DANH MỤC BẢNG BIỂUBảng 2.1: Tỷ lệ phần trăm so với chất khô...Error: Reference source not foundBảng 2.2: Tổng hợp mẫu điều tra khảo sát thực tế...Error: Reference source notfound Bảng 2.
Trang 1Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ths.Bùi Thị Lâm – Giảngviên khoa Kế toán & QTKD, cùng với PGS.TS.Trần Hữu Cường phó trưởngkhoa Kế toán & QTKD, TS.Nguyễn Duy Trình – Phó Giám đốc Trung tâm côngnghệ sinh học thực vật, chú Phạm Công Tự Giám đốc Trung tâm nấm VănGiang và CN.Đào Văn Việt phó trưởng phòng Marketting Trung tâm nấm VănGiang đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em có thểhoàn thành đề tài của mình.
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan, đề tàikhông tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Em rất mong nhận được sự thôngcảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2013
Sinh viên
Vũ Thị Ngân
Trang 2MỤC LỤC
3.2.2 Đánh giá chung kết quả, hiệu quả sản xuất nấm ăn 45 3.2.3Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất nấm ăn 53 3.2.4 Một số tồn tại và hạn chế ở 2 huyện Văn Giang và Hưng Yên 62
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tỷ lệ phần trăm so với chất khô Error: Reference source not foundBảng 2.2: Tổng hợp mẫu điều tra khảo sát thực tế Error: Reference source notfound
Bảng 2.3: Ma trận SWOT Error: Reference source not foundBảng 2.4: Hiệu quả kinh tế Error: Reference source not foundBảng 3.1: Khí hậu thời tiết tỉnh Hưng Yên qua các tháng năm 2010 Error:Reference source not found
Bảng 3.2: Diện tích, mật độ dân số năm 2010 Error: Reference source not foundBảng 3.3: Dân số phân theo giới tính năm 2010 Error: Reference source notfound
Bảng 3.4: Dân số phân theo khu vực năm 2010 Error: Reference source notfound
Bảng 3.5: Thông tin chung về chủ hộ sản xuất nấm Error: Reference source notfound
Bảng 3.6: Quy mô sản xuất nấm hộ nông dân Error: Reference source not foundBảng 3.7: Tình hình đầu tư chi phí sản xuất nấm sò, nấm mỡ, nấm rơm tươi tínhtrên một tấn nguyên liệu Error: Reference source not foundBảng 3.8: Tình hình cơ sở vật chất của hộ trồng nấm.Error: Reference source notfound
Bảng 3.9: So sánh năng suất sản xuất nấm ăn của hộ nông dân với trung tâmnấm Văn Giang Error: Reference source not foundBảng 3.10: So sánh năng suất trung bình với huyện Tiên Lãng Error: Referencesource not found
Bẳng 3.11: Phân tích kết quả và hiệu quả của các hộ sản xuất nấm ăn Error:Reference source not found
Bảng 3.12: So sánh giá trị sản xuất nấm của hộ nông dân và TT theo chủng loạisản phẩm Error: Reference source not found
Trang 4Bảng 3.13: So sánh chi phí sản xuất nấm của hộ nông dân và TT theo chủng loạisản phẩm Error: Reference source not foundBảng 3.14: So sánh các chỉ tiêu kinh tế của hộ nông dân và TT nấm Error:Reference source not found
Bảng 3.15: Các giống nấm ăn và năng suất trên 1 tấn nguyên liệu Error:Reference source not found
Bảng 3.16: Tổng hợp hoạt động cung cấp dịch vụ đầu vào sản xuất năm 2011 Error:Reference source not found
Bảng 3.17: Giá tiêu thụ nấm mỡ, nấm rơm, nấm sò Error: Reference source notfound
Bảng 3.18: Tổng hợp SWOT cơ sở sản xuất nấm ăn Error: Reference source notfound
Bảng 3.19: Kết hợp điểm mạnh- thách thức, cơ hội- điểm yếu Error: Referencesource not found
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất nấm ăn Error: Reference sourcenot found
Sơ đồ 2.2: Khung phân tích đề tài Error: Reference source not found
Sơ đồ 3.1: Kênh tiêu thụ nấm ăn Error: Reference source not found
Trang 7ăn phục vụ nhu cầu tiêu dùng Một trong những biểu hiện dẫn tới tồn tại trên là docác cơ sở sản xuất tổ chức sản xuất còn phân tán, quy mô nhỏ lẻ mang tính chấttận dụng chưa có quy hoạch đồng bộ để phát huy hết tiềm năng sẵn có đáp ứngđược nhu cầu của thị trường, chưa chuyên môn hóa cao vừa tổ chức sản xuấtnấm nhưng lại đồng thời thu gom, sơ chế và phân phối bán buôn.
Huyện Văn Giang và huyện Tiên Lữ được quan tâm tới việc sản xuất nấmtạo công ăn việc làm cho người dân nên có nhiều xã phát triển nghề trồng nấm,nhiều người dân được học nghề trồng nấm làm nâng cao thu nhập và cải thiện chấtlượng cuộc sống cho người nông dân, đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đóigiảm nghèo Tuy nhiên, nhiều hộ trồng nấm còn băn khoăn đến lợi ích kinh tế củaviệc trồng nấm nên còn do dự đầu tư mở rộng quy mô sản xuất Từ vấn đề lý luận
và thực tiễn như trên, tôi xin được chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của các cơ sở sản xuất nấm ăn tại huyện Văn Giang và huyện Tiên Lữ – Hưng
Trang 81.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng hiệu quả sản xuất một số sản phẩm nấm ăn của các
hộ và các cơ sở sản xuất nấm trên địa bàn Văn Giang và Tiên Lữ - Hưng Yên từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu kinh tế sản xuất một số sảnphẩm nấm ăn đó
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnhhưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất một số loại nấm ăn (nấm mỡ, nấm sò, nấmrơm) của các đối tượng được chọn khảo sát là:
- Các hộ gia đình sản xuất nấm ăn
- Cơ sở sản xuất nấm ăn khác như: Hợp tác xã, trang trại sản xuất, doanhnghiệp sản xuất nấm ăn
- Trung tâm nấm Văn Giang
Trang 9Phạm vi nghiên cứu
a) Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất một
số loại nấm ăn phổ biến được trồng tại địa bàn nghiên cứu là: nấm sò, nấm mỡ,nấm rơm
b) Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên các hộ sản xuất nấm tại huyệnVăn Giang và huyện Tiên Lữ – Hưng Yên và khu vực sản xuất nấm ăn tại trungtâm nấm Văn Giang
c) Phạm vi về thời gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu tình hình sản xuất qua các năm: 2012-2013đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển đến năm 2015-2020
1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến
- Điều tra hộ sản xuất nấm ăn trên địa bàn Tiên Lữ và Văn Giang - HưngYên
- Tình hình sản xuất và hiệu quả kinh tế của các hộ trồng nấm ăn tại địa bànnghiên cứu
- Các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển nghề sản xuất nấm tại địa bàncũng như toàn tỉnh
Trang 10PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Một số kiến thức chung về nấm
a) Khái niệm nấm và phân loại
Nấm thuộc loài thực vật bậc thấp, không có diệp lục, chủ yếu sống ký sinhhay cộng sinh trên xác của thực vật hoặc các chất hữu cơ rữa nát, trong tự nhiên
và môi trường nhân tạo Căn cứ vào mục đích sử dụng và ý nghĩa kinh tế có thểchia nấm thành các loại sau đây:
- Các nấm có chứa độc tố (gọi chung là nấm độc) Những loại nấm nàythường mọc tự nhiên Con người trong quá trình thu hái nếu không phân biệtđược nấm độc, khi ăn phải sẽ gặp nguy hiểm
- Các loại nấm không chứa độc tố được con người sử dụng làm thức ăn (gọitắt là nấm ăn) Những loại nấm này mọc từ tự nhiên đồng thời do nhu cầu conngười ngày càng nhiều, người ta đã nghiên cứu các phương pháp nuôi trồngnhân tạo để tạo ra sản lượng ngày càng lớn và tránh sự thu hái nhầm lẫn nấmđộc trong tự nhiên Hiện nay trên thế giới và trong nước các loại nấm này đangđược nuôi trồng, chế biến thành nguồn thực phẩm có giá trị Các loại nấm ănchủ yếu hiện nay là nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm, nấm mộc nhĩ, nấm hương…
- Các loại nấm gây hại chủ yếu trong nông lâm nghiệp thường gặp như nấmgây bệnh xoăn lá ở khoai tây cà chua … Trong sản xuất người ta đã có nhiềubiện pháp phòng trừ các loại nấm gây hại để thu được năng suất cây trồng cao
Trang 11- Trong y học có nhiều loại nấm dùng làm thuốc chữa bệnh cho người vàgia súc Một số nấm quý sản xuất ra một số chất kháng sinh penicillin như nấmlim, nấm ngân nhĩ có nhiều ở miền núi được sử dụng để chế biến các loại thuốcchống lão hóa.
