục còntùy thuộc vào từng gia đình, vào các vấn đề như hoàn cảnh kinh tế gia đình,trình độ học vấn của cha mẹ, địa bàn cư trú của gia đình, sự định hướng giá trịnghề nghiệp của gia đình
Chức năng kinh tế: Đây là một trong những chức năng cơ bản của gia đình,
nó tạo ra cơ sở vật chất để gia đình tồn tại và phát triển Trong nhiều xã hội, gia
đình được coi là đơn vị kinh tế đầu tiên, quan trọng nhất (Lê Thị Quý, 2011)
Chức năng tinh thần, tình cảm: Gia đình là một nhóm tâm lý tình cảmđặc thù trong đó chứa đựng tình yêu thương, tình ruột thịt, lòng biết ơn, sự
thư giãn để giúp cho khả năng tái sản xuất ra sức lao động của con người (Lê Thị Quý, 2011)
Chức năng kiếm sống, tạo thu nhập:Đây là chức năng không thể thiếucủa gia đình, việc kiếm sống thường là trách nhiệm của 2 vợ chồng, cha, mẹ.Trong nhiều gia đình, con cái cũng đóng góp vào việc kiếm sống Thu nhậpcủa gia đình quyết định chất lượng sống của gia đình Gia đình nào có nhiềungười kiếm sống, thu nhập ổn định thì gia đình đó có thể cung cấp đầy đủthức ăn, quần áo và các vật dụng khác cho các thành viên trong gia đình vàngược lại gia đình nào có nhiều người có thu nhập thấp hoặc bấp bênh thì gia
đình đó thiếu thốn, khó khăn (Lê Thị Quý, 2011).
Trang 19Chức năng tiêu dùng: Liên quan đến mức sống và tạo thu nhập, chức năngtiêu dùng phản ảnh mức độ thu nhập và chất lượng cuộc sống của gia đình Trongcác gia đình, việc tiêu dùng không đồng đều giữa các nhóm thành viên Chẳnghạn, chi phí cho con cái thường nhiều hơn cha mẹ trong khi con cái không kiếmđược thu nhập Ngày nay, nhiều gia đình đã giàu có hơn khiến việc tiêu dùng của
họ cũng thông thoáng hơn Tuy nhiên, cũng có gia đình không giàu nhưng chitiêu cũng thông thoáng tùy theo số tiền kiếm được Điều này, đã làm ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển của gia đình (Lê Thị Quý, 2011).
Chức năng văn hóa: Gia đình là nơi bảo lưu truyền thống văn hóa củadân tộc, Những phong tục tập quán của cộng đồng làng xã được thực hiện chủyếu sâu sắc trong gia đình Gia đình không chỉ là nơi thực hiện mà còn là nơi
xây dựng các chuẩn mực và các giá trị đạo đức mới (Lê Thị Quý, 2011).
Chức năng chính trị: Gia đình là một đơn vị chính trị của xã hội, nó là
tổ chức có nghĩa vụ thực hiện luật pháp của nhà nước và lệ làng (Hương ước).Nếu không có gia đình thì pháp luật của nhà nước và lệ làng sẽ rất khó thực
hiện (Lê Thị Quý, 2011).
Như vậy, gia đình thực hiện rất nhiều chức năng để đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của mình Trong phạm vi của đề tài, tôi chủ yếu tập trung phântích ba chức năng là chức năng sinh sản, chức năng giáo dục, chức năng kinh
tế và đánh giá sự biến đổi của nó trong quá trình xây dựng NTM tại xã GiaPhố, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
2.2.3 Khái niệm biến đổi xã hội
Cũng như tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi Sự ổn định của
xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn bất cứ nền văn hóa nào, xã hội nàocũng luôn biến đổi Sự biến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanhhơn Đa số các nhà xã hội học cho rằng, biến đổi xã hội là một quá trình qua
đó những khuôn mẫu của hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã
Trang 20hội và hệ thống các phân tầng xã hội được thay đổi qua thời gian (Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng, 2001).
Xã hội không phải là một cơ chế tĩnh tại, bất biến mà phát triển khôngngừng Trong sự biến đổi của xã hội dưới tác động của các yếu tố chính trị,kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, dân số, môi trường, tôn giáo thiếtchế gia đình cũng đang có biến đổi để thích nghi với những điều kiện mới.Những thay đổi quan trọng nhất trong các chức năng của gia đình là sựchuyển đổi chức năng của gia đình từ sản xuất sang tiêu dùng khi hoạt độngsản xuất được tách khỏi gia đình Chẳng hạn, trong xã hội nông nghiệp, chứcnăng kinh tế của gia đình không quá quan trọng vì nhu cầu kinh tế của giađình Cũng như vậy, chức năng giáo dục của gia đình cũng biến đổi Nếu nhưtrước đây, gia đình là nơi truyền dạy kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuấtthì ngày nay gia đình còn bao hàm chức năng truyền đạt công nghệ thông tinkhác.Việc các em nhỏ sử dụng thành thạo điện thoại, internet đã không còn làhiếm và điều này đã mang đến những màu sắc mới của quá trình xã hội hóaphong phú và hiện đại Trong quá trình có sự biến đổi chức năng của gia đình,nhiều gia đình đã không thích ứng được với sự biến đổi trong điều kiện mới.Những dàn xếp truyền thống trong cuộc sống và sinh hoạt gia đình bị đảo lộnngoài khả năng kiểm soát của các thành viên, dẫn đến những khủng hoảng giađình Ví dụ: các hiện tượng như ly hôn, xung đột gia đình, bạo lực trong giađình, trẻ em bị bỏ mặc, người già không được chăm sóc, kinh tế gia đình sa
sút, đói nghèo (Lê Thị Quý, 2011).
