1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm của làng nghề đúc đồng đại bái xã đại bái huyện gia bình , tỉnh bắc ninh

100 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở sản xuất có thị trường tiêu thụ sản phẩmthì mới có điều kiện phát triển và mở rộng sản xuất.Đối với các làng nghề của Việt Nam nói chung và làng nghề Đúc ĐồngĐại Bái trên địa bàn x

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Người thực hiện

Nguyễn Đình Quyền

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân,tôi còn được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều tập thể trong và ngoài nhà trường.

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Kế Toán và Quản Trị Kinh Doanh,đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của TH.S Nguyễn Hùng Anh,giảng viên khoa kế toán quản trị kinh doanh trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội,người hướng dẫn khoa học.

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các ban lãnh đạo nhà trường

Người thực hiện

Nguyễn Đình Quyền

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II DANH MỤC BẢNG V DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VIII

PHẦN 1 1

MỞ ĐẦU 1

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến 4

PHẦN 2 5

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

2.1 Tổng quan tài tiệu nghiên cứu 5

2.1.1 Tiêu thụ sản phẩm 5

h Sản phẩm của làng nghề 20

Đối với sản phẩm làng nghề Đúc Đồng Đại Bái trên địa bàn huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh rất đa dạng phong phú và Sản phẩm đang phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và trang trí nội thất các sản phẩm của làng nghề đang được rất nhiều nơi trong và ngoài nước ưa chuộng và ngày càng được mở rộng sản xuất ra toàn xã 20

2.1.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm làng nghề của một số Quốc Gia trên thế giới 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

PHẦN 3 31

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31 3.2 Thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm nghề truyền thống của làng

Trang 4

3.5 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của làng nghề

Đúc Đồng Đại Bái xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh 66

PHẦN 4 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

4.1 Kết luận 73

4.2 Kiến nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 78

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II DANH MỤC BẢNG V DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VIII

PHẦN 1 1

MỞ ĐẦU 1

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến 4

PHẦN 2 5

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

2.1 Tổng quan tài tiệu nghiên cứu 5

2.1.1 Tiêu thụ sản phẩm 5

h Sản phẩm của làng nghề 20

Đối với sản phẩm làng nghề Đúc Đồng Đại Bái trên địa bàn huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh rất đa dạng phong phú và Sản phẩm đang phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và trang trí nội thất các sản phẩm của làng nghề đang được rất nhiều nơi trong và ngoài nước ưa chuộng và ngày càng được mở rộng sản xuất ra toàn xã 20

2.1.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm làng nghề của một số Quốc Gia trên thế giới 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

PHẦN 3 31

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31

Trang 6

3.4 Đánh giá về hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại làng nghề Đúc Đồng 59

3.5 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của làng nghề Đúc Đồng Đại Bái xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh 66

PHẦN 4 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

4.1 Kết luận 73

4.2 Kiến nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 78

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tình hình tiêu thụ một số sản phẩm nghề theo thị trường tạilàng nghề Đúc Đồng Error: Reference source not found

Sơ đồ 2.1 : Mối quan hệ giữa giá cả và tổng cầu của sản phẩm Error: Referencesource not found

Sơ đồ 2.2: Các loại kênh phân phối Error: Reference source not found

Sơ đồ 3.1 Quy trình Đúc đồng Error: Reference source not found

Sơ đồ 3.2 Kênh tiêu thụ sản phẩm của HTX Đúc Đồng .Error: Reference sourcenot found

Sơ đồ 3.3 Kênh tiêu thụ sản phẩm nghề của các hộ làng nghề Đúc Đồng Error:Reference source not found

Trang 8

: Giá trị sản xuất, Giá trị hàng hoá: Hợp tác xã

: Ngành nghề nông thôn: Thu nhập

: Tiểu thủ công nghiệp: Lao động gia đình: Nông nghiệp; Sản phẩm nông nghiệp: Tư liệu sản xuất

: Tổng hộ chuyên, tổng hộ kiêm: Hàng hoá; Hộ chuyên; Hộ kiêm: Hộ thuần nông

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tiêu thụ đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi ngànhkinh tế nói riêng và với nền kinh tế đất nước nói chung Đối với làng nghề đểtồn tại và phát triển được thì tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Sản phẩm của làng nghề được tiêu thụ nhanh, mạnh sẽ là động lực thúc đẩyngành nghề phát triển và sản xuất nông nghiệp cũng phát triển Bên cạnh đócũng chính nhờ sự tham gia của các tổ chức cá nhân trong tiêu thụ tạo thành hệthống kênh phân phối đã góp phần làm cân bằng hơn cơ cấu sản phẩm giữa cácvùng miền trong cả nước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân Đồng thờitiêu thụ sản phẩm cũng đổi lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngân sách nhà nướcthông qua hoạt động xuất nhập khẩu, gián tiếp góp phần vào việc giải quyết mộtlực lượng lớn lao động làm việc trong các cơ sở sản xuất và sử dụng hết laođộng gia đình Qua đó góp phần vào việc đảm bảo an sinh xã hội

Hiện nay, nền kinh tế của nước ta là một nền kinh tế mở và chúng ta đangtích cực chủ động hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế khu vực và kinh tế thếgiới Điều này đồng nghĩa với việc giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nướckhác trên thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mức độ hợp tác ngày càng caonhưng mức độ cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt Đặc biệt là khi Việt Nam đãtrở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì hai

xu hướng hợp tác và cạnh tranh sẽ ngày càng phong phú và đa dạng hơn Hợp

Trang 10

điều kiện mở rộng và xâm nhập vào thị trường thế giới nhưng hàng hóa nướcngoài cũng sẽ tràn vào Việt Nam Điều này đã gây ra sự tác động không nhỏ tới cácchủ thể kinh tế và các thành phần kinh tế trong nước Vì vậy trong điều kiện mới mỗinhà sản xuất dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào muốn tồn tại được thì không còncách nào khác là phải chiếm lĩnh được thị trường tiêu thụ trong nước, mở rộng ra thịtrường nước ngoài, đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm Bởi vì tiêu thụ sản phẩmgiữ một vai trò hết sức quan trọng Nó là giai đoạn cuối cùng của một chu kỳ SXKDchuyển sản phẩm từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng và là nhân tố quyếtđịnh tới sự tồn tại của cơ sở sản xuất Cơ sở sản xuất có thị trường tiêu thụ sản phẩmthì mới có điều kiện phát triển và mở rộng sản xuất.

Đối với các làng nghề của Việt Nam nói chung và làng nghề Đúc ĐồngĐại Bái trên địa bàn xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh nói riêng cũngđang đứng trước khó khăn về đầu ra cho sản phẩm do khủng hoảng kinh tế và sựcạnh tranh gay gắt của hàng hoá nước ngoài, nên trong cơ chế thị trường hiệnnay việc sản xuất ra sản phẩm đã khó nhưng để bán được sản phẩm lại càng khóhơn Tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quyết định sự thành bại của các đơn vị sản xuấtkinh doanh Hàng năm làng nghề Đúc Đồng Đại Bái xã Đại Bái huyện Gia Bìnhcung cấp cho thị trường rất nhiều loại sản phẩm với khối lượng tương đối lớnđáp ứng một phần nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và ngoài nước Tuynhiên, việc tiêu thụ sản phẩm của làng nghề này còn nhiều hạn chế Sản phẩmchủ yếu tiêu thụ ở thị trường nội địa, đa dạng hóa sản phẩm chưa cao, đặc biệt làchưa tạo dựng được thương hiệu cho sản phẩm, chịu nhiều áp lực cạnh tranh từcác làng nghề khác trong nước và sản phẩm của một số nước trong khu vực Vìvậy mà tốc độ tiêu thụ sản phẩm của làng nghề chưa cao, khối lượng tiêu thụcòn khiêm tốn so với nhu cầu và tiềm năng của các thị trường

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để làng nghề ngày càng chiếm lĩnh và mởrộng được thị trường, đẩy nhanh được tốc độ tiêu thụ sản phẩm, chỉ ra được

Trang 11

điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức của làng nghề, những vấn