b) Đặc điểm kỹ thuật của nấm ăn
Trong khuôn khổ nghiên cứu, đề tài tập trung tìm hiểu những đặc tính sinhhọc cơ bản của một số loại nấm thông dụng: nấm sò, nấm mỡ, nấm rơm như sau:
Nấm mỡ
Nấm mỡ có tên khoa học là Agaricus bisporus, một số điều kiện sinh trưởng
và phát triển cơ bản: Nhiệt độ thích hợp trong giai đoạn hệ sợi phát triển là 25°C, giai đoạn nấm mọc cần nhiệt độ từ 15-18°C; độ ẩm trong cơ chất (nguyênliệu compost) từ 65-70%, độ ẩm không khí>80%; pH của môi trường nuôi trồngcũng như nước tưới bằng 7,0-8,0 (trung tính hoặc kiềm yếu); ánh sáng khôngcần thiết cả giai đoạn nuôi sợi và quả thể; độ thông thoáng vừa phải nồng độ
24-CO2<0,1%; nấm mỡ không sử dụng xenlulo trực tiếp mà sử dụng thức ăn là bã
“mục thứ cấp” nên ta phải có quá trình xử lí nguyên liệu và phối trộn thêm cácphụ gia (phân hữu cơ, phân vô cơ) để tạo môi trường thích hợp nhất cho nấmphát triển gọi là compost; thời vụ nuôi trồng nấm mỡ chủ yếu trồng ở các tỉnhphía Bắc nói chung và vùng trọng điểm đồng bằng sông Hồng nói riêng Vụ nấmkéo dài từ 1/10 năm trước tới 30/4 năm sau Nhưng thời gian ủ rơm rạ chỉ giớihạn từ 1/10 đến 5/12 dương lịch hàng năm Tốt nhất là ủ rơm rạ từ 5/10 đến20/10 Nếu làm sớm hoặc muộn hơn sẽ gặp thời tiết không thuận lợi, dẫn tớinăng suất thấp
Nấm sò
Nấm sò có tên khoa học là pleurotus.sp có hình phễu lệch mọc thành cụm,mỗi cánh nấm gồm 3 phần: mũ, phiến, cuống với một số điều kiện sinh trưởngnhư sau: nhiệt độ thích hợp với nấm sò thuộc nhóm chịu lạnh từ 13-20°C vànhóm chịu nhiệt độ cao từ 24-28°C; độ ẩm cơ chất trồng nấm từ 60-65%, độ ẩm
Trang 12không khí>80%, pH= 6,5-7,0; ánh sáng không cần thiết trong thời kì nuôi sợi,khi nấm hình quả thể cần ánh sáng khuếch tán; độ thông thoáng cần thiết tronggiai đoạn nuôi sợi khi nấm lên, nồng độ CO2<0,03%; sợi nấm sò sử dụng trựctiếp nguồn xenlulozo của cơ chất, có thể bổ sung thêm các chất phụ gia giàu chấtđạm, khoáng trong giai đoạn xử lý nguyên liệu; thời vụ sản xuất nấm sò có thểtrồng quanh năm nhưng thuận lợi nhất từ tháng 9 năm trước tới tháng 4 năm sau.
Nấm rơm
Nấm rơm có tên khoa học là Volvariella volvacea, nấm rơm có hơn 100loài và chi khác nhau về màu sắc có loại màu xám, trắng, xám đen,… kíchthước, đường kính “cây nấm” lớn nhỏ tùy thuộc từng loại Cấu tạo hình thái câynấm gồm 3 phần: bao gốc, cuống nấm và mũ nấm Chu kỳ sinh trưởng và pháttriển của nấm rơm rất nhanh chóng Từ lúc trồng đến lúc thu hoạch chỉ sau 12-14 ngày Những ngày đầu sau khi cấy giống 7 - 8 ngày sợi nấm hình thành hạtnhỏ như hạt tấm có màu trắng, 2 - 3 ngày sau lớn rất nhanh bằng hạt ngô, quảtáo, quả trứng lúc trưởng thành trông giống như chiếc ô dù, có cấu tạo thành cácphần hoàn chỉnh; nấm rơm phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ không khí
từ 30 -32°C, độ ẩm nguyên liệu (cơ chất) 70-75%, độ ẩm không khí 80%, pHcủa cơ chất =7,0 - 7,5, nấm rơm ưa thoáng khí và nhiệt độ chênh lệch không quá10°C giữa ngày và đêm; thời vụ trồng nấm rơm ở miền Bắc chủ yếu từ 15/4 -15/9 hàng năm
c) Vai trò của nấm ăn đối với đời sống con người
- Về mặt dinh dưỡng
Nấm ăn là loại thực vật có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều đạm, ít mỡ, ítcalo, ngoài ra nó còn có các chất có ích cho cơ thể con người như đa đường,khoáng và sinh tố Theo phân tích của các nhà khoa học trong 112 loài nấm cóhàm lượng bình quân: Protein 25%; lipid 8%; gluxit 60% Ngoài ra giá trị dinhdưỡng nấm còn có nhiều đặc tính biệt dược, có khả năng phòng và chữa bệnhnhư: hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột, tẩy máu xấu… nhiều
Trang 13công trình nghiên cứu về y học xem nấm như một loại thuốc có khả năng phòng
và chống bệnh ung thư.[1]
Bảng 2.1: Tỷ lệ phần trăm so với chất khô
Độ ẩm Protein Lipit Hydracacbon Tro Calo
Nguyên liệu sử dụng trồng nấm chủ yếu là các sản phẩm phụ trong nônglâm nghiệp, thường thì có nhiều ở các địa phương Phát triển trồng nấm vừa giảiquyết vấn đề về môi trường, đồng thời tạo nên sản phẩm mới và bã nấm còn cóthể sử dụng làm phân bón
2.1.1.2 Khái niệm và phân loại hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là những chỉ tiêu đánh giá kết quả của quá trình sử dụngcác nguồn lực tự nhiên và con người trong sản xuất kinh doanh của bất kỳ mộtloại hình sản xuất nào Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất hàng hóaluôn luôn quan tâm làm gì? Làm như thế nào để sản phẩm hàng hóa làm ra cógiá thành hạ, lợi nhuận thu về tối đa, chiếm lĩnh thị trường một cách nhanhchóng nhất
- Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Trang 14Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế là thỏa mãn nhu cầu ngày càngtăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, trong khi nguồn lực sản xuất xã hội
có hạn và ngày càng khan hiếm Do vậy, việc nâng cao hiệu quả sản xuất là mộtđòi hỏi khách quan với mọi nền sản xuất xã hội Từ các giác độ nghiên cứu khácnhau, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế.Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạtđược trong hoạt động kinh tế là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa Ngày nay,các quan điểm này không còn phù hợp Kết quả sản xuất có thể tăng lên do chiphí tăng, mở rộng nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả sản xuất mà có 2mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả
Quan điểm thứ hai: Hiệu quả được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm
xã hội thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi nhịp độ tăng các chỉ tiêu đó cao
Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quyluật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách làchỉ tiêu đại diện cho mức sống nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nềnsản xuất xã hội, quan điểm này có ưu điểm là bám sát mục tiêu của nền sản xuấtXHCN là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.Song khó khăn ở đây là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó.Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là mức độ hữu ích của sản phẩm đượcsản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải giá trị
Quan điểm thứ năm: Hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu so sánh biểu hiệnmức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khốilượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong cùng một thời kỳ,góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân Ưu điểm củaquan điểm này là đã gắn kết quả với chi phí, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sửdụng chi phí Nhược điểm của quan điểm này là chưa rõ ràng và thiếu tính khả thi ởphương tiện ấn định và tính toán
Trang 15Từ những quan điểm trên cho thấy, quá trình sản xuất là sự liên hệ mậtthiết giữa các yếu tố nguồn lực đầu vào và lượng sản phảm đầu ra, kết quả củamối quan hệ này thể hiện tính hiệu quả của sản xuất Như vậy, HQKT ở trongphương thức sản xuất khác nhau, ở các nền sản xuất khác nhau thì khác nhau,tùy từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn các chỉ tiêu phản ánh cho phù hợp.
