Một số bài viết đăng tải trên tạp chí như: Đánh giá kết quả tạo hình tai trong điều trị dị tật tai nhỏ bẩm sinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; Ảnh hưởng của những thông số kỹ thuật trong phương pháp hydrat hóa màng phim lipid lên kích thước tiểu phân liposome piroxicam; Nghiên cứu đặc điểm di truyền tế bào của bọ xít hút máu Triatoma rubrofasciata ở miền Trung Việt Nam...
Trang 3Đặt vấn đề
Dị tật tai nhỏ là một thương tổn có tỷ lệ hiếm gặp, do
nguyên nhân bẩm sinh (1/5.000-7.000 trẻ được sinh ra)
Phân loại tổn thương tai nhỏ có thể gặp theo các thể khác
nhau hoặc mức độ nặng có thể thấy không có tai (anotia
hoặc microtia độ 3), cũng có thể gặp trong một số bệnh
cảnh của các hội chứng như Treacher Collin, Goldenhar,
hội chứng tai miệng [1]
Tạo hình tai có lịch sử lâu dài và luôn thay đổi, cho đến
nay vẫn có nhiều thách thức cho các phẫu thuật viên tạo
hình Từ thế kỷ thứ VIII, tác giả người Ấn Độ đã ghi lại
những mô tả về tạo hình tai bằng cách sử dụng vạt má để
tạo hình tổn khuyết dái tai Một thông báo vào năm 1551 đã
lần đầu tiên mô tả trồng lại tai do đứt rời toàn bộ tai Vào
năm 1920, Gillies đã sử dụng sụn tự thân trong tạo hình tai
toàn bộ Đến năm 1959, Tanzer đã đánh dấu sự khởi đầu
trong kỷ nguyên tạo hình tai hiện đại với thành công trong
việc sử dụng ghép sụn sườn tự thân Brent đã tiếp tục cải
tiến và hoàn thiện quy trình tạo hình tai với chất liệu tự thân
và đã thông báo lần đầu tiên thành công việc sử dụng kỹ
thuật giãn da trong tạo hình tai Kỹ thuật tạo hình vành tai
của Nagata có hai thì lần đầu tiên được thông báo vào năm
1987 Brent lần đầu tiên thông báo kỹ thuật của ông vào
năm 1981 với những nguyên lý và khái niệm mới Nagata
và Firmin là hai tác giả sau này với kỹ thuật tạo hình tai hai
giai đoạn [2]
Vào năm 1993, Nagata đã thông báo hướng điều trị mới
cho các dị tật tai nhỏ bẩm sinh Ở Việt Nam, chúng tôi thấy còn chưa có nhiều nghiên cứu về điều trị dị tật tai nhỏ bẩm sinh, do vậy chúng tôi thực hiện đề tài: Đánh giá kết quả tạo hình vành tai trong điều trị dị tật tai nhỏ bẩm sinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức với mục tiêu: Nhận xét kết quả tạo hình tai trong điều trị dị tật tai nhỏ bẩm sinh
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
30 BN được chẩn đoán khuyết tai bẩm sinh Các BN đều được điều trị tại Khoa Phẫu thuật hàm mặt, tạo hình và thẩm
mỹ, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 1/2008 đến 6/2016
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, can
thiệp lâm sàng và không đối chứng
Tiến hành nghiên cứu: BN được thăm khám lâm sàng,
chỉ định làm các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết, lập kế hoạch điều trị phù hợp, phẫu thuật và theo dõi sau phẫu thuật để đánh giá kết quả gần, kết quả xa, chụp ảnh trước và sau mổ, đo đạc và ghi chép thiết kế vị trí đặt khung sụn, trục của tai nhằm tạo sự đối xứng với tai lành và tương quan với các mốc giải phẫu trên khuôn mặt
Kỹ thuật phẫu thuật lựa chọn: Tạo hình tai hai thì bằng
khung sụn tự thân, áp dụng kỹ thuật tạo hình tai của Firmin
và Nagata Tiến hành dưới gây mê nội khí quản, tư thế BN nằm ngửa
Thì 1: Tiêm lidocain 1% pha adrenalin 1/200.000 vào
Đánh giá kết quả tạo hình tai trong điều trị dị tật tai nhỏ bẩm sinh
tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Trần Thị Thanh Huyền, Nguyễn Hồng Hà *
Khoa Phẫu thuật hàm mặt, tạo hình và thẩm mỹ, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Ngày nhận bài 16/3/2017; ngày chuyển phản biện 27/3/2017; ngày nhận phản biện 8/5/2017; ngày chấp nhận đăng 16/5/2017
Tóm tắt:
Dị tật tai nhỏ bẩm sinh là một tổn thương phức tạp, có thể có nhiều dạng, từ một vài di tích của sụn vành tai cho đến biến mất toàn bộ vành tai Cấu trúc giải phẫu đặc biệt của tai cũng như hình thể 3 chiều của nó khiến cho việc tạo hình tai luôn là thách thức cho các phẫu thuật viên tạo hình Trong bài báo này, các tác giả đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình tai nhỏ bằng sụn sườn tự thân theo 2 thì tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2008 đến 2016 Tất
cả các bệnh nhân (BN) và gia đình đều hài lòng với kết quả ngay sau phẫu thuật Với tỷ lệ biến chứng thấp, kết quả thẩm mỹ và mức độ hài lòng cao của người bệnh đã chứng tỏ kỹ thuật này là một trong những lựa chọn tối ưu trong điều trị tạo hình tai
Từ khóa: Dị tật tai, tai nhỏ bẩm sinh, tạo hình tai
Chỉ số phân loại: 3.2
* Tác giả liên hệ: Email: nhadr4@gmail.com
Trang 4vùng dự kiến đặt khung sụn vành tai và vùng dự kiến lấy sụn
sườn 6-7-8-9 (3 hoặc 4 sụn sườn) cùng bên Bóc tách bộc lộ
khoang nhận khung sụn Lấy khối sụn sườn, tạo hình các gờ
luân, gờ đối luân, hố tam giác, hõm thuyền theo kích thước
tương ứng với tai bên lành hoặc tai người trưởng thành (đối
với BN khuyết cả hai tai) Khung sụn được giữ hình dạng
bằng chỉ thép nhỏ và chỉ prolen 4/0
Tận dụng phần da còn lại của di tích tai làm dái tai (nếu
có thể) Đặt dẫn lưu sonde hút dạ dày số 8, hút liên tục áp
lực âm Khâu đóng vết mổ theo các lớp giải phẫu
Thì 2: Tạo hình dựng tai sử dụng mẩu sụn sườn dày 5
mm đã chuẩn bị từ thì phẫu thuật thứ nhất để chống tai, che
phủ mẩu sụn và làm rãnh sau tai bằng sử dụng vạt cân thái
dương nông, ghép da mỏng trên vạt
Thời gian giữa hai thì phẫu thuật cách nhau khoảng 6 tháng
Theo dõi sau phẫu thuật: Theo dõi nhiệt độ, dịch dẫn lưu
tại chỗ nơi lấy sụn (ngay sau phẫu thuật); theo dõi các biến chứng (chảy máu, nhiễm trùng, tiêu khung sụn, lộ sụn, biến
dạng thành ngực) sau 1 tháng/3 tháng/6 tháng/12 tháng…
Các chỉ số nghiên cứu: Tuổi, giới tính, đơn thuần hay
phối hợp, sẹo thành ngực, sự nổi rõ của khung sụn vành tai, biến chứng, mức độ hài lòng của BN
Kết quả và bàn luận
Tuổi, giới tính và nguyên nhân bệnh
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 28 BN dị tật tai nhỏ một tai và 2 BN dị tật tai nhỏ bẩm sinh hai bên Độ tuổi trung bình ở thời điểm phẫu thuật là 13,4 tuổi, nhỏ nhất là
5 tuổi và lớn nhất là 26 tuổi Độ tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các báo cáo của các tác giả khác
Có sự khác biệt như vậy có thể do trình độ hiểu biết về khả năng chữa bệnh của người dân chúng ta thấp hơn nhiều so với các nước phát triển Các tác giả khác trên thế giới đều khuyến cáo nên tạo hình tai lúc trẻ 5-8 tuổi, khi đó kích thước tai bằng 90% kích thước tai của người trưởng thành [3] Tỷ lệ nam/nữ trong nghiên cứu là 17/13 Theo Tuomas Klockars thì microtia xảy ra phổ biến ở nam giới [4, 5], còn trong nghiên cứu của chúng tôi thì tỷ lệ nam/nữ ở mức tương đương Chưa có sự khác biệt rõ rệt vì có thể số liệu thống kê của chúng tôi còn ít, chưa đủ lớn để nhận định về mặt dịch tễ học
Vị trí tổn khuyết tai
Trong nhóm BN nghiên cứu, 26/30 trường hợp khuyết tai phải, trong số đó có 2/30 trường hợp khuyết cả tai trái Trong một báo cáo của Tuomas Klockars và cộng sự, microtia thường ở bên phải, chiếm 57-65% [4]
Chiều dài của khung sụn và kỹ thuật tạo khung sụn
Chiều dài khung sụn:
Chiều dài của khung sụn Số lượng tai/tổng số
Results of ear reconstruction using
autologous costal cartilage framework
at Viet Duc Hospital
Thi Thanh Huyen Tran, Hong Ha Nguyen *
Department of Maxillofacial, Plastic and Aesthetic Surgery, Viet Duc Hospital
Received 16 March 2017; accepted 16 May 2017
Abstract:
Microtia is a congenital disease with various degrees of
severity, ranging from the presence of rudimentary and
malformed vestigial structures to the total absence of
the ear (anotia) The complex anatomy of the external
ear and the necessity to provide the good projection
and symmetry make this reconstruction become
particularly difficult The aim of this paper is to report
our results of ear reconstruction to correct microtia at
Viet Duc Hospital Our technique involves transposing
the lobule of auricle, carving a framework that includes
the tragus, and constructing the posterior wall by a
small piece of rib catilarge, a fascial temporal flap, and a
skin graft The results have been considered satisfactory
by all patients starting from the first surgical step until
second step A low complication rate, the good results
obtained, and a high rate of patient satisfaction make
this technique become one of the best choices for the
treatment of microtia.
Keywords: Ear malformation, ear reconstruction, microtia.
Classification number: 3.2
Trang 5gương để dựng hình ảnh cho tai bên cần tạo hình, mẫu này
được tiệt trùng để đối chiếu trong quá trình phẫu thuật sao
cho giống với tự nhiên nhất Kích cỡ của khung sụn được
tính toán dựa theo Nagata, chiều dài khung sụn thực tế chính
là kích thước tai (đo theo trục tai) - 2 mm (2 mm này chính
là phần da bao phủ) [2]
Kỹ thuật tạo khung sụn:
- Số lượng sụn và vị trí lấy sụn để tạo khung: Theo
khuyến cáo của Nagata, chúng tôi thường lấy sụn sườn 6,
7, 8, 9 cùng bên Trong khi với Brent, Tanzer thì thường lấy
sụn sườn 6, 7, 8 của bên đối diện [1, 2, 6] Chúng tôi nhận
thấy, muốn có khung sụn nổi rõ hơn các gờ và tăng hình
dạng không gian 3 chiều thì cần lấy một số lượng sụn tương
đối để giúp cho việc định hình khung sụn rõ rệt hơn Đặc
biệt lưu ý với các BN dưới 10 tuổi, sụn sườn có kích thước
nhỏ về chiều dày và chiều dài nên trong quá trình tạo khung
sụn phải hết sức thận trọng, tận dụng tối đa sụn để được
khung sụn có kích thước tương đối phù hợp
- Lấy toàn bộ chiều dày sụn hay bán phần: Có 22/30 BN
là trẻ em với độ tuổi từ 5-15 tuổi, chúng tôi lấy sụn sườn để
lại màng sụn (lấy bán phần chiều dày của các sụn sườn) và
tạo các gờ của khung sụn vành tai bằng việc ghép chồng lên
phía trên đế khung sụn chính các mảnh sụn ghép nhằm tạo
sự nổi gờ luân, gờ đối luân…, và làm sâu các rãnh, các hõm
bằng việc đục sâu nền sụn xuống Nagata cũng đã khuyến
cáo nên để lại màng sụn và dùng các mẩu sụn thừa để lại vị
trí cũ của sụn sườn, giúp cho việc không bị biến dạng lồng
ngực và phát triển lồng ngực thứ phát [2, 7] Còn 8/30 BN
có độ tuổi từ 15-26, chúng tôi đã sử dụng toàn bộ chiều dày
của sụn sườn nhưng cũng để lại màng sụn, sau khi tạo hình
dạng chính cho vành tai, trên nền đế của khung sụn vành tai,
chúng tôi tạo các rãnh sâu xuống nhằm mục đích nổi rõ các
gờ luân, gờ đối luân, các hõm xoăn, hố scapha…
- Phương tiện hỗ trợ tạo hình khung sụn: Nagata sử dụng
chỉ thép mảnh để cố định khung sụn Một số tác giả Mỹ
đã sử dụng Ethibond (special order) để cố định các mẩu
sụn với nhau Vì điều kiện không cho phép, chúng tôi sử
dụng chỉ thép 0,4 mm và chỉ prolen để hỗ trợ trong tạo hình
khung sụn Có 2/30 BN sử dụng hoàn toàn bằng chỉ thép để
cố định, và ban đầu chúng tôi buộc nơ chỉ về mặt trước của
khung sụn nên sau này theo dõi thì thấy cả hai BN này đều
có hiện tượng lộ chỉ thép Có thể do chỉ thép của chúng tôi
còn to và lại thắt nơ chỉ ở mặt trước nên gây hiện tượng lộ
chỉ Tuy nhiên sau khi rút chỉ thép, khung sụn vẫn ổn định
và da che phủ vẫn đảm bảo Để khắc phục tình trạng đó,
chúng tôi hạn chế sử dụng chỉ thép (chỉ sử dụng giúp giữ
nền khung sụn) và thắt nơ chỉ ở mặt sau khung sụn, đồng
thời giữa các gờ và nền khung sụn, chúng tôi sử dụng chỉ
prolene 4/0 giúp cho việc định hình khung sụn Không còn
thấy hiện tượng lộ chỉ ở 28/30 BN Tác giả Nagata sử dụng chỉ thép nhỏ, kim thẳng, hai kim liền nhau để buộc nơ chỉ vào mặt dưới khung sụn Tác giả Firmin sử dụng chỉ prolene
để cố định khung sụn thành một khối thống nhất
Da che phủ khung sụn
Thành công của phẫu thuật chủ yếu phụ thuộc vào 2 yếu
tố chính, đó là khung sụn và da che phủ khung sụn Sự thiếu hụt của da che phủ phía trên khung sụn là một vấn đề Tuy nhiên có một số tác giả gợi ý đặt túi giãn để chuẩn bị cho vùng da sẽ nhận khung sụn Trong số 30 BN của chúng tôi, 100% vạt da che phủ khung sụn sống tốt Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy vấn đề là nếu để vạt da dày (lấy theo cả một phần lớp mỡ) thì sức sống của vạt tốt nhưng làm lu mờ việc nổi các gờ của khung sụn; còn nếu bóc tách vạt da mỏng (không bóc kèm lớp mỡ) thì sức sống của vạt bị đe dọa nhưng lại giúp cho việc nổi các gờ của khung sụn rõ ràng
và giúp cho khung sụn trở nên tự nhiên hơn Như vậy, việc bóc tách vạt da quá dày cũng sẽ cho kết quả thẩm mỹ không như mong muốn, không làm nổi bật được các bờ cong tự nhiên của khung sụn Theo Nagata, Brent thì việc chuyển dái tai đối với những trường hợp tai nhỏ còn dái tai là hết sức quan trọng Nagata chuyển ngay dái tai trong thì phẫu thuật lần đầu cùng với thời điểm đặt khung sụn, còn Brent
đã xây dựng một thì mổ để tăng tính an toàn và dễ dàng hơn khi chuyển đơn vị giải phẫu dái tai tới vị trí mới Chúng tôi chủ yếu áp dụng thời điểm chuyển dái tai theo kỹ thuật của Nagata và có 26/30 trường hợp có di tích dái tai và khi chuyển sang vị trí mới đều có sức sống tốt, hình dáng tự nhiên Tác giả Nagata đã đề xuất để lại một cuống nuôi dưới
da nhỏ để tăng sức sống cho vạt da che phủ phía trên khung sụn để tránh hoại tử, lộ sụn Khi áp dụng kỹ thuật này, chúng tôi thấy tất cả BN đều không có hiện tượng hoại tử da
Dựng khung sụn vành tai và tạo rãnh sau tai
Tất cả BN khi dựng tai ở thì hai được chúng tôi thực hiện sau thì phẫu thuật đầu tiên tối thiểu là 6 tháng Chúng tôi sử dụng mẩu sụn sườn đã chuẩn bị từ ngay thì phẫu thuật đầu tiên để chống khung sụn khi dựng vành tai Mẩu sụn này
BN nam, 26 tuổi, chẩn đoán microtia tai phải.