đề phát sinh trong tiêu thụ sản phẩm của làng nghề

Xuất phát từ vấn đề nêu trên chúng tôi lựa chọn nội dung nghiên cứu: “Nghiên

cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm của làng nghề Đúc Đồng Đại Bái xã Đại Bái huyện Gia Bình , tỉnh Bắc Ninh” nhằm đưa ra một số giải pháp thúc đẩy hơn nữa

việc tiêu thụ sản phẩm của làng nghề

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng tiêu thụ sản phẩm của làng nghề trên địa bànhuyện Gia Bình, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ, từ đóđịnh hướng những giải pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của làng nghề

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa lý luận và cơ sở thực tiễn về tiêu thụ sản phẩmcủa làng nghề

- Đánh giá thực trạng tiêu thụ một số sản phẩm của làng nghề

- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ sản phẩm củalàng nghề

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêuthụ sản phẩm ở làng nghề Đúc Đồng Đại Bái xã Đại Bái đạt hiệu quả cao

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các sản phẩm chủ yếu của làng nghề

- Các chủ thể kinh tế bao gồm: cơ sở sản xuất, người bán lẻ, người bán

Trang 12

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đánh giá thực trạng tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn huyệnGia Bình và nhận xét về những tồn tại và khó khăn cần khắc phục trong việcnâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của làng nghề Đúc Đồng Đại Bái

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại làng nghề ĐúcĐồng Đại Bái xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh

- Về thời gian: Số liệu thu thập, phân tích sản phẩm làng nghề chủ yếucủa huyện giai đoạn 2010 – 2012 Thời gian nghiên cứu từ ngày 18/02/2013 đếnngày 18/05/2013

1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến

- Thống kê được các mô hình sản xuất chính trong làng nghề, xác định được

mô hình chủ đạo trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở hiện tại và tương lai

- Đưa ra được những vấn đề yếu kém còn tồn tại trong hoạt động tiêu thụsản phẩm của làng nghề,hoàn thiện hơn hệ thống tiêu thụ giúp tăng lợi nhuậncho các cơ sở sản xuất

- Nghiên cứu tìm kiếm các thị trường tiềm năng trong và ngoài nước,tìmhiểu thị trường thúc đẩy quá trình tiêu thụ trong nước , xuất khẩu và quảng bárộng rãi sản phẩm của làng nghề ra quốc tế

- Tối đa hóa lợi nhuận là mong muốn của tất cả các cơ sở sản xuất kinhdoanh,để tối đa hóa lợi nhuận thì cách duy nhất đó là tối thiểu hóa chi phí phátsinh mà trong quá trình tiêu thụ sản phẩm thì các chi phí phát sinh này chính làkhâu trung gian(nhà thu gom,lái buôn, ),vì vậy vấn đề đặt ra ở đây là làm sao cóthể tiêu thụ trực tiếp từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng mà không mất các phítrung gian để đảm bảo cả hai cùng có lợi là vấn đề đang rất được các cơ sở sảnxuất quan tâm và đây là hướng đi cho nghiên cứu tiếp theo của tôi

Trang 13

PHẦN 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan tài tiệu nghiên cứu

2.1.1 Tiêu thụ sản phẩm

2.1.1.1 Khái niệm

+ Theo cách nói của các nhà kinh tế chính trị học: Tiêu thụ sản phẩm làkhâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là nhà sản xuất vàphân phối và một bên là người tiêu dùng

+ Theo cách nói của các nhà kinh tế học: Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạncuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh , là yếu tố quyết định sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp

Tổng hợp lại ta có tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sảnxuất kinh doanh, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của các nhà sản xuất Tiêuthụ sản phẩm thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, đưa sản phẩm từ nơi sảnxuất đến nơi tiêu dùng Trong quá trình tuần hoàn các nguồn vật chất, việc mua vàbán các sản phẩm được thực hiện, giữa hai khâu này có sự khác nhau, quyết địnhđến bản chất hoạt động thương mại đầu vào và hoạt động thương mại đầu ra

+ Hoạt động tiêu thụ sản phẩm làng nghề được cấu thành từ các yếu

tố như chủ thể kinh tế tham gia,đối tượng tiêu thụ và thị trường

Với:

Chủ thể kinh tế tham gia: Người bán và người mua

Đối tượng tiêu thụ: Sản phẩm ngành nghề

Thị trường: Có thể hiểu rằng thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ

Trang 14

phẩm hàng hoá Thị trường bao gồm thị trường trong tỉnh, thị trường ngoài tỉnh

và thị trường nước ngoài

2.1.1.2 Ý nghĩa và vai trò của tiêu thụ sản phẩm

+ Đối với người sản xuất

Thứ nhất: Là cơ sở để ra quyết định trong sản xuất kinh doanh

Đây được coi là vai trò quan trọng nhất, người sản xuất sẽ căn cứ vào thịphần thị trường, tốc độ tiêu thụ sản phẩm và sự chấp nhận của người tiêu dùngđối với sản phẩm làm cơ sở để ra quyết định mở rộng hay thu hẹp quy mô sảnxuất, biết được sản phẩm nào mình có thế mạnh, sản phẩm nào chưa thực sựđược người tiêu dùng chấp nhận, tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng tiêu thụtrên để từ đó có sự thay đổi chiến lược, cải thiện dịch vụ bán hàng, nâng caohình ảnh của cơ sở sản xuất trên thị trường Phát huy thế mạnh, hạn chế điểmyếu và đồng thời hoàn thiện những sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu củangười tiêu dùng Tất cả vì mục tiêu giảm tối thiểu chi phí, những bất lợi đến từthị trường nhằm tăng lợi nhuận

Thứ hai: Là cơ sở đánh giá đối thủ cạnh tranh, sự hoạt động của các nhân

sự thị trường trong hoạt động công tác thị trường

Trong nền kinh tế thị trường các nhà sản xuất luôn tìm cách loại bỏ đối thủcạnh tranh độc chiếm thị trường Vì vậy từ thực tiễn tiêu thụ sản phẩm sẽ biết đượcnăng lực cạnh tranh của mình cũng như của đối thủ để có kế hoạch đối phó kịp thời

+ Về phương diện xã hội

Thứ nhất: Tiêu thụ sản phẩm sẽ góp phần làm cân đối cung cầu

Thông qua hệ thống kênh phân phân phối của các cơ sở sản xuất sẽ làmcho dòng sản phẩm luôn luôn lưu động trên các thị trường, các vùng miền trong

cả nước, đảm bảo lợi ích của cả người tiêu dùng và người sản xuất Cung cầucân bằng sẽ hạn chế sự biến động giá cả gây bất lợi cho người tiêu dùng khi giálên cao cũng như người sản xuất khi giá xuống thấp

Trang 15

Thứ hai: Giải quyết việc làm, đóng góp vào NSNN

Tiêu thụ sản phẩm thuận lợi các cơ sở sản xuất sẽ có điều kiện mở rộngquy mô sản xuất từ đó sẽ tuyển thêm lao động đáp ứng điều kiện hiện tại mớicủa cơ sở sản xuất Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ nghĩa là sản xuất diễn ramột cách bình thường và trôi chảy, tránh được sự mất cân đối, giữ được bình ổntrong xã hội Đồng thời tiêu thụ sản phẩm giúp cho các đơn vị xác định phươnghướng và bước đi của kế hoạch sản xuất cho giai đoạn tiếp theo

Thông qua tiêu thụ sản phẩm có thể dự đoán nhu cầu tiêu dùng xã hộinói chung và của từng khu vực nói riêng đối với từng loại sản phẩm Trên cơ

sở đó, cơ sở sản xuất sẽ xây dựng được các kế hoạch phù hợp nhằm đạt hiệuquả cao nhất

2.1.1.3 Đặc điểm tiêu thụ sản phẩm của làng nghề

 Đặc điểm của sản phẩm làng nghề:

Sản phẩm làng nghề đa dạng mang đậm tính chất truyền thống, mạng đậmbản sắc văn hoá dân tộc Làng nghề ở Bắc Ninh chủ yếu là làng nghề truyềnthống, nên sản phẩm sản xuất ra mang đậm tính chất truyền thống Mặt khác dodạy nghề là hình thức truyền nghề, nên giữ được bí quyết, giữ được nét độc đáocủa sản phẩm nghề mà địa phương khác, làng khác không thể làm được Vì nétđộc đáo, truyền thống đó của sản phẩm mà nó tạo nên thương hiệu của sảnphẩm, do đó nó chi phối được thị trường tiêu thụ sản phẩm Chẳng hạn khimuốn mua sản phẩm mây tre trúc phải đến làng nghề tre trúc xã Xuân Lai,cònmuốn mua các sản phẩm đồng thì người ta nhắc ngay đến làng nghề Đúc ĐồngĐại Bái xã Đại Bái Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu tiêu dùngcủa con người ngày càng đa dạng, phong phú, nên các làng nghề đã nhanhchóng đổi mới, sản xuất đa dạng, phong phú loại sản phẩm nhằm đáp ứng nhucầu tiêu dùng của xã hội Hơn thế nữa, trong xu thế hội nhập, nhiều sản phẩm

Trang 16

và ngoài nước, đồng thời chất lượng sản phẩm không ngừng nâng cao nhằmnâng cao khả năng cạnh tranh trong thị trường.