Do đó,những biến đổi kinh tế - xã hội đã diễn ra mạnh mẽ trên mọi khíacạnh của đời sống xã hội, kéo theo đó là sự biến đổi của gia đình và các chứcnăng của gia đình như chức năng sinh sản, chức năng giáo dục, chức năngkinh tế
Trang 212.3 Cách tiếp cận gia đình với tư cách là thiết chế xã hội
Theo Lê Thị Quý (2011) thiết chế xã hội là do pháp luật quy định, là
một thế chế hôn nhân và thực hiện các chức năng xã hội thiết chế là hệ thống
xã hội phức tạp của các chuẩn mực và vai trò xã hội nhằm thỏa mãn các nhucầu và các chức năng xã hội Đặc điểm của thiết chế bao giờ cũng mang tínhbảo thủ, chậm biến đổi, có liên quan đến nhau Sự rối loạn của thiết chế sẽgắn liền với những vấn đề xã hội lớn Thiết chế nhằm duy trì và kiển tra tính
ổn định của trật tự xã hội Nó có tính tương đối về lịch sử Nó nhằm trả lời 2câu hỏi: Gia đình ra đời nhằm mục đích gì? Nó đứng ở vị trí nào trong xã hội?Gia đình đáp ứng cho nhu cầu nào cua xã hội, nó thỏa mãn các chức năng xãhội nào để tái sản xuất xã hội?
Gia đình với tư cách là một thực thể hợp pháp Hôn nhân là hợp pháp, lànền tảng của các định nghĩa chính thức về gia đình Hôn nhân có hình thức làmột vợ một chồng hay một chồng nhiều vợ (đa thê) hoặc ngược lại (đa phu).Hôn nhân là một thiết chế, khuôn mẫu của cuộc sống bao gồm các vai trò, địa
vị đã được thừa nhận và mong chờ
Như vậy, khi phân tích gia đình với tư cách là một thiết chế xã hội,chúng ta xem xét các chức năng của gia đình Những chức năng này mangtính lịch sử sâu sắc, gắn liền với những điều kiện kinh tế - xã hội của hoạtđộng sống của xã hội Vì thế, theo thời gian các tính chất của các chức năngnày đều biến đổi
2.4 Cách tiếp cận cấu trúc chức năng
Nguồn gốc của lý thuyết cấu trúc chức năng là: Thứ nhất truyền thốngkhoa học xã hội Pháp coi trọng sự ổn định, trật tự của hệ thống với các bộphận có quan hệ chức năng hữu cơ với chỉnh thể hệ thống và thứ hai là truyềnthống khoa học anh với thuyết tiến hóa, thuyết kinh tế, thuyết vị lợi, thuyếthữu cơ phát triển mạnh Từ hai truyền thống này đã nảy sinh những ý tưởngkhoa học về xã hội như là một sinh thể hữu cơ đặc biệt với hệ thống gồm các
Trang 22thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định Comte
là người đầu tiên nghiên cứu tĩnh học xã hội để tìm hiểu và duy trì sự ổn định,trật tự của cấu trúc xã hội Ông cho rằng do thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa
cá bộ phận mà cấu trúc xã hội bị rối loạn gây ra sự bất thường xã hội, nhưngông chưa sử dụng khái niệm chức năng với tư cách là phạm trù xã hội.Spencer đã vận dụng hàng loạt các khái niệm sinh vật học như sự tiến hóa, sựphân hóa chức năng và đặc biệt là khái niệm cấu trúc và chức năng để giảithích các hiện tượng của sinh thể cơ thể xã hội Ông cho rằng thông qua quá trìnhphân hóa, chuyên môn hóa mà xã hội loài người đã tiến hóa từ hình thức đơn giảnlên phức tạp Ông chỉ ra rằng sự biến đổi chức năng của các bộ phận kéo theo sựbiến đổi cấu trúc của cả chỉnh thể xã hội Dukheim không những nghiên cứu chứcnăng và cấu trúc xã hội mà còn đưa ra các qui tắc sử dụng các khái niệm này làmcông cụ phân tích xã hội học Ông đề ra yêu cầu là nghiên cứu xã hội học cần phảiphân biệt rõ nguyên nhân và chức năng của sự kiện xã hội, việc chỉ ra được chứcnăng tức là lợi ích, tác dụng hay sự thỏa mãn một nhu cầu không có nghĩa là giảthích được Sự phát triển của lý thuyết cấu trúc chức năng là kết quả của nhữngđóng góp lý luận xã hội học của nhiều xã hội khác nhau, nhưng thống nhất là ở chỗcho rằng để giải thích sự tồn tại và vận hành của xã hội học của nhiều tác giả khácnhau, nhưng thống nhất ở chỗ cho rằng để giải thích sự tồn tại và vận hành của xãhội cần phân tích cấu trúc chức năng của nó tức là chỉ ra các thành phần cấu thành
và các cơ chế hoạt động của chúng
Các luận điểm gốc của thuyết cấu trúc chức năng đều nhấn mạnh sựcân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cuấ trúc Theo đó, một xã hộitồn tại, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịpnhàng với nhau để đảm bỏa sự cân bằng chung của cả cấu trúc, đối với cấutrúc xã hội Xã hội có tính hệ thống và hệ giá trị, chuẩn mực xã hội có vai trò quantrọng trong việc tạo dựng sự nhất trí, thống nhất, ổn định xã hội Về mặt phươngpháp luận thuyết chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc xã
Trang 23hội và hệ quả của cấu trúc xã hội đối với bất kì sự kiện, hiện tượng xã hội nào.Đồng thời, cần tìm hiểu cơ chế hoạt động của từng thành phần để biết chúng cóchức năng, tác dụng gì đối vợi sự tồn tại một cách cân bằng và ổn định.