Phân loại hiệu quả kinh tế
Căn cứ vào phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phânHQKT như sau:
- Hiệu quả kinh tế quốc dân: là HQKT tính chung trên phạm vi quy môtoàn bộ nền kinh tế
- Hiệu quả kinh tế ngành: là HQKT xác định đối với trong ngành sảnxuất vật chất như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn, nông nghiệp,thương mại, dịch vụ
- Hiệu quả kinh tế theo vùng, lãnh thổ là HQKT được tính toán, xem xét
và phân tích theo vùng, từng địa phương riêng biệt
- Hiệu quả kinh tế theo đơn vị sản xuất được tính toán cho các doanh nghiệp,công ty, trang trại, hộ nông dân thuộc các thành phần kinh tế
Căn cứ vào yếu tố cơ bản của sản xuất, hiệu quả theo yếu tố sản xuất kinhdoanh bao gồm:
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Hiệu quả sử dụng lao động
- Hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị
- Hiệu quả sử dụng đất đai
- Hiệu quả ứng dụng khoa học công nghệ, quản lý tiến bộ vào sản xuấtkinh doanh
Ngoài ra, tùy theo mục đích phân tích và đặc điểm của từng quá trình sảnxuất mà HQKT có thể được xem trong khoảng thời gian ngắn, dài khác nhau
Ví dụ: theo mùa vụ sản xuất, theo chu kỳ sản xuất, theo quý, theo năm
Trang 16Ý nghĩa việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Khi xã hội càng phát triển, công nghệ ngày càng cao, việc nâng cao hiệuquả sẽ gặp nhiều thuận lợi Nâng cao hiệu quả sẽ làm cả xã hội có lợi hơn, lợi ích củangười sản xuất và người tiêu dùng ngày càng được tăng lên Nâng cao hiệu quả kinh
tế là động lực làm tăng lợi nhuận, tích lũy vốn để tiếp tục đầu tư tái sản xuất mởrộng Nâng cao hiệu quả kinh tế là việc làm tất yếu, cần thiết, quan trọng của sựphát triển nền sản xuất xã hội
Có thể nói, nhiệm vụ trung tâm của công tác quản lý kinh tế là sử dụngmột cách có lợi nhất, phân phối hợp lý nhất các nguồn lực lao động và tàinguyên Đối với sản xuất nông lâm nghiệp điều này lại càng quan trọng, bởi vìnguồn lực có hạn, vì vậy muốn nâng cao HQKT thì phải tiết kiệm nguồn lực.Song việc nâng cao HQKT phải đặt trong mối quan hệ phát triển bền vững, phảigắn việc nâng cao HQKT với hiệu quả xã hội, môi trường sinh thái trước mắt vàlâu dài
2.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất nấm
Sản xuất nấm ăn chủ yếu tập trung các hộ gia đình, trang trại và hợp tác
xã Ngoài ra, có một số doanh nghiệp bước đầu tham gia sản xuất nấm theo quy
mô công nghiệp Việc phát triển sản xuất nấm ăn phụ thuộc vào một số nguồnlực cơ bản như: con người, cơ sở hạ tầng nhà xưởng, khả năng về vốn, trangthiết bị, công nghệ, năng lực tổ chức sản xuất Sản phẩm nấm ăn có thể cạnhtranh được với các nước trong khu vực sẽ phụ thuộc và khả năng, chất lượng vàtrình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, đất đai, vốn sản xuất, tổ chức quátrình sản xuất) Do đó, các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất nấm đượcbiểu hiện qua sơ đồ 2.1:
Trang 17Sơ đồ 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất nấm ăn
Nguồn:Trang 67[6]
- Sản xuất và cung ứng giống nấm: Tổ chức sản xuất là các phương pháp,
các kỹ thuật kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất một cách hiệu quả Tổchức sản xuất nấm ăn bao gồm các công đoạn như chọn tạo giống, trồng, chămsóc, thu hái và thu gom sơ chế sản phẩm nấm ăn Việc áp dụng nghiêm ngặt quytrình sản xuất trong tất cả các khâu là yếu tố nền tảng quan trọng để đảm bảohiệu quả bền vững và chất lượng sản phẩm Sản xuất nấm ăn được sản xuất theo
mô hình nào đi chăng nữa (nông hộ, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp) nhưng
Nhân
tố khác
Tự nhiên, thời tiết, khí hậu
Nguyên liệu sản xuất nấm
Địa điểm sản xuất nấm
Công tác khuyến nông và trình độ của nông dân
Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất nấm ăn
Vấn đề
về môi trường
Vốn sản xuất
Trang 18nếu tổ chức sản xuất và quy trình sản xuất không tốt thì hiệu quả và chất lượngnấm ăn sẽ không đảm bảo.
- Nguyên liệu sản xuất nấm: Gồm giống nấm được coi là yếu tố quan trọng
quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nấm ăn Việc sử dụng cácchủng loại giống nấm trong cơ cấu mùa vụ sẽ phát huy được thế mạnh của từngchủng loại giống nấm, đảm bảo cho sản xuất có năng suất và chất lượng nấm tối
ưu nhất Kỹ thuật xử lý nguyên liệu đầu vào, công thức phối trộn phụ gia làmgiá thể, chăm sóc thu hái và bảo quản nấm ăn Trong đó kỹ thuật xử lý nguyênliệu và công thức phối trộn phụ gia làm giá thể là những nhân tố lớn ảnh hưởngtới giá thành và chất lượng sản phẩm nấm ăn
- Địa điểm sản xuất nấm: Là nguồn lực quan trọng, là tư liệu sản xuất
không thể thiếu của các cơ sở sản xuất nấm ăn Địa điểm sản xuất ảnh hưởng tới
mở rộng quy mô của các cơ sở và ảnh hưởng đến việc trang bị máy móc, ứngdụng khoa học công nghệ, liên kết trong sản xuất, tiêu thụ và tiếp cận thông tinkiến thức
- Công tác khuyến nông và trình độ của nông dân: (bao gồm số lượng, kỹ
năng và khả năng tiếp cận thông tin của người lao động) có vai trò quyết địnhkhả năng tiếp cận và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nấm ăn Kiến thức
về khoa học, công nghệ và thị trường được coi là các yếu tố đầu vào chuyênbiệt, cung cấp nền tảng lâu dài và quyết định cho việc phát triển bền vững chongành hàng sản xuất nấm
- Vấn đề về chế biến: Sơ chế nấm ăn phục vụ cho bảo quản làm nguyên liệu
cho các nhà máy chế biến ở Việt Nam bằng hai phương pháp nấm sấy khô vànấm muối
- Thị trường tiêu thụ nấm: Để sản xuất nấm được nhiều và thuận lợi
thì khâu tiêu thụ phải đảm bảo là lượng sản xuất ra đủ nhu cầu của thịtrường, cơ cấu sản phẩm phải thích hợp với nhu cầu của thị trường, chấtlượng sản phẩm đảm bảo, giá sản phẩm hạ Trong đó quan trọng nhất là chất