Mỗi một sản phẩm mang một nét đặc trưng riêng cho từng ngành Là sản phẩmcủa làng nghề nó bao gồm sản phẩm nghề Mỗi một loại sản phẩm có nhữngđặc điểm riêng cụ thể như sau:

Thứ nhất: Đa dạng về chủng loại

Mỗi làng nghề trong nông thôn rất đa dạng về sản phẩm, từ sản phẩmnghề được sản xuất dưới hình thức thủ công như Đúc Đồng bao gồm cácloại sản phẩm phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày như hoành phi câu đối,tranh chữ, lọ lục bình,…đến những sản phẩm dùng cho trang trí nộithất,thờ cúng như tranh tứ quý,đồ vật phong thủy,…đều cần đến sự khéoléo và sự tinh xảo

Thứ hai: Đối với sản phẩm ngành nghề thời gian sử dụng có thể kéo dàituỳ thuộc vào tính năng của sản phẩm cũng như cách sử dụng chúng

 Đặc điểm của thị trường sản phẩm làng nghề

- Thị trường sản phẩm làng nghề vừa mang tính rộng khắp vừa mangtính tập trung

Rộng khắp là để đảm bảo nhu cầu và cuộc sống của người tiêu dùng Mỗimột vùng có một điều kiện tự nhiên sinh thái khác nhau và mỗi làng nghề có sảnphẩm khác nhau, tạo nên những sản phẩm mang đặc thù riêng của từng miềnnên không thể đáp ứng sự đa dạng trong tiêu dùng của người dân Muốn đápứng được nhu cầu đó thì cần có sự trao đổi hàng hóa giữa các vùng miền đóchính là xây dựng nên hệ thống kênh phân phối cho các sản phẩm Sản phẩmnghề được tiêu thụ trong tỉnh, ngoài tỉnh và xuất khẩu

- Giá cả, cung cầu trên thị trường luôn luôn biến động: Đối với sản phẩmngành nghề như Đúc Đồng phục vụ cho nhu cầu sử dụng,giá bán cũng phụ thuộcrất nhiều vào tính thời vụ, phụ thuộc vào hình thức tiêu thụ và sự biến động giá

cả trên thị trường.cụ thể như vào dịp lễ tết, hội làng thì giá cả thường tăng Và

Trang 17

khi giá cả của nguyên liệu đầu vào biến động thì cũng làm cho giá cả của sảnphẩm cũng bị thay đổi.

- Kênh tiêu thụ sản phẩm của làng nghề:

Sản phẩm để tiêu dùng phần lớn là trao đổi gián tiếp giữa người sản xuất

và người sử dụng Do đặc thù của sản phẩm, giá cả và tính phổ biến, quy mô sảnxuất mà sản phẩm làng nghề chủ yếu tiêu thụ qua kênh gián tiếp từ người sảnxuất qua trung gian mới đến người tiêu dùng, một bộ phận không lớn được tiêuthụ qua kênh trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng

Sản phẩm được các trung gian ( người thu gom, người bán buôn, các đạilý,các công ty) thu mua sau đó bán cho người tiêu dùng hoặc xuất khẩu sang thịtrường thế giới Hiện nay các sản phẩm Đúc Đồng ngoài tiêu thụ trong nước thìcòn được các tổ chức, cá nhân thu gom, Các trung gian này thu mua sản phẩmsau đó bán cho người tiêu dùng và xuất khẩu sang một số nước như Thái Lan,

Ấn Độ, Hàn Quốc,

Từ những vấn đề trên chúng ta thấy tiêu thụ sản phẩm luôn gắn với thịtrường và thị hiếu người tiêu dùng Những thông tin phản ánh đúng nhu cầuthị trường và thị hiếu người tiêu dùng sẽ là kim chỉ lam cho định hướng pháttriển sản xuất và ngược lại nếu thông tin sai hay định hướng không tốt sẽ làmảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất như: Sản xuất ra sản phẩm khôngphù hợp với cái mà thị trường cần, hàng hoá không tiêu thụ được, dẫn đếnthua lỗ

2.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm của làng nghề

* Yếu tố sản xuất

Sản xuất là một trong những phân hệ chính có ý nghĩa quyết định đến việctạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho xã hội Điều hành tốt hệ thống sảnxuất là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗi cơ sở, hộ sản xuất có thể đứng vững và

Trang 18

cả các tác nhân có tham gia đóng góp vào hoạt động của hệ thống tiêu thụ, đảmbảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của người sản xuất.

Vì vậy các cơ sở, các hộ nên sản xuất với số lượng thích hợp nhằm đápứng nhu cầu của người tiêu dùng, giá sản phẩm của làng nghề ngày càng hạ vàchất lượng ngày càng tăng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu thụ sảnphẩm trên thị trường

* Thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề

Thị trường chịu ảnh hưởng bởi quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quyluật cung cầu như các thị trường khác Nó là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâusản xuất và tiêu thụ Nếu thị trường chấp nhận thì quy mô sản xuất sẽ được duytrì và phát triển mở rộng còn nếu có sự trì trệ trong quá trình tiêu thụ sản phẩmtrong thị trường thì phải chuyển đổi sản xuất bằng việc thu hẹp quy mô hay tạosản phẩm thay thế

* Chất lượng sản phẩm:

Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng sản phẩm là một trong những vũkhí cạnh tranh sắc bén, là một yếu tố góp phần vào việc khẳng định vị trí củangười sản xuất trên thị trường

Khi mức sống của hầu hết các bộ phận nhân dân ngày càng cao, nhu cầucủa họ ngày càng tăng, thị trường có nhiều sự lựa chọn thì chỉ có những sảnphẩm có chất lượng “đủ tốt” mới gây được sự chú ý của người tiêu dùng Chấtlượng sản phẩm không những thu hút được nhiều khách hàng, mà còn tạo chongười sản xuất nâng giá bán một cách hợp lý, tăng lợi nhuận Đồng thời chấtlượng sản phẩm tạo điều kiện cho việc kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, đẩymạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, góp phần phát triển và mở rộng thị trường, cảithiện tình hình tài chính của người sản xuất

Nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng phát triển, các sảnphẩm có chất lượng cao, hình thức hấp dẫn luôn được ưa chuộng, nó làm chohoạt động tiêu thụ cũng ngày càng phụ thuộc vào yếu tố này

Trang 19

* Giá cả sản phẩm tiêu thụ

Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá theo sự thoả thuận giữangười mua và người bán trong quan hệ cung cầu và yếu tố cạnh tranh Mỗi một làngnghề có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, giá cả của chúng cũng khácnhau Mỗi mức giá đưa ra phải căn cứ vào tình hình cung cầu trên thị trường, mứcgiá quy định của Nhà nước Giá cả có ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm bán ra;

sự đánh giá của khách hàng về chất lượng sản phẩm, về vị trí của người sản xuất; nóquyết định đến việc mua sản phẩm hàng hoá của khách hàng và là phương thứccạnh tranh của người sản xuất trên thị trường

* Hành vi người tiêu dùng: Khi thu nhập của người tiêu dùng cao thì nhu

cầu của họ là những sản phẩm có chất lượng cao, đẹp tuy nhiên không phải điều nàylúc nào cũng đúng vì nó còn bị giới hạn bởi đặc tính, thói quen tiêu dùng và đặc tínhcủa sản phẩm

* Mẫu mã bao bì

Đây là cảm nhận đầu tiên của khách hàng về sản phẩm hàng hoá Ngàynay người ta thường đánh giá chất lượng hàng hoá thông qua bao bì, vì vậy nhàsản xuất cũng nên chú ý thiết kế sao cho phù hợp với chất lượng và giá cả sảnphẩm khi mang ra tiêu thụ đối với sản phẩm Đúc Đồng hiện nay rất đa dạng vềmẫu mã, hình thức cũng đẹp hơn nhưng phần lớn vẫn chưa đáp ứng được sự hàilòng của người tiêu dùng

* Các hình thức quảng cáo

Trong môi trường cạnh tranh, quảng cáo sản phẩm không thể tách rời hoạtđộng sản xuất kinh doanh, là vấn đề có tính chất chiến lược của sản xuất và tiêuthụ Quảng cáo sẽ cung cấp thông tin tới người tiêu dùng về sản phẩm và bảnthân người sản xuất Song phải lưu ý quảng cáo mang tính hai mặt Sử dụngquảng cáo phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản: lượng thông tin cao nhất; nội dung

Trang 20

Quảng cáo gắn liền với chữ tín, nếu quảng cáo sai sự thật thì sản phẩmcủa nhà sản xuất sẽ bị tẩy chay khỏi thị trường.