Trang 6có hình chêm và được đặt sâu vào rãnh sau tai khi bóc tách
dựng vành tai 100% trường hợp chúng tôi sử dụng vạt cân
thái dương nông để che phủ mẩu sụn chống và ghép da dày
phía sau tai và tại vị trí da đầu nơi đặt khung sụn nhằm tăng
tính rõ nét của việc tạo rãnh sau tai Cả Brent, Nagata và
nhiều tác giả khác đều nhận thấy nếu sử dụng da mỏng ghép
cho vùng sau tai, có thể gây co kéo, vì vậy có thể làm dính
tái phát vành tai xuống, gây biến mất rãnh sau tai Nagata
khuyến cáo là mẩu sụn cho thì tạo hình dựng tai được cất
ở dưới da vùng ngực và khi lấy da ghép có thể lấy da ngay
tại vùng ngực (chỗ có sẹo) Các BN của chúng tôi được
lấy mảnh da ghép là da dày và lấy tại vùng ngực (vừa sửa
sẹo, vừa lấy da, vừa lấy mẩu sụn sườn để làm sụn chống đỡ
khung sụn)
Các biến chứng
- Theo khuyến cáo, các biến chứng gần có thể gặp là
chảy máu, tụ máu, nhiễm trùng, thủng màng phổi… Trong
nghiên cứu, chúng tôi gặp 2/30 trường hợp tụ máu và sau
khi cắt chỉ thì dịch thoát ra và không gây lộ sụn hay viêm
sụn
- Sẹo thành ngực: Đa số BN đều cho rằng sẹo thành ngực
kín đáo, tại chỗ lấy sụn sườn không đau, 13/30 BN có sẹo
quá phát Không có BN nào có sẹo lồi vùng trước ngực
- Tại chỗ lấy vạt cân thái dương: Theo Nagata thông báo
có 28,6% BN bị hói tại nơi cho vạt, 17,4% BN bị tê bì, 25%
BN có sẹo rõ với các BN nam [1, 2] Tuy nhiên, ở các BN
của chúng tôi sẹo đều kín đáo, BN dễ dàng chấp nhận và
chưa thấy trường hợp nào bị hói
- Biến dạng thành ngực: Chúng tôi chưa gặp trường hợp
nào có hiện tượng biến dạng thành ngực, có thể do thời gian
theo dõi của chúng tôi còn chưa đủ dài để có thể kết luận
Còn theo Firmin và nhiều tác giả khác thì biến chứng này là
một biến chứng hiếm gặp Theo Ohara và cộng sự, tỷ lệ gặp
biến chứng này là trên 64% đối với trẻ em dưới 10 tuổi và
20% trẻ ở tuổi lớn hơn Brent lại quan sát thấy biến chứng
này xảy ra ở hầu hết các BN Có thể ở các nước phát triển,
các trường hợp khuyết tai này đều được điều trị sớm (6-10
tuổi) nên tỷ lệ biến dạng lồng ngực rất cao
- 100% BN không bị hoại tử vạt da che phủ khung sụn,
hoại tử cân che phủ sụn sau chống, hoại tử da ghép, hoại tử
dái tai Không có BN nào bị lộ khung sụn
- 6/30 BN vùng da che phủ mặt trước khung sụn vành tai
có mang tóc (tai mang tóc), các BN này đều khuyết tai trong bệnh cảnh Hemifacial microsomia Các tác giả như Nagata, Brent, Firmin… đều gặp hiện tượng này Hiện nay trên thế giới, người ta khắc phục bằng cách sử dụng laser để triệt lông hoặc IPL [8] Trong tương lai, với các BN này, chúng tôi sẽ tiếp tục khắc phục tình trạng kém thẩm mỹ này
Kết luận
Sau khi nghiên cứu trên 30 BN dị tật tai nhỏ bẩm sinh, tuổi trung bình 13,4 (nhỏ nhất 5 tuổi, lớn nhất 26 tuổi), chúng tôi thấy có 100% BN được tạo hình tai bằng khung sụn tự thân theo hai giai đoạn; 100% vạt da che phủ trên tai, vạt dái tai (nếu có) và khung sụn sống tốt; 6/30 BN có mang tóc trên tai tạo hình; 13/30 BN có sẹo quá phát vùng ngực Các BN đều hài lòng ngay sau khi mổ đặt khung sụn dưới
da thì một Tỷ lệ biến chứng sớm và muộn sau mổ thấp và không có sự khác biệt với các tác giả trên thế giới Tạo hình tai toàn bộ bằng khung sụn tự thân trong khuyết tai là một
kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi tính tỷ mỷ, cẩn thận rất cao, luôn
là một thách thức với các phẫu thuật viên tạo hình vì đặc tính 3D của vành tai
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] R Staudenmaier Editor (2010), Aesthetics and functionality in ear
reconstruction, 68, 135p.
[2] Yasuyo Kawanabe, Satoru Nagata (2006), “A new method of costal
cartilage harvest for total auricular reconstruction”, Plastic and reconstructive
surgery, 117(6), pp.2011-2018.
[3] John F Reinisch and Sheryl Lewin (2009), “Ear reconstruction using
a Porous Polyethylene framework and emporoparietal Fascia Flap”, Facial
plastic surgery, 25(3), pp.181-189.
[4] Tuomas Klockars and Jorma Rautio (2009), “Embryology and
epidemiology of microtia”, Facial plastic surgery, 25(3), pp.145-148.
[5] Samuli Suutarla, Jorma Rautio, Tuomas Klockars (2009), “The
learning curve in microtia surgery”, Facial plastic surgery, 25(3), pp.164-168.
[6] Gordon H Wilkes (2009), “Learning to perform ear reconstruction”,
Facial plastic surgery, 25(3), pp.158-163.
[7] Theodora Manoli, Patrick Jaminet, Armin Kraus, Hans-Eberhard Schaller, Frank Werdin, Nektarios Sinis (2010), “One-stage ear reconstruction after avulsion injury, using the amputated cartilage and a retroauricular
transposition flap”, Eplasty, 10, p.e13.
[8] David Gault (2009), “Treatment of unwanted hair in auricular
reconstruction”, Facial plastic surgery, 25(3), pp.175-180.
Trang 7Đặt vấn đề
Liposome đã được ứng dụng trong mỹ phẩm từ những
năm 70 và dược phẩm vào những năm 90 của thế kỷ trước
Hiện nay, nhiều thuốc có cấu trúc liposome đã được công
bố và ứng dụng trong điều trị qua cả 3 đường uống, tiêm và
dùng ngoài Dạng bào chế liposome có những ưu điểm so
với dạng bào chế truyền thống như phù hợp sinh lý cơ thể,
có thể mang cả dược chất thân nước lẫn thân dầu, bảo vệ
hoạt chất tránh tác động lý hóa của môi trường, tác dụng
đặc hiệu trên đích sinh học Riêng đối với thuốc dùng ngoài,
liposome có ưu điểm làm tăng khả năng thấm qua da của
hoạt chất [1-4]
Piroxicam là một thuốc kháng viêm thuộc dẫn chất
oxicam có tác dụng kháng viêm, giảm đau, hạ sốt, thường
được chỉ định trong điều trị bệnh viêm đa khớp, cứng
khớp… Sinh khả dụng tuyệt đối của piroxicam trên 90%
sau khi dùng liều duy nhất đường uống, nhưng tác dụng
phụ trên hệ tiêu hóa là rất lớn, đặc biệt tình trạng loét dạ
dày tá tràng Vì vậy, để ứng dụng các cải tiến mới trong
kỹ thuật bào chế dược phẩm và tăng cường hấp thu thuốc
qua da nhằm giảm tác dụng phụ của piroxicam, nghiên cứu
này được thực hiện với mục tiêu là bào chế được liposome
piroxicam bằng phương pháp hydrat hóa màng phim lipid
Tuy nhiên, kích thước tiểu phân liposome cũng như hiệu
suất bắt giữ hoạt chất phụ thuộc rất nhiều vào các thông số
kỹ thuật Việc giảm kích thước tiểu phân liposome và tăng
hiệu suất tải hoạt chất sẽ giúp hệ trị liệu đạt hiệu quả tốt hơn
và do đó có thể làm giảm độc tính Từ lý do đó, đề tài tiến hành đánh giá ảnh hưởng của các thông số kỹ thuật lên hiệu quả điều chế hệ liposome tải piroxicam
Nguyên liệu, thiết bị và phương pháp nghiên cứu
Nguyên liệu và thiết bị
Piroxicam (Trung Quốc) tiêu chuẩn USP 31, piroxicam chuẩn (Viện Kiểm nghiệm thuốc TP Hồ Chí Minh), phospholipon 90G (Đức) tiêu chuẩn USP 32, cloroform (Pháp) tiêu chuẩn BP 2010, dinatri hydrophosphat (Trung Quốc) tiêu chuẩn USP 31, natri dihydrophosphat (Trung Quốc) tiêu chuẩn USP 31
Kính hiển vi (KHV) quang học Olympus CX21-FS1 (Nhật), KHV điện tử truyền qua Jem-1400 (Nhật), máy
đo quang phổ UV-Vis UV 1800 (Nhật), máy cô quay chân không 1 lit Buchi R210S (Thụy Sỹ), máy đo phân bố kích thước hạt Horiba LA-920 (Nhật), máy đồng nhất hóa Ultra Turrax IKA-T25 (Đức), máy siêu âm đầu dò Sonic VCX-130PB (Mỹ), máy phân tích nhiệt vi sai (DSC) Mettler Toledo DSC (Thụy Sỹ)
Phương pháp nghiên cứu
Khảo sát các thông số kỹ thuật trong quá trình bào chế liposome piroxicam: Liposome piroxicam được bào chế
bằng phương pháp tạo màng phim và hydrat hóa màng phim
Ảnh hưởng của những thông số kỹ thuật
trong phương pháp hydrat hóa màng phim lipid lên kích thước tiểu phân liposome piroxicam
Lê Thanh Diễm 1* , Trịnh Thị Thu Loan 2 , Trần Văn Thành 2
1 Công ty Dược phẩm Imexpharm
2 Khoa Dược, Trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh
Ngày nhận bài 7/8/2017; ngày chuyển phản biện 11/8/2017; ngày nhận phản biện 13/9/2017; ngày chấp nhận đăng 19/9/2017
Tóm tắt:
Piroxicam là một thuốc kháng viêm thuộc dẫn chất oxicam thường được chỉ định trong điều trị bệnh viêm đa khớp, cứng khớp… Tuy nhiên, tác dụng phụ trên hệ tiêu hóa là rất lớn, đặc biệt tình trạng loét dạ dày tá tràng Vì vậy dạng liposome piroxicam được bào chế bằng phương pháp hydrat hóa màng phim lipid sẽ giúp làm giảm tác dụng phụ của piroxicam Có nhiều thông số kỹ thuật ảnh hưởng đến sự hình thành liposome như nhiệt độ cô quay, thời gian
cô quay, lượng lipid, nhiệt độ hydrat hóa và thời gian hydrat hóa Do đó để xây dựng quy trình bào chế liposome, các thông số kỹ thuật trong quá trình bào chế được khảo sát để đánh giá sự ảnh hưởng và xác định các thông số kỹ thuật bào chế phù hợp Kết quả nghiên cứu cho thấy, mẫu liposome được khuấy tốc độ cao với thiết bị Ultra Turrax
có kích thước tiểu phân và dãy phân bố kích thước giảm rõ rệt; siêu âm giúp kích thước tiểu phân nhỏ hơn và phân
bố hẹp hơn Thời gian siêu âm càng dài thì phân bố kích thước càng hẹp, kích thước tiểu phân càng giảm.
Từ khóa: Hydrat hóa màng phim, liposome, piroxicam.
Chỉ số phân loại: 3.4
* Tác giả liên hệ: Email: lethanhdiem@gmail.com
Trang 8(phương pháp Bangham) Có nhiều thông số kỹ thuật ảnh hưởng đến sự hình thành liposome như nhiệt độ cô quay, thời gian cô quay, lượng lipid, tỷ lệ lipid và cloroform, nhiệt
độ hydrat hóa và thời gian hydrat hóa Do đó để xây dựng quy trình bào chế liposome, các thông số kỹ thuật trong quá trình bào chế được khảo sát để đánh giá sự ảnh hưởng và xác định các thông số kỹ thuật bào chế phù hợp
Nhiệt độ cô quay và nhiệt độ hydrat hóa [5, 6]:
Phospholipon 90G được sử dụng để bào chế liposome piroxicam Nhiệt độ chuyển pha và nhiệt độ nóng chảy hoàn toàn của phospholipon 90G được xác định bằng thiết bị DSC Mettler Toledo DSC Từ đó xác định nhiệt độ cô quay
và nhiệt độ hydrat hóa Nhiệt độ cô quay và nhiệt độ hydrat hóa phải cao hơn nhiệt độ chuyển pha và thấp hơn nhiệt độ nóng chảy hoàn toàn của phospholipon 90G
Tỷ lệ lipid và cloroform: Lượng phospholipon 90G và
thể tích dung môi được khảo sát sao cho lớp phim hình thành sau khi cô quay phải mỏng, phân tán liên tục và không
có bọt khí Việc đánh giá tính chất của lớp phim dựa vào cảm quan
Các thông số khác của quá trình cô quay: Các thông số
như tốc độ quay của máy khi tạo lớp phim và khi hydrat hóa, thời gian cô quay, thời gian hydrat hóa… sẽ được xác định qua thực nghiệm bằng cách dựa vào chất lượng lớp phim và khả năng phim phân tán đều khi được hydrat hóa
Phương pháp giảm kích thước tiểu phân liposome:
Liposome sau khi được bào chế theo phương pháp Bangham thường có kích thước lớn và phân bố kích thước không đồng đều, do đó phải giảm kích thước liposome Trong nghiên cứu này, liposome piroxicam sau khi được bào chế sẽ được giảm kích thước bằng thiết bị Ultra Turrax và máy siêu âm đầu dò
Khảo sát tốc độ và thời gian khuấy những mẫu liposome chưa mang hoạt chất bằng thiết bị Ultra Turrax, từ đó đánh giá sự ảnh hưởng của tốc độ khuấy và thời gian khuấy đến kích thước tiểu phân và phân bố kích thước tiểu phân liposome
Mẫu liposome sau khi được khuấy bằng thiết bị Ultra Turrax sẽ được tiếp tục giảm kích thước bằng máy siêu âm đầu dò (Prope Sonicator) Thể tích mẫu siêu âm, công suất của máy và độ sâu của thanh siêu âm trong mẫu được giữ cố định Thời gian siêu âm được khảo sát thông qua việc xác định kích thước tiểu phân và phân bố kích thước tiểu phân
Phương pháp bào chế liposome piroxicam: Liposome
piroxicam được bào chế theo các bước sau:
a/ Hòa tan phospholipon 90G, piroxicam trong cloroform trong bình quả lê
b/ Cô quay ở nhiệt độ, tốc độ quay phù hợp để tạo thành màng lipid bám trên thành bình Tiếp tục cô quay để dung môi bay hơi hoàn toàn
c/ Cho dung dịch đệm vào bình với nhiệt độ và thời gian hydrat hóa, tốc độ quay phù hợp tạo liposome piroxicam
Impact of technical parameters
in thin-film lipid hydration
method on the particle size
of piroxicam liposomes
Thanh Diem Le 1* , Thi Thu Loan Trinh 2 , Văn Thanh Tran 2
1 Imexpharm Pharmaceutical Company
2 Faculty of Pharmacy, University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh city
Received 7 August 2017; accepted 19 September 2017
Abstract:
Piroxicam is an oxycam-induced anti-inflammatory
drug commonly prescribed for the treatment of
arthritis, rheumatism However, side effects in the
gastrointestinal tract are very high, especially in peptic
ulcer disease Thus, piroxicam liposomes formulated by
lipid film hydration method will reduce the side effects
of piroxicam There are many technical parameters
that influence liposome formation such as spin speed,
rotation time, lipid content, hydration temperature,
and hydration time Therefore, in order to establish
the liposome preparation process, technical parameters
during the preparation process were investigated to
assess their effects and determine the appropriate
preparation parameters The results showed that
liposomes which were stirred with high speed had small
size and narrow distribution; ultrasound made the size
smaller and the distribution narrower The longer the
ultrasound duration was applied, the narrower the size
distribution and the smaller the size of the liposomes
were.
Keywords: Liposome, piroxicam, thin-film hydration.
Classification number: 3.4
Trang 9d/ Khuấy liposome bằng máy Ultra Turrax với tốc độ và
thời gian phù hợp
e/ Siêu âm bằng máy siêu âm đầu dò với thời gian siêu
âm phù hợp
f/ Mẫu liposome được để ở nhiệt độ phòng trong 2 giờ
g/ Bảo quản liposome ở nhiệt độ 2-8oC trong lọ thủy tinh
kín, tránh ánh sáng
Phương pháp đánh giá tính chất liposome:
Cảm quan: Quan sát bằng mắt dưới ánh sáng tự nhiên
hỗn dịch liposome phải đồng nhất có màu vàng, không có
hiện tượng kết bông, nổi kem, lắng cặn
Kích thước, phân bố kích thước tiểu phân: Kích thước và
phân bố kích thước tiểu phân liposome được xác định bằng
phương pháp tán xạ laser Mẫu được cho vào bộ phận tiếp
nhận, sau đó cài đặt các thông số trên máy đo kích thước
tiểu phân như sau: 1) Tốc độ trộn mẫu: Mức 5, tốc độ siêu
âm (mức 3 trong thời gian 1 phút); 2) Môi trường phân tán:
Nước cất
Kết quả và bàn luận
Kết quả khảo sát các thông số kỹ thuật trong quá trình
bào chế liposome piroxicam
Nhiệt độ cô quay và hydrat hóa: Kết quả DSC cho thấy,
khoảng nhiệt độ từ 231oC trở lên phospholipon 90G bị chảy
hoàn toàn và có thể bị phân hủy hoặc bị oxy hóa Nhiệt độ
chuyển pha của phospholipon 90G có thể từ 30 đến 50oC
(hình 1) Vì vậy nhiệt độ cô quay được xác định là 40oC và
nhiệt độ hydrat hóa là 45oC
Hình 1 Phổ quét nhiệt vi sai của phospholipon 90G.