Trên cơ sở thuyết cấu trúc chức năng, nhà xã hội học người Mỹ RobertMerton đã phần nào lý giải được vấn đề này thông qua ý tưởng về chức năng vàphản chức năng của mình Ông cho rằng, một thành tố của cấu trúc xã hội thựchiện các chức năng, tức các hệ quan sát được, tạo ra sự thích nghi và điều chỉnhcủa hệ thống, ngoài những hệ quả tích cực cũng có thể gây ra các hệ quả tiêu cực.Gia đình là thành tố cơ bản của cấu trúc xã hội và thực hiện chức năng của nó đểduy trì sự thích nghi và ổn định của xã hội Trong bối cảnh xã hội Việt Nam bướcvào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thếgiới, nhiều chuyển biến lớn đã xảy ra, tất yếu khiến quy mô gia đình truyền thốngkhông còn thích nghi được với hoàn cảnh xã hội mới Nền kinh tế thị trường, sự
du nhập của các nền văn hóa nước ngoài đã làm cho xã hội đổi thay từng ngày Sựđổi thay ấy diễn ra cả trong quan niệm con người, chẳng hạn, ngày nay sự bìnhđẳng đã được đề cao hơn, những chuẩn mực lạc hậu cũng được loại bỏ nhằmhướng tới một xã hội tiến bộ hơn Theo cách tiếp cận cấu trúc chức năng, gia đình
có những chức năng cơ bản như chức năng sinh sản, chức năng giáo dục, chứcnăng kinh tế, chức năng tâm lý tình cảm
Cách tiếp cận cấu trúc chức năng cho thấy gia đình là một thiết chế xãhội và có đầy đủ những chức năng cơ bản của nó Đồng thời, gia đình luôn cómối quan hệ với các thiết chế xã hội khác và cũng chịu tác động của bối cảnh
xã hôi mà nó đang tham gia Do đó, những biến đổi kinh tế - xã hội đã diễn ramạnh mẽ trên mọi khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, kéo theo sự biếnđổi chức năng gia đình nói riêng và biến đổi gia đình nói chung
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 243 Địa điểm nghiên cứu
Gia Phố là xã miền núi thuộc huyện Hương Khê, Phía Đông giáp xãHương Giang, phía Tây giáp xã Phú Phong, phía Nam giáp xã Lộc Yên, thịtrấn huyện Hương Khê, phía Bắc giáp xã Hương Long, Hương Thuỷ Cáchthị trấn Hương khê 3,5km về phía Tây, cách thành phố Hà Tĩnh 50km vềphía Tây Nam Địa bàn có 3 tuyến đường giao thông quốc gia đi qua đó là:Đường Hồ Chí Minh 3 km nằm phía Tây; đường sắt Bắc Nam có chiều dài
8 km chia xã thành 2 vùng, đường Quốc lộ 15 có chiều dài 3 km, chạy phíaĐông của xã, cả 3 tuyến giao thông này tạo điều kiện thuận lợi cho việcgiao thông đi lại và lưu thông hàng hóa Có sông Ngàn Sâu dài 6 km chiacắt xã thành 2 vùng Diện tích tự nhiên 1.189,33ha, có 1.574 hộ với 6890nhân khấu ở 14 thôn
Gia Phố là một xã đã và đang đạt được nhiều kết quả trong xây dựngnông thôn mới Được Ban Bí thư Trung ương Đảng chọn làm điểm xây dựngChính sách Nông thôn mới từ tháng 4 năm 2009 ( là 1 trong 11 xã điểm vềxây dựng mô hình thí điểm NTM) Sau gần một năm thực hiện, kinh tế xã hộicủa xã có nhiều đổi mới, đời sống của người dân trên địa bàn ngày càng đượcnâng cao Từ một xã thuần nông, người dân làm ruộng, làm nghề rừng nay đãchuyển sang các ngành nghề dịch vụ, thương mại cộng với hình thành làngnghề, các mô hình hợp tác xã, các tổ hợp kinh doanh tạo nên sự đa dạng vềphát triển kinh tế Đó là điều kiện góp phần làm cái thiện cuộc sống củanhững hộ gia đình nơi đây và là một trong những nguyên nhân làm thay đổichức năng trong gia đình Năm 2008, tổng giá trị sản xuất của xã: 70.280 triệuđồng, trong đó: Nông nghiệp: 26.428 triệu đồng (trồng trọt: 12.500 triệuđồng; chăn nuôi: 12.428; lâm nghiệp 1.500 triệu đồng) công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp, dịch vụ, thương mại: 35.560 triệu đồng; thu từ các nguồn chínhsách xã hội và các nguồn khác: 8.290 triệu đồng Có 204 hộ nghèo, chiếm18.6% Thu nhập chủ yếu của người dân là từ chăn nuôi, trồng trọt Trong
Trang 25giáo dục văn hóa, nhiều gia đình còn gặp nhiều khó khăn, nhiều hộ gia đìnhcon em thường bỏ học giữa chừng về phụ cha mẹ Bên cạnh đó, trong xã tỉ lệsinh con thứ 3 phổ biến, phần lớn là người dân chưa có kiến thức về chăm sócsức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, nhiều gia đình còn tồn tại quan
niệm trọng nam khinh nữ (Theo báo cáo xây dựng nông thôn mới xã Gia Phố giai đoạn năm 2009 – 2011).