Bán hàng không có người bán: là phương pháp bán hàng hiện đại trong

đó hàng hoá được bày bán trong tầm tay của người mua hàng với giá cả đượcniêm yết Người mua được tự do lựa chọn hàng hoá sau đó thanh toán thẳngvới người thu tiền

Bán hàng bằng quảng cáo và bằng sự tư vấn nhằm giúp khách hàng hiểubiết về sản phẩm và người sản xuất, qua đó khách hàng có thể tìm thấy nhu cầunày sẽ được thoả mãn bởi các sản phẩm, dịch vụ của người sản xuất

Bán hàng qua cơ sở trung gian: người sản xuất lựa chọn các nhà bánbuôn, các nhà bán lẻ, các đại lý hoặc môi giới để tiếp tục thực hiện quá trìnhchuyển hàng hoá đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Ngoài ra còn hình thức bán hàng qua thư tín, qua điện thoại, qua internethoặc thông qua hội chợ triển lãm, hội thảo, bán hàng trao tay …

+ Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm

Trong nền kinh tế thị trường, người bán buôn, bán lẻ, đại lý, người môigiới … được hình thành một cách khách quan Để xây dựng được mạng lưới tiêuthụ hợp lý và sử dụng các loại hình trung gian có hiệu quả nhằm thúc đẩy quátrình tiêu thụ nhanh, thu được lợi nhuận cao các doanh nghiệp phải căn cứ vào

Trang 21

tính chất đặc điểm của sản phẩm, cũng như các điều kiện cụ thể của doanhnghiệp mà sử dụng các mạng lưới tiêu thụ khác nhau.

+ Các hoạt động dịch vụ khác

Dịch vụ ở đây có thể được hiểu là tất cả các hoạt động hỗ trợ nhằm tạomọi điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng như vận chuyển miễn phí, bảo hànhsản phẩm, quà tặng kèm theo …

* Đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh là những người có sản phẩm

hàng hoá cùng loại với người sản xuất kinh doanh hay những sản phẩm có thểthay thế lẫn nhau Lực lượng này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Số lượng đối thủ cạnh tranh càng nhiều việc tiêu thụcàng khó khăn và phức tạp hiện nay trên thị trường mặt hàng thủ công mỹ nghệđang bị cạnh tranh gay gắt không chỉ trong nước mà còn cạnh tranh với cácnước trong khu vực

* Chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm:

Việc định hướng trong tiêu thụ đặc biệt là trong xuất khẩu sản phẩm làđiều kiện thuận lợi cho tiêu thụ sản phẩm nghề truyền thống trên thị trườngtrong nước và quốc tế

2.1.2 Nội dung nghiên cứu tiêu thụ sản phẩm làng nghề

a Nghiên cứu thị trường

Trong cơ chế thị trường hiện nay có thể nói rằng, thị trường là điều kiện

để người sản xuất tồn tại và phát triển Cho nên khi nghiên cứu nhu cầu thịtrường phải được coi là hoạt động có tính chất tiền đề, có tầm quan trọng đểđảm bảo xác định đúng đắn phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh Đểnắm được nhu cầu của thị trường, việc nghiên cứu phải được tiến hành qua ba

Trang 22

Bước một: Tổ chức thu thập hợp lý các nguồn thông tin về nhu cầu, thịhiếu của thị trường đối với loại sản phẩm hàng hoá mà các nhà sản xuất đã, đang

và có thể sản xuất Các thông tin gồm: địa điểm, sức mua, sức bán, giá cả chấpnhận, mức độ ổn định của thị trường … nắm được các thông tin nhanh, kịp thời,chính xác để xác định phương hướng kinh doanh mới phát huy được lợi thế vốn có

Bước hai: Phân tích sử lý đúng đắn các loại thông tin đã thu thập từ đóphân ra các loại thị trường Phân tích lựa chọn những thông tin có ích để tránhsai lầm khi ra quyết định

Bước ba: Xác định khả năng đáp ứng của người sản xuất đối vớithị trường

b Nghiên cứu giá cả : Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị Trong nền

kinh tế của thị trường giá cả ẩn chứa nhiều mối quan hệ, nó liên quan tới sự cạnhtranh, sự tồn tại và phát triển sản phẩm hàng hoá đó trên thị trường Nó thể hiện mốiquan hệ tổng cung và tổng cầu về sản phẩm cũng như giữa người mua với ngườibán

Sơ đồ 2.1 : Mối quan hệ giữa giá cả và tổng cầu của sản phẩm

P1P

P0

P 2

Trang 23

Giả sử: A là điểm cân bằng thị trường

D: Cầu thị trường về sản phẩm của người sản xuất

S: Khả năng cung sản phẩm của người sản xuất

P: Giá cả Q: Lượng sản phẩm hàng hoá

Mục tiêu của nhà kinh doanh là đưa hai điểm B và C tiến gần tới điểm A.Giá cả còn phản ánh tình hình biến động của thị trường, chất lượng và uy tíncủa sản phẩm Vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh thì việc xác định giá cảhợp lý cho sản phẩm là vô cùng quan trọng, giúp nhà kinh doanh tối đa hoá hiệu quảkinh tế

- Giá cả của sản phẩm bao gồm : giá cổng trại, giá bán buôn và giá bán lẻ

- Việc xác định giá cả tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo cho nhà sản xuấtbảo tồn được vốn để phục vụ sản xuất và có lãi Giá tiêu thụ sản phẩm của nhàkinh doanh được quyết định bởi tổng chi phí sản xuất và chi phí lưu thông sảnphẩm Tuỳ vào tính chất hoạt động của nhà kinh doanh, dựa vào thị trường cạnhtranh hay dựa theo chu kỳ sống của sản phẩm Thường có một số phương phápđịnh giá sau:

+ Định giá dựa vào chi phí bình quân

P = AFC + AVC + Lợi nhuận

Trong đó:

P: Giá bán sản phẩm

AFC: Chi phí cố định bình quân

AVC: Chi phí biến đổi bình quân

Phương pháp này sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động có lãi

+ Định giá dựa vào cơ sở phân tích điểm hoà vốn

Phv = FC/Qhv + AVC

Trong đó: FC: Tổng chi phí cố định

Trang 24

Phương pháp này giúp các nhà sản xuất biết được mức giá cần đặt ra để khitiêu thụ hết lượng Qhv sản phẩm thì nhà kinh doanh sẽ hoà vốn.

c Nghiên cứu khách hàng

Với phương châm “khách hàng là thượng đế ” nên nhà sản xuất phải biếtđược sở thích, nhu cầu của “thượng đế” thì mới làm thoả mãn nhu cầu và tăngcường mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng được Nhà sản xuất cần nắm được cácthông tin như: người tiêu dùng hay mua loại sản phẩm hàng hoá gì, mua ở đâu,sốlượng bao nhiêu,mua khi nào trong năm Trên cơ sở đó nhà sản xuất có thể địnhhướng được chính sách phân phối đúng đắn, nắm bắt được thời cơ để đưa hànghoá ra thị trường nhằm đạt hiệu quả tiêu thụ cao nhất