Tỷ lệ lipid và cloroform: Màng phim được tạo với lượng
phospholipon 90G tăng dần so với dung môi cloroform, kết
quả cho thấy với tỷ lệ phospholipon 90G/cloroform là 1.000
mg/50 ml cho lớp phim mỏng, phân tán liên tục trên thành
bình, đáp ứng yêu cầu để được hydrat hóa tạo liposome
Các thông số khác của quá trình cô quay: Các thông số
khác của quá trình cô quay như thời gian cô quay và thời gian hydrat hóa, tốc độ quay của máy được xác định qua thực nghiệm, đảm bảo tạo lớp phim mỏng, phân tán liên tục trên thành bình và phân tán đều trong dung dịch đệm khi được hydrat hóa
Kết quả khảo sát cho thấy thời gian cô quay phù hợp là 2 giờ và thời gian để lớp phim được phân tán hoàn toàn trong dung dịch đệm là 1 giờ, tốc độ cô quay và tốc độ hydrat hóa lần lượt ở mức 5 và 8
Kết quả về phương pháp giảm kích thước tiểu phân liposome
Kết quả khảo sát tốc độ khuấy của thiết bị Ultra Turrax:
Sự ảnh hưởng của tốc độ khuấy đến kích thước tiểu phân và phân bố kích thước tiểu phân được đánh giá trong thời gian
15 phút ở các tốc độ 10.000, 15.000 và 19.000 vòng/phút Kết quả được minh họa từ hình 2 đến hình 5 và bảng 1
Hình 2 Hình chụp kích thước tiểu phân trên KHV quang học vật kính 100x và biểu đồ phân bố kích thước của liposome chưa được khuấy giảm kích thước.
Trang 10Hình 3 Hình chụp kích thước tiểu phân trên KHV quang
học vật kính 100x và biểu đồ phân bố kích thước của
liposome được khuấy tốc độ 10.000 vòng/phút.
Hình 4 Hình chụp kích thước tiểu phân trên KHV quang
học vật kính 100x và biểu đồ phân bố kích thước của
liposome được khuấy tốc độ 15.000 vòng/phút.
Hình 5 Hình chụp kích thước tiểu phân trên KHV quang học vật kính 100x và biểu đồ phân bố kích thước của liposome được khuấy tốc độ 19.000 vòng/phút.
Bảng 1 Phân tích biểu đồ phân bố kích thước tiểu phân của liposome được khuấy với tốc độ khác nhau.
bố, do đó mẫu liposome không đạt kích thước và phân bố kích thước mong muốn Các mẫu liposome được khuấy tốc
độ cao với thiết bị Ultra Turrax có kích thước tiểu phân và dãy phân bố kích thước giảm rõ rệt Trong đó mẫu liposome được khuấy với tốc độ 19.000 vòng/phút có kích thước và
Trang 11phân bố kích thước tiểu phân nhỏ nhất so với các mẫu còn
lại Vì vậy tốc độ khuấy 19.000 vòng/phút được lựa chọn để
giảm kích thước liposome Tuy nhiên, kết quả cho thấy sự
phân bố kích thước tiểu phân liposome vẫn còn khá rộng,
do đó mẫu liposome sau khi được khuấy tốc độ cao sẽ tiếp
tục được khuấy siêu âm để các tiểu phân có kích thước lớn
tiếp tục được phá vỡ và tái tạo lại liposome có kích thước
nhỏ hơn
Kết quả khảo sát thời gian siêu âm
Mẫu liposome sau khi được khuấy tốc độ 19.000 vòng/
phút trong 15 phút bằng thiết bị Ultra Turrax sẽ được tiếp
tục giảm kích thước bằng thiết bị siêu âm đầu dò Kết quả
khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian siêu âm được minh họa
trong hình 6 đến hình 8 và bảng 2
Hình 6 Hình chụp kích thước tiểu phân trên KHV quang
học vật kính 100x và biểu đồ phân bố kích thước tiểu
phân sau 3 phút siêu âm.
Hình 7 Hình chụp kích thước tiểu phân trên KHV quang học vật kính 100x và biểu đồ phân bố kích thước tiểu phân sau 6 phút siêu âm.
Hình 8 Biểu đồ phân bố kích thước tiểu phân sau 12 phút (trên) và 15 phút (dưới) siêu âm.
Trang 12Kết quả của hình 6, 7 và 8 cho thấy, siêu âm giúp kích
thước tiểu phân nhỏ hơn và phân bố hẹp hơn Thời gian siêu
âm càng dài thì phân bố kích thước càng hẹp, kích thước tiểu
phân càng giảm; tỷ lệ % các tiểu phân có kích thước hàng
trăm nm giảm theo thời gian siêu âm Tuy nhiên, khi siêu
âm từ 12 phút trở lên xuất hiện những tiểu phân liposome có
kích thước dưới 20 nm, điều này có thể do các liposome đã
bị phân hủy tạo thành các mảng lipid kép Vì vậy thời gian
siêu âm 6 phút được chọn cho những nghiên cứu tiếp theo
Bảng 2 Kết quả phân tích biểu đồ phân bố kích thước
tiểu phân của liposome được khuấy siêu âm với thời than
Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các thông số kỹ thuật
bào chế bằng phương pháp hydrat hóa màng phim đã được
khảo sát đều ảnh hưởng đến kích thước tiểu phân liposome
piroxicam Từ kết quả nghiên cứu, công thức liposome
piroxicam cơ bản và các thông số kỹ thuật được xác định
Tốc độ khuấy trên thiết bị Ultra Turrax 19.000 vòng/phútThời gian khuấy trên thiết bị Ultra Turrax 15 phút
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] R Banerjee (2001), “Liposomes: Applications in medicine”, Journal
of Biomaterials applications, 16, pp.3-21.
[2] S Clerc, Y Barenholz (1995), “Loading of amphipathic weak acid into
liposome in response to transmembrance calcium acetate gradients”, Biochem
et Biophys Acta, pp.257-265.
[3] J.S Dua, A.C Rana, A.K Bhandri (2010), “Liposome: methods of
preparation an application”, International Journal of Pharmaceutical Studies
and Researchs, 3, pp.14-20.
[4] R Koynova, M Caffrey (1998), “Phase and phase transitions of the
phosphatidylcholines”, Biochimica et Biophysica Acta, 1376, pp.91-145.
[5] Carla Caddeo, Mari Manconi, Donatella, et al (2012), “The role of Labrasol in the enhanacement of the cutaneous bioavailability of Minoxidil in
phospholipid vesicles”, Research J Pharm and Tech., 5, pp.1563-1569.
[6] L.A Meure, N.R Foster, F Dehghani (2008), “Conventional and
dense gas techniques for the production of liposomes”, Pharmaceutical
Sciences Technology, 9(3), pp.798-809.
Trang 13Đặt vấn đề
Bệnh Chagas được phát hiện vào năm 1909 trên người
do ký sinh trùng Trypanosoma cruzi gây ảnh hưởng đến đời
sống của trên 7 triệu người, trong đó có đến 12.000 ca tử
vong mỗi năm [1-3] Các véc tơ truyền bệnh Chagas thuộc
phân họ BXHM Triatominae Trong số hơn 150 loài đã được
xác định của phân họ Triatominae, Triatoma rubrofasciata
(De Geer, 1773) là loài phân bố toàn cầu với sự hiện diện ở
45 quốc gia [4] Sự di cư của loài này theo các con đường
giao lưu hàng hóa và du lịch [1, 5-7] T rubrofasciata được
phát hiện có mang ký sinh trùng Trypasoma cruzi và T
conorhini [8] và là một trong số véc tơ chính truyền bệnh
Chagas ở Nam Mỹ từ những năm 1970 [9-11]
Ở Việt Nam, năm 2010, ghi nhận sự xuất hiện và tấn
công của BXHM ở 21 tỉnh/thành phố [12, 13] Số ca ghi
nhận sự tấn công của BXHM T rubrofasciata tăng lên trong
những năm gần đây, đặc biệt ở các thành phố lớn [14], gây
tâm lý lo ngại trong nhân dân [12, 15]
Hình thái học của loài BXHM T rubrofasciata đã được
nghiên cứu và mô tả chi tiết năm 1979 [l6] Các phương pháp
mới như nghiên cứu di truyền tế bào và di truyền phân tử đã
được áp dụng vào phân loại trong những thập niên gần đây
Các nghiên cứu về di truyền tế bào đã xác định được bộ nhiễm
sắc thể của hơn 90 loài thuộc phân họ BXHM Triatominae [17] Trong đó kỹ thuật nhuộm băng C (C-banding), đánh giá các vùng dị nhiễm sắc (heterochromatin) nằm cạnh tâm động [6, 9, 12] là một công cụ hiệu quả Đây là kỹ thuật thiết yếu trong việc xác định nhiễm sắc thể giới tính cũng như xác định sự hiện diện của nhiễm sắc thể có tâm động lan tỏa (nhiễm sắc thể holocentric) của các loài Triatoma
Sử dụng kỹ thuật nhuộm băng C, các nhà khoa học đã phát hiện sự đa dạng cao của dị nhiễm sắc, bao gồm sự thay đổi
về hình dạng, số lượng, kích thước, cấu trúc và vị trí trên nhiễm sắc thể ở các loài côn trùng khác nhau Tính đa hình
của dị nhiễm sắc ở loài T infestans, véc tơ chính truyền bệnh Chagas, là một ví dụ điển hình Nghiên cứu trên loài T
infestans đã cung cấp những thông tin quan trọng về nguồn
gốc và sự phân tán của loài này [17] Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về bộ nhiễm sắc thể của các loài BXHM trên thế
giới và của T rubrofasciata ở Nam Mỹ Với chu kỳ vòng đời
ngắn và cách ly khỏi quần thể gốc, ở Nam Mỹ, các đặc điểm
di truyền của BXHM tại khu vực miền Trung Việt Nam cần được nghiên cứu Ngoài ra, do Việt Nam có địa hình trải dài nên việc phân tích về đặc điểm di truyền của BXHM ở khu vực miền Trung là hết sức cần thiết Mặt khác, trong xu thế hội nhập, giao lưu văn hóa và du lịch, sự lan truyền của hệ
ký sinh trùng rất khó kiểm soát Hơn nữa, sự bùng phát số
ca tấn công người của BXHM đặt ra yêu cầu cấp thiết về
Nghiên cứu đặc điểm di truyền tế bào của bọ xít hút máu
Triatoma rubrofasciata ở miền Trung Việt Nam
Hồ Viết Hiếu 1,2* , Lê Thành Đô 2 , Tạ Phương Mai 2 , Phan Quốc Toản 1,2 , Phạm Anh Tuấn 2 ,
Ngô Giang Liên 3 , Phạm Thị Khoa 2
1 Bộ môn Vi sinh - ký sinh trùng, Khoa Y, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng
2 Trung tâm Sinh học phân tử, Viện Nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng
3 Bộ môn Mô phôi và tế bào, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngày nhận bài 13/4/2017; ngày chuyển phản biện 17/4/2017; ngày nhận phản biện 22/5/2017; ngày chấp nhận đăng 1/6/2017
Tóm tắt:
Triatoma rubrofasciata là một loài bọ xít hút máu (BXHM) thuộc phân họ Triatominae phân bố rộng trên thế giới
Phân họ Triatominae gồm hơn 150 loài, bao gồm vector chính truyền bệnh Chagas Ở Việt Nam, các nhà khoa học
đã thu thập được loài T rubrofasciata ở 21 tỉnh/thành phố Đặc biệt, loài bọ xít này xuất hiện trong khu dân cư ở các
thành phố và các tỉnh miền Trung: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quy Nhơn, Nha Trang… Nghiên cứu những đặc tính sinh
học của loài BXHM T rubrofasciata là cần thiết để góp phần đề xuất các biện pháp phòng chống loài côn trùng hút
máu nguy hiểm này Nghiên cứu di truyền tế bào, cấu trúc bộ nhiễm sắc thể góp phần tìm hiểu nguồn gốc, định danh
loài và so sánh với các công bố trước Trong nghiên cứu này, cấu trúc, số lượng bộ nhiễm sắc thể của loài BXHM T rubrofasciata ở miền Trung Việt Nam đã được nghiên cứu bằng kỹ thuật nhuộm băng C Nghiên cứu đã xác định bộ nhiễm sắc thể của T rubrofasciata ở miền Trung là 2n = 25 với 22 nhiễm sắc thể thường và 3 nhiễm sắc thể giới tính
Trang 14việc nghiên cứu đặc điểm sinh học và hệ ký sinh trùng của
T rubrofasciata ở Việt Nam Vì vậy, trong nghiên cứu này,
chúng tôi tiến hành phân tích cấu trúc bộ nhiễm sắc thể của
loài BXHM T rubrofasciata ở miền Trung Việt Nam bằng
kỹ thuật nhuộm băng C Nghiên cứu này cung cấp những dữ
liệu về di truyền tế bào, có ý nghĩa về khoa học và thực tiễn,
làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về đặc điểm sinh
học của BXHM ở Việt Nam và hỗ trợ cho công tác phòng
chống loài côn trùng nguy hiểm này
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng
Loài BXHM T rubrofasciata thu thập được tại các tỉnh
miền Trung, Việt Nam
Phương pháp thu và xử lý mẫu
Các nghiên cứu điều tra và thu thập mẫu được tiến hành
ở Nghệ An, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quy Nhơn, Khánh Hòa, dựa trên các đặc điểm hình thái theo bảng định loại của Lent và Wygodzinsky (1979) [16] và Trương Xuân Lam (2004) [18] Mẫu sống được giữ trong các lọ kín ánh sáng
và được tiếp tục nuôi trong phòng thí nghiệm Quá trình nuôi giữ và xử lý mẫu vật tuân thủ các yêu cầu an toàn sinh học
Kỹ thuật sinh học phân tử
Các mẫu thu thập dựa trên hình thái tiếp tục được định loài bằng phản ứng chuỗi tổng hợp ADN và giải trình tự gen ADN tổng số từ các bộ phận khác nhau của bọ xít được tách chiết sử dụng bộ kit Anapure Tissue DNA mini KIT (Trường Đại học khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) Sau khi tách ADN tổng số, đoạn gen CoII được nhân lên với cặp mồi đặc hiệu cho BXHM: COII F 5’-ATG ATT TTA AGC TTC ATT TAT AAA GAT-3’ và COII R 5’-GTC TGA ATA TCA TAT CTT CAA TAT CA-3’ Chu trình nhiệt của phản ứng gồm: 950C trong 5 phút; 35 chu kỳ lặp lại
950C - 1 phút, 550C - 30 giây, 720C - 45 giây; và 720C trong
10 phút Sản phẩm PCR được giải trình tự (Công ty Phù Sa)
và so sánh với ngân hàng dữ liệu quốc tế về gen ở côn trùng
Phương pháp nhuộm băng C
Phương pháp nhuộm băng C được thực hiện theo quy trình của Sumner (1972) [19] và Panzera (2010) [10] Tinh hoàn bọ xít đực được thu thập và cố định qua đêm trong dung dịch cồn etylic - axit acetic khô với tỷ lệ 3:1 ở -200C Mẫu sau khi cố định được rửa sạch bằng nước cất và đưa lên lam kính tạo tiêu bản Tiêu bản mẫu sau đó được nhuộm bằng dung dịch orcein - acetic 45% trong 5 phút Cấu trúc
mô trên tiêu bản tiếp tục được thủy phân bằng dung dịch HCl 1N ở 600C trong trong 5 phút Tiêu bản sau khi thủy phân được rửa qua bằng nước cất và xử lý 5 phút trong Ba(OH)2 ở 500C Sau khi xử lý, tiêu bản được rửa lại bằng nước cất và ủ trong dung dịch đệm SSC 2X (Saline-sodium citrate buffer pH 7.0) ở nhiệt độ 600C trong 15 phút Tiêu bản được để khô ở nhiệt độ phòng và quan sát trên hệ kính hiển vi Olympus CKX41 kết nối camera Infinity Các tế bào
ở các kỳ khác nhau của quá trình phân bào được ghi hình với độ phóng đại 1000x
Kết quả nghiên cứu
Hình thái BXHM thu thập ở miền Trung Việt Nam
Hình thái của BXHM thu thập được ở miền Trung Việt Nam giống với các mô tả trước đây Con trưởng thành có màu cam đỏ ở xung quanh rìa mép bên ngoài của bụng Đốt
A study on the cytogenetics of blood
kissing bugs Triatoma rubrofasciata
in the Central Vietnam
Viet Hieu Ho 1,2* , Thanh Do Le 2 , Phuong Mai Ta 2 ,
Quoc Toan Phan 1,2 , Anh Tuan Pham 2 , Giang Lien Ngo 3 ,
Thi Khoa Pham 2
1 Department of Biology and Microbiology, Faculty of Medicine, Duy Tan
University, Danang
2 Center for Molecular Biology, Institute of Research and Development, Duy
Tan University, Danang
3 Department of Cell Biology, University of Science, Vietnam National
University, Hanoi
Received 13 April 2017; accepted 1 June 2017
Abstract:
The large kissing bugs Triatoma rubrofasciata (belong to
the subfamily Triatominae), well known as a main vector
of Chagas disease, have been recorded worldwide In
Vietnam, this species also has been recorded in about 21
provinces Therefore, studying biological characteristics
of T rubrofasciata is necessary to propose solutions to
the prevention activities of this dangerous insect In this
study, for the first time we have determined the structure
and number of chromosomes of T rubrofasciata from
the Central Vietnam by using C-banding technique As
the result, the chromosomes of T rubrofasciata is 2n =
25 with 22 normal ones ans three sex chromosomes (2n=
22A+X1X2Y).