Tháng 9 năm 2009 với cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3sạch” được trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam phát động với nhữngnội dung không đói nghèo, không vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, không
có bạo lực gia đình, vấn đề sinh con thứ 3 có xu hướng giảm, không có trẻ suydinh dưỡng và bỏ học Nhờ đó, vai trò của phụ nữ trong gia đình ngày càngđược phát huy, góp phần tích cực vào chương trình xây dựng nông thôn mới.Cha mẹ dành nhiều thời gian cho việc chăm sóc con cái, phấn đấu trở thànhgia đình văn hóa, gương mẫu mẹ hiền con giỏi So với các hộ gia đình nằm ngoài
xã nông thôn mới, xã Gia Phố được xem là điển hình về sự thay đổi các mặt vềkinh tế, đời sống gia đình phần nhiều được cải hiện Rõ rệt nhất là từ năm 2013,sau 4 năm thực hiện chương trình nông thôn mới, với sự nỗ lực của chính quyền
và sự hưởng ửng tham gia nhiệt tình của người dân, đời sống gia đình có nhiều sựthay đổi, phấn đấu đạt các tiêu chí của chương trình nông thôn mới đã đề ra Nềnkinh tế năm 2013 của xã đạt 24.02 triệu đồng/người/năm, tăng 2.2 lần so với năm
2009, không còn hộ đói, tỉ lệ hộ nghèo từ 12.9% năm 2009, nay chỉ còn lại 3.25%
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Thương mại, dịch vụ, tiểu thủ
công nghiệp chiếm 72%; giảm thu nhập nông nghiệp chỉ còn lại 28% (Theo báo cáo xây dựng nông thôn mới xã Gia Phố năm 2013).
So sánh với Bộ tiêu chí quốc gia đến nay xã đã đạt 17/18 tiêu chí(không có tiêu chí chợ), hiện còn lại 1 tiêu chí gần đạt đó là tiêu chí cơ sởvật chất trường học, hiện tại đang làm các bước thủ tục xây dựng nhà hiệu
bộ cho trường Trung học cơ sở để hoàn thành tiêu chí
Trang 26Như vậy, từ khi triển khai xây dựng NTM đến nay, xã Gia Phố có sựthay đổi trên nhiều lĩnh vực, trong đó có cả sự thay đổi của gia đình cùngcác chức năng của nó Vì vậy, tôi đã chọn xã Gia Phố làm địa điểm thực
hiện nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu sự biến đổi chức năng gia đình nông
thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới (Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Phố, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh).
3.2 Phương pháp thu thập thông tin
3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Những thông tin thứ cấp được thu thập từ các báo cáo, các đề án kinh tế
- xã hội của xã Gia Phố qua các năm, đặc biệt là các tài liệu trong quá trìnhthực hiện xây dựng nông thôn mới Đồng thời, tham khảo các tài liệu, sáchbáo, tạp chí xã hội học… và những nghiên cứu về gia đình nói chung, sự biếnđổi của gia đình nói riêng
3.1 Thu thập thông tin sơ cấp
Phương pháp chọn mẫu: Tiến hành chọn 30 hộ gia đình để thực hiện
nghiên cứu Việc lựa chọn theo tiêu chí các hộ gia đình có con trong độ tuổi đihọc, dựa trên bản danh sách các hộ gia đình được lập, chọn ngẫu nhiên 30 mẫu
Điều tra bằng bảng hỏi: Nghiên cứu tiến hành thực hiện điều tra 30
phiếu nhằm thu thập thông tin định lượng liên quan đến sự biến đổi các chứcnăng sinh sản, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế của gia đình nông thôntrong quá trình xây dựng nông thôn mới
Phỏng vấn sâu: Để có thông tin định tính chính xác hơn và chi tiết hơn, tiến
hành 7 cuộc phỏng vấn sâu (trong đó 1 PVS cho phó chủ tịch xã, 1 PVS chongười cao tuổi, 1 PVS cho cán bộ phụ nữ xã, 4 PVS hộ gia đình) nhằm hiểu
rõ hơn sự biến đổi các chức năng của gia đình
3.3 Khung phân tích
Nông
Trang 27Khung phân tích miêu tả sự biến đổi của các chức năng gia đình trongquá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới Dưới tác động của quá trình xâydựng nông thôn mới, kéo theo là sự biến đổi các chức năng gia đình như chứcnăng sinh sản, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế.