Ngoài ra nhà sản xuất còn phải nắm được tập tính, thị hiếu của người tiêudùng để từ đó có chiến lược tiêu thụ cho phù hợp Nhìn chung: Người tiêu dùngthường muốn thuận tiện khi mua hàng, nhanh gọn, mua hàng hoá có chất lượngcao,hàng hoá mới kèm theo dịch vụ hỗ trợ,với giá phải chăng, phương thứcthuận tiện

d Nghiên cứu cạnh tranh

Nghiên cứu cạnh tranh là nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh và đề ra địnhhướng, biện pháp giải quyết phù hợp với doanh nghiệp mình Nhìn chung mọidoanh nghiệp đều phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh khác nhau Xét quanđiểm cạnh tranh trên 4 cấp độ: Cạnh tranh mong muốn,cạnh tranh giữa các loạisản phẩm khác nhau để thỏa mãn một mong muốn,cạnh tranh cùng loại sảnphẩm,cạnh tranh giữa các nhãn hiệu

- Cạnh tranh mong muốn tức là với cùng một lượng thu nhập người ta có thểdùng vào các mục đích khác nhau: Mua sắm các trang thiết bị trong gia đình, đi dulịch khi dùng mục đích này có thể thôi không dùng mục đích khác, dùng cho mụcđích này nhiều sẽ hạn chế mục đích khác Cơ cấu chi tiết có thể phản ánh một xuhướng tiêu dùng, do đó tạo ra cơ hội hay đe dọa hoạt động tiêu thụ

Trang 25

- Cạnh tranh giữa các loại sản phẩm khác nhau để cùng thoả mãn mộtmong muốn Mong muốn về phương tiện đi lại hoặc mong muốn về giống có thểgây ra sự cạnh tranh.

- Cạnh tranh cùng loại sản phẩm

- Cạnh tranh giữa các nhãn hiệu

Trong 4 loại cạnh tranh trên mức độ gay gắt trống đồng từ 1 đến 4 Khi tôi xétcạnh tranh nhà sản xuất phải tính tới cả 4 cấp độ để quyết định các phương án cho hoạtđộng tiêu thụ của mình, nghĩa là phải xác định và dự đoán trước vấn đề gì sẽ xảy ratrong thời gian cạnh tranh thì nhà sản xuất phải tìm khoảng thời gian cạnh tranh Nếutiềm lực của nhà sản xuất còn thấp kém, không đủ sức cạnh tranh thì nhà sản xuất phảitìm khoảng trống thị trường để lé tránh, tức là tìm những sản phẩm mà đối thủ bỏ qua

để sản xuất và tìm thị trường mục tiêu của để tối đa hoá doanh thu cho mình

e Nghiên cứu kênh tiêu thụ sản phẩm

Theo quan điểm tổng quát kênh phân phối là một loại hoạt động tập hợp cácnhà sản xuất và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưahàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng Nói cách khác, đây là một nhóm tổchức và cá nhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng chongười tiêu dùng hoặc người sử dụng công nghệ, để họ có thể mua và sử dụng Cáckênh phân phối tạo nên dòng chảy hàng hoá từ người sản xuất qua, hoặc không quacác trung gian tới người mua cuối cùng

Phân phối góp phần không nhỏ trong quá trình cung cấp cho khách hàngđúng sản phẩm, đúng thời gian, đúng vị trí trên cơ sở kênh hay luồng hàng

Các yếu tố cấu thành hệ thống kênh phân phối bao gồm:

- Người cung ứng: Nhà sản xuất, công ty thương mại

- Người trung gian: Đại lý, người bán buôn, người bán lẻ, người môi giới

- Người tiêu dùng cuối cùng: Khách hàng

Trang 26

Tuỳ từng điều kiện khác nhau mà doanh nghiệp áp dụng các kênh khácnhau sao cho vừa giảm được chi phí marketing, vừa tăng cường được lượng bánsản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả tiêu thụ

Các loại kênh phân phối: Có hai loại kênh phân phối đó là kênh trực tiếp vàkênh gián tiếp, kênh gián tiếp lại có nhiều mức độ trung gian khác nhau.Ta có thể thấyqua sơ đồ sau:

(1)

(2)

(3)

Sơ đồ 2.2: Các loại kênh phân phối

Kênh (1): kênh trực tiếp Kênh (2,3,4): kênh gián tiếp

Tuỳ từng điều kiện khác nhau mà có thể áp dụng các kênh khác nhau sao chovừa giảm được chi phí marketing, vừa tăng cường được lượng bán sản phẩm gópphần nâng cao hiệu quả tiêu thụ

Nếu kênh tiêu thụ hoàn hảo thì lượng tiêu thụ sản phẩm ngày càng lớn,công tác khuyếch trương sản phẩm tốt khách hàng biết đến giá trị đích thựcmang lại của sản phẩm từ các nghề truyền thống sẽ tạo điều kiện cho cả quátrình tiêu thụ được diễn ra một cách thuận lợi

f Nghiên cứu các hoạt động yểm trợ đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm hàng hoá

* Thông tin quảng cáo

Là hình thức truyền thông trực tiếp được thực hiện thông qua nhữngphương tiện truyền tin như truyền hình, phát thanh, áp phích, báo chí … qua đó

Người bán lẻ

Người bán buôn Người bán lẻ

Người bán buôn Người bán lẻ Đại lý

(4)

Trang 27

đưa các thông tin cần thiết nhằm kích thích thị hiếu của người tiêu dùng đến vớisản phẩm của doanh nghiệp Quảng cáo được thực hiện trên một phạm vi khônggian, thời gian và một khoảng chi phí nhất định.

* Khuyến mại

Khuyến mại là hình thức khuyến khích khách hàng mua nhiều sảnphẩm bằng các ưu đãi có điều kiện Ví dụ khi mua khối lượng hàng hoá lớn sẽđược giảm giá hay chiết khấu tỷ lệ cho khách hàng Một số nhà sản xuất còn

có hình thức khuyến mại đặc biệt dành cho khách hàng mua được sản phẩm

có phiếu trúng thưởng Từ đó kích thích tâm lý tới người tiêu dùng sẽ muanhiều lần, nhiều lượng sản phẩm của người sản xuất hơn Thường thì việckhuyến mại chỉ diễn ra trong một giai đoạn cần thiết nào đó, nhằm nâng caothông tin và uy tín của nhà sản xuất nhất là khi có sản phẩm mới thị trường cũhay sản phẩm cũ thị trường mới

g Xây dựng, lựa chọn chiến lược sản phẩm và chiến lược thị trường

Sản phẩm hàng hoá, nhu cầu và thị hiếu của thị trường có nhiều loại Do

đó cần phối hợp chiến lược sản phẩm và chiến lược thị trường để tìm ra được sựkết hợp có hiệu quả nhất

* Nội dung của chiến lược sản phẩm cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Loại sản phẩm mà người sản xuất đã và đang sản xuất kinh doanh cònđược thị trường và người tiêu dùng chấp nhận không? Nếu như sản phẩm đã vàđang sản xuất kinh doanh không được thị trường chấp nhận nữa thì phải tiếnhành đa dạng hoá sản phẩm như thế nào cho có hiệu quả

- Việc thay đổi cải tiến sản phẩm cũ bằng các sản phẩm mới như thế nào

để được thị trường chấp nhận?

- Thời điểm thay đổi sản phẩm cũ được tiến hành vào lúc nào là thích hợptrên cơ sở nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm?

Trang 28

* Nội dung của chiến lược thị trường

- Nghiên cứu khái quát thị trường: Đánh giá đặc điểm chủ yếu của thịtrường, xác định được những thuận lợi, khó khăn của mỗi thị trường, từ đó chọnđược thị trường mục tiêu tương lai phù hợp với tiềm năng của người sản xuất

- Nghiên cứu chi tiết thị trường: tìm hiểu kỹ lưỡng về khách hàng làm cơ

sở cho việc lựa chọn xác định thị trường, tức là nghiên cứu trực tiếp người tiêudùng, để có biện pháp phù hợp

h Sản phẩm của làng nghề

Các sản phẩm của làng nghề đã thể hiện được tinh hoa, bản sắc văn hóadân tộc Từ những viên gạch, viên ngói, đầu rồng đến những vật dụng sinh hoạtgốm sứ bị chôn vùi dưới đất qua bao thời đại vẫn còn giữ nguyên nét tinh xảo,tài hoa của bàn tay khối óc người thợ thủ công