Keywords: C-banding, Central Vietnam, chromosomes,
kissing bugs, Triatoma rubrofasciata.
Classification number: 3.5
Trang 15ăng ten thứ nhất vượt qua đỉnh đầu Lông ở gần phần miệng
ngắn và dần dần dài hơn ở đỉnh vòi Vảy hình khiên rộng,
hình tam giác nhọn Có màu cam đỏ ở phần ngực trước
Định danh bằng phương pháp sinh học phân tử
Kết quả PCR đặc hiệu cho đoạn gen CoII được trình bày
ở hình 2 Sản phẩm PCR cho một băng đặc hiệu duy nhất với
kích thước xấp xỉ 606 cặp bazơ ni tơ trên gel Agarose Kết
quả giải trình tự và so sánh với cơ sở dữ liệu quốc tế khẳng
định các mẫu thu thập được thuộc loài T rubrofasciata.
Hình 2 Sản phẩm phản ứng PCR.
Bộ nhiễm sắc thể của loài Triatoma rubrofasciata ở
Việt Nam
Bộ nhiễm sắc thể trong quá trình phân chia trên 100 tiêu
bản đã được sử dụng để phân tích Hình thái nhân tế bào và
nhiễm sắc thể ở các kỳ khác nhau được trình bày ở hình 3
Ở kỳ đầu (3A), vùng dị sắc rất rõ có hình tròn (mũi tên trong
hình) Kỳ giữa, các nhiễm sắc thể có hình dạng đặc trưng
và tập trung ở mặt phẳng xích đạo (3B) Ở kỳ sau tế bào,
các nhiễm sắc thể phân ly về 2 cực của tế bào (3C) Kỳ cuối
(3D) tế bào phân tách thành hai tế bào con Đặc trưng ở loài
này là chúng không hình thành thoi vô sắc
Hình 3 Hình thái nhân tế bào ở các giai đoạn khác nhau: (A) Kỳ đầu; (B) Kỳ giữa; (C) Kỳ sau; (D) Kỳ cuối.
Ở kỳ giữa I, II nhiễm sắc thể xếp thành 2 hàng với các cặp nhiễm sắc thể thường phân biệt với nhau rõ nét bởi kích thước và hình dạng (hình 4) Kích thước của nhiễm sắc thể thường và của nhiễm sắc thể giới tính có sự chênh lệch khá lớn, tạo nên sự khác nhau rõ rệt Kích thước của các nhiễm sắc thể thường lớn hơn so với nhiễm sắc thể giới tính do chúng là nhiễm sắc thể đa tâm, một dạng đặc trưng của phân
họ BXHM Triatominae Các nhiễm sắc thể giới tính khác biệt về kích thước và đặc điểm vùng dị sắc Phân tích cho
thấy T rubrofasciata phân bố ở Việt Nam có ba nhiễm sắc
thể giới tính với hai nhiễm sắc thể X (X1X2) và một nhiễm sắc thể Y Nhiễm sắc thể giới tính Y dài hơn nhiễm sắc thể
X, đồng thời có vùng dị nhiễm sắc bắt màu đậm hơn Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội của BXHM trong nghiên cứu này là 2n = 25 (22A+ X1X2Y) Số lượng này ổn định ở tất cả các
cá thể trong nghiên cứu
Hình 4 Bộ nhiễm sắc thể của BXHM T rubrofasciata: (A)
Kỳ giữa giảm phân I; (B) Kỳ giữa giảm phân II.
Hình 1 Hình thái BXHM: (A) Con đực; (B) Con cái.
Trang 16Bàn luận
Mặc dù có sự đồng nhất về số lượng nhiễm sắc thể, sự ứng
dụng các kỹ thuật nhuộm băng nhiễm sắc thể cho thấy rằng phân
họ BXHM có sự đa dạng cả về nhiễm sắc thể và kiểu nhân Kỹ
thuật C-banding đã được chứng minh là hữu ích cho việc mô tả
những đặc điểm và phân biệt những loài gần gũi với nhau cũng
như biểu thị tính đa hình trong cùng loài
Việc áp dụng các chỉ thị di truyền tế bào khác nhau góp phần
đáng kể trong phân loại các loài trong phân họ BXHM Triatominae
[20-22] Nghiên cứu của Panzera về di truyền tế bào của các loài
trong phân họ BXHM đã cho thấy tính đa dạng trong phân họ
Số lượng nhiễm sắc thể giới tính có sự khác nhau rất nhiều, trong
đó 3 hệ nhiễm sắc thể giới tính được phát hiện ở các con đực
là XY, X1X2Y và X1X2X3Y Số lượng nhiễm sắc thể lưỡng bội
(2n) của 90 loài trong họ Triatominae được mô tả từ 21 đến 25
nhiễm sắc thể gồm: 2 loài có 21 nhiễm sắc thể (18A+X1X2Y); 49
loài có 22 nhiễm sắc thể (20A+XY); 34 loài có 23 nhiễm sắc thể
(20A+X1X2Y); 4 loài có 24 nhiễm sắc thể (20A+X1X2X3Y) và 1
loài có 25 nhiễm sắc thể (22A+X1X2Y) Hầu hết chúng xuất hiện
với 20 nhiễm sắc thể thường (Autosomes-A) [17] Trong nghiên
cứu của Alevi (2016) khi phân tích và so sánh loài T rubrofascia
với các loài trong giống Triatoma thì loài này được phát hiện có sự
khác nhau so với 30 loài khác về cấu trúc bộ nhiễm sắc thể Các
quần thể loài T dimidiata, T protracta và T tibiamaculata có đặc
điểm giống nhau về kiểu nhân với loài T rubrofasciata, tuy nhiên
chúng không có mối liên hệ tiến hóa với nhau [23, 24] Tại Việt
Nam, Jean-Pierre Dujardin, Trương Xuân Lam, Phạm Thị Khoa đã
xác định bộ nhiễm sắc thể của BXHM tại Hà Nội [25]
Kết luận
Bộ nhiễm sắc thể của loài BXHM T rubrofasciata ở khu vực
miền Trung Việt Nam là 2n = 25 (22+ X1X2Y) Đây là kết quả
nghiên cứu đầu tiên được công bố về kiểu nhân của BXHM T
rubrofasciata ở khu vực miền Trung Việt Nam Kết quả này tương
đồng với các nghiên cứu trước đây trên thế giới Loài BXHM ở
khu vực miền Trung Việt Nam chưa có sự thay đổi về di truyền tế
bào so với các quần thể T rubrofasciata khác trên thế giới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] C Galvão (2014), Vetores da doença de chagas no Brasil, 289p,
Sociedade Brasileira de Zoologia, Curitiba, Brasil.
[2] WHO (2000), Control of chagas disease, Technical Report series 905,
Second report of the WHO Expert Committee.
[3] Https://en.wikipedia.org/wiki/Chagas_disease.
[4] C.J Shofield & C Galvão (2009), “Classificaton, evolution, and species
groups within the Triatominae”, Acta Tropica, 110, pp.88-100 (special issue
doi 10:1016/j Acta Tropica 2009.01.010).
[5] C Galvão, R.U Carcavallo, D.S Rocha, J Jurberg (2003), “A
checklist of the current valid species of the subfamily Triatominae Jeannel,
1919 (Hemiptera, Reduviidae) and their geographical distribution, with
nomenclatural and taxonomic notes”, Zootaxa, 202, pp.1-36.
[6] J.S Patterson, C.J Schofield, J.P Dujardin, M.A Miles (2001),
“Population morphometric analysis of the tropicopolitan bug Triatoma
rubrofasciata and relationships with Old World species of Triatoma: evidence
of New World ancestry”, Medical and Veterinary Entomology, 15,
pp.443-451.
[7] A.C Silveira & D.F Rezende (1994), “Epidemiologia e controle da
transmissão vetorial da doença de Chagas no Brasil”, Revista da Sociedade
Brasileira de Medicina Tropical, 27, pp.11-22.
[8] R.E Ryckman & E.F Archbold (1981), “The Triatominae and Triatominae born trypanosomes of Asia, Africa, Australia and the East Indies”,
Bull Soc Vector Ecologists, 6, pp.143-166.
[9] S.A Justi, C.A.M Russo, J.R.S Mallet, M.T Obara, C Galvão (2014),
“Molecular phylogeny of Triatomini (Hemiptera: Reduviidae: Triatominae)”,
Parasites & Vectors, 7, p.149.
[10] F Panzera, R Pérez, Y Panzera, I Ferrandis, M.J Ferreiro, L Calleros (2010), “Cytogenetics and genome evolution in the subfamily Triatominae
(Hemiptera, Reduviidae)”, Cytogenet Genome Res., 128, pp.77-87.
[11] I.A Sherlock & E.M Serafim (1974), “Fauna Triatominae do Estado
da Bahia, Brasil VI Prevalência geográfica da infecção dos triatomíneos por
T cruzi”, Revista da Sociedade Brasileira de Medicina Tropical, 8,
pp.129-142.
[12] Pham Thi Khoa, Tran Thanh Duong, Dujardin Jean Pierre (2013),
“Kissing bugs in Vietnam: rearing and insecticide test”, ESKIV Symposium,
pp.48-56, Science and Technics Publishing House.
[13] J.P Dujardin, T.X Lam, P.T Khoa, C.J Schofield (2015), “The rising
importance of Triatoma rubrofasciata”, Memórias do Instituto Oswaldo Cruz,
110, pp.319-323.
[14] Nguyen Van Chau, Vu Duc Chinh (2013), Distribution, Ecological
habits and results in in jury of blood sucking bugs Triatoma rubrofasciata (De Geer, 1773) in some areas of Vietnam, pp.35-40, Science and Technics
Publishing House.
[15] Triệu Nguyên Trung (2010), Kết quả điều tra bước đầu BXHM người tại
miền Trung và những cảnh báo cần thiết về loài bọ xít này,
http://www.impe-qn.org.vn/impe-n/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=58&cat=936&ID=3873 [16] H Lent & P Wygodzinsky (1979), “Revision of the Triatominae (Hemiptera, Reduviidae), and their significance as vectors of Chagas disease”,
Bull American Mus Nat Hist., 163 (Art.3), pp.125-520.
[17] F Panzera, Yanina Pazera, et al (2013), “Contributions and recent advances in cytogenetics of subfamil Triatominae (Hepmiptera, Riduviidae),
Vectors of Chagas disease”, Proceeding of ESKIV workshop, pp.61-69,
Science and Technics Publishing House.
[18] Trương Xuân Lam (2004), “Hai loài BXHM thuộc giống Triatoma
Laporte, 1832 (Heteroptera: Reduviidae: Triatominae) được ghi nhận ở Vườn
Quốc gia Tam Đảo”, Tạp chí Sinh học, 26(3A), tr.73-76, Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam.
[19] A.T Sumner (1972), “A simple technique for demonstrating
centromeric heterochromatin”, Exp Cell Res., 75, pp.304-306.
[20] F Panzera, et al (1996), “Chromosome Numbers in the Triatominae
(Hemiptera-Reduviidae): a Review”, Mem Inst Oswaldo Cruz., Rio de
Janeiro, 91(4), pp.515-518.
[21] F Panzera, S Hornos, J Pereira, R Cestau, D Canale, L Diotaiuti, J.P Dujardin, R Pérez, (1997), “Genetic variability and geographic differentiation
among three species of triatomine bugs (Hemiptera: Reduviidae)”, American
Journal of Tropical Medicine and Hygiene, 57, pp.732-739.
[22] F Panzera, J.P Dujardin, P Nicolini, M.N Caraccio, V Rose,
T Te´llez, H Bermu´dez, M.D Bargues, S Mas-Coma, J.E O’Connor, R
Pe´rez (2004), “Genomic changes of Chagas disease vector”, South America
Emerg Infect Dis., 10, pp.438-446.
[23] Alevi, et al (2016), “Cytogenetic Characterisation of Triatoma
rubrofasciata (De Geer) (Hemiptera, Triatominae) Spermatocytes and Its
Cytotaxonomic Application”, African Entomology, 24(1), pp.257-260.
[24] K.C.C Alevi, K.C Borsatto, F.F.F Moreira, J Jurberg, M.T.V
Azeredo-Oliveira (2015), “Karyosystematic of Triatoma rubrofasciata (De Geer, 1773)
(Hemiptera: Reduviidae: Triatominae)”, Zootaxa, 3494, pp.433-438.
[25] Jean-Pierre Dujardin, Khoa Pham Thi, Lam Truong Xuan, et al (2015),
“Epidemiological status of kissing-bugs in South East Asia: A preliminary
assessment”, Acta tropica, doi: 10.1016/j.actatropica.2015.06.022.
Trang 17Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, thời tiết khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, gây ra nhiều hiện tượng cực đoan như hạn hán, lũ lụt, bão, lốc xoáy, mưa đá… ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và đời sống của hầu hết các quốc gia trên thế giới Trong số này, hạn hán xảy ra liên miên do sự nóng lên toàn cầu, đe dọa nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, không chỉ khiến diện tích gieo trồng giảm mạnh, mà còn ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng (chủ yếu là cây lương thực) Theo Bray và cộng sự, khô hạn là yếu tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến an ninh lương thực của thế giới, có thể làm giảm 50-70% năng suất trung bình của một số cây lương thực chính [1]
Những khu vực bị hạn hán lớn nhất ở châu Á như miền đông Ấn Độ và vùng giáp với Nepal, với hơn 17 triệu ha đất vùng trồng lúa nhờ nước mưa (rainfed) [2] Ở Ấn Độ, hạn hán nghiêm trọng xảy ra vào năm 2002, làm giảm 22% năng suất lúa so với năm 2001 [3] Một số khu vực khác cũng thường xuyên chịu tác động nghiêm trọng bởi hạn hán như miền bắc Thái Lan và Lào, với khoảng 3 triệu ha diện tích đất trồng lúa Năng suất lúa hàng năm ở vùng đông bắc Thái Lan giảm từ 10 đến 35% do hạn hán [4]
Theo số liệu thống kê năm 2002, diện tích gieo trồng lúa hàng năm ở Việt Nam có khoảng 7,3-7,5 triệu ha, trong
đó 1,5-1,8 triệu ha thường bị thiếu nước [5] Việc nghiên
Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa
có khả năng chịu hạn
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Huế
Ngày nhận bài 3/7/2017; ngày chuyển phản biện 7/7//2017; ngày nhận phản biện 4/8/2017; ngày chấp nhận đăng 10/8/2017
Tóm tắt:
Nghiên cứu sử dụng 10 giống lúa được thu thập ở nhiều nơi khác nhau nhằm đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển, tính chịu hạn và năng suất của chúng Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCB), mỗi giống có 3 lần nhắc lại Các chỉ tiêu theo dõi được thực hiện theo đúng quy chuẩn vể nghiên cứu cây lúa Kết quả nghiên cứu đã tuyển chọn được 2 giống OM4900 và IR93340 có thời gian sinh trưởng ngắn (92-97 ngày), sinh trưởng và phát triển tốt, các chỉ tiêu về hình thái cây lúa và chất lượng gạo đạt yêu cầu, có khả năng chống chịu hạn, năng suất khá cao, đạt 56 tạ/ha (OM4900) và 56,33 tạ/ha (IR93340).
Từ khóa: Giống, lúa chịu hạn, năng suất.
Chỉ số phân loại: 4.1
* Tác giả liên hệ: Email: phanthiphuongnhi@huaf.edu.vn
Research on the growth, development,
and yield of some drought-tolerant
rice varieties
Thi Phuong Nhi Phan*, Thi Huong Sen Tran
University of Agriculture and Forestry, Hue University
Received 3 July 2017; accepted 10 August 2017
Abstract:
This research used ten rice varieties which were
collected in different sources in order to estimate their
growth, development, drought tolerance, and yield The
experiment was designed in the randomized complete
block (RCB), three replications for each variety The
research targets were implemented in accordance with
the rice research regulation The results showed that the
two varieties OM4900 and IR93340 have a short growing
time of 92-97 days, good growth and development, the
morphological characteristics and quality that were
acceptable, the ability of drought tolerance, the rather
high yields at 56.00 quintals per hectare in OM4900 and
56.33 quintals per hectare in IR93340.
Keywords: Drought-tolerant rice, variety, yield.