3.4 Xử lý thông tin
- Số liệu thu thập được từ cuộc điều tra được kiểm tra mã hóa và xử lýthông tin bằng phần mềm Exel
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Sự biến đổi chức năng sinh sản
4.1.1 Số con mong muốn
- Các chức năng:
+ Chức năng sinh sản + Chức năng giáo dục + Chức năng kinh tế
Gia đình
Trang 28Chức năng sinh sản là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của giađình Việc sinh con đẻ cái nhằm duy trì và phát triển nòi giống được xem làmục đích xây dựng gia đình và cũng là nhu cầu cần được thỏa mãn của cáccặp vợ chồng đối với việc làm cha Do đó, “đông con có phúc”, “con đàncháu đống” luôn được xem là chuẩn mực hàng đầu để các gia đình hướngđến Quan niệm truyền thống của Việt Nam về sinh sản của gia đình ngoàisinh con nhiều, còn có quan niệm về giới tính, đó là trọng nam khinh nữ, mộtquan niệm mà đến tận bây giờ vẫn còn tồn tại Quan niệm có con trai để nốidõi tông đường được bắt nguồn sâu xa từ những phong tục, tập quán, từ xãhội truyền thống Những gia đình không có con trai nối dõi tông đường có thểđược liệt vào hàng ngũ gia đình kém may mắn nhất “Con cái không phải chỉ
là đối tượng sẽ tiếp tục cuộc sống của gia đình và dòng họ trong tương lai màcòn là sự đảm bảo về việc giữ gìn truyền thống, thờ cúng tổ tiên, ông bà” (LêThị Quý, 2011) Vì thế, sinh con đẻ cái luôn là mong muốn của các cặp vợchồng sau khi kết hôn
Bảng 4.1: Số con mong muốn
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3, năm 2014)
Trước năm 2009, đa số những người được hỏi nhận định, số con mongmuốn của gia đình là 3 con (36.7%) và từ 4 con trở lên (43.3%), chỉ có 20%mong muốn dừng lại ở 2 con để nuôi dạy cho tốt Điều đó cho thấy, quanniệm sinh nhiều con vẫn có sự ảnh hưởng đối với các hộ gia đình Tuy nhiên,sau năm 2009, do quá trình phát triển kinh tế - xã hội mà nhận thức của người
Trang 29dân đã được nâng cao Vì vậy, số con mong muốn của các gia đình đã giảm,
đa số dừng lại ở 2 con (chiếm 63.3%) Một người dân cho biết: “Bây giờ, tôi
chỉ muốn sinh 2 con để có điều kiện nuôi dạy con cho tốt, chứ sinh con nhiều quá, khó chăm sóc con đầy đủ, chu đáo được Mà thời buổi bây giờ cũng khác trước nhiều rồi, đẻ nhiều chỉ khổ thôi” (PVS, nữ, 35 tuổi) Mặc dù tỷ lệ
người được hỏi trả lời số con mong muốn là 2 khá cao, nhưng bên cạnh đó,
vẫn còn khoảng hơn 30% mong muốn sinh từ 3 con trở lên (sau năm 2009).
“Dù gì thì tôi cũng vẫn mong muốn có nhiều hơn 2 đứa, đứa này đi xa thì có đứa kia ở nhà, với lại nhiều con rất có lợi khi nhà có việc Đấy cô xem, nhà sinh 2 đứa đấy, đến khi cha mẹ bệnh tật, chả đứa nào chăm sóc được vì toàn
ở xa cả” (PVS, nam, 51 tuổi).
Theo “Báo cáo công tác dân số xã Gia Phố” năm 2013, số trẻ sinh ratrong năm là 47 cháu, trong đó con thứ 3 là 13 cháu chiếm tỉ lệ 27,65% Tỷsuất sinh thô 8,34%, giảm 1,2% so với năm 2012, tỉ lệ phát triển dân số tựnhiên là 1,42%, giảm 2,1% so với năm 2012 Ban dân số xã đã chủ động xâydựng kế hoạch phối hợp với Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, Đoàn thanh niên, HộiNông Dân tổ chức nói chuyện chuyên đề ở các thôn xóm có tỷ lệ sinh trên 2con cao, với các nội dung liên quan đến các vấn đề thực hiện kế hoạch hóa giađình và chính sách sức khỏe sinh sản, các vấn đề khúc mắc trong cuộc sốnghôn nhân, gia đình, cung cấp các kiến thức cho các cặp vợ chồng trong độtuổi sinh đẻ, nâng cao nhận thức cho các đối tượng là thanh niên, vị thànhniên về luật hôn nhân và gia đình, tác hại của nạo phá thai để lựa chọn giớitính thai nhi Tại các thôn thành lập câu lạc bộ không sinh con thứ 3, câu lạc
bộ gia đình trẻ tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng trao đổi kiến thức, kinhnghiệm xây dựng gia đình hạnh phúc Vì vậy, số con mong muốn của các cặp
vợ chồng đã giảm
4.1.2 Mong muốn sinh thêm con
Trang 30Từ sự thay đổi về số con mong muốn của các gia đình nên hiện nay, đa
số các gia đình đều dừng lại ở 2 con theo đúng quy định của Nhà nước Tuynhiên, do những quan niệm truyền thống như trọng nam khinh nữ, đông connhiều phúc… vẫn còn tồn tại trong tư tưởng của người dân nên một số giađình, dù đã sinh đủ 2 con vẫn mong muốn sinh thêm
Bảng 4.2: Mong muốn sinh thêm con Mẫu: 30
ĐVT: %
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3, năm 2014)
Trước năm 2009, phần lớn các hộ gia đình được hỏi đều mong muốnsinh thêm con (chiếm 73.3%) Chỉ có 26.7 % hộ gia đình trả lời không muốnsinh thêm con Nhưng sau năm 2009, mong muốn sinh thêm con giảm đáng
kể, từ 73.3% (trước năm 2009) xuống còn 10% Số hộ gia đình không mongmuốn sinh thêm con có xu hướng tăng lên, từ 26% lên 90% Đây có thể đượccoi là một thành công đối với xã Gia Phố Thành công này phần lớn nhờ vào
việc tuyên truyền, phổ biến thực hiện kế hoạch hóa gia đình “Trước đây, sau khi kết hôn là phải nhất định sinh con trai đầu lòng hoặc nhất định phải có con trai, sinh đến khi nào có con trai thì thôi Bây giờ, xã hội đã thay đổi thì nhận thức của người dân cũng được nâng cao hơn, dù trai hay gái thì cũng đều là con, có bổn phận như nhau, chứ cứ cố sinh thêm không có điều kiện để nuôi con, chỉ khổ thêm thôi” (PVS, nữ, 35 tuổi) Một người dân cho biết thêm:
“Từ khi xây dựng NTM đến nay, bên cạnh những tiêu chí mà UBND vận động người dân thực hiện thì họ cũng rất tích cực vận động chúng tôi không sinh con thứ ba, có như vậy thì kinh tế mới khá giả được, mới chăm sóc con cái tốt được” (PVS, nam, 51 tuổi).