Sản phẩm của làng nghề có nét riêng và độc đáo, tên của sản phẩm luôn kèmtheo tên của làng làm ra nó, sản phẩm nổi tiếng cũng làm cho làng nghề tạo ra cácsản phẩm ấy nổi tiếng Ở đó không chỉ tập trung một hay nhiều nghề thủ công, trởthành một trung tâm sản xuất lớn hoặc khá lớn, mà còn là nơi hội tụ các thợ và nghệnhân tài hoa và khéo léo, tạo ra những sản phẩm có bản sắc riêng, nơi khác khó bềbắt chước được Những sản phẩm của làng nghề không chỉ là những vật phẩm sinhhoạt bình thường hàng ngày, mà một số còn là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưngcủa nền văn hoá xã hội, mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhânvăn của dân tộc

Đối với sản phẩm làng nghề Đúc Đồng Đại Bái trên địa bàn huyện GiaBình - tỉnh Bắc Ninh rất đa dạng phong phú và Sản phẩm đang phục vụ cho sảnxuất, sinh hoạt và trang trí nội thất các sản phẩm của làng nghề đang được rấtnhiều nơi trong và ngoài nước ưa chuộng và ngày càng được mở rộng sản xuất

ra toàn xã

Trang 29

2.1.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm làng nghề của một số Quốc Gia trên thế giới

Phát triển làng nghề góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nông nghiệp, nông thôn Trong quá trình phát triển đó có tác động, ảnhhưởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Quá trình CNH nôngthôn ở một số nước thành công là do họ có những định hướng, quan tâm đúngđắn và hệ thống chính sách đồng bộ Dưới đây là kinh nghiệm của một số nướcgiúp chúng ta tham khảo

a Trung Quốc

Là một nước láng giềng có điều kiện tự nhiên như Việt Nam, Chính phủTrung Quốc cũng đã rất chú trọng phát triển các lĩnh vực phi nông nghiệp trongquá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn Do vậy mà NNTT được khôiphục và phát triển mạnh như chế biến nông sản, chế tác đồ trang sức bằng vàng,bạc, đá quý, làm gốm sứ cổ truyền … Ngành chế biến nông sản truyền thống trởthành thế mạnh của Trung Quốc giúp cho nông dân giải quyết tốt đầu ra cho sảnphẩm nông nghiệp và nâng cao thu nhập Với sự kết hợp giữa tay nghề của cácnghệ nhân tài hoa và công nghệ hiện đại nên những sản phẩm Đúc Đồng làm rađạt chất lượng cao và giá cả phù hợp, có sức cạnh tranh trên thị trường Nhữngmặt hàng này không những đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng trongnước mà còn nhờ có chính sách xuất khẩu nên năm 2010, kim ngạch xuất khẩu

đồ Đồng của Trung Quốc đạt trên 12 triệu USD Nghề Đúc Đồng cổ truyềnTrung Quốc đã phát triển theo hướng CNH – HĐH và trở thành hàng xuất khẩuthu ngoại tệ lớn Cho đến nay 95% hàng xuất khẩu sản phẩm Đúc Đồng củaTrung Quốc là đồ trang trí nội thất

Như vậy, phát triển NNNT ở Trung Quốc đã tạo việc làm tăng thu nhậpcho cư dân nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giảm từ 36,9%xuống còn 24,7% năm 2010

Trang 30

và xuất khẩu Ngành nghề thủ công mỹ nghệ Đúc Đồng của Philippin được quantâm phát triển hơn Cả nước có hơn 300 cơ sở sản xuất, sản phẩm này vừa tiêuthụ trong nước, vừa xuất khẩu Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩmnày của Philippin đạt 14 triệu USD, trong đó 85% được xuất sang Nhật

c Tình hình tiêu thụ sản phẩm của làng nghề tại Việt Nam

Theo thống kê, tính đến nay, cả nước có khoảng 20 làng nghề thủ côngĐúc Đồng với nhiều loại hình sản xuất như hộ gia đình, tổ sản xuất, tổ hợptác, các hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, thu hút hàng nghìn lao động, kể

cả lao động nhàn rỗi Trong một ý nghĩa khác, việc duy trì và phát triển đượccác làng nghề truyền thống này với nhiều thợ giỏi, nghệ nhân giỏi, có taynghề cao cũng là cách duy trì các di sản văn hóa dân tộc từ đời này sang đời

khác.Đối với riêng làng nghề Đúc Đồng Đại Bái xã Đại Bái Năm 2011 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm của làng nghề đạt 2 triệu USD, năm 2012 ước đạt khoảng 2.2 triệu USD Sản phẩm chủ yếu gồm nhiều loại khác nhau và được xuất khẩu sang thị trường các nước như Nhật Bản,Thái Lan,Ấn độ,Hàn Quốc

và một số nước đông nam á khác Tuy nhiên, từ đầu năm nay, do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu, những khó khăn của làng nghề ngày càng hiện

rõ Vào giữa năm 2011, các ngân hàng thương mại thực hiện chủ trương siết chặt tiền tệ, tín dụng, khiến nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp làng nghề

đã thiếu càng trở nên thiếu hơn.

Thời kỳ hoàng kim của hàng thủ công mỹ nghệ là giai đoạn 1975 đến1986.Giai đoạn trước 1990 do thời kỳ này thị trường chủ yếu là sản xuất các sản

Trang 31

phẩm thủ công đơn giản để phục vụ nhu cầu của người dân như xoong,nồi,ấmtích,mâm, , Sau 1990, thị trường này suy giảm bởi những biến động chính trị vàhiện nay, sản phẩm thủ công mỹ nghệ của làng nghề Đúc Đồng Đại Bái xã ĐạiBái đã có mặt hầu khắp các tỉnh thành miền bắc và một số ít tỉnh thành miềntrung và miền nam Theo một con số thống kê gần đây, giá trị sản xuất của cácmặt hàng thủ công mỹ nghệ chính yếu của làng qua các năm từ 2009 đến 2011như sau: 2009 đạt 1.5 (triệu USD), 2011 đạt 2,02 (triệu USD) và 2,2 triệu (USD)vào năm 2012 Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này là 5,07%.Vớithị trường xuất khẩu năm 2012 Tỷ lệ tăng trưởng trong tổng kim ngạch xuất khẩu

là 11,28%, nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 2,8% Thị trường Nhật Bản:kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này là 1,02 triệu USD năm 2012 Kháchhàng Nhật rất ưa thích mặt hàng đồng và số lượng khách du lịch cũng gia tăng.Hiện có nhiều công ty tại làng nghề sản xuất và xuất khẩu sang thị trường NhậtBản Ngoài ra, thị trường Nam Phi cũng tăng trưởng với nhiều triển vọng khinhiều công ty Việt Nam đang tiến hành nhiều hoạt động xúc tiến thương mại tạithị trường Nam Phi Thị trường nội địa có sức mua yếu, trong khi kinh nghiệm thịtrường quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế Mặt khác, ngành hàngthủ công mỹ nghệ và làng nghề truyền thống Việt Nam hiện tại còn thiếu tính liênkết giữa khoa học và mỹ thuật học với việc chế tạo, sản xuất sản phẩm

Chúng ta mặc dù đã có những chính sách hỗ trợ cho ngành, vẫn chưa cóchiến lược phát triển toàn diện ngành hàng này trong việc phát triển sản xuất, từvùng nguyên liệu cho đến tổ chức sản xuất và tiêu thụ"

2.1.4 Một số nghiên cứu có liên quan đến tiêu thụ sản phẩm tại làng nghề

Trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, phát triển làng nghề

Trang 32

nhiễm môi trường, đất đai, lao động, thu nhập và vốn trong các làng nghề.Nhưng các nghiên cứu chưa đề cập nhiều đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm của làngnghề.Theo (Nguyễn Thị Hiền,2008),ta thấy nghiên cứu đã giới thiệu tổng quát vềlàng nghề,thực trạng sản xuất và hướng sản xuất của làng nghề trong tương lai,không giống như (Nguyễn Thị Hiền,2008), nghiên cứu (Phạm Văn Tài,2009) đãchỉ ra được thực trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề,giải pháp phát triển làngnghề và hướng giải quyết cho thực trạng ô nhiễm nặng tại làng nghề hiện nayNhưng các nghiên cứu trên đều thiếu sót một quá trình rất quan trọng đó trình làquá trình cuối cùng trong chuỗi quá trình sản xuất,nó đánh giá được sự thành bạiđối với quá trình sản xuất đó chính là quá trình tiêu thụ sản phẩm Đối với khóaluận của tôi sẽ nghiên cứu các vấn đề về tiêu thụ sản phẩm của làng nghề, trongquá trình nghiên cứu tôi sẽ đi sâu vào một số vấn đề như khả năng tiêu thụ củasản phẩm, thị phần thị trường tiêu thụ, kênh tiêu thụ sản phẩm, giá bán của sảnphẩm và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm của làngnghề