Classification number: 4.1
Trang 18cứu, đánh giá, chọn tạo các giống lúa chịu hạn ở nước ta
đã có từ những năm 90 và có rất nhiều giống lúa chịu hạn
đã được các nhà khoa học chọn tạo ra thông qua chọn tạo
giống truyền thống cũng như ứng dụng công nghệ sinh học
Tuy nhiên, kết quả tập trung chủ yếu ở miền Bắc và miền
Nam Vì vậy, nghiên cứu và tuyển chọn các giống lúa có khả
năng chịu hạn, thích nghi với điều kiện miền Trung là vấn
đề đang được các nhà quản lý, nhà khoa học quan tâm nhằm
bổ sung vào cơ cấu giống cây trồng, nâng cao hiệu quả sản
xuất nông nghiệp cho khu vực này
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu
Bao gồm 10 giống lúa được thu thập từ Viện Lúa Đồng
bằng sông Cửu Long (OM4900, OM7347, OM9915), Viện
Nghiên cứu lúa quốc tế IRRI (IR93340, IR95172), Công ty
TNHH MTV giống cây trồng Quảng Bình (SV181), Trường
Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh (GSR96, GSR38),
Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng
miền Trung (CH207), Công ty cổ phần Giống cây trồng và
vật nuôi Thừa Thiên - Huế (HT1) Giống HT1 là giống được
trồng phổ biến dùng làm đối chứng
Phương pháp nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được thực hiện trong vụ
hè thu 2016 tại thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế
Bố trí thí nghiệm theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu
nhiên RCBD, mỗi giống có 3 lần nhắc lại; mật độ cấy 50
khóm/m2; lượng phân bón cho 1 ha: 250 kg phân hữu cơ vi
sinh, 90 kg N, 60 kg P2O5 và 80 kg K2O; bón lót 100% phân
hữu cơ vi sinh, 100% P2O5, 30% N; bón thúc (3 lần): Lần 1
(khi lúa bén rễ hồi xanh): 40% N, 30% K2O, lần 2 (sau lần
1 từ 10-12 ngày): 20% N, 40% K2O, lần 3 (trước trổ 17-22
ngày): 10% N, 30% K2O; làm cỏ sục bùn kết hợp với bón
thúc; sau khi cấy tiến hành đắp bờ ngăn nước tạo môi trường
hạn
Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng
suất: Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây lúa được
xác định dựa vào các chỉ tiêu nông - sinh học theo “Quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và
sử dụng giống lúa VCU” (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, năm 2011)
Đánh giá khả năng chịu hạn: Theo Hệ thống tiêu chuẩn
đánh giá cây lúa (SES) [6] dựa vào mức độ cuốn lá và độ
khô đầu lá, thang đánh giá khả năng chịu hạn của lúa được
thể hiện ở bảng 1
Bảng 1 Thang điểm đánh giá khả năng chịu hạn của lúa.
0 Lá khoẻ bình thường Không thấy dấu hiệu khô
1 Lá bắt đầu gấp nếp Đầu lá khô nhẹ
3 Lá gấp hình chữ V Lá khô tới 1/4
5 Lá khum hình chữ U 1/4 đến 1/2 số lá bị khô
7 Lá cuộn tròn hình O Hơn 2/3 số lá khô hoàn toàn
9 Lá cuốn chặt Cây gần như chết
Xử lý số liệu: Các số liệu được xử lý bằng phân tích phương sai một nhân tố (one way ANOVA) ở mức α = 0,05 thông qua phần mềm Statistix 9.0
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm
Bảng 2 Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống.
Giống
Thời gian sinh trưởng (ngày)
Cấy BRHX BRHX - BĐĐN - KTĐN BĐĐN KTĐN - BĐT BĐT - KTT KTT - CHH TGST Tổng
Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây lúa có ý nghĩa quyết định trong việc bố trí cơ cấu thời vụ và xây dựng chế độ luân canh hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Từ số liệu bảng 2 cho thấy, thời gian từ cấy đến bén rễ hồi xanh và đẻ nhánh giữa các giống không có sự chênh lệch nhiều Sang giai đoạn trổ, hầu hết các giống đều trổ tập trung (3-4 ngày), trừ giống IR95172 (6 ngày) và CH207 (5 ngày) Tổng thời gian sinh trưởng của các giống biến động từ 90 ngày (SV181) đến 112 ngày (CH207) Như vậy, trong vụ hè thu 2016 các giống tham gia thí nghiệm đều thuộc nhóm ngắn ngày, phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương Giống CH207 mặc dù trong vụ hè thu 2016 có thời gian sinh trưởng dài hơn các giống khác tham gia thí nghiệm nhưng vẫn thuộc nhóm ngắn ngày Tuy nhiên, trong
Trang 19vụ đông xuân thì lại thuộc nhóm trung ngày (~135 ngày)
[7] Vì vậy, khó có thể bố trí cơ cấu 2 vụ lúa một năm cho
giống này tại các tỉnh có đặc thù lụt tiểu mãn vào giai đoạn
thu hoạch của vụ đông xuân và lụt sớm vào cuối vụ hè thu
như Thừa Thiên - Huế
Khả năng đẻ nhánh của các giống thí nghiệm
Bảng 3 Khả năng đẻ nhánh của các giống.
Giống Số nhánh tối đa (nhánh/cây) Số nhánh hữu hiệu (nhánh/cây) hữu hiệu (%) Tỷ lệ nhánh
-Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột có cùng ký hiệu chữ cái biểu
thị sự sai khác không có ý nghĩa ở mức α = 0,05.
Từ bảng 3 cho thấy, số nhánh tối đa của các giống tham
gia thí nghiệm biến động từ 1-3 nhánh/cây Tỷ lệ nhánh
hữu hiệu của các giống tương đối cao, dao động từ 76,05%
(giống SV181) đến 89,89% (giống GSR96)
Nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái và nông học của
các giống thí nghiệm
Bảng 4 Một số chỉ tiêu đặc trưng hình thái và nông học
của các giống thí nghiệm.
Giống Dạng cây (điểm) Độ cứng cây
(điểm)
Độ tàn lá
(điểm)
Độ thoát
cổ bông (điểm)
Độ rụng hạt (điểm)
Chiều cao cây (cm)
Diện tích
lá đòng (cm 2 )
Chiều dài bông (cm)
Ghi chú: Các công thức giống nhau được biểu thị cùng một chữ cái;
các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở mức α =
0,05.
Các giống tham gia thí nghiêm đều có dạng cây gọn, tập trung (trừ OM4900 có dạng cây xòe trung bình và GSR96 dạng xòe) Các giống đều có độ cứng cây tốt, đạt điểm 1 (không đổ ngã), độ thoát cổ bông đạt điểm 1 (thoát hoàn toàn) Độ tàn lá đạt điểm 5 (trừ CH207 đạt điểm 1) Hầu hết các giống có độ rụng hạt tốt (bảng 4)
Các giống đều có chiều cao cây thuộc dạng thấp cây (90-110 cm), theo Yoshida những giống thấp cây và kháng
đổ ngã cho năng suất cao ở khoảng cách trồng hẹp và chiều cao cây vừa phải có thuận lợi hơn ở nơi khó kiểm soát được nước [8] Diện tích lá đòng của các giống dao động từ 24,4
cm2 (giống IR95172) đến 40,0 cm2 (giống SV181) Chiều dài bông giữa các giống nhìn chung không có sự chênh lệch lớn
Nghiên cứu khả năng chịu hạn của các giống thí nghiệm
Mức độ khô đầu lá là một trong những triệu chứng khi cây lúa bị thiếu nước [8] Sự cuốn lá không tương quan chung với năng suất dưới điều kiện hạn, nhưng có thể sử dụng để đánh giá so với đối chứng để biết khi nào cây thiếu hụt nước Nhìn chung, những giống không biểu hiện cuốn lá cho biết tình trạng nước trong cây của giống đó tốt hơn [9].Việc theo dõi các chỉ tiêu độ cuốn lá và độ khô đầu lá được tổng hợp ở bảng 5 Trong vụ hè thu 2016, độ cuốn
lá của các giống thể hiện rõ (điểm 3) ở giai đoạn 30 và 40 ngày sau cấy, sau đó các giống có độ cuốn lá ở mức nhẹ (trừ giống IR95172 có cuốn lá điểm 3, lá gấp hình chữ V) Độ khô đầu lá của các giống nói chung cũng ở mức nhẹ (điểm 1) Giống IR95172, GSR96 và SV181 có độ khô đầu lá ở điểm 3 giai đoạn 60 và 70 ngày sau cấy
Bảng 5 Khả năng chịu hạn của các giống (ĐVT: điểm).
Tên giống
Trang 20Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các
giống thí nghiệm
Năng suất là yếu tố cơ bản của một giống, đây là kết quả
cuối cùng của quá trình sinh trưởng phát triển, tích lũy và
tổng hợp chất hữu cơ của cây lúa Kết quả nghiên cứu các
yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống được
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột có cùng ký hiệu chữ cái biểu
thị sự sai khác không có ý nghĩa ở mức α = 0,05.
Số bông/m2 là một thành phần rất quan trọng quyết định
năng suất lúa Thành phần này ngoài yếu tố di truyền còn
phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngoại cảnh cũng như kỹ thuật
canh tác Trong vụ hè thu 2016, số bông/m2 của các giống
thí nghiệm dao động từ 230,7 đến 312,3 bông/m2 Tổng số
hạt/bông thấp nhất là giống IR95172 (116,4 hạt/bông) và
cao nhất là giống HT1 (155,4 hạt/bông) Tuy nhiên, tỷ lệ hạt
chắc/bông cao nhất lại là giống OM4900 (80,5%)
Khối lượng 1000 hạt (P1000 hạt) là yếu tố cấu thành năng
suất ít biến động và ổn định nhất của một giống, là yếu tố có
tính di truyền cao, tuy nhiên nó còn chịu ảnh hưởng của điều
kiện ngoại cảnh, nhất là thời kỳ vào chắc P1000 hạt trong vụ
hè thu thường thấp hơn vụ đông xuân [10] P1000 hạt của các
giống biến động từ 23,16 đến 25,85 g
Năng suất lý thuyết được hình thành từ các yếu tố cấu
thành năng suất: Số bông/m2, số hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc
và P1000 hạt Dựa vào năng suất lý thuyết người ta có thể dự
đoán được năng suất của giống, từ đó có những biện pháp
tác động phù hợp để đạt năng suất cao nhất Trọng vụ hè thu
2016, các giống tham gia thí nghiệm có năng suất lý thuyết
đạt khá, từ 55,54 tạ/ha (OM9915) đến 77,38 tạ/ha (OM4900)
Giống OM9915 là giống có năng suất thực thu thấp nhất
(37,02 tạ/ha) Giống IR93340 đạt năng suất thực thu cao
nhất (56,33 tạ/ha), tiếp đến là giống OM4900 (56,00 tạ/ha)
Tuy nhiên, 2 giống này không khác nhau về mặt thống kê ở mức α = 0,05 Năng suất thực thu của giống đối chứng HT1
là 53,01 tạ/ha (bảng 6) Kết quả đánh giá ngoài đồng ruộng trong vụ đông xuân 2015-2016 của nhóm tác giả Phan Thị Phương Nhi và cộng sự [7] cũng cho thấy giống OM4900
có năng suất lý thuyết và năng suất thực thu đạt khá cao, lần lượt là 68,4 tạ/ha và 64 tạ/ha Giống IR93340 cũng có năng suất lý thuyết khá cao trong vụ đông xuân 2015-2016 (60,2 tạ/ha), năng suất thực thu mặc dù đạt khá (48,8 tạ/ha), nhưng giống này lại có thời gian sinh trưởng trong vụ đông xuân 2015-2016 là 121 ngày, ngắn hơn so với các giống khác và đây là điểm thuận lợi cho vùng trồng lúa tại Thừa Thiên - Huế cũng như khu vực miền Trung
Trong vụ hè thu 2016, một số sâu bệnh hại xuất hiện như sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, bệnh đốm nâu và bệnh khô vằn, tuy nhiên gây hại ở mức độ nhẹ, không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm
Một số chỉ tiêu thương phẩm và phẩm chất của các giống
Các giống tham gia thí nghiệm đều có dạng hạt thon, trừ CH207 có dạng hạt trung bình Như vậy, các giống tham gia thí nghiệm đều đạt chất lượng thương phẩm, dạng hạt gạo dài (chiều dài 6-7 mm), dài/rộng >3 (bảng 7)
Bảng 7 Một số chỉ tiêu thương phẩm và phẩm chất của các giống.
Giống Chiều dài hạt (mm) Dài/rộng hạt Dạng hạt Tỷ lệ gạo lật (%) Tỷ lệ gạo xát trắng (%) nguyên (%) Tỷ lệ gạo bụng (điểm) Độ bạc
Trang 21giống có chất lượng thương phẩm tốt là OM4900, IR93340,
GSR38 và SV181
Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi tuyển chọn được 2
giống OM4900 và IR93340 có thời gian sinh trưởng ngắn
(92-97 ngày), khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, các chỉ
tiêu hình thái cây lúa và chất lượng gạo đạt yêu cầu, có khả
năng chống chịu hạn, năng suất khá đạt 56 tạ/ha (OM4900)
và 56,33 tạ/ha (IR93340) trong điều kiện canh tác lúa phụ
thuộc chủ yếu vào nước trời, phù hợp với điều kiện thời tiết
tại tỉnh Thừa Thiên - Huế và khu vực miền Trung
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] E.A Bray, J Bailey-Serres, E Weretilnyk (2000), “Responses
to abiotic stresses”, In: W Gruissem, B Buchannan, R John (eds)
Biochemistry and molecular bilology of plants, Americam Society of
Plant Physiologists, Rockville, pp.1158-1249.
[2] R.E Huke, E.H Huke (1997), Rice Area by Type of Culture:
South, Southeast, and East Asia, IRRI, Los Banos, Philippines.
[3] H Bhandari, S Pandey, R Sharan, D Naik, I Hirway, S.K
Taunk, S.R.A.S Sastri (2007), Economic costs of drought and rice farmers
drought coping mechanisms in eastern India, International Rice Research
Institute, Los Banos, Philippines, p.203.
[4] S Jongdee, J.H Mitchell, S Fukai (1996), “Modelling approach
for estimation of rice yield reduction due to drought in Thailand”, In:
Proceedings of the InternationalWorkshop on Breeding Strategies for Rainfed Lowland Rice in Drought Prone Environments, Ubon Ratchatani, Thailand, ACIAR, Canberra, Australia, pp.65-73.
[5] Vũ Thu Hiền, Nguyễn Thị Năng (2013), “Kết quả đánh giá đặc điểm nông sinh học và năng suất cá thể một số mẫu giống lúa khi xử lý
hạn nhân tạo ở 3 giai đoạn mẫn cảm”, Tạp chí Khoa học và phát triển,
11(8), tr.1081-1091.
[6] IRRI (2014), Standard Evaluation System for Rice, 5th Edition.
[7] Phan Thị Phương Nhi, Trần Thị Hương Sen, Trần Minh Quang, Lê Khắc Phúc (2017), “Đánh giá khả năng chịu hạn của tập đoàn giống
lúa tại tỉnh Thừa Thiên - Huế”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, 3, tr.27-33
[8] Yoshida Shouichi (1981), Cơ sở khoa học của cây lúa (Người dịch:
Trần Minh Thành, 1992), Viện Nghiên cứu lúa quốc tế IRRI.
[9] K.S Fischer, R Lafitte, S Fukai, G Atlin, B Hardy (2003),
Breeding rice for drought-prone environments, International Rice
Research Institute.
[10] Phan Thị Phương Nhi, Trương Thị Hoàng Hà (2014), “Nghiên
cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa
trên đất nhiễm mặn tại tỉnh Thừa Thiên - Huế”, Tạp chí Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, 4, tr.20-28.
[11] Ngô Thị Hồng Tươi, Đoàn Kiều Anh, Quyền Ngọc Dung, Phạm Văn Cường, Nguyễn Văn Hoan (2013), “Mối quan hệ giữa quang hợp với
năng suất cá thể và chất lượng của một số dòng lúa”, Tạp chí Khoa học
và phát triển, 11(3), tr.293-303.
Trang 22Đặt vấn đề
Cần nước (Oenanthe javanica (Blume) DC.) là loại rau
thủy sinh, chủ yếu được nhân giống vô tính [1] Giâm hom
là một phương pháp nhân giống vô tính có nhiều ưu điểm
như đảm bảo chất lượng, hệ số nhân giống cao, giữ được
đặc tính di truyền của cây mẹ Giá thể là một trong những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự ra rễ, tỷ lệ sống và sự
sinh trưởng của hom giâm Tỷ lệ sống của hom giâm sẽ
không cao khi giá thể không giữ nước tốt Ngược lại, nếu
giá thể quá chặt, thiếu độ thông thoáng sẽ làm rễ bị nén chặt
nên hom giâm không phát triển được Do đó, việc tìm ra một
môi trường giá thể phù hợp là rất cần thiết trong nhân giống
cây rau cần nước, góp phần vào quá trình sản xuất bền vững
và an toàn Mặt khác, nhiều kết quả thí nghiệm cũng chỉ ra
rằng loại hom là yếu tố quyết định đến sức sống và tỷ lệ nảy
chồi của hom trong quá trình nhân giống Ngoài ra, việc sử
dụng chất điều hòa sinh trưởng là một phương pháp khá phổ
biến để đem lại hiệu quả cao trong nhân giống Theo Đường
Hồng Dật, để có giống cây rau cần nước thì phải mất 3-4
tháng [1] Theo Nguyễn Hoàng Mỹ, người dân giâm hom
rải ra ruộng sau 30-45 ngày sẽ có cây cần giống [2] Theo
phương pháp truyền thống, để có cây cần giống phải mất từ
1-4 tháng; đồng thời phải cần diện tích đất để giâm hom Vì
vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể, nồng độ BA
và loại hom đến sự sinh trưởng của hom giâm cây rau cần
nước đã được tiến hành nhằm tìm được một giá thể phù hợp,
cùng nồng độ chất điều hòa sinh trưởng BA và loại hom tốt
nhất phục vụ cho công tác nhân giống rau cần để rút ngắn thời gian giâm hom, đồng thời cung cấp cây rau cần giống cho việc trồng rau cần nước thuỷ canh (cả trong thời điểm nghịch vụ) là cần thiết
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Thời gian và địa điểm
Thí nghiệm đã được tiến hành từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015 tại Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai
Vật liệu thí nghiệm
- Giống rau cần nước lấy từ xã Gia Kiệm, huyện Thống
Nhất, tỉnh Đồng Nai Hom dài 12 cm Có 3 loại hom là hom gốc, hom thân và hom ngọn (hom gốc được lấy ở phần gốc dưới cùng của cây; hom ngọn được lấy ở vị trí cách đỉnh sinh trưởng ngọn 3 cm trở xuống; hom thân được lấy trên đoạn cành còn lại sau khi đã lấy hom gốc và hom ngọn)
- Chất kích thích sinh trưởng BA dạng bột màu trắng, độ tinh khiết 98%
- Xơ dừa được xử lý bằng cách ngâm nước 7 ngày và rửa lại 2 lần bằng nước sạch, phân hữu cơ vi sinh (do Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai sản xuất, thành phần gồm 21,7% chất hữu cơ; 0,96% N tổng số; 1,48% P2O5
và1,22% K2O)
Ảnh hưởng của giá thể, nồng độ benzyladenine và loại hom đến sự sinh trưởng của hom giâm cây rau cần nước
(Oenanthe javanica (Blume) DC.)