Trang 19lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm Để có được điều này, người nghiên cứuphải tiến hành nghiên cứu quá trình sản xuất, trồng những loại nấm có giá trịcao chất lượng tốt, nghiên cứu quá trình sản xuất để tối thiểu hóa chi phí sảnxuất sản phẩm Hiện nay trong công tác nghiên cứu nhu cầu của thị trường củacác hộ nông dân còn gặp khó khăn do thiếu trình độ, khả năng nắm bắt thôngtin còn hạn chế Do đó các cơ quan chức năng, quản lý nhà nước cần vào cuộc
để hỗ trợ nông dân nắm bắt, cập nhật chính xác nhu cầu của thị trường để có kế
hoạch sản xuất nấm cụ thể hạn chế tồn đọng sản phẩm Thị trường tiêu thụ
nấm chịu ảnh hưởng các quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cungcầu như các thị trường khác Nó là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sảnxuất và tiêu thụ Nếu thị trường tiêu thụ chấp nhận thì quy mô sản xuất sẽđược duy trì và mở rộng phát triển mở rộng
-Vốn sản xuất: Quy mô, cơ cấu vốn đầu tư cho sản xuất nấm ăn và phương
pháp đầu tư là yếu tố đầu vào cơ bản và cần thiết để phát triển các cơ sở sản xuấtphát huy hết tiềm năng và lợi thế của vùng
-Khí hậu và thời tiết: Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất
nấm nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Mà nấm là thực vật rấtnhạy cảm với nhiệt độ và độ ẩm
- Nhân tố khác
Giá cả sản phẩm: Để quá trình sản xuất tiêu thụ nấm được thuận
lợi thì ngoài việc đòi hỏi chất lượng sản phẩm ngày càng cao thì giá cảđóng vai trò hết sức quan trọng Nó là thước đo cho sự lựa chọn hànghóa thay thế đối với người tiêu dùng Do đó người sản xuất phảinghiên cứu để tối thiểu hóa chi phí nhằm giảm giá thành sản phẩm
Hành vi của người tiêu dùng: Khi thu nhập của người tiêu dùng cao, họ có
nhu cầu tiêu dùng những sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo sức khỏe conngười Tuy nhiên không phải điều đó lúc nào cũng đúng vì nó bị chi phối bởithói quen tiêu dùng nấm của từng người
Trang 202.1.2 Cơ sở thực tiễn
2.1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm tại Việt Nam
a) Chủng loại, năng suất, sản lượng
Việt Nam nuôi trồng khoảng 16 loại nấm: ở miền Nam chủ yếu là nấmrơm, nấm mộc nhĩ; ở phía Bắc là nấm sò, nấm hương, nấm mỡ, nấm linh chi…Năng suất, sản lượng một số loại nấm chủ lực:
-Nấm rơm: năng suất từ 12-15% nấm tươi/tấn nguyên liệu khô Sản lượngnăm 2008 đạt khoảng 64.500 tấn nấm tươi
-Nấm sò: năng suất đạt 50-60% nấm tươi/tấn nguyên liệu khô Sản lượngđạt khoảng 60.000 tấn
-Nấm mỡ: năng suất đạt 3-4% nấm khô/tấn nguyên liệu khô Sản lượngkhoảng 300 tấn nấm khô
Sản lượng nấm cả nước: Hàng năm đạt khoảng 250.000 tấn nấm tươi, kimngạch xuất khẩu khoảng 25-30 triệu USD/năm
Sản lượng của một số loại nấm chủ lực:
-Nấm rơm: 64.500 tấn, nấm sò: 60.000 tấn, nấm mỡ: 5.000 tấn
Các loại nấm được sản xuất ở các vùng chính như sau:
-Nấm rơm trồng tập trung ở các tỉnh miền Tây và Đông Nam Bộ chiếm90% sản lượng nấm rơm cả nước
-Nấm mỡ, nấm sò chủ yếu trồng các tỉnh miền Bắc (TP.Hà Nội, HảiPhòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Vĩnh Phúc) sản lượng mỗi năm đạt khoảng30.000 tấn.[3]
b) Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và xuất khẩu
Thị trường trong nước: Tiêu thụ nấm tươi và nấm khô là chủ yếu Thịtrường đang tăng trưởng nhanh Giá bán nấm tươi ở các tỉnh, thành phố lớn như:
Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh cao gấp 1,5-2 lần giá thành sản xuất (giá bánlẻ: nấm mỡ 40.000đ/kg, nấm sò 30.000đ/kg, nấm rơm 40.000đ/kg) Riêng thànhphố Hà Nội trung bình mỗi ngày tiêu thụ khoảng 60 tấn nấm tươi các loại…
Trang 21Trong năm 2009, Việt Nam đã xuất khẩu sang 31 thị trường: Hoa Kỳ đạt7,7 triệu USD tăng 29,7% so với năm 2008 Giá trung bình nấm rơm muối xuấtkhẩu từ mức 1299 USD/ tấn.
c) Tình hình sản xuất nấm của một số tỉnh, thành phố
-Ninh Bình: Năm 2010 có khoảng 2.600 hộ, trong đó có khoảng 500 hộ cólán trại trồng nấm từ 100m2 trở lên, sản lượng nấm tươi khoảng 5.000 tấn.Huyện Yên Khánh là huyện điển hình, hầu hết các xã đều trồng nấm trong đónổi bật là Khánh Trung, Khánh Cư, Khánh Hồng
-Nam Định: Năm 2010 có 94 xã, thị trấn phát triển nghề trồng nấm, chủyếu tại các huyện Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao Thủy , Ý Yên, Hải Hậu; quy
mô sản xuất tại nhiều trang trại được mở rộng từ 1,5-3 lần so với ban đầu Sảnlượng nấm đạt khoảng 2500-3000 tấn, trong đó có khoảng 20 tấn nấm khô, giátrị sản lượng đạt trên 33 tỷ đồng
-Hải Phòng: Có 40 xã trồng nấm (Tiên Lãng 22 xã, Vĩnh Bảo18 xã), mỗi xã
có từ 10-30 hộ trồng nấm; từ năm 2006 đến nay mỗi năm sử dụng 3.300 tấn rơm rạtrồng nấm các loại đạt sản lượng gần 1.000 tấn nấm, doanh thu trên 17 tỷ đồng.-Thái Nguyên: Năm 2010, có 120 hộ gia đình, 5 hợp tác xã và 6 doanhnghiệp, tổng quy mô diện tích nhà xưởng trồng nấm trên 70.000m2
-Bắc Giang: Có chương trình nấm của tỉnh tại xã Tiên Lục, Tân Dĩnh, NghĩaHưng, xã Hoàng Thành, Hoàng Lương, mỗi huyện có từ 20-40 hộ trồng nấm
-Vĩnh Phúc có 2 hợp tác xã Thanh Lãng 30 hộ và Thanh Trù 16 hộ thamgia.[3]
d) Khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ nấm ở Việt Nam
Khó khăn
Nghề trồng nấm ăn còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết khí hậu
Sản lượng chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của đất nước, chưa đáp ứngđược nhu cầu của thị trường, đóng góp cho xuất khẩu chưa cao
Trang 22Giá thành sản phẩm cao, đôi khi chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đápứng được nhu cầu của thị trường.