Trang 31Với những người mong muốn sinh thêm con, họ cho biết mong muốnsinh thêm do muốn có con trai, muốn có thêm người để nương tựa lúc tuổigià…
Bảng 4.2.1: Lý do sinh thêm con
ĐVT: Tần suất
Lý do sinh thêm con Trước năm 2009
(n=22)
Sau năm 2009(n=9)
(Nguồn: Số liệu tra tháng 3, năm 2014)
Theo những người được hỏi, lý do các gia đình muốn sinh thêm con rấtkhác nhau Trong đó, trước và sau năm 2009, các hộ gia đình đều mong muốnsinh thêm con do muốn có con trai để nối dõi tông đường, trước năm 2009 có(15 lượt chọn), sau năm 2009 có (6 lượt chọn) Như vậy, lý do có con trai đểnối dõi tông đường luôn là lý do được đưa ra để giải thích cho mong muốn
sinh thêm con của một số gia đình “Không gì bằng có một đứa con trai
trong nhà, sau này còn có người thờ phụng cha mẹ và nối dõi dòng họ” (PVS, nữ, 35 tuổi) Dù xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng tư tưởng trọng nam
khinh nữ vẫn còn ngự trị trong các gia đình, nhất là đối với các gia đình nôngthôn Không sinh được con trai, không có con trai để nối dõi, để thờ cúng ông
bà tổ tiên là sự day dứt của nhiều gia đình Bên cạnh đó, nếu trước năm 2009,một số hộ gia đình cho rằng mong muốn sinh thêm con là do muốn có người
để nương tựa lúc tuổi già (5 lượt chọn) thì sau năm 2009, không có hộ giađình nào cho rằng đây là lý do để mong muốn sinh thêm con Ngược lại, lý dobản thân muốn sinh thêm con lại có sự thay đổi Sự thay đổi là do “Có lẽ bây
giờ kinh tế phát triển hơn, nhiều gia đình khá giả hơn so với trước nên họ muốn sinh thêm con Tôi nghĩ là xuất phát từ mong muốn của chính cá nhân
Trang 32các cặp vợ chồng” (PVS, nam, 53 tuổi) Tuy nhiên, cũng có những hộ gia
đình không muốn sinh thêm con (xem bảng 4.2)
Bảng 4.2.2 Lý do không sinh thêm con
ĐVT: Tần suất
(n=8)
Sau năm 2009(n=21)
Con nào cũng là con nên không
sinh thêm
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3, năm 2014)
Cũng giống như lý do mong muốn sinh thêm con, những gia đìnhkhông muốn sinh thêm con cũng có lý do của mình Những người được hỏiđánh giá, trước và sau năm 2009, tỷ lệ dành cho mỗi lý do có sự thay đổi đáng
kể Nếu trước năm 2009, có (3 lượt chọn) cho rằng, lý do không sinh thêmcon của các hộ gia đình là do kinh tế không cho phép thì sau năm 2009, chỉ có
1 lượt chọn Tuy nhiên, lý do con nào cũng là con nên không sinh thêm trước
năm 2009 có (5 lượt chọn), sau năm 2009 tăng lên 17 lượt chọn “Trước đây
các bậc cha mẹ mong muốn có con trai khi sinh nhiều con gái, tuy nhiên khi thực hiện chủ trương giảm dân số, mỗi gia đình chỉ dừng lại ở 1 hoặc 2 con để nuôi dạy cho tốt, nhiều gia đình đã nhận thức được quan niệm lệch lạc đó, bởi vì con nào cũng là con, miễn là phải nuôi dạy con thật tốt" (PVS, nam, 55 tuổi) Như vậy, so với trước năm 2009, quan điểm sinh thêm con đã
có phần giảm hơn so với trước đó, dù xuất phát từ nhiều lý do khác nhaunhưng các bậc làm cha làm mẹ đã nhận thức được tầm quan trọng của việcsinh đẻ có kế hoạch hướng đến mục tiêu nuôi dạy con tốt hơn
4.1.3 Quan niệm về giá trị người con trai
Trang 33Mặc dù số người không mong muốn sinh thêm con đã tăng lên sau năm
2009 nhưng khi bàn về giá trị của người con trai, tư tưởng bao nhiêu con gái
đi nữa, cũng không bằng một con trai, “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”được thể hiện rõ qua sự đánh giá của các gia đình Vì vậy, tuy trong xã hộihiện đại, quan niệm sinh con trai không còn nặng nề như trước, nhưng vẫn cósức ảnh hưởng đáng kể đến bản thân các cá nhân và gia đình
Bảng 4.3: Sự quan trọng của quan niệm về giá trị người con trai
Mẫu: 30 ĐVT: %
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3, năm 2014)
Đối với các gia đình, nhất là khi người chồng là con trưởng hay làtrưởng một dòng họ thì giá trị của người con trai luôn được đề cao cho dù dângian vẫn nói: “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng” Sinh đượccon trai, cả gia đình, dòng họ vui mừng và đối với người phụ nữ, sinh đượccon trai như một sự đảm bảo cho vị thế của họ trong gia đình nhà chồng mặc
dù quan niệm về giá trị của người con trai cũng đang thay đổi theo thời gian.Trước năm 2009, 66.7% cho rằng giá trị của người con trai vẫn còn quantrọng đối với các gia đình và 33.3% là không có cùng quan điểm này Tuynhiên, sau năm 2009, quan niệm về giá trị của người con trai có xu hướnggiảm hơn so với trước năm 2009, chỉ còn 36.7% Ngược lại, 63.3% ý kiến chobiết, giá trị của người con trai không còn quan trọng như trước nữa Một
người dân cho biết: “Ngày xưa, các bậc làm cha làm mẹ mong muốn sinh
con có trai, có gái Sinh con nhiều nhưng nhất thiết phải có một đứa con trai để sau này có người nối dõi dòng họ Còn bây giờ, xã hội đã thay đổi, con nào cũng là con, sinh con không thể tự bản thân mình quyết định.