Nguyễn Thị Hoàng 1* , Phạm Thị Minh Tâm 2 , Nguyễn Thị Thùy Loan 3 , Nguyễn Thị Quỳnh Thuận 4
1 Huyện ủy Cẩm Mỹ, Đồng Nai
2 Khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh
3 Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai
4 Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam
Ngày nhận bài 13/6/2017; ngày chuyển phản biện 16/6/2017; ngày nhận phản biện 21/7//2017; ngày chấp nhận đăng 25/7/2017
Tóm tắt:
Cần nước là loại rau thủy sinh đã được trồng, sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và chủ yếu được nhân giống vô tính bằng giâm hom Giá thể giâm hom, loại hom giâm và việc xử lý hom giâm bằng BA ở nồng độ thích hợp là những yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng của hom giâm Kết quả thí nghiệm cho thấy hom thân là vật liệu tốt nhất để nhân giống vô tính cây rau cần nước Hom thân được phun BA nồng độ 5 ppm và giâm trên giá thể 5/6 xơ dừa + 1/6 phân
vi sinh (PVS) có tỷ lệ sống cao (81,18%) và tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn cao (64,12%).
Từ khoá: BA, giá thể, loại hom, rau cần nước.
Chỉ số phân loại: 4.1
* Tác giả liên hệ: Email: dosthoang@gmail.com
Trang 23Phương pháp thí nghiệm
Nghiên cứu gồm 2 thí nghiệm:
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh
trưởng của hom giâm cây rau cần nước trong nhân giống Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố gồm 4 nghiệm thức (xơ dừa - đối chứng; 5/6 xơ dừa + 1/6 PVS; 4/5 xơ dừa + 1/5 PVS; 3/4 xơ dừa + 1/4 PVS) và
3 lần lặp lại; mỗi ô cơ sở có 289 hom; tổng số là 3.468 hom; hom sử dụng là hom thân
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng độ BA và loại hom
đến khả năng sinh trưởng của hom giâm rau cần nước trong nhân giống Thí nghiệm đã được bố trí theo kiểu lô phụ 2 yếu tố gồm 9 nghiệm thức và 3 lần lặp lại Yếu tố lô chính là loại hom (hom gốc; hom thân và hom ngọn) Yếu tố lô phụ
là nồng độ BA (0 ppm; 5 ppm; 10 ppm) Mỗi ô cơ sở gồm
289 hom; tổng số là 7.803 hom Bắt đầu phun BA vào thời điểm 3 ngày sau khi giâm cành, phun 3 lần, định kỳ 7 ngày/lần Mỗi ô thí nghiệm phun 500 ml dung dịch
Các chỉ tiêu theo dõi: Ngày xuất hiện chồi (ngày sau
giâm - NSG, được tính khi trên ô cơ sở có khoảng 50% số hom có chồi xuất hiện); ngày xuất hiện lá trên chồi (NSG, được tính khi trên ô cơ sở có khoảng 50% số hom có chồi xuất hiện lá); tỷ lệ ra chồi (%); chiều cao chồi (cm); số lá trung bình/chồi (lá/chồi); số chồi trung bình/hom (chồi); tỷ
lệ sống của hom (%); ngày cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn [NSG, được tính khi trên ô cơ sở có khoảng 50% số cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn Một cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn khi chồi đạt chiều cao từ 10 cm trở lên và không bị dị tật (uốn cong, xoăn lá), sâu bệnh phá hoại]; tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn (%)
Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán số liệu, vẽ đồ thị
bằng phần mềm Microsoft Excel; phân tích ANOVA và trắc nghiệm phân hạng bằng phần mềm SAS 9.1
Kết quả và thảo luận
Ảnh hưởng của loại giá thể đến khả năng sinh trưởng của hom giâm cây rau cần nước trong nhân giống
Kết quả ở bảng 1 cho thấy các loại giá thể ảnh hưởng khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê đến tỷ lệ ra chồi, chiều cao chồi, số lá và số chồi của hom cây rau cần nước
ở 22 NSG Hom giâm trên giá thể 5/6 xơ dừa + 1/6 PVS có
tỷ lệ ra chồi và chiều cao chồi cao nhất (đạt 73,59%) trong khi hom giâm trên giá thể xơ dừa (đối chứng - ĐC) có tỷ lệ
ra chồi thấp nhất đạt (59,40%) ở 22 NSG Hom giâm trên giá thể 5/6 xơ dừa + 1/6 PVS cũng có số chồi đạt cao nhất (1,49 chồi/hom), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giâm trên giá thể xơ dừa (ĐC) và các loại giá thể khác trong thí nghiệm Hom giâm trên giá thể 4/5 xơ dừa + 1/5 PVS và trên giá thể 5/6 xơ dừa + 1/6 PVS có trung bình số lá cao
The rooting medium,
types of stem cuttings, and the
concentration of Benzyladenine
influencing the growth of stem
cuttings of water dropwort
(Oenanthe javanica (Blume) DC.)
Thi Hoang Nguyen 1* , Thi Minh Tam Pham 2 ,
Thi Thuy Loan Nguyễn 3 , Thi Quynh Thuan Nguyen 4
1 Cam My District party committee
2 Department of Agronomy, University of Agriculture and Forestry, HCM city
3 Dong Nai Center for Biotechnology Application
4 Southern Institute of Agricultural Science and Technology
Received 13 June 2017; accepted 25 July 2017
Abstract:
Water dropwort, an aquatic vegetable, is cultivated
and used popularly as fresh and processed vegetable
in Vietnam Propagation by stem cuttings is the
most commonly used method to propagate water
dropwort Rooting medium, types of stem cuttings,
and treating cuttings, with Benzyladenine at a suitable
concentration are the most important factors for
successful propagation The experiment results showed
that stem cuttings were the best materials for successful
propagation of water dropwort Inserting the cuttings
which were treated with BA at the concentration of 5
ppm into the rooting medium including a ratio of 5/6
coconut dust and 1/6 microorganic-fetilizer resulted in
a high percentage of survival cuttings (81.18%) and a
high percentage of young plants (64.12%).
Keywords: BA, rooting medium, types of cuttings, water
dropwort.
Classification number: 4.1
Trang 24nhất (4,10 lá/chồi và 4,07 lá/chồi), khác biệt có ý nghĩa so
với giâm trên giá thể xơ dừa (ĐC) (2,56 lá/chồi)
Bảng 1 Ảnh hưởng của loại giá thể đến tỷ lệ ra chồi (%),
chiều cao chồi (cm), số lá (lá/chồi) và số chồi (chồi/hom)
của hom giâm cây rau cần nước ở 22 NSG.
chồi (%) Chiều cao chồi (cm) Số lá (lá/chồi) (chồi/hom) Số chồi
Ghi chú: Ký tự theo sau các giá trị trung bình giống nhau trong cùng
một cột thì không có sự khác biệt trong thống kê; **: sự khác biệt có
ý nghĩa ở mức a = 0,01.
Kết quả ở bảng 2 cho thấy hom giâm cây rau cần nước
xuất hiện chồi khoảng 5-7 NSG trên các loại giá thể khác
nhau Hom giâm trên giá thể 5/6 xơ dừa + 1/6 PVS cho chồi
xuất hiện sớm nhất ở 5 NSG so với giá thể xơ dừa (ĐC) và
các loại giá thể khác trong thí nghiệm Hom rau cần nước
bắt đầu xuất hiện lá sau 8-9 NSG khi được giâm trên các
loại giá thể sử dụng trong thí nghiệm Hom giâm trên giá thể
5/6 xơ dừa + 1/6 PVS là có thời gian xuất vườn sớm nhất
(18 NSG) cùng với hom giâm trên giá thể 4/5 xơ dừa + 1/5
PVS Hom giâm trên giá thể 5/6 xơ dừa + 1/6 PVS có tỷ lệ
cây xuất vườn cao nhất (64,12%) trong 4 loại giá thể do có
tốc độ phát triển về chiều cao chồi và số lá mạnh Kết quả
này cho thấy có sự ảnh hưởng của tỷ lệ xơ dừa và PVS đối
với tốc độ tăng trưởng của hom giâm Hom giâm trên giá thể
xơ dừa (ĐC) và giá thể 3/4 xơ dừa + 1/4 PVS đạt tiêu chuẩn
xuất vườn trễ hơn ở 21 NSG và tỷ lệ xuất vườn thấp nhất
Bảng 2 Ảnh hưởng của loại giá thể đến một số chỉ tiêu
theo dõi của hom giâm cây rau cần nước.
Giá thể Ngày xuất hiện chồi
(NSG)
Ngày xuất hiện
lá trên chồi (NSG)
Ngày cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn (NSG)
Tỷ lệ sống (%)
Tỷ lệ xuất vườn (%)
Theo Nguyễn Hoàng Mỹ [2], khoảng từ 7-10 ngày cây
rau cần nước trồng tại xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất,
tỉnh Đồng Nai nẩy mầm khoảng 3-5 cm và khoảng từ 25-30
ngày, chồi rau phát triển chiều cao từ 15-20 cm, nhổ đem
đi cấy Điều này cũng cho kết quả tương tự với thí nghiệm
được thực hiện, tuy nhiên thời gian chồi rau đạt 15-20 cm
chỉ ở 22 NSG
Hình 1 Cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn.
Ảnh hưởng của nồng độ Benzyladenine và loại hom đến khả năng sinh trưởng của hom giâm rau cần nước trong nhân giống
Ở 22 NSG, tỷ lệ ra chồi của các hom giâm được xử lý
BA giữa các nồng độ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Hom giâm được phun BA với nồng độ 5 ppm đạt tỷ lệ ra chồi cao nhất (66,13%), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với hom giâm không được phun BA (58,13%) Giữa các loại hom, tỷ lệ ra chồi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Hom thân đạt tỷ lệ ra chồi cao nhất (72,28%), khác biệt có
ý nghĩa đối với hom gốc (49,90%) và hom ngọn (65,55%) Kết quả cũng cho thấy khi dùng loại hom giâm được xử lý
BA ở nồng độ 5-10 ppm đều có tỷ lệ ra chồi khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng không phun (bảng 3)
Bảng 3 Ảnh hưởng của nồng độ Benzyladenine và loại hom đến tỷ lệ ra chồi (%) của hom giâm cây rau cần nước
Trang 25Hình 2 Toàn cảnh khu thí nghiệm 10 NSG.
Kết quả ở bảng 4 cho thấy sự khác biệt về chiều cao chồi
của hom giâm được xử lý các nồng độ BA là có ý nghĩa
thống kê ở 22 NSG Khi tăng nồng độ BA thì chiều cao chồi
có xu hướng giảm, trung bình chiều cao chồi đạt cao nhất
ở hom giâm được phun BA nồng độ 5 ppm (15,47 cm), kế
đến là 10 ppm (14,91 cm), cả hai đều khác biệt có ý nghĩa
thống kê so với hom giâm không được phun BA (12,97 cm)
Bảng 4 Ảnh hưởng của nồng độ Benzyladenine và loại
hom đến chiều cao chồi (cm) của hom giâm cây rau cần
Ghi chú: Ký tự theo sau các giá trị trung bình giống nhau trong cùng
một cột và cùng một hàng thì không có sự khác biệt trong thống kê
**: sự khác biệt có ý nghĩa ở mức 0,01; ns: sự khác biệt không có ý
nghĩa.
Chiều cao chồi đạt giá trị cao nhất ở hom thân (17,05
cm), khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với hom gốc (11,19
cm), tuy nhiên lại khác biệt không có ý nghĩa thống kê so
với hom ngọn (15,10 cm) Kết quả ở bảng 4 cho thấy chiều
cao chồi khác biệt không có ý nghĩa thống kê khi các loại
hom giâm được xử lý BA ở các nồng độ từ 5-10 ppm nhưng
khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng
Nhìn chung, chiều cao chồi không tăng khi tăng nồng
độ BA, điều này cho thấy BA có ảnh hưởng đến chiều cao
chồi của hom giâm cây rau cần nước và chúng chỉ có tác
động tích cực lên chiều cao chồi khi được sử dụng ở nồng
độ thích hợp Bên cạnh đó, hom thân có ảnh hưởng tốt nhất lên sự phát triển của chiều cao chồi so với hom ngọn và hom gốc ở 22 NSG
Bảng 5 Ảnh hưởng của nồng độ Benzyladenine và loại hom đến các thời kỳ sinh trưởng, tỷ lệ sống (%) và tỷ lệ xuất vườn (%) của hom giâm cây rau cần nước.
Chỉ tiêu theo dõi Loại hom
Nồng độ BA (ppm)
Ngày xuất hiện chồi (NSG)
Ngày xuất hiện lá trên chồi (NSG)
Ngày cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn (NSG)
Gốc 22 22 22 Thân 17 15 15 Ngọn 18 16 15
Tỷ lệ sống (%)
Gốc 49,94 57,55 57,90 Thân 72,09 83,39 77,97 Ngọn 72,55 76,47 73,59
Tỷ lệ xuất vườn (%)
Gốc 35,64 45,10 46,48 Thân 62,51 73,93 68,17 Ngọn 60,32 61,71 59,28
Vũ Thanh Hải [3] đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân giống rau cần nước trong mùa hè, kết quả để có cây cần giống tốt trong mùa hè sử dụng cây cần 8 tuần tuổi, thân được cắt thành từng đoạn với mỗi đoạn có 1 đốt và che nắng bằng 1 lớp lưới đen cho tỷ lệ cây giống đạt cao nhất Kết quả thí nghiệm ở bảng 5 cho thấy thời gian xuất hiện chồi của các loại hom và giữa các nồng độ BA dao động từ 5-8 NSG Hom thân xuất hiện chồi sớm nhất (5 NSG) và hom gốc xuất hiện chồi trễ nhất (8 NSG) Hom thân không được phun BA với hom thân được phun BA nồng độ 5 ppm đều
có thời gian xuất hiện chồi sớm nhất (5 NSG)
Thời gian xuất hiện lá của các loại hom dao động từ 6-9 NSG Giữa các nồng độ BA, thời gian hom giâm bắt đầu xuất hiện lá nhìn chung không có sự khác biệt (trung bình
7 NSG) Kết quả cũng cho thấy hom thân không được phun
BA cùng với hom thân được phun BA nồng độ 5 ppm đều
có thời gian xuất hiện lá sớm nhất (6 NSG)
Kết quả ở bảng 5 cũng cho thấy thời gian cây đủ tiêu
Trang 26chuẩn xuất vườn của các loại hom có sự biến động khá lớn,
dao động từ 15-22 ngày sau khi giâm Hom thân được phun
BA nồng độ 5 ppm có tỷ lệ sống (83,39%) và tỷ lệ xuất vườn
(73,93%) cao nhất
Kết luận
Hom thân rau cần nước được giâm trên giá thể 5/6 xơ
dừa + 1/6 PVS có chiều cao chồi (14,47 cm), số lá/chồi
(4,07 lá/chồi) cũng như tỷ lệ sống (81,18%) và tỷ lệ cây đạt
tiêu chuẩn xuất vườn (64,12%) cao nhất
Chất điều hòa sinh trưởng BA và loại hom có tác động
rõ rệt đến sự phát triển của hom giâm cây rau cần nước
trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm Hom thân được
phun BA nồng độ 5 ppm cho chiều cao chồi (17,70 cm), tỷ
lệ ra chồi (78,08%), tỷ lệ sống (83,39%) và tỷ lệ xuất vườn (73,93%) cao nhất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đường Hồng Dật (2003), Kỹ thuật trồng rau ăn lá, rau ăn hoa, rau
gia vị, NXB Lao động - Xã hội.
[2] Nguyễn Hoàng Mỹ (2014) “Điều tra hiện trạng sản xuất rau cần
nước (Oenanthe javanica (Blum) DC.) tại xã Gia Kiệm, huyện Thống
Nhất, tỉnh Đồng Nai”, Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành nông học, Trường
Đại học Nông lâm, TP Hồ Chí Minh.
[3] Vũ Thanh Hải (2006), “Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân
giống rau cần trong mùa hè”, Hội thảo khoa học công nghệ quản lý
nông học vì sự phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam, NXB Nông
nghiệp, tr.81-84.