Việc bố trí các chủng loại nấm ăn chưa phân vùng rõ rệt, sản xuất còn nhỏ
lẻ nên rất khó tập trung cho sản xuất thành vùng chuyên môn hóa để tập trunggiống và giảm chi phí thu mua tiêu thụ
Cơ sở phục vụ nuôi trồng nấm còn thiếu, hệ thống máy móc phục vụ sản xuấtchế biến còn thiếu nhiều Và trình độ người lao động chưa cao
Thị trường chưa có sự ổn định rõ ràng, nên tình trạng người sản xuất bị tưthương ép giá còn xảy ra nhiều, gây tổn hại cho người trồng nấm
Mặt khác khó khăn hiện nay người nông dân chưa gắn kết được sản xuấtvới khâu tiêu thụ, nên khi có hợp đồng lớn thì bà con nông dân chưa đáp ứng kịp
số lượng
Thuận lợi
Nước ta có tiềm năng lớn về sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu do cónguồn nguyên liệu trồng nấm phong phú, nguồn lao động nông thôn dồi dào,điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển nhiều chủng loại nấm và có thể trồngnấm quanh năm Chúng ta đã cơ bản làm chủ được công nghệ nhân giống và sảnxuất nấm đối với các loại nấm chủ lực, thị trường tiêu thụ nấm ngày càng rộng
mở Chính vì vậy, ngày 16/4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyếtđịnh 439, đưa nấm ăn vào Danh mục sản phẩm quốc gia được ưu tiên đầu tưphát triển
Nước ta chuyển sang cơ chế thị trường với quan hệ cung cầu, sản xuấtnấm đã có những bước tăng trưởng cả về số lượng lẫn chất lượng Tổng sảnlượng nấm các loại đạt tới 250.000 tấn/năm Ngoài sản phẩm tiêu thụ nội địa,sản phẩm xuất khẩu đạt gần 90 triệu USD/năm Bước đầu đã có sự gắn liền vớinghiên cứu và sản xuất nấm Nhiều cơ sở nghiên cứu, cơ sở ứng dụng tiến bộKHCN, Công ty, là nơi sản xuất và cung cấp giống nấm, chuyển giao, hướngdẫn công nghệ và trực tiếp thu mua, tiêu thụ sản phẩm Các cơ sở này kết hợp
Trang 23với hàng ngàn công ty, doanh nghiệp trên toàn quốc đã tạo ra một lượng lớn nấmhàng hóa cho thị trường Tại Hưng Yên số hộ sản xuất nấm theo các mô hìnhcòn nhỏ hẹp Theo các báo cáo trong Hội thảo về: “Giải pháp phát triển nghề sảnxuất, chế biến nấm ăn – nấm dược liệu tại Đồng Nai” cho thấy: Các trang trại,
cơ sở ở miền Bắc tổ chức sản xuất nấm mỡ (mùa đông); nấm rơm (mùa hè); mộcnhĩ đạt sản lượng hàng trăm ngàn tấn Những cơ sở nổi bật như: HTX nấm HùngSơn (Đại Từ - Thái Nguyên) đạt sản lượng 8000 tấn nấm/năm Công ty TNHHxuất nhập khẩu KINOKO Thanh Cao sản xuất 1,5 triệu bịch nấm/năm thu hoạch
700 tấn nấm sò tươi, 5000 tấn nấm mộc nhĩ tươi (khoảng 60 tấn mộc nhĩ khô),Công ty mây tre xuất khẩu Phú Minh – Hưng Yên sản xuất 25 vạn bịch nấm thu
200 tấn mộc nhĩ tươi, Một số huyện có phong trào trồng nấm và đưa cây nấmvào cơ cấu cây trồng nông nghiệp như huyện Tiên lãng, Vĩnh bảo (Hải Phòng)
từ năm 2006 đến nay mỗi năm sử dụng 2.000 tấn rơm rạ trồng nấm các loại đạtsản lượng 350 tấn nấm Doanh thu 4.489 triệu đồng Các tỉnh phía Nam pháttriển theo nhiều quy mô khác nhau từ: quy mô hộ gia đình sử dụng 1-5 tấnnguyên liệu/năm; quy mô gia trại, trạng trại sử dụng 30- 50 tấn nguyên liệu/nămđến quy mô Công ty, Doanh nghiệp, HTX chuyên trồng nấm sử dụng vài trămtới hàng ngàn tấn rơm rạ, mùn cưa, bông phế liệu, Lực lượng lao động chủ yếuthuê nhân công tại chỗ theo thời vụ, đầu tư trang thiết bị chủ yếu được sản xuấttrong nước
Kết quả sản xuất nấm bước đầu đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể chongười sản xuất trực tiếp, tạo ra hàng hóa sản phẩm nấm cho xã hội và sử dụng cóhiệu quả nguồn phế phụ liệu của sản xuất nông, lâm nghiệp, giảm thiểu ô nhiễmmôi trường
2.1.2.2 Lược sử các vấn đề liên quan
- “Phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nấm rơm ở huyệnTiên Lãng, thành phố Hải Phòng” Đề tài đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận
về hiệu quả kinh tế nói chung và đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụnấm rơm nói riêng đồng thời đưa ra giải pháp phù hợp với địa bàn nghiên cứu
Đề tài tập trung vào hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ tới các hộ nông dân
Trang 24nên các giải pháp có ý nghĩa lớn đối với hộ dân trồng nấm là cơ sở kế thừa cácgiải pháp đẩy mạnh hiệu quả sản xuất nấm rơm.
- “Nghiên cứu các hình thức liên kết sản xuất và tiêu thụ nấm ăn ở tỉnh BắcGiang” (luận văn thạc sĩ) ngày 10/11/2012 Trong ngành sản xuất nấm ăn thì sảnxuất nấm Rơm, nấm Sò, nấm Mỡ, Mộc Nhĩ là loại nấm đang được sản xuất chủyếu tại các địa phương, nấm sinh trưởng nhanh, nguyên liệu sản xuất rẻ tiền, dễkiếm, dễ sử dụng, kỹ thuật sản xuất và chế biến không phức tạp, nhà xưởng sảnxuất đơn giản, không đòi hỏi vốn đầu tư cao Đây là một mặt hàng đang đượcngười tiêu dùng tin dùng do có hàm lượng dinh dưỡng cao, là sản phẩm sạch, làloại rau cao cấp Ngày nay có rất nhiều loại nấm khác có giá tri dinh dưỡng, giátrị kinh tế cao như nấm Linh Chi, nấm Đùi Gà, nấm Trân Trâu Ngoài ra việc sảnxuất nấm còn mang lại hiệu quả kinh tế cao giúp nông dân xoá đói giảm nghèo,làm giàu cho bà con nông dân, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động,các sản phẩm phụ của ngành sản xuất nấm còn làm phân vi sinh bón cho câytrồng rất hiệu quả (nguyên liệu làm nấm Linh Chi, nấm Mỡ, nấm Rơm) và còntận dụng được các sản phẩm phụ như bông phế liệu, rơm rạ, mùn cưa, cỏ, bã míalàm nguyên liệu cho sản xuất nấm, góp phần bảo vệ môi trường, hạn chế ônhiễm môi trường Không những thế, ngành sản xuất nấm còn mang lại hiệu quảkinh tế cao cho người trồng nấm, làm tăng thu nhập quốc dân (GDP) cho quốcgia, và còn kéo theo các ngành khác phát triển mạnh như chế biến, công nghiệp.Chính vì thế mà việc nuôi trồng và phát triển nấm ăn đang được Đảng và Nhànước quan tâm chú trọng
- “Lo đầu ra, đừng học nghề trồng nấm” ngày 21/02/2012 Thứ trưởng BộNN- PTNT Nguyễn Thị Xuân Thu đã có chuyến thăm, làm việc với Trung tâmNấm Văn Giang – Hưng Yên (Viện di truyền nông nghiệp) để bàn hướng pháttriển, nhân rộng nghề trồng nấm khi loại cây trồng này được đưa vào danh mụcsản phẩm quốc gia Hầu hết, những người học nghề trồng nấm đều lo lắng nhất
là đầu ra cho sản phẩm Với việc ký cam kết bao tiêu sản phẩm và hỗ trợ chỗ trợcho học viên trong quá trình học tập, Trung tâm CNSHTV đã đánh trúng tâm lý củangười dân nên chỉ trong thời gian ngắn, đơn vị này đã đào tạo thành công cho hàng
Trang 25nghìn học viên nghề trồng nấm Vì vậy việc đánh giá hiệu quả kinh tế cho các hộ sảnxuất nấm mà trung tâm nấm đã đào tạo là hết sức quan trọng.