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu

Làng nghề truyền thống Đại Bái nắm trong xã Đại Bái, Huyện Gia Bình ,Tỉnh Bắc Ninh là một làng thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông hồng , với têngọi cổ là làng Bưởi nồi.Đại Bái cách thủ đô Hà Nội 30km về phía Đông,cáchtỉnh lỵ Bắc Ninh 15km về phía nam và huyện lỵ Gia Bình 3km về phíaTây,thuộc vùng tam giác kinh tế trọng điểm của đất nước(Hà Nội-Hải Phòng –Quảng Ninh)

Làng Đại Bái nằm ở bờ Nam sông đuống,có quốc lộ 282 chạy qua xã nênrất thuận lợi cho giao lưu buôn bán cả đường thủy và đường bộ và với mộtLNTT đã có hàng nghìn năm lịch sử và một vị trí hết sức thuận lợi cho việc phát

Trang 33

triển kinh tế ,cuộc sống người dân nơi đây ngày càng được cải thiện mạnh mẽ và

có thể nói là đang có một cuộc sống sung túc,với giá trị hàng hóa sản xuất hàngnăm lên đến hàng chục tỷ đồng, làng nghề Đúc Đồng Đại Bái đang ngày càngkhẳng định được vị thế của mình trong và ngoài tỉnh,hoàn thiện, phát triển hơnnữa về mẫu mã sản phẩm,thị trường và ngày càng khẳng định được thương hiệuriêng so với các sản phẩm ngoại.Để hiểu hơn về địa điểm nghiên cứu, thấy đượcthực trạng tiêu thụ sản phẩm của làng nghề trên địa bàn huyện Gia Bình, đồngthời có những định hướng, giải pháp thúc đẩy phát triển làng nghề, thúc đẩy tiêuthụ sản phẩm đạt hiệu quả cao, tôi đã tiến hành điều tra về tình hình tiêu thụ sảnphẩm trên các cửa hàng ,đại lý,công ty và mức độ sản xuất tại nhà sản xuất(HTX,Hộ chuyên,Hộ kiêm) để từ đó đánh giá được một cách tổng quát lượnghàng đã sản xuất và lượng hàng đã được tiêu thụ,từ đó có thể đánh giá được mức

độ tiêu thụ hiện nay và đề xuất hướng mở rộng sản xuất hay là mở rộng địa điểmbán hàng làm sao cho đạt được kết quả sản xuất kinh doanh tốt nhất

2.2.2 Thu thập các tài liệu

a, Thu thập tài liệu sơ cấp

Trên cơ sở xác định đối tượng khảo sát gồm các Doanh Nghiệp (DNTN, Công tyTNHH) , các hộ chuyên ngành nghề, hộ kiêm và các hộ thuần nông Đồng thời cũng điềutra, phỏng vấn các nghệ nhân, thợ giỏi, chủ hộ và những người có kinh nghiệm sản xuất

Phỏng vấn cơ sở và các hộ sản xuất ngành nghề bằng các câu hỏi đã chuẩn hóa và đểtiến hành thu thập số liệu mới trước tiên ta cần hiểu rõ một số khái niệm sau:

- Cơ sở chuyên ngành nghề nông thôn là những cơ sở ở nông thôn chuyênhoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đã được cấp đăng ký doanhnghiệp theo quy định Nếu phân theo thành phần kinh tế thì các cơ sở ngành

Trang 34

- Hộ chuyên ngành nghề ( còn gọi là hộ chuyên) là những hộ có toàn bộhoặc phần lớn lao động bao gồm các thành viên trong hộ cũng như lao độngthuê ngoài tham gia các ngành nghề phi nông nghiệp dưới bất cứ hình thứcsản xuất hay kinh doanh, dịch vụ nào, tự tạo việc làm, nguồn thu nhập chủyếu của họ từ các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp Các hộ chuyênngành nghề có thể có đất nông nghiệp nhưng số lao động tham gia và thunhập từ sản xuất nông nghiệp chỉ là thứ yếu, không đáng kể so với lao động

và thu nhập từ các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp

- Hộ kiêm (có thể là hộ sản xuất nông nghiệp kiêm ngành nghề hoặc hộngành nghề kiêm sản xuất nông nghiệp) là những hộ vừa làm nông nghiệp vừalàm ngành nghề phi nông nghiệp Cả hai hoạt động ngành nghề và sản xuất nôngnghiệp đều có vai trò quan trọng hoặc ít nhất là không thể thiếu được một tronghai loại sản xuất kinh doanh này trong việc đảm bảo công ăn việc làm và đờisống cho bản thân hộ gia đình

Do đặc thù của sản xuất và ngành nghề ở nông thôn trong các cơ sở, hộsản xuất đều có sử dụng lao động thường xuyên và lao động thời vụ

+ Lao động thường xuyên trong năm là những lao động bao gồm lao độnggia đình, lao động làm công hưởng lương có việc làm ổn định trong năm từ 6tháng trở lên

+ Lao động sử dụng thời vụ là những lao động bao gồm lao động hộ giađình, lao động làm công hưởng lương chỉ tham gia hoạt động ngành nghề vàocác tháng nông nhàn hoặc những lúc do nhu cầu sản xuất tăng cần phải huyđộng thêm lao động, số lao động này có thời gian lao động ngành nghề trongnăm dưới 6 tháng và đối với họ không phải là hoạt động kinh tế chính trongnăm.( )

Mỗi hộ tôi đều tiến hành điều tra theo mẫu.Mẫu điều tra được lựa chọntrên cơ sở tham khảo ý kiến của cán bộ xã, thôn, lựa chọn tiêu thức phân tổ Đểđảm bảo tính đại diện của mẫu, trên cơ sở danh sách các loại tôi chọn ngẫu

Trang 35

nhiên mẫu điều tra theo tỷ lệ số hộ: Hộ chuyên, hộ kiêm và hộ thuần nông Kếthợp với các thông tin phỏng vấn trực tiếp tại các cơ sở, từ người lao động tại hộ

và cơ sở

Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất ngành nghề của huyện, xác định đốitượng cần khảo sát gồm: các cơ sở chuyên ngành nghề (DNTN, HTX), hộ chuyênngành nghề, hộ kiêm trên cùng địa bàn nghiên cứu để làm cơ sở so sánh, phỏng vấncác thợ giỏi và những người có kinh nghiệm Thu thập các thông tin, số liệu tổng hợp

ở huyện và các xã điều tra

Số liệu mới được thu thập thông qua nội dung phiếu điều tra các đối tượng bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ chuyên, chủ cơ sở sản xuất , các

hộ kiêm có tiếng ở trong làng nghề và một số khách hàng thường xuyên mua hàng tại làng nghề.Phương pháp chọn mẫu ở đây là chọn mẫu có chủ đích

Mẫu phiếu điều tra được thiết kế phù hợp cho việc khảo sát thực tế và mục

tiêu cần nghiên cứu

Bảng 2.1: Số lượng mẫu điều tra

Làng nghề Đúc Đồng Đại Bái

Trang 36

Các số liệu được thu thập từ các tài liệu đã công bố như Niên giám thống

kê của các cấp, số liệu tổng hợp điều tra nông nghiệp nông thôn, các tài liệu, báocáo của cơ quan chuyên ngành và của các cấp chính quyền như ủy ban nhân dân

xã, phòng Kinh tế xã, phòng Tài nguyên môi trường, Trung tâm Khuyến nông,Khuyến lâm xã, UBND xã địa bàn nghiên cứu Ngoài ra, các báo cáo khoa học,tạp chí chuyên ngành nông nghiệp – nông thôn, Internet, các sách chuyên vềngành nghề truyền thống

2.2.3 Phương pháp tổng hợp và Xử lý số liệu

*Phương pháp phân tổ thống kê

Phương pháp này dùng để hệ thống hoá tài liệu và phát triển các tài liệu điều tra, từ

đó rút ra quy luật kinh tế của quá trình sản xuất và tiêu thụ nhằm thể hiện mối quan hệ qualại của các nhân tố riêng biệt, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả vàhiệu quả của quá trình tiêu thụ sản phẩm Mặt khác hiệu quả kinh tế lại chịu ảnh hưởngcủa rất nhiều yếu tố, do đó phải sử dụng phương pháp phân tổ thống kê