Trang 27Đặt vấn đề
Để đáp ứng nhu cầu của sản xuất về giống gà hướng
trứng cho năng suất cao và chất lượng trứng tốt, trong giai
đoạn 2006-2010 đề tài nghiên cứu chọn tạo một số dòng gà
hướng trứng chất lượng cao đã chọn tạo được các giống gà
HA1, HA2 cho năng suất sinh sản đạt 235-239 quả/mái, tiêu
tốn thức ăn/10 trứng là 1,9-2,05 kg, chất lượng trứng tốt, tỷ
lệ lòng đỏ 31-32% Các dòng gà trên đã phát huy được tính
ưu việt về chất lượng trứng và màu sắc vỏ trứng phù hợp thị
hiếu người tiêu dùng Song, năng suất trứng vẫn còn thấp
hơn nhiều so với các giống gà chuyên trứng hiện nay trên
thế giới
Các giống gà chuyên trứng năng suất cao, trong đó
có gà Tetra-SL của Hungary: Gà ông bà năng suất trứng/
mái/72 tuần tuổi đạt 275-285 quả, khối lượng trứng trung
bình 59,50-60,5 g [1] Với giống gà này, năng suất trứng cao
nhưng tỷ lệ lòng đỏ thấp (26-28%), màu vỏ trứng nâu thẫm,
không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước
Chiến lược phát triển và tái cơ cấu ngành chăn nuôi đến
năm 2020 đặt ra mục tiêu đạt sản lượng trứng khoảng 14
tỷ quả, bình quân đầu người là trên 140 quả/năm Như vậy,
tiềm năng phát triển thị trường giống gà hướng trứng năng
suất, chất lượng cao là rất lớn Chính vì vậy, nghiên cứu
chọn tạo giống gà chuyên trứng mới, phát huy được ưu thế
về năng suất trứng của gà chuyên trứng nhập nội và chất lượng trứng tốt của gà HA là rất cần thiết Theo hướng này,
đề tài “Nghiên cứu chọn tạo 4 dòng gà chuyên trứng cao sản” được thực hiện với mục tiêu chọn tạo được 4 dòng gà
có năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi: Dòng GT1 đạt 240-245 quả, GT2 đạt 245-250 quả, GT3 đạt 235-240 quả và GT4 đạt 240-245 quả
Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương từ năm 2011 đến 2016 trên 4 dòng
gà (GT1, GT2, GT3, GT4) từ nguyên liệu gà Tetra-SL nhập nội và gà HA1, HA2
Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm ngoại hình của các dòng gà GT
- Chọn lọc năng suất trứng ở 38 tuần tuổi của các dòng
gà GT
- Khả năng sinh sản của các dòng gà GT
Phương pháp
Tính trạng đặc điểm ngoại hình: Chọn lọc đặc điểm màu
lông đối với gà GT1 và GT2 tại thời điểm 1 ngày tuổi và
Nghiên cứu chọn tạo 4 dòng gà chuyên trứng cao sản
Nguyễn Quý Khiêm 1* , Phạm Thùy Linh 1 , Phùng Đức Tiến 2 , Lê Ngọc Tân 1 , Nguyễn Thị Tình 1 ,
Nguyễn Thị Kim Oanh 1 , Trần Ngọc Tiến 1 , Nguyễn Trọng Thiện 1 , Phùng Văn Cảnh 1 , Nguyễn Hữu Cường 3
1 Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
2 Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
là 244,38 quả và GT4 là 242,07 quả, đều đạt được mục tiêu của đề tài Trứng gà GT có tỷ lệ lòng đỏ đạt 30,10-30,61%,
tỷ lệ phôi đạt trung bình 95,01-98,02%, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp 78,84-82,66%, tỷ lệ nở/trứng có phôi 82,86-85,74%.
Từ khóa: Chọn tạo, gà chuyên trứng GT, năng suất trứng.
Chỉ số phân loại: 4.2
* Tác giả liên hệ: Email: nguyenquykhiem64@gmail.com
Trang 2819 tuần tuổi Chọn những cá thể có màu lông đặc trưng, kết hợp với ngoại hình chuẩn không khoèo chân, vẹo mỏ giữ lại làm giống
Khối lượng cơ thể và khối lượng trứng: 2 chỉ tiêu này lấy
trong khoảng giá trị trung bình
Tính trạng sản xuất trứng: Chọn lọc định hướng về năng
suất trứng đến 38 tuần tuổi Theo dõi năng suất trứng cá thể
từ khi đàn gà đẻ quả đầu tiên đến 38 tuần tuổi Chọn lọc các
cá thể trong gia đình có năng suất trứng từ cao xuống thấp nhưng phải lớn hơn giá trị trung bình của toàn đàn Các cá thể chọn lọc đưa vào đàn hạt nhân để tạo thế hệ sau
Tỷ lệ chọn lọc: Đối với gà trống là 14-16% (căn cứ vào
năng suất trứng của mẹ chọn con có năng suất trứng từ cao xuống thấp), đối với gà mái là 40-50% Mỗi dòng xây dựng
20 gia đình cá thể, áp dụng quy luật tuần hoàn luân chuyển trống để tránh cận huyết của Pedroso (1975) (dẫn theo Nguyễn Văn Đức và cs, 2006) [1]
Thứ tự ưu tiên các tính trạng trong quá trình chọn lọc như sau: Năng suất trứng đến 38 tuần tuổi; khối lượng trứng
38 tuần tuổi; khối lượng cơ thể 133 ngày tuổi; khối lượng
cơ thể 63 ngày tuổi
Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng chương trình Microsoft Excel, phương pháp phân tích phương sai bằng chương trình ANOVA
Kết quả và thảo luận
Đặc điểm màu lông gà GT
Gà GT1: Gà GT1 lúc 1 ngày tuổi có 2 màu lông, màu
nâu chiếm tỷ lệ 52,57-78,45% và vàng nhạt có đốm đen từ 47,43 ở thế hệ xuất phát (THXP) xuống 21,55% ở thế hệ 1
Ở THXP và thế hệ 1 căn cứ vào năng suất trứng của cá thể màu lông nào cao hơn thì lấy màu lông đó làm chủ đạo Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở gà GT1 màu lông nâu có năng suất trứng cao hơn, đồng thời chiếm tỷ lệ màu lông lớn hơn
Vì vậy, lúc 19 tuần tuổi màu lông nâu từ 53,75 ở THXP tăng lên 88,6% ở thế hệ 3 và màu lông vàng nhạt có đốm đen đã giảm dần chỉ còn 11,34%
Gà GT2: Ở THXP gà GT2 có 3 màu lông, gồm nâu, nâu
vàng nhạt có đốm đen và trắng có sọc đen Ở thế hệ 1 căn cứ vào kết quả theo dõi năng suất trứng cá thể thì thấy gà màu lông trắng có sọc đen cho năng suất trứng thấp hơn nhiều so với màu lông nâu và nâu vàng nhạt có đốm đen Vì vậy, từ thế hệ 1 trở đi ở gà GT2 gà trống có màu lông nâu cánh gián,
gà mái có 2 màu lông Ở thế hệ 1 tiếp tục căn cứ vào năng suất trứng cá thể thấy màu lông nâu vàng nhạt có đốm đen cho năng suất trứng cao nhất nên quyết định lấy màu lông này làm chủ đạo thay đàn cho thế hệ 2 và 3 Kết quả ở thế
hệ 3 lúc 19 tuần tuổi tỷ lệ màu lông vàng nhạt có đốm đen tăng dần từ 39,67 ở THXP lên 79,48% ở thế hệ 3 và màu
Selective breeding of four
high-yielding egg laying
chicken lines
Quy Khiem Nguyen 1 *, Thuy Linh Pham 1 , Duc Tien Phung 2 ,
Ngoc Tan Le 1 , Thi Tinh Nguyen 1 , Thi Kim Oanh Nguyen 1 ,
Ngoc Tien Tran 1 , Trong Thien Nguyen 1 ,
Van Canh Phung 1 , Huu Cuong Nguyen 3
1 Thuy Phuong Poultry Research Centre
2 The Science, Technology and Environment Commission of the National Assembly
3 Ministry of Science and Technology Received 5 July 2017; accepted 16 August 2017
Abstract:
The study was conducted at Pho Yen Poultry Research
Station with the aim of creating four new high-yielding
egg laying chicken lines (GT1, GT2, GT3, and GT4)
from the materials of Tetra-SL and HA chickens
Through four generations of selection, the results
showed that GT1 had selection differential (S) of the egg
number from 12.23 to 18.45 eggs, heritability (H) from
0.15 to 0.19, and selection response (R) from 1.83 to 3.5
eggs GT2 had S of the egg number at 13.71-17.76, H
at 0.16-0.19, and R at 2.22-3.37 eggs GT3 had S of the
egg number at 10.91-15.53 eggs, H at 0.14-0.21, and R at
1.53-2.95 eggs GT4 had S at 13.04-15.05 eggs, H at
0.12-0.15, and R at 1.56-2.02 Egg production of four lines
were 247.43 eggs, 246.48 eggs, 244.38 eggs, and 242.07
eggs, respectively, which met the goal of the project
The rate of yolk was from 30.10 to 30.61% The rate
of embryonic livability was from 95.01 to 98.02% The
hatch rate was from 78.84 to 82.66%, and the hatch rate/
embryonic livability eggs was from 82.86 to 85.74%.
Keywords: Egg productivity, high-yielding egg laying
chicken, selective breeding.
Classification number: 4.2
Trang 29lông nâu giảm từ 40,92 xuống còn 20,52%
Như vậy, qua 4 thế hệ chọn lọc định hướng cho kết quả
màu lông nâu đối với gà GT1, màu nâu vàng nhạt có đốm
đen đối với gà GT2
Gà GT3 và GT4: Hai dòng gà GT3 và GT4 có màu lông
trắng đồng nhất, chân màu vàng Gà mái 19 tuần tuổi có
thân hình thon gọn, dáng nhanh nhẹn, đầu nhỏ, mào cờ
Gà trống có mào cờ đỏ tươi, lông màu trắng bóng mượt
Chọn lọc năng suất trứng ở 38 tuần tuổi
Chọn lọc năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi ở gà GT1:
Bảng 1 Chọn lọc năng suất trứng ở 38 tuần tuổi của gà GT1.
Hiệu quả chọn lọc (Re) (quả) 3,50 2,35 1,83
Kết quả ở bảng 1 cho thấy, với hệ số biến dị ở đàn trước
Ở THXP chọn lọc với áp lực 51,96% năng suất trứng
38 tuần tuổi ở đàn sau chọn mới đạt 94,4 quả Vì thế, ở thế
hệ 1 chọn với cường độ chọn lọc cao hy vọng thế hệ 2 sẽ
đạt được mục tiêu của đề tài và kết quả về năng suất trứng/
mái/38 tuần tuổi gà GT1 ở đàn trước chọn ở thế hệ 1 đạt
88,50 quả/mái lên 93,85 quả ở thế hệ 2 sau đó tăng dần
và đạt 94,24 quả ở thế hệ 3 Số liệu bảng 1 cho thấy, hệ số
biến dị về năng suất trứng trên đàn trước chọn ở thế hệ 3 là
17,79%, so với thế hệ 2 đã giảm 0,93%, so với THXP và thế
hệ 1 giảm 3,75-5,88% Hệ số di truyền và hiệu quả chọn lọc giảm dần qua các thế hệ là hoàn toàn phù hợp với quy luật,
ở thế hệ 1 hệ số di truyền và hiệu quả chọn lọc (0,19 và 3,50 quả) cao hơn thế hệ 2 (0,17 và 2,35 quả), vì như trên đã phân tích, ở THXP với cường độ chọn lọc chưa cao và hệ số biến
dị năng suất trứng lớn, sang đến thế hệ 1 với cường độ chọn lọc cao và hệ số biến dị năng suất trứng giảm dần Vì vậy, hệ
số di truyền và hiệu quả chọn lọc về năng suất trứng thế hệ 2
đã giảm hơn so với thế hệ 1, tương tự như vậy, sang đến thế
hệ 3 hệ số di truyền và hiệu quả chọn lọc đã giảm xuống lần lượt là 0,15 và 1,83 quả Điều đó chứng tỏ đàn gà chọn tạo qua 4 thế hệ đã dần đi vào ổn định
Hệ số di truyền về năng suất trứng ở thế hệ 2 và 3 trên gà GT1 là 0,15-0,17 so với kết quả nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cs (2010) [2] cho biết hệ số di truyền về năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi ở thế hệ 2 và 3 dòng TP2 là 0,16-0,17, dòng TP3 là 0,16-0,18, như vậy hệ số di truyền của gà GT
là phù hợp Kết quả này thấp hơn kết quả nghiên cứu của Pencheva (1974) [3], Ayoub và Merat (1975) [4] khi xác định hệ số di truyền của sản lượng trứng 3 tháng đẻ đầu là 0,22 và 0,47; Nikolov và cs (1976) (dẫn theo Nguyễn Văn Đức và cs, 2006) [1] công bố hệ số di truyền của sản lượng trứng ở hai dòng gà là 0,19 và 0,27
Chọn lọc năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi ở gà GT2:
Kết quả bảng 2 cho thấy, gà GT2 chọn lọc theo hướng năng suất trứng cao, với áp lực chọn lọc qua các thế hệ
là 56,21, 43,31, 34,89, 46,00%, ly sai chọn lọc các thế hệ tương ứng 13,71, 17,76, 17,34, 13,90 quả và cường độ chọn lọc thể hiện lần lượt là 0,72, 0,85, 0,96 và 0,82 ở thế hệ 3
Hệ số di truyền là 0,19, 0,18 và 0,16 Hiệu quả chọn lọc là 3,37, 3,12 và 2,22 quả
Bảng 2 Chọn lọc năng suất trứng ở 38 tuần tuổi của gà GT2.
Chỉ tiêu THXP Thế hệ 1 Thế hệ 2 Thế hệ 3
Đàn trước chọn
Số lượng (con) 290 314 450 300 Năng suất trứng (quả) 81,46 86,74 90,12 93,16
Hệ số biến dị (CV) (%) 23,29 24,05 19,99 18,21
Đàn sau chọn
Số lượng (con) 163 136 157 138 Năng suất trứng (quả) 95,17 104,50 107,46 107,06
Hệ số biến dị (CV) (%) 8,64 7,37 5,58 5,17
Áp lực chọn lọc (P) (%) 56,21 43,31 34,89 46,00
Ly sai chọn lọc (S) (quả) 13,71 17,76 17,34 13,90 Cường độ chọn lọc (i) 0,72 0,85 0,96 0,82
Hệ số di truyền h 2 (B+M) 0,19 0,18 0,16 Hiệu quả chọn lọc (Re) (quả) 3,37 3,12 2,22
Trang 30Cũng theo kết quả bảng 2, ở đàn trước chọn hệ số biến dị
về năng suất trứng thế hệ 3 là 18,21% giảm xuống so với thế
hệ 2, thế hệ 1 và THXP Hệ số di truyền và hiệu quả chọn lọc
giảm dần qua các thế hệ, ở thế hệ 1 hệ số di truyền và hiệu
quả chọn lọc lần lượt là 0,19 và 3,37 quả, cao hơn thế hệ 2
tương ứng là 0,18 và 3,12 quả Ở THXP, với cường độ chọn
lọc chưa cao và hệ số biến dị năng suất trứng lớn, sang đến
thế hệ 1 với cường độ chọn lọc cao và hệ số biến dị năng
suất trứng giảm dần, vì vậy hệ số di truyền và hiệu quả chọn
lọc về năng suất trứng ở thế hệ 2 đã giảm hơn so với thế hệ
1, tương tự như vậy sang đến thế hệ 3 hệ số di truyền và hiệu
quả chọn lọc đã giảm xuống đạt 0,16 và 2,22 quả
Phùng Đức Tiến và cs (2010) [2] cho biết, hệ số di truyền
về năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi ở thế hệ 2 và thế hệ 3
dòng TP2 là 0,16-0,17, dòng TP3 là 0,16-0,18
Chọn lọc năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi ở gà GT3:
Kết quả chọn lọc gà GT3 ở bảng 3 cho thấy, đến thế hệ 3
hệ số biến dị về năng suất trứng đàn trước chọn là 15,15%,
so với thế hệ 2 hệ số biến dị đã giảm 4,15%, đặc biệt so với
THXP và thế hệ 1 giảm đi rất nhiều (8,41-9,79%) Ly sai
chọn lọc, hệ số di truyền và hiệu quả chọn lọc giảm dần qua
các thế hệ Hệ số biến dị năng suất trứng giảm dần, vì vậy
hệ số di truyền và hiệu quả chọn lọc về năng suất trứng thế
hệ 2 đã giảm hơn so với thế hệ 1, tương tự như vậy sang đến
thế hệ 3 hệ số di truyền và hiệu quả chọn lọc đã giảm xuống
đạt 0,14 và 1,53 quả, chứng tỏ đàn gà chọn tạo qua 4 thế hệ
Hiệu quả chọn lọc (Re) (quả) 2,95 2,54 1,53
Từ kết quả nghiên cứu hệ số di truyền về năng suất trứng
ở thế hệ 2 và 3 trên gà GT3 là 0,14-0,19 so với kết quả
nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cs (2010) [5] cho biết hệ
số di truyền về năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi ở thế hệ 2 và
3 dòng TP3 là 0,16-0,18, như vậy kết quả nghiên cứu trên
gà GT3 hoàn toàn phù hợp Kết quả hệ số di truyền ở thế hệ
3 cũng phù hợp với nghiên cứu của Syvasamy và cs (1976) (dẫn theo Nguyễn Văn Đức và cs, 2006) [1] công bố là 0,14
Chọn lọc năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi ở gà GT4:
Gà GT4 chọn lọc theo hướng năng suất trứng cao lúc 38 tuần tuổi qua 4 thế hệ: Đàn sau chọn năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi tăng từ 98,73 ở THXP lên 104,96 quả/mái ở thế
hệ 1 và ổn định ở hai thế hệ sau đạt 104,8 quả/mái thế hệ 3;
hệ số biến dị qua các thế hệ là 10,52, 7,49, 7,01 và 6,43%;
ly sai chọn lọc các thế hệ tương ứng 15,05, 14,86, 13,43 và 13,04 quả và cường độ chọn lọc lần lượt là 0,71, 0,68, 0,77
và 0,80 Hệ số di truyền là 0,13, 0,15 và 0,12 Hiệu quả chọn lọc là 1,93, 2,02 và 1,56 quả (bảng 4)
Kết quả chọn lọc gà GT4 đến thế hệ 3 hệ số biến dị về năng suất trứng đàn trước chọn là 17,69%, so với thế hệ 2 đã giảm 1,59%, so với THXP và thế hệ 1 giảm 6,72-7,47% Hệ
số di truyền và hiệu quả chọn lọc thế hệ 3 (0,12 và 1,56 quả) giảm so với thế hệ 2 (0,15 và 2,02 quả), điều này là hoàn toàn phù hợp với quy luật chọn lọc, càng chọn lọc thì hệ số biến dị năng suất trứng của đàn gà giảm dần, vì vậy hệ số di truyền và hiệu quả chọn lọc về năng suất trứng thế hệ 3 đã giảm hơn so với thế hệ 2 Điều đó chứng tỏ đàn gà chọn tạo qua 3 thế hệ đã dần đi vào ổn định
Từ kết quả nghiên cứu hệ số di truyền về năng suất trứng
ở thế hệ 2 và 3 trên gà GT4 là 0,12-0,15 so với kết quả nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cs (2010) [5] cho biết
hệ số di truyền về năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi ở thế hệ
2 và 3 dòng TP1 là 0,13-0,14, dòng TP2 là 0,16-0,17 Như vậy hệ số di truyền về năng suất trứng gà GT4 hoàn toàn phù hợp
Bảng 4 Chọn lọc năng suất trứng ở 38 tuần tuổi của gà GT4.