- “Đưa nghề trồng nấm về ngoại thành” ngày 08/10/2012 Nắm bắt đượcnhu cầu khát việc làm tại xã ngoại thành của Thủ đô, từ đầu năm 2012, Trungtâm Công nghệ sinh học thực vật (Viện Di truyền nông nghiệp) phối hợp với SởLĐ-TB&XH Hà Nội mở các lớp dạy nghề trồng nấm, mục tiêu mang đến chongười dân ven đô một nghề mới có thu nhập ổn định Qua khảo sát, tham quancác xã mở lớp dạy nghề trồng nấm ở ngoại thành Hà Nội, nhận thấy hiệu quả từchủ trương là không thể phủ nhận, song có một thực tế cả phía Trung tâm CNSHthực vật và Sở LĐ-TB&XH đều thừa nhận, đó là quy mô sản xuất nấm của họcviên sau đào tạo phần lớn chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ Nguyên nhân dẫn tới tìnhtrạng này, do tâm lý của bà con sợ làm ra nhiều không có đầu ra Theo PGĐTrung tâm CNSH thực vật Nguyễn Duy Trình, để sản xuất nấm đạt hiệu quả caohơn nữa rất cần có chính sách hỗ trợ sau đào tạo để nhân rộng các mô hình Đểlàm được việc này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành của địaphương, các xã ngoại thành là địa bàn phù hợp để dạy nghề trồng nấm vì cónguồn nguyên liệu rơm rạ, mùn cưa, lõi ngô rất dồi dào Vị trí địa lý gần trungtâm nên đầu ra cho sản phẩm vô cùng thuận lợi Chính vì vậy, TP.Hà Nội xácđịnh trồng nấm là một nghề cần đầu tư, chú trọng vào những năm tiếp theo
Trang 262.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khung phân tích
Sơ đồ 2.2: Khung phân tích đề tài
Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất nấm ăn
Giá trị sản xuất GO
Chi phí tham gia
IC
Hiệu quả sản xuất
Chủn
g loại
Chủ thể
Giải pháp
So sánh đánh giá với trung tâm
nấm Văn Giang
-Tồn tại và hạn chế -Phân tích ma trận SWOT
Trang 272.2.2 Phương pháp thu thập thông tin và số liệu
Thông tin và số liệu thứ cấp
Tài liệu từ các sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu và các tư liệu cóliên quan Các tài liệu này giúp nắm bắt một số thông tin cần thiết cho đề tài:
- Các báo cáo nghiên cứu của cơ quan, viện, trường Đại học
- Các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành và tạpchí mang tính hàn lâm có liên quan
- Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đềnghiên cứu
- Kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đãđược công bố
- Các báo cáo về tình hình sản xuất, tiêu thụ nấm ăn của địa bàn nghiên cứutrong 2 năm gần đây Các số liệu này đã được các ban ngành kiểm tra nên có độchính xác cao
- Thông qua các ý kiến đánh giá, nhận xét của các chuyên gia trong lĩnhvực nghiên cứu, phát triển sản xuất nấm ăn
Thông tin và số liệu sơ cấp
Đây là nguồn thông tin không có sẵn, do đó để có nguồn tài liệu này ngườinghiên cứu cần phải tiến hành quan sát và theo dõi hoạt động thực tiễn Bêncạnh đó, ngoài việc trao đổi và khảo sát các thông tin liên quan tới hiệu quả sảnxuất nấm đề tài tiến hành tham gia điều tra chọn mẫu đại diện cho các hộ thamgia sản xuất nấm ăn Đề tài tiến hành thu thập thông tin bằng phương pháp sau:
- Thảo luận trực tiếp với lãnh đạo địa phương
Việc thu lượm thông tin được thực hiện qua thảo luận với lãnh đạo cơ quanquản lý chuyên ngành như: Trung tâm nấm Văn Giang, Viện di truyền nôngnghiệp và các cán bộ làm công tác chuyên môn thuộc đơn vị trên; lãnh đạo cơquan quản lý hành chính địa phương như: Ủy ban nhân dân xã Cửu Cao thuộcđịa bàn nghiên cứu Nội dung tìm hiểu về tình hình sản xuất nấm ăn trên địa bàn,
Trang 28công tác quy hoạch, quy mô, sản lượng, năng suất và các chính sách của địaphương hướng phát triển trong thời gian tới.
- Đánh giá nhanh nông thôn RRA (Rural rapid appraisal)
Sau khi nắm bắt được tình hình chung của địa bàn nghiên cứu, với sự hỗ trợ
của các thành viên trong nhóm làm đề tài nghiên cứu khoa học đề tài: “Giải
pháp đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ nấm ăn tại huyện Văn Giang và huyện Tiên
Lữ - Hưng Yên”, nhóm đã tiến hành khảo sát ở các xã thông qua các công cụ
đánh giá nhanh như phỏng vấn, quan sát thực tế Trong quá trình đi xuống địaphương và tiếp cận với các hộ nông dân, nhóm sử dụng phương pháp quan sát
để thu thập một số thông tin chung từ thực tế: về hiện trạng cơ sở hạ tầng, tìnhhình, quy mô sản xuất, điều kiện sản xuất của các cơ sở sản xuất tại địa bànnghiên cứu
- Phỏng vấn người cung cấp thông tin
Phỏng vấn những người nắm thông tin chuyên sâu về thực trạng sản xuấtkinh doanh nấm ăn, những thuận lợi, khó khăn là gợi ý cho định hướng và giảipháp chủ yếu về vấn đề nghiên cứu Phỏng vấn một số cán bộ chuyên môn củatrung tâm nấm, của hợp tác xã Văn Giang nắm được tình hình sản xuất chungcủa các cơ sở sản xuất trên địa bàn liên quan
- Phương pháp chọn điểm khảo sát
Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương cùng với những hạn chế vềnguồn nhân lực, thời gian nghiên cứu nên việc khảo sát tiến hành ở 2 đối tượng:
hộ nông dân trực tiếp tham gia sản xuất; trung tấm nấm Văn Giang đóng vai trò
là một doanh nghiệp sản xuất nấm ăn, cụ thể:
Trang 29Bảng 2.2: Tổng hợp mẫu điều tra khảo sát thực tế
Stt Đối tượng thu thập
Huyện điều tra khảo sát
Tổng cộng Văn Giang Tiên Lữ
Nguồn: Tổng hợp mẫu điều tra khảo sát năm 2012
2.2.3 Phương pháp phân tích xử lý số liệu
Sau khi thu thập, các số liệu sẽ được kiểm tra và được xử lý bằng máy tínhtrên chương trình EXCEL
Phân tích số liệu theo phương pháp thống kê kinh tế
Phương pháp thống kê kinh tế là phương pháp nghiên cứu các hiện tượngkinh tế xã hội bằng việc mô tả thông qua số liệu thu thập được Cụ thể trong đềtài với các số liệu thu thập được về tình hình kinh tế xã hội địa phương, về cáchoạt động của các hộ nuôi trồng nấm qua đó sẽ tính toán, mô tả và đánh giá sựtăng trưởng và phát triển của địa phương và các hộ nuôi trồng nấm
Phân tích số liệu theo phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp so sánh sự khác nhau của các hiệntượng theo không gian, thời gian, đối tượng… Phương pháp này dùng để so sánh sốtương đối, số tuyệt đối, số bình quân… Nhóm nghiên cứu tiến hành so sánh hiệu quảkinh tế giữa các hộ nông dân với trung tâm với vai trò là một doanh nghiệp Từ đódựa vào tình hình thực tế, đưa ra các đề xuất để thúc đẩy sản xuất nấm của các hộtrồng nấm trong huyện
Trang 30Phương pháp ma trận SWOT
Phân tích SWOT là phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài mà các cơ
sở sản xuất, kinh doanh phải đối mặt (các cơ hội và nguy cơ) cũng như các yếu
tố thuộc môi trường nội bộ tổ chức (các điểm mạnh, điểm yếu)
tự quan trọng Những điểm mạnh (S)
Liệt kê các điểm mạnh theo
thứ tự quan trọng
Chiến lược S – O
Sử dụng điểm mạnh để khai thác các cơ hội
Chiến lược S – T
Sử dụng điểm mạnh để giảm
các nguy cơ Những điểm yếu (W)
Liệt kê các điểm yếu theo
thứ tự quan trọng
Chiến lược W – O Hạn chế điểm yếu để khai thác các cơ hội
Chiến lược W – T Tối thiểu hóa các điểm yếu
để né tránh các nguy cơ
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Nhóm chỉ tiêu thể hiện điều kiện sản xuất nấm ăn
- Diện tích đất dành cho sản xuất nấm ăn (m2)
- Diện tích nhà xưởng sản xuất nấm ăn (m2)
- Vốn đầu tư cho sản xuất nấm ăn (1000 đồng)
- Tổng số lao động sử dụng vào sản xuất nấm ăn (người)
- Tổng sản lượng nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất nấm ăn (tấn)
Nhóm chỉ tiêu phân tích thể hiện hiệu quả kinh tế trong sản xuất nấm ăn
Hiệu quả kinh tế được xác định bằng một hệ thống các chỉ tiêu Hệ thốngcác chỉ tiêu hiệu quả phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tính so sánh được giữa các chỉ tiêu hiệu quả
- Tính hệ thống các chỉ tiêu
- Tính thống nhất trong phương pháp xác định tính toán các chỉ tiêu
Trang 31- Tính thiết thực trong nhận thức đời sống kinh tế xã hội và quản lý nền sảnxuất xã hội cũng như các bộ phận cấu thành nó.