Tiêu thức phân tổ ở đây là theo loại hộ: hộ chuyên, hộ kiêm, hộ thuần nông vàHTX Xác định số tổ và phạm vi mỗi tổ dựa trên cơ sở đảm bảo cho các đơn vị cócùng tính chất thì cùng một tổ, khác nhau về tính chất thì khác tổ

Xác định các chỉ tiêu giải thích sẽ nói lên mặt lượng trong mối quan hệ với mặtchất của hiện tượng Khi xác định các chỉ tiêu giải thích phải phản ánh được nội dungcần nghiên cứu và đảm bảo có mối liên quan chặt chẽ với tiêu thức phân tổ

Phương pháp này còn dùng để hệ thống hoá các chỉ tiêu tổng hợp về số tuyệtđối, số tương đối, số bình quân để phân tích tình hình biến động của hiện tượng theothời gian cũng như ảnh hưởng của hiện tượng này lên hiện tượng kia Từ đó, thấyđược sự biến đổi về lượng và chất của vấn đề nghiên cứu để rút ra bản chất, tính quyluật, dự báo xu hướng phát triển và đề xuất giải pháp mang tính khoa học

* Các số liệu thu thập đã được mã hóa và xử lý bằng phần mềm Excell

Trang 37

2.2.4 Phương pháp phân tích

* Phương pháp phân tích

Tiến hành phân tích thực trạng về tiêu thụ sản phẩm, số lượng, sản lượng sảnphẩm được sản xuất ra, số lượng sản phẩm được tiêu thụ, các hình thức tiêu thụ,những tiềm năng và thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm của làng nghề giữa các loại hộ,HTX Phân tích, so sánh thu nhập giữa các loại hộ , trên cơ sở đó có thể đề ra cácgiải pháp phù hợp cho từng loại hộ, cho phát triển kinh tế của Xã

* Vận dụng phân tích ma trận SWOT đối với tiêu thụ sản phẩm của làng nghề

Ma trận SWOT là ma trận kết hợp giữa phân tích và dự báo bên trong với bênngoài về tình hình tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề trên địa bàn nghiên cứu

Cách xây dựng ma trận thuận chiều với tiếp cận từ bên trong (nội tại của các

hộ sản xuất tại làng nghề), có nghĩa là điểm khởi đầu của ma trận sẽ được bắt đầubằng S (điểm mạnh) và W (điểm yếu), rồi mới đến các yếu tố thuộc môi trường bênngoài, cụ thể là O (cơ hội) và T (nguy cơ) Kết quả của quá trình phân tích tổng hợp

là cơ sở để xây dựng phương hướng tiêu thụ chủ yếu

Bảng 2.2: Ma trận SWOT

Cơ hội (O) Nguy cơ (T)

Nội bộ trong xã Điểm mạnh (S) Phối hợp (S/O) Phối hợp (S/T)

Điểm yếu (W) Phối hợp (W/O) Phối hợp (W/T)

(Nguồn: Giáo trình Quản trị doanh nghiệp, ĐHKTQD, 2005)

Trang 38

- Phối hợp W/T: là sự kết hợp giữa các mặt yếu và nguy cơ của tiêu thụsản phẩm Sự kết hợp này đặt ra yêu cầu cho các hộ, các cơ sở sản xuất cần phải

có các biện pháp để giảm bớt mặt yếu và tránh được nguy cơ bằng cách đề racác giải pháp chiến lược trong tiêu thụ sản phẩm

- Phối hợp S/T: thu được từ sự kết hợp giữa các mặt mạnh với nguy cơcủa tiêu thụ sản phẩm Sự kết hợp này giúp cho hộ, cơ sở vượt qua đượcnhững nguy cơ bằng cách tận dụng những điểm mạnh của mình để tiêu thụsản phẩm được tăng lên

Trang 39

PHẦN 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Làng nghề truyền thống Đại Bái nằm trong xã Đại Bái, huyện Gia Bình,tỉnhBắc Ninh là một làng thuộc vùng đông bằng châu thổ sông Hồng ,với tên gọi cổ làlàng bưởi nồi Đại Bái cách thủ đô Hà Nội 30km về phía đông,cách tỉnh lỵ Bắc Ninh15km về phía nam và huyện lỵ Gia Bình 3km về phía tây, thuộc vùng tam giác kinh

tế trọng điểm của đất nước(Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh

Làng Đại Bái nằm ở bờ nam sông đuống, có quốc lộ 282 chạy qua xã nênrất thuận lợi cho giao lưu buôn bán cả đường thủy và đường bộ

Về tình hình đất đai.

Tổng diện tích đất tư nhiên của làng Đại Bái là 385,2 ha.hiện trạng sửdụng đất của làng như sau:

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất ở làng nghề Đại Bái (năm 2009)

Trang 40

Diện tích đất được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp chiếm rất lớn(trênnửa diện tích đất tự nhiên).đối với Đại Bái hầu như tất cả các cơ sở sản xuất đềulấy nhà mặt bằng sản xuất,mà diện tích đất dùng cho sản xuất và đời sống củangười dân trong làng rất thấp(chỉ chiếm 24,06% diện tích đất tự nhiên).do vậyquá trình sản xuất còn gặp rất nhiều trở ngại,khó khăn.

3.1.2 Đặc điểm lao động.

Tình hình dân số của làng Đại Bái được thể hiện qua biểu sau

Bảng 3.2: Tình hình dân số lao động của làng năm 2009

(Nguồn: UBND xã Đại Bái)

Dân số toàn xã đại bái năm 2007 là 2033 hộ trong đó làng Đại Bái có

1153 hộ (chiếm 56,71% số hộ toàn xã),dân số toàn xã là 9969 người trong đó dân sốlàng Đại Bái là 5826 người chiếm 58,4% dân số toàn xã.Diện tích bình quân đầungười là 0.02 ha/người.năm 2007 số lao động trong làng nghề là 2330 lao động,trong đó lao động thuần nông là 677 lao động chiếm 29,05%,lao động sản xuất nôngnghiệp kiêm ngành nghề dịch vụ là 70,5%.năm 2009 làng có 2600 lao động trong độtuổi đó lao động thuần nông là 593 lao động chiếm 22,8%,lao động chuyên ngànhnghề và kiêm ngành nghề chiếm 68,5% còn lại lao động khác chiếm 8,7%

Về chất lượng lao động: Đa số lao động trong làng nghề có trình độ vănhóa hết cấp 3,số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật rất ít.Do vậy mà ảnhhưởng rất lớn tới năng lực sản xuất kinh doanh của làng.Theo dự báo mỗi năm

Ngày đăng: 07/01/2020, 21:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Xuân Bình (2001), Marketing lý thuyết và vận dụng, NXB khoa học và xã hội, trung tâm nghiên cứu Nhật Bản Khác
2. Hoàng Ngọc Bích (2004) Marketing nông nghiệp, NXB trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Khác
3. Đỗ Kim Chung (2005), Dự án phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
4. Trương Đình Chiêu (2002), Quản trị Marketing ( kênh phân phối ), NXB Thống kê Hà Nội Khác
5. Trần Minh Đạo (2003), Marketing, NXB Thống kê Hà Nội Khác
6. Trần Sửu (2001), năng lực cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa, NXB Đại học Bách Khoa Hà Nội Khác
7. Vũ Thị Phương Thụy (1998), Nghiên cứu kênh tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Chuyên đề tiến sỹ chuyên nghành kinh tế quản lý và kế hoạch hoá kinh tế Nhà nước, Đại học Nông nghiệp Hà nội Khác
8. Ngô Doãn Vinh (2003), Nghiên cứu chiến lược phát triển và quy hoạch phát triển xã hội ở Việt Nam - Học hỏi và sáng tạo, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
9. UBND huyện Gia bình(2008), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2007 và nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2008 Khác
10. UBND huyện Gia bình(2009), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2008 và nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2009 Khác
11. UBND xã Đại Bái, huyện Gia Bình (2010), Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2009-2013 Khác
12. Nguyễn Thị Hiền (2008), Thực trạng và các giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề truyền thống Đại Bái tỉnh Bắc Ninh Khác
13. Phạm Văn Tài (2009), Đánh giá thực trạng quản lý môi trường ở làng Khác
1. Vốn cố định 2. Vốn lưu độngII. Phân theo nguồn vốn 1. Vốn tự có Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w