Chỉ tiêu THXP Thế hệ 1 Thế hệ 2 Thế hệ 3
Đàn trước chọn
Số lượng (con) 380 300 469 400 Năng suất trứng (quả) 83,68 90,1 90,40 91,76
Hệ số biến dị (CV) (%) 25,16 24,41 19,28 17,69
Đàn sau chọn
Số lượng (con) 200 152 222 200 Năng suất trứng (quả) 98,73 104,96 103,84 104,80
Hệ số biến dị (CV) (%) 10,52 7,49 7,01 6,43
Áp lực chọn lọc (P) (%) 52,63 50,67 47,33 50,00
Ly sai chọn lọc (S) (quả) 15,05 14,86 13,43 13,04 Cường độ chọn lọc (i) 0,71 0,68 0,77 0,80
Hệ số di truyền h 2 (B+M) 0,13 0,15 0,12 Hiệu quả chọn lọc (Re) (quả) 1,93 2,02 1,56
Trang 31Hệ số di truyền về năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi gà
GT các thế hệ là 0,12-0,21, phù hợp với kết quả nghiên cứu
của các tác giả trên thế giới Cụ thể, Pencheva (1974) xác
định hệ số di truyền của năng suất trứng 3 tháng đẻ đầu là
0,22, Nikolov và cs (1976) (dẫn theo Nguyễn Văn Đức và cs
2006) [1] công bố hệ số di truyền của năng suất trứng ở hai
dòng gà là 0,19 và 0,27, Ayoub và Merat (1975) [4] công bố
0,47; Syvasamy và cs (1976) (dẫn theo Nguyễn Văn Đức và
cs 2006) [1] công bố là 0,14
Khả năng sinh sản của các dòng gà GT
Khả năng sinh sản của các dòng gà GT1:
Kết quả nghiên cứu ở bảng 5 cho thấy, tuổi đẻ 5% gà
GT1 tương đối ổn định qua các thế hệ, dao động trong
135-138 ngày Đến 38 tuần tuổi khối lượng gà mái GT1, khối
lượng trứng qua các thế hệ đạt tương ứng 1851-1855,67 g
Năng suất trứng/mái/68
tuần tuổi quả 230,79c 237,75b 246,54a 247,43a
Tiêu tốn thức ăn/10
trứng kg 1,91 1,82 1,74 1,74
Tỷ lệ phôi % 96,21 96,41 96,55 96,69
Tỷ lệ nở/tổng trứng ấp % 78,84 79,39 79,41 80,12
Ghi chú: Theo hàng ngang, các giá trị trung bình mang các chữ cái
khác nhau thì sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi gà GT1 đạt 230,79 quả
ở THXP; 237,75 quả ở thế hệ 1; 246,54 quả ở thế hệ 2 và
247,43 quả ở thế hệ 3 So với năng suất trứng đến 68 tuần
tuổi của mái B Tetra nuôi tại Việt Nam đạt 240,81 quả thì gà
Khả năng sinh sản của các dòng gà GT2:
Kết quả ở bảng 6 cho thấy: Gà GT2 qua các thế hệ có
tuổi đẻ 5% trong khoảng 134-139 ngày Đến 38 tuần tuổi
khối lượng gà mái GT2 là 1859,67-1866,67 g, khối lượng
trứng 54,25-54,85 g
Bảng 6 Khả năng sinh sản của dòng gà GT2.
Chỉ tiêu ĐVT THXP hệ 1 Thế Thế hệ 2 Thế hệ 3
Tuổi đẻ 5% ngày 139 137 136 134 Khối lượng gà 38
tuần tuổi (n = 30) g 1860,17 1859,67 1863,67 1866,67Khối lượng trứng 38
tuần tuổi (n = 100) g 54,85 54,25 54,33 54,74Năng suất trứng/
mái/68 tuần tuổi quả 233,05c 236,72b 245,47a 246,48aTiêu tốn thức ăn/10
trứng kg 1,89 1,83 1,76 1,75
Tỷ lệ phôi % 95,01 95,42 96,73 97,29
Tỷ lệ nở/tổng trứng
ấp % 80,01 80,33 80,57 81,36Ghi chú: Theo hàng ngang, các giá trị trung bình mang các chữ cái khác nhau thì sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi gà GT2 đạt 233,05 quả
ở THXP; 236,72 quả ở thế hệ 1; 245,47 quả ở thế hệ 2 và 246,48 quả ở thế hệ 3 (đạt mục tiêu đề tài) So với năng suất trứng đến 68 tuần tuổi của mái B Tetra nuôi tại Việt Nam đạt 240,81 quả thì gà GT2 ở thế hệ 2 đạt 101,94%, so với
gà HA1 thì gà GT2 đạt 109,22%, so với gà HA2 thì gà GT2 đạt 111,86%
Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng qua các thế hệ gà GT2 là 1,75-1,89 kg Tỷ lệ phôi đạt trung bình 95,01-97,29%, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp 80,01-81,36%
Khả năng sinh sản của các dòng gà GT3:
Bảng 7 Khả năng sinh sản của dòng gà GT3.
Chỉ tiêu ĐVT THXP Thế hệ 1 Thế hệ 2 Thế hệ 3
Tuổi đẻ 5% ngày 135 137 137 135 Khối lượng gà 38 tuần
tuổi (n = 30) g 1844,7 1843,3 1848,3 1851,33Khối lượng trứng 38
tuần tuổi (n = 100) g 54,08 54,30 54,40 54,50Năng suất trứng/
mái/68 tuần tuổi quả 236,17c 240,06b 243,76a 244,38aTiêu tốn thức ăn/10
trứng kg 1,86 1,80 1,77 1,77
Tỷ lệ phôi % 96,05 96,16 96,93 96,92
Tỷ lệ nở/tổng trứng ấp % 79,14 79,7 80,78 81,45 Ghi chú: Theo hàng ngang, các giá trị trung bình mang các chữ cái khác nhau thì sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Trang 32Qua 4 thế hệ gà GT3 có tuổi đẻ 5% ổn định, trong khoảng
từ 135-137 ngày Đến 38 tuần tuổi khối lượng gà mái GT3 là
1843,30-1851,33 g, khối lượng trứng đạt 54,08-54,50 g (p >
0,05) Năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi gà GT3 đạt 236,17
quả ở THXP; 240,06 quả ở thế hệ 1; 243,76 quả ở thế hệ 2
và 244,38 quả ở thế hệ 3 (đạt mục tiêu đề tài) So với năng
suất trứng đến 68 tuần tuổi của mái D Tetra nuôi tại Việt
Khả năng sinh sản của các dòng gà GT4:
Kết quả bảng 8 cho thấy, gà GT4 qua các thế hệ: Tuổi đẻ
5% là 136-138 ngày Đến 38 tuần tuổi gà GT4 có khối lượng
cơ thể là 1834,67-1842,67 g, khối lượng trứng 54,06-54,94
g So với khối lượng gà nguyên liệu mái D Tetra lúc 38
tuần tuổi là 1832,67 g thì khối lượng gà mái GT4 đạt tương
đương (p > 0,05)
Năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi gà GT4 đạt 231,84
quả ở THXP; 238,89 quả ở thế hệ 1; 241,54 quả ở thế hệ 2
và 242,07 quả ở thế hệ 3 (đạt mục tiêu đề tài) So với năng
suất trứng đến 68 tuần tuổi của mái D Tetra nuôi tại Việt
Ghi chú: Theo hàng ngang, các giá trị trung bình mang các chữ cái
khác nhau thì sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Kết quả bảng 8 cũng cho thấy, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng qua các thế hệ gà GT4 là 1,78-1,89 kg Tỷ lệ phôi đạt trung bình 95,53-98,02%, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp 80,38-82,66%
So với kết quả nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cs (2010) [5] ở thế hệ 2 trên hai dòng gà HA từ 2,01-2,12 kg thì tiêu tốn thức ăn của gà GT là thấp hơn Theo Phùng Đức Tiến và cs (2010) [5] gà HA1 năng suất trứng/mái/72 tuần tuổi đạt 232,88-234,73 quả; gà HA2 là 229,15-229,48 quả thì năng suất trứng gà GT4 đều cao hơn
vị Haugh tương đối cao (86,76-87,95) Phùng Đức Tiến và
cs (2010) [5] cho biết, gà HA1 có tỷ lệ lòng đỏ đạt 31,18%, HA2 là 31,45% Theo Trần Kim Nhàn và cs (2010) [6] cho biết, gà VGA có tỷ lệ lòng đỏ đạt 28,92%, gà AVG là 28,36%, đơn vị Haugh lần lượt là 90,79 và 90,19 Kết quả
về tỷ lệ lòng đỏ trứng gà GT trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn gà HA1, HA2, nhưng lại cao hơn gà VGA và AVG
Kết luận
- Gà GT1: Đặc điểm màu lông nâu cánh gián đạt 100% đối với gà trống và màu lông nâu 88,66% đối với gà mái Năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi 247,43 quả (đạt mục tiêu
đề tài), tỷ lệ phôi đạt 96,21-96,69%, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp 78,84-80,12%
- Gà GT2: Đặc điểm màu lông nâu cánh gián đạt 100% đối với gà trống và màu lông nâu vành nhạt có đốm đen 79,48%
Trang 33đối với gà mái Năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi 246,48 quả
(đạt mục tiêu đề tài), tỷ lệ phôi đạt 95,01-97,29%, tỷ lệ nở/
tổng trứng ấp 80,01-81,36%
- Gà GT3: Đặc điểm màu lông trắng đồng nhất Năng suất
trứng/mái/68 tuần tuổi 244,38 quả (đạt mục tiêu đề tài), tỷ lệ
phôi đạt 96,05-96,93, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp 79,14-81,45%
- Gà GT4: Đặc điểm màu lông trắng đồng nhất Năng suất
trứng/mái/68 tuần tuổi 242,07 quả (đạt mục tiêu đề tài), tỷ lệ
phôi đạt 95,53-98,02%, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp 80,38-82,66%
Tiếp tục nghiên cứu chọn lọc ổn định 4 dòng gà chuyên
trứng cao sản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Văn Đức, Trần Long, Giang Hồng Tuyến (2006), Cơ sở di
truyền và thống kê ứng dụng trong công tác giống gia cầm, Nhà xuất bản
Nông nghiệp.
[2] Phùng Đức Tiến, Nguyễn Quý Khiêm, Lê Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Mười, Đào Thị Bích Loan, Phạm Thùy Linh (2010), “Chọn tạo 4 dòng gà lông
màu hướng thịt TP1, TP2, TP3, TP4 qua 4 thế hệ”, Tuyển tập báo cáo khoa
học, Hội nghị khoa học Viện Chăn nuôi.
[3] V Pencheva (1974), “Genetic parameters of some production
characters of Cornish fowl”, Zhivodnov Dni Nauki, 11(5), pp.69-78.
[4] H Ayoub, P Merat (1975), “Combo Wattle size of 10 week old
cockerels as an indicator of sexual maturity in selection for egg production”,
Gen Sel Anim., 7(2), pp.91-96.
[5] Phùng Đức Tiến, Nguyễn Thị Mười, Phạm Thùy Linh và cs (2010),
“Kết quả nghiên cứu chọn tạo 2 dòng gà hướng trứng HA1, HA2”, Tuyển tập
báo cáo khoa học, Hội nghị khoa học Viện Chăn nuôi.
[6] Trần Kim Nhàn, Phạm Công Thiếu, Vũ Ngọc Sơn, Hoàng Văn Tiệu,
Diêm Công Tuyên, Nguyễn Thị Thúy và Nguyễn Thị Hồng (2010), “Năng suất
và chất lượng trứng gà lai giữa gà VCN - G15 với gà Ai Cập“, Tạp chí Khoa
học công nghệ chăn nuôi, 26, tr.26-34.
Trang 34Đặt vấn đề
Cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus Linnaeus, 1766) hay
còn gọi là cá Đù đỏ có tên tiếng Anh là Red drum là loài cá
rộng muối, rộng nhiệt, phân bố ở Bắc Mỹ [1] Đây là loài
dễ nuôi, sinh trưởng nhanh và có giá trị kinh tế nên đã phát
triển nuôi ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc,
Việt Nam… [2-7]
Để tận dụng tối đa hiệu quả của hệ thống ương, người
nuôi thường nâng cao mật độ ương, điều này sẽ dẫn đến sự
cạnh tranh về không gian sống, thức ăn, ảnh hưởng đến mức
độ phân đàn, dẫn đến sự ăn thịt lẫn nhau trong quần đàn ở
các loài cá dữ và làm cho tỷ lệ sống thấp [8] Đã có một số
nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ ương đến sinh trưởng
và tỷ lệ sống của một số loài cá khác nhau ương trong hệ
thống bể thí nghiệm và lồng trên biển như cá chẽm châu
Âu [9], cá mú chấm cam [10], cá chẽm mõm nhọn [11], cá
chẽm [12], cá chim vây vàng [13] Những thông tin này sẽ
là cơ sở cho các nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng tương tự
trên các đối tượng khác nuôi trong mô hình khác nhau
Hiện nay, nước ta đã sản xuất giống cá hồng Mỹ thành
công ở quy mô lớn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu của
người nuôi [4, 14] Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao khi sản
xuất giống thì bên cạnh việc quản lý thức ăn, kích cỡ cá,
dịch bệnh, vấn đề nghiên cứu xác định mật độ ương phù hợp
cũng rất cần thiết
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại
Trại sản xuất giống hải sản Đường Đệ (phường Vĩnh Hòa,
TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) trên đối tượng cá hồng Mỹ
(Sciaenops ocellatus Linnaeus, 1766) giai đoạn ấu trùng
ăn thức ăn công nghiệp vào lúc 7, 11, 14, 17 và 21h Khi
cá sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp thì kết thúc thí nghiệm (30 ngày) Chất lượng nước trong bể ương được kiểm soát thông qua việc siphon, thay nước, các thông số môi trường được kiểm tra hàng ngày để hiệu chỉnh Các chỉ tiêu xác định gồm sinh trưởng, phân đàn và tỷ lệ sống Các
Ảnh hưởng của mật độ ương đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ
(Sciaenops ocellatus Linnaeus, 1766) từ giai đoạn ấu trùng lên cá giống
Ngô Văn Mạnh 1* , Lại Văn Hùng, Hoàng Thị Thanh
Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang
Ngày nhận bài 31/5/2017; ngày chuyển phản biện 5/6/2017; ngày nhận phản biện 3/7/2017; ngày chấp nhận đăng 12/7/2017
Tóm tắt:
Hai thí nghiệm với hai giai đoạn (ấu trùng và cá giống) được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ Thí nghiệm giai đoạn 1 thả nuôi với mật độ 20, 30, 40 và 50 ấu trùng/l, thời gian thí nghiệm được kéo dài trong 30 ngày Kết quả cho thấy, mật độ nuôi ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống giai đoạn này (p < 0,05) Sinh trưởng, tỷ lệ sống thấp nhất ở mật độ ương 50 con/l và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mật độ 20 đến 40 con/l Ở giai đoạn 2, cá giống cỡ 21,9 mm, khối lượng 0,14 g được nuôi với các mật độ 2, 2,5, 3, 3,5 và 4 con/l trong 28 ngày cho thấy, sinh trưởng và tỷ lệ sống ảnh hưởng bởi mật đô ương và mật
độ ương phù hợp nhất ở giai đoạn này là 3,5 con/l.
Từ khóa: Ấu trùng, cá giống, cá hồng Mỹ, mật độ nuôi, Sciaenops ocellatus.
Chỉ số phân loại: 4.5
* Tác giả liên hệ: Tel: 0914252987; Email: manhnv@ntu.edu.vn