Phù hợp với trình độ tính toán thống kê trong các giai đoạn phát triển nhấtđịnh, đảm bảo tính chất lịch sử cụ thể;
- Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ bản chất của hiệu quả Vềnguyên tắc xây dựng chỉ tiêu, cứ mỗi chỉ tiêu phản ánh kêt quả của sản xuất sosánh với một chỉ tiêu phản ánh chi phí, nguồn hoặc yếu tố trung gian sẽ tạothành một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế Tùy trong mục đích nghiên cứu cụthể, người ta có thể chọn từ đó những chỉ tiêu thích hợp:
- Chi phí trung gian : IC
Như vậy, các chỉ tiêu HQKT được thể hiện ở bảng 2.2.1:
Trang 32Bảng 2.4: Hiệu quả kinh tế
KQSX
Phương pháp xác định kết quả sản xuất (Q) và chi phí sản xuất (K) nêutrên là đồng nhất, từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất, ở những điều kiện cụ thểnhất định vận dụng cho phù hợp Đánh giá HQKT trong sản xuất kinh doanh làviệc làm hết sức phức tạp vì vậy phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, toàn diệnHQKT thì ngoài những chỉ tiêu chủ yếu nêu trên, ở một khía cạnh nào đó phảikết hợp với các chỉ tiêu bổ sung như: Năng suất đất đai, doanh thu, doanh lợi…
i P Q
1
Qi : Khối lượng sản phẩm loại i
Pi : Đơn giá sản phẩm loại i
- Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụđược đầu tư trong quá trình sản xuất như giống, phân bón, bảo vệ thực vật,…
IC = ∑
=
n
j j
C
1
Cj : Chi phí thứ j trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị tăng thêm trong quá trình sản xuất
VA = GO – IC
Trang 33- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập của người sản xuất gồm cônglao động của hộ và lợi nhuận khi sản xuất trên một đơn vị diện tích trong một vụhay trong một năm.
MI = VA – (T + A) – W
T – Thuế nông nghiệp (hiện nay đã bỏ)
A – Hao mòn tài sản cố định
W – Chi phí thuê lao động (nếu có)
- Lãi gộp (GPr): là khoản lợi nhuận thu được sau khi trừ đi tiền thuê laođộng, thuế và chi phí tài chính khác
- Lãi ròng (LPr): Là phần lãi sau khi lấy lãi gộp trừ đi phần hao mòn tàisản cố định
Có rất nhiều chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh tế, tuy nhiên hiệu quả kinh tếkhông phải là tuyệt đối phản ánh quy mô mà thực chất là chỉ tiêu phản ánh chấtlượng của quá trình sản xuất Các chỉ tiêu hiệu quả có quan hệ chặt chẽ với nhautrong họat động của sản xuất kinh doanh
Trang 34PHẦN 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý: Huyện Văn Giang gồm 1 thị trấn, 10 xã; huyện Tiên Lữ gồm
1 thị trấn, 14 xã Huyện Văn Giang, Tiên Lữ nói riêng và tỉnh Hưng Yên nóichung là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Hưng Yên nằm trong toạ độ 20036' và 210 vĩ
độ Bắc, 105053' và 106015' kinh độ Đông, phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phíađông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây giáp thủ đô Hà Nội, Hà Nam, phía nam giáptỉnh Thái Bình Với vị trí như vậy cho thấy địa bàn sản xuất và tiêu thụ nấm ăntại Hưng Yên rất rộng mặt khác cơ hội cho các hộ dân tiếp cận những tiến bộkhoa học công nghệ cũng cao hơn khu vực khác
Khí hậu: Hưng Yên thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt
độ trung bình hàng năm là 23,20C, nhiệt độ trung bình mùa hè 250C, mùa đông dưới
200C Lượng mưa trung bình dao động trong khoảng 1.500 - 1.600 mm, trong đó tậptrung vào tháng 5 đến tháng 10 (chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm) Số giờ nắngtrung bình hàng năm khoảng 1.400 giờ (116,7 giờ/tháng), trong đó từ tháng 5 đếntháng 10 trung bình 187 giờ nắng/tháng, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trung bình
86 giờ nắng/tháng Khí hậu Hưng Yên có 2 mùa gió chính: Gió mùa Đông Bắc (từtháng 9 đến tháng 2 năm sau), gió mùa Đông Nam (tháng 3 đến tháng 5) Khí hậuphù hợp với phát triển nghề trồng nấm
Sông ngòi: Hưng Yên có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với 3 hệ thống
sông lớn chảy qua: Sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc Bên cạnh đó, HưngYên còn có hệ thống sông nội địa như: Sông Cửu An, sông Kẻ Sặt, sông Hoan
Trang 35Ái, sông Nghĩa Trụ, sông Điện Biên, sông Kim Sơn, là điều kiện thuận lợikhông chỉ cho sản xuất nông nghiệp mà còn cho sự phát triển công nghiệp, sinhhoạt và giao thông đường thuỷ Ngoài ra, địa phận Hưng Yên có những mỏ nướcngầm rất lớn, đặc biệt là khu vực dọc quốc lộ 5 từ Như Quỳnh đến Quán Gỏi,lượng nước này không chỉ thoả mãn nhu cầu phát triển công nghiệp của tỉnh màcòn có khả năng cung cấp khối lượng lớn cho các khu vực lân cận Đảm bảonguồn cung nước cho nông nghiệp và cần thiết hơn là những cây trồng cần độ
ẩm và lượng nước cao như nấm
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên là 923,093 km2, trong đó diệntích đất nông nghiệp chiếm 68,74%, đất chuyên dùng chiếm 16,67%, đất ởchiếm 7,91%, đất chưa sử dụng và sông suối chiếm 6,68% Diện tích đất nôngnghiệp phong phú, nhưng đất xây dựng công nghiệp và đô thị còn hạn chế Vìvậy, trong quá trình phát triển công nghiệp không tránh khỏi việc sử dụng thêmphần đất nông nghiệp làm ảnh hưởng tới diện tích phát triển nông nghiệp và hiệuquả sản xuất nấm khi các hộ dân muốn mở rộng diện tích sản xuất
Với địa hình trên, Hưng Yên nói chung và hai huyện Văn Giang và Tiên Lữnói riêng có lợi thế trong việc phát triển đa dạng các sản phẩm nông nghiệp cung cấpcho thị trường trong và ngoài huyện, đồng thời còn có tiềm năng phát triển đô thị
Bảng 3.1: Khí hậu thời tiết tỉnh Hưng Yên qua các tháng năm 2010
năm Nhiệt
Trang 36Có thể nói điều kiện khí hậu thủy văn rất thuận tiện cho Hưng Yên pháttriển sản xuất nông nghiệp, thâm canh gối vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng Mùa
hè thích hợp trồng nấm rơm (tháng 4 - tháng 9), nấm sò trồng vụ hè thu (tháng4-5, tháng 9-10), mùa đông thích hợp trồng nấm mỡ (thời vụ từ tháng 10 nămtrước tới tháng 3 năm sau) Với điều kiện khí hậu này bà con có thể luân phiêntrồng được rất nhiều nấm mà không để thời gian bỏ trống Đó là chưa kể đếntrồng các loại nấm dược liệu khác, ví dụ: Nấm mộc nhĩ, nấm linh chi trồng trênmùn cưa sau khi hết chu kỳ sản xuất có thể xử lý lại trồng nấm sò
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Nguồn số liệu: Sở tài nguyên - môi trường tỉnh Hưng Yên
Dân số và lao động hay thường gọi là nguồn nhân lực con người là mộttrong những yếu tố rất quan trọng của mọi hoạt động, nó tác động trực tiếp tớiquá trình vận động của xã hội Nguồn lực này cũng là nhân tố tạo ra của cải vậtchất cho xã hội nhưng cũng là nhân tố tiêu thụ mọi sản phẩm sản xuất ra Tuynhiên chúng ta cần phải kết hợp hài hòa giữa hai vấn đề này nếu không sẽ dẫnđến mâu thuẫn rất khó khắc phục được, đó là tốc độ tăng dân số quá nhanh sẽkéo theo nhiều hậu quả xấu như diện tích đất ở, đất sản xuất giảm, vấn đề giảiquyết công ăn việc làm, phát triển kinh tế, điều kiện về mọi mặt giáo dục và y tếkhông được đảm bảo