Trang 34Thôi thì, trời sinh voi sinh cỏ, trai hay gái không quan trọng, miễn là con cái ngoan ngoãn là đươc” (PVS, nữ, 35 tuổi)
Đối với những người đề cao sự quan trọng của người con trai, họ chobiết lý do như sau:
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3, năm 2014)
Trước và sau năm 2009, phần lớn những người dân được hỏi nhận định,quan niệm về giá trị người con trai là quan trọng chủ yếu xuất phát từ những
lý do như nối dõi tông đường, có người trụ cột trong gia đình hoặc có thêmnguồn lao động cho gia đình Trong đó, trước năm 2009 có 17 lượt chọn chorằng con trai là quan trọng vì có người để mà nối dõi tông đường, sau năm
2009 chỉ còn 2 lượt chọn có cùng quan điểm Một tỷ lệ nhỏ các ý kiến còn lạilựa chọn lý do muốn có người trụ cột trong gia đình hoặc có thêm nguồn laođộng cho gia đình để giải thích cho sự quan trọng của giá trị người con trai
Như vậy, có thể thấy được trước và sau năm 2009, lý do cho sự quantrọng về giá trị sinh con trai của các bậc cha mẹ đều xuất phát từ tâm lý chung
đó là muốn có con trai để sau này nối dõi tông đường, thờ phụng cha mẹ, ông
bà Tuy nhiên, những lý do đó cũng có sự thay đổi theo thời gian, khi mà số
người đề cao sự quan trọng của người con trai đã giảm đáng kể (xem bảng 4.3) Những người trả lời giá trị người con trai trong xã hội hiện nay không
còn quan trọng nữa đưa ra những giải thích như sau:
Bảng 4.3.2: Lý do của sự không quan trọng
Trang 35ĐVT: Tần suất
(n=10)
Sau năm 2009(n=19)
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3, năm 2014)
Các hộ gia đình được hỏi nhận định, quan niệm sinh con trai khôngquan trọng xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như xã hội đã thay đổi, khôngtheo quan niệm trọng nam khinh nữ hoặc con nào cũng là con nên không cốbằng được để có con trai như ngày xưa nữa Theo những ý kiến của ngườidân, trước năm 2009, phần lớn xuất phát từ lý do con nào cũng là con (5 lượt
chọn), không nhất thiết là phải có con trai “Trước thì quan niệm này rất phổ biến, gia đình nào không có con trai thì vẫn cứ sinh khi nào có con trai thì thôi, nhưng bây giờ, cán bộ xã đã đi vận động từng nhà về vấn đề sức khỏe sinh sản nên đã giảm hơn Con nào cũng là con, miễn là con cái được nên người” (PVS, nam, 53 tuổi).Còn lại là vì bây giờ quan niêm trọng nam khinh
nữ không còn như trước nữa (3 lượt chọn) và xã hội đã thay đổi (2 lượt chọn).Tuy nhiên, sau năm 2009, lý do chủ yếu được đưa ra để giải thích cho sựkhông còn quan trọng của giá trị về người con trai là xã hội đã đổi thay (9lượt chọn) Còn lại, các gia đình được hỏi cho rằng lý do của sự không quantrọng là vì con nào cũng là con (6 lượt chọn) hoặc không còn quan niệm trọng
nam khinh nữ (4 lượt chọn) “Trong nhà có trai có gái đối với tôi đó là điều rất đáng mừng, con trai hay gái không quan trọng miễn sao con cái được ăn học đầy đủ, nên người là được, con gái cũng nuôi được cha mẹ Trước đây, nhiều gia đình chỉ muốn cố gắng sinh thêm con trai, muốn có người để sau này còn nối dõi, cũng không ít gia đình dùng các biện pháp để sinh con theo ý
Trang 36muốn Nhưng giờ đây xã hội đã thay đổi nhận thức về quan niệm đó cũng dần được giảm bỏ” (PVS, nam, 51 tuổi).
Tóm lại, chức năng sinh sản của các gia đình xã Gia Phố đã có sự thayđổi một cách rõ rệt, từ số con mong muốn đến mong muốn sinh thêm con vàquan niệm về giá trị của người con trai Sự thay đổi này diễn ra theo chiềuhướng tích cực Do đó, tỷ suất sinh thô năm 2013 là 8,34%, giảm 1,2% so vớinăm 2012, tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,42%, giảm 2,1% so với năm
2012, tỷ lệ sinh con thứ ba của xã Gia Phố cũng giảm đáng kể so với trước
khi xây dựng NTM (Theo báo cáo của xã Gia Phố năm 2013)
4.2 Sự biến đổi chức năng giáo dục
Giáo dục là một chức năng quan trọng đối với gia đình Theo Parsons(nhà xã hội học người Mỹ), xã hội có thay đổi như thế nào đi nữa thì việc xãhội hóa trẻ em và ổn định nhân cách, người lớn vẫn thuộc về gia đình, khôngthể chuyển giao cho các thiết chế xã hội khác Tuy nhiên, ở mỗi thời điểmkhác nhau, sự giáo dục của gia đình cũng có sự khác nhau, nhằm phù hợp với
sự phát triển của xã hội Vậy, trước và sau nông thôn mới, chức năng giáo dụccủa gia đình ở xã Gia Phố có sự thay đổi như thế nào?