Trang 37Bảng 3.3: Dân số phân theo giới tính năm 2010
Số người Tỷ lệ (%) Số người Tỷ lệ (%)
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010
Theo số liệu thống kê hàng năm, nhịp độ tăng dân số tự nhiên huyện Văn Giang như sau:
Năm 2009 tăng 1,19%
Năm 2010 tăng 1,15%
Năm 2011 tăng 0,98%
Năm 2012 tăng 0,99%
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn tỉnh là 0,98%; tỷ lệ hộ nghèo còn 7,2%; tỷ
lệ lao động qua đào tạo 46%
Bảng 3.4: Dân số phân theo khu vực năm 2010
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010
Dân số nông thôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với tỷ lệ dân số thành thị Đây lànguồn cung lao động lớn cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, huyện VănGiang có nhiều ngành nghề truyền thống có giá trị như: Trồng cây cảnh, trồngrau sạch, trồng hoa, nên việc triển khai nghề trồng nấm cần đòi hỏi khâu tìmhiểu thị trường và nhu cầu của người dân
Tình hình sản xuất kinh doanh trong huyện
Trang 38Các chỉ tiêu ước đạt trong năm 2012: Giá trị sản xuất nông nghiệp và thủysản tăng 0,22%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 9,01%; giá trị các ngành dịch
vụ tăng 11,5%; cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 20,84%, công nghiệp 47,48%, xâydựng dịch vụ 31,67%
Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản năm 2012 là 3.622 tỷ đồng, đạt100,61 kế hoạch, tăng 8,85% Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theohướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, thuỷ sản, giảm tỷ trọng cây lương thực, rau quảcây công nghiệp: cây lương thực 23,10% - rau quả, cây công nghiệp 27,09% -CN,TS 49,81% (năm 2010 là 24 - 30 - 46) Cơ cấu theo lĩnh vực: Trồng trọt48,24% - CN,TS 49,81% - DVNN 1,95% (năm 2010: 52,3%-46%-1,7% )
Giá trị sản xuất ngành Trồng trọt 1.984,7 tỷ đồng Diện tích gieo trồng cây hàng năm110.009 ha, trong đó diện tích cây vụ Đông 14.534 ha, giảm 408 ha;
+ Lúa: Diện tích gieo cấy 81.951 ha (vụ Đông Xuân 40.621 ha, vụ Mùa là
41.330 ha); năng suất bình quân 63,59 tạ/ha/vụ (vụ Đông Xuân năng suất lúa cao nhất
từ trước tới nay, 69,27 tạ/ha); sản lượng 521.096 tấn
Nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ quan trọng trong cơ cấu ngành sản xuất
3.2 Kết quả nghiên cứu
3.2.1 Thực trạng sản xuất nấm ăn ở hai huyện Văn Giang và Tiên Lữ
3.2.1.1 Các hình thức sản xuất nấm ăn chủ yếu tại địa bàn
a) Sản xuất nấm quy mô hộ gia đình
Mỗi hộ gia đình sản xuất nông nghiệp trồng lúa đều có rơm rạ sau khi thuhoạch Tận dụng nguồn rơm rạ sẵn có của gia đình và sức lao động tại chỗ, trongthời gian nông nhàn để sản xuất nấm Hộ gia đình có thể sản xuất nhiều loại nấmkhác nhau tùy theo mùa vụ và khả năng tổ chức của chủ hộ
Từ mô hình hộ gia đình sản xuất là cơ sở để phát triển thành làng nghề,trong đó có các trang trại, hợp tác xã Ở nhiều địa phương các hộ gia đình sản
Trang 39xuất lâu năm có kinh nghiệm đã trở thành đầu mối tiếp nhận khoa học côngnghệ như hộ sản xuất nấm xã Liên Nghĩa do chủ hộ là ông Mười tiếp nhận hệthống lò hấp mới Với nguồn nguyên liệu và lao động sẵn có, mức đầu tư kinhphí sản xuất nấm tại gia đình để mua giống nấm và các vật tư thiết yếu, nguồnvốn khoảng 10 triệu đồng, diện tích nhà (lán trại) 100m2 Trang trại, gia trạinấm: Toàn tỉnh Hưng Yên có hơn 200 hộ có lán trại trồng nấm từ 100m2 trở lên; + Hộ gia đình nhỏ lẻ: Đang là hình thức phổ biến hiện nay không chỉ ở haihuyện mà trong toàn nước ta Quy mô hộ gia đình có thể sản xuất tới 10-15 tấnnguyên liệu/năm Sản phẩm được tiêu thụ dưới dạng nấm tươi, phơi khô, nấm sấy.
Mô hình trồng nấm hộ gia đình quy mô nhỏ: Ưu điểm tận dụng rơm rạ sẵn
có của gia đình sau những mùa thu hoạch lúa, rơm rạ được phơi khô và dự trữ đểtrồng nấm theo thời vụ
Thường các hộ này sử dụng 40-50% lượng rơm rạ của gia đình, 1000kgcho mỗi đợt Diện tích đất sử dụng để trồng không rộng 30-35 m2/hộ và sảnxuất một hoặc 3 loại nấm Những hộ chỉ sản xuất 1 loại nấm sò trong khoảngthời gian nâm sò phát triển, thời gian còn lại thường là bỏ trống lán trại Do quy
mô sản xuất nhỏ nên hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình và không thuê laođộng ngoài Ngoài ra vào mùa vụ họ thường sử dụng thời gian rảnh rỗi để làmthêm cùng với gia đình, có thể nói họ sử dụng thời gian rất tiết kiệm, tranh thủmọi lúc nhàn rỗi, có khi còn làm việc vào buổi tối Hộ sử dụng từ 25-30 ngàycông cho 1 tấn nguyên liệu và mỗi đợt sử dụng 10- 15 công sản xuất
Vốn sản xuất nấm ăn của hộ thường là không lớn và thường là vốn tự cótrong gia đình, khoảng 400.000 - 800.000đ, sản lượng thu hoạch 200 - 350kgnấm tươi Sản phẩm sản xuất của hộ chủ yếu là tiêu dùng trong gia đình và bántại chợ địa phương
Nhược điểm: Do sử dụng ít nguyên liệu và lượng vốn đầu tư cho cơ sở sảnxuất không nhiều nên kết quả sản xuất không cao
+Hộ gia đình quy mô vừa
Trang 40Đối với hộ sản xuất nấm ăn quy mô vừa: Ưu điểm hộ sử dụng toàn bộlượng rơm rạ của gia đình và mua bổ sung một lượng nhất định Hộ trồng 4 lứanấm/năm, diện tích lán trại 40 – 50 m2 và sử dụng 4-5 tấn rơm rạ/năm Quy môsản xuất này đã huy động tất cả các nguồn lực sẵn có trong gia đình và phải thuêlao động ngoài trong khâu chế biến nguyên liệu, khâu đóng bịch treo dây (đốivới nấm sò) Một năm hộ sử dụng khoảng 100-200 công sử dụng 20-25 côngcho một tấn nguyên liệu Lượng vốn sử dụng khoảng 2- 3 triệu đồng/năm và vốn
tự có vẫn là chủ yếu sau mỗi lứa nấm các hộ sử dụng lượng vốn quay vòng tiếptục đầu tư lứa nấm sau Sản lượng nấm tươi đạt 1000kg và sản xuất nấm của hộmang tính chất hàng hóa quy mô nhỏ Tiêu thụ tại địa phương và bán ra ngoàinấm tươi hoặc khi cần chế biến nấm muối, nấm sấy Tổng giá trị sản xuất nấmcủa hộ đạt 8 triệu đồng và lượng phân vi sinh tận dụng được khoảng 3 tấn, lãi sovới trồng nấm hộ gia đình quy mô nhỏ nhiều hơn 4-6 triệu đồng
Đối với sản xuất trang trại thì không ngoài mục đích sản xuất hàng hóa,ngoài rơm rạ sẵn có chủ trang trại phải thu gom thêm rất nhiều Trang trại lớnđược các công ty xây dựng là sự kết hợp giữa doanh nghiệp và hộ sản xuất vừatạo công ăn việc làm vừa tăng năng suất sản xuất Thường trang trại tiến hànhthành nhiều đợt, trồng gối nhau và liên tục, diện tích lán trại rộng 200-300 m2
b) Trang trại sản xuất nấm
Tiêu chí đánh giá sản xuất trang trại căn cứ vào mức thu nhập đạt trên 50triệu/năm hoặc căn cứ vào diện tích sử dụng nhà xưởng, vườn, ruộng Trong sảnxuất nấm theo quy mô trang trại diện tích trang trại trồng nấm tối thiểu cần2000-3000m2 gồm: Nơi tập kết, dự trữ nguyên liệu, khu sản xuất, nhà xưởng,khu xử lí bãi thải, đường nội bộ… Nguồn nguyên vật liệu được thu gom tại địaphương hoặc mua từ các nơi khác (mùn cưa, bã mía…) Số lượng từ vài chụcđến vài trăm tấn nguyên liệu Lao động sử dụng trong trang trại được thuê tronggiai đoạn nông nhàn theo thời vụ Có người điều hành sản xuất nắm bắt được kỹ