Trang 374.2.1 Đầu tư học tập cho con
Để con cái có thể học tập tốt, cha mẹ phải có sự đầu tư nhất định đốivới việc học tập của con Sự đầu tư đó được thể hiện qua việc dạy con học ởnhà sau giờ học trên trường lớp, mua sắm đồ dùng học tập, cho con đi họcthêm….Tuy nhiên, mức độ đầu tư đối với các gia đình là khác nhau
Sau giờ học ở trường, khi về nhà, trẻ phải học bài, ôn bài để củng cốkiến thức Ngoài việc tự học, nhận thức được vai trò quan trọng của mình,nhiều bậc cha mẹ đã dành thời gian để dạy con học mỗi ngày
Bảng 4.4: Thời gian cha mẹ dạy con học
Mẫu: 30
ĐVT: %
Thời gian Trước năm 2009 Sau năm 2009
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3, năm 2014)
Trước năm 2009, phần lớn các bậc cha mẹ không có nhiều thời giandạy con học (33.3%) Còn lại, đa số các gia đình, dạy con học trong một ngàydao động từ 1 đến 1.5 tiếng (43.3%) Do trước năm 2009, phần lớn các giađình đều sản xuất nông nghiệp nên không có nhiều thời gian để dạy con học.Hơn nữa, do trình độ có hạn nên họ cũng không thể chỉ bảo được gì cho con
trong việc học hành “Trước đây, suốt ngày tôi bận rộn với công việc đồng áng, cả ngày đi làm, tối về mệt nên chả mấy khi có thời gian dạy con học, nếu
có thì chỉ dành cho con được hơn 1 tiếng, nhiều lúc con tự học bài là chính” (PVS, nữ, 35 tuổi) Sau năm 2009, mặc dù bận rộn với công việc hằng ngày
nhưng thời gian dạy con học của các gia đình nhiều hơn so với trước, hơn
Trang 3850% dành thời gian cho việc học của con từ 2 tiếng trở lên Chỉ có 3.3%không có thời gian dành cho con Như vậy, các bậc cha mẹ ngày càng nhậnthức được vai trò của mình trong việc chăm lo, dạy dỗ con cái, khuyến khíchcon cái học tập Đầu tư thời gian dạy con học với mong muốn con cái đượchọc đến nơi đến chốn, không phải vất vả như cha mẹ
Bên cạnh đó, chi tiêu cho việc học của con cái cũng là một trong nhữngyếu tố quan trọng để đầu tư học tập cho con cái Mỗi tháng các bậc cha mẹphải chi tiêu cho việc học của con từ học phí, học thêm, mua sách vở, mua đồdùng học tập
Bảng 4.5: Mua sắm đồ dùng học tập cho con Mẫu: 30
ĐVT: %
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3, năm 2014)
Mua sắm đồ dùng học tập cho con là một trong những tiêu chí hàng đầuđối với các bậc phụ huynh khi con bắt đầu bước vào năm học Đây là nhu cầuthiết yếu trong việc học của con cái Phần lớn các hộ gia đình khi được hỏiđều nhận định có mua sắm đồ dùng học tập cho con Trước năm 2009(53.3%) và sau năm 2009, tăng lên (80%) Tuy nhiên, trước năm 2009, con sốkhông mua sắm đồ dùng học tập cho con cũng khá cao (chiếm 46.7%), saunăm 2009 thì tỷ lệ không mua đồ dùng học tập cho con giảm xuống, còn 20%.Những người không mua sắm đồ dùng học tập cho con giải thích lý do là vì
họ không có đủ điều kiện để mua sắm đồ dùng học tập cho con
Bảng 4.5.1: Lý do không mua sắm đồ dùng học tập cho con
ĐVT: tần suất
Trang 39Lý do Trước năm 2009
(n=14)
Sau năm 2009(n=4)
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3, năm 2014)
Đồ dùng học tập như sách vở, bút, thước kẻ… là thứ cần thiết đối vớibất cứ một học sinh nào Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà một số hộ giađình không thể đáp ứng được nhu cầu thiết yếu đó cho con cái Lý do đượccác gia đình đưa ra là không có điều kiện, không có thời gian quan tâm đếncon và không biết con cần những gì Trước năm 2009, có tới 46.7% không
mua sắm đồ dùng học tập cho con (Xem bảng 4.5), trong đó lý do lớn nhất mà
họ đưa ra là không có điều kiện (7 lượt chọn) Vì vậy, đồ dùng học tập của
con chủ yếu là dùng lại của người khác hoặc được quyên góp hỗ trợ “Gia đình tôi con cái đông, cha mẹ lại không có lương bổng nên đời sống gia đình còn nhiều khó khăn, vào năm học mới, không có tiền để mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập cho con, sách vở chủ yếu thường mua lại của người ta, có khi thì được nhà nước hỗ trợ, quyên góp vì thuộc diện hộ nghèo” (PVS, nam, 53 tuổi) Bên cạnh đó, có (4 lượt chọn) cho rằng do không có thời gian quan tâm
đến con và (3 lượt chọn) không biết con cần những gì Sau năm 2009, đối vớinhững người không mua sắm đồ dùng cho con, họ cho biết, do bận bịu côngviệc không có thời gian quan tâm đến con (1 lượt chọn), còn lại là do khôngbiết con cần những gì (2 lượt chọn) và chỉ có (1 lượt chọn) là gia đình không
có điều kiện So với trước năm 2009, tỷ lệ hộ gia đình quan tâm đến việc họccủa con nhiều hơn, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số hộ gia đình khôngdành nhiều thời gian cho việc học của con, cha mẹ vẫn còn thiếu tính chủđộng trong việc tạo điều kiện để cho con cái có đầy đủ đồ dùng học tập