1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Số 11A năm 2017

68 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 14,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Số 11A năm 2017 cung cấp đến các bạn một số bài viết: Giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước và phòng chống thiên tai vùng đồng bằng sông Cửu Long; NATIF chủ động đồng hành và tháo gỡ khó khăn cùng các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Thúc đẩy chuyển giao, khai thác sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch...

Trang 4

PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

PGS.TS Phạm Văn Đức

GS.TSKH Vũ Minh Giang

PGS.TS Triệu Văn Hùng

GS.TS Phạm Gia Khánh

GS.TS Phạm Thanh Kỳ

GS.TS Phạm Hùng Việt

Nguyễn Thị Hải HằngNguyễn Thị Hương Giang

trưởng ban biên tập

Phạm Thị Minh Nguyệt

giấy pHép xuất bản

Số 1153/GP-BTTTT ngày 26/7/2011Số 2528/GP-BTTTT ngày 26/12/2012Số 592/GP-BTTTT ngày 28/12/2016

CHÍNH SÁCH VÀ QUẢN LÝ

4 Trần Quốc Khánh, Lê Văn Chính: KH&CN ứng phĩ với biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL.

9 Nguyễn Ngọc Trân: Định hình phát triển bền vững ĐBSCL.

12 Đào Xuân Học: Giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước và phịng chống thiên tai vùng ĐBSCL.

15 Nguyễn Văn Tài: Đầu tư vào vốn và cơ sở hạ tầng tự nhiên - Mơ hình phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí

hậu tại vùng ĐBSCL

18 Nguyễn Minh Quang, James Borton…: ĐBSCL trước thách thức BĐKH: Những bài học và hướng tiếp cận.

KHOA HỌC - CƠNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI

21 l NATIF chủ động đồng hành và tháo gỡ khĩ khăn cùng các doanh nghiệp vừa và nhỏ

24 Trần Thị Thu Hà: Chương trình 592 gĩp phần bảo tồn và phát triển cây thuốc quý cĩ giá trị kinh tế cao.

26 Nguyễn Hữu Xuyên, Phạm Ngọc Hiếu: Thúc đẩy chuyển giao, khai thác sáng chế trong lĩnh vực cơng nghệ sau thu

hoạch

29 Nguyễn Tuấn Anh: Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nơng thơn mới với phát triển nơng nghiệp bền vững và

phịng chống thiên tai ở ĐBSCL

33 Đặng Xuân Thường, Nguyễn Phú Duyên…: Xử lý nước suối thành nước sạch bằng cơng nghệ siêu lọc kết hợp vật

liệu đa năng

ĐỊA PHƯƠNG

35 l Bộ KH&CN hỗ trợ địa phương xử lý sâm Ngọc Linh giả

38 Trần Thế Dũng: Thái Bình và những kết quả bước đầu trong phát triển thị trường KH&CN

41 l Bạc Liêu: Xây dựng mơ hình sản xuất nấm phục vụ chế biến thực phẩm chức năng

NHÌN RA THẾ GIỚI

45 l Giải Nobel năm 2017 và các chủ nhân

49 l Tổng hợp nano bạc từ chiết xuất nha đam

DIỄN ĐÀN

52 Trần Mỹ Hải Lộc, Hồng Sơn Giang: Vị thế của Việt Nam trong việc đảm bảo an ninh lương thực tồn cầu.

56 Nguyễn Hữu Đức: Đại học định hướng đổi mới sáng tạo trong bối cảnh cách mạng cơng nghiệp 4.0.

59 Lương Văn Thường, Trần Quốc An: Phát triển thị trường cơng nghệ trong lĩnh vực nơng nghiệp.

62 Hồng Xuân Cơ, Đặng Thị Hải Linh…: Phát triển các dự án điện giĩ nối lưới ở Việt Nam.

In tại Công ty TNHH in và DVTM Phú Thịnh

Giá: 18.000đ

Mục lục

Trang 5

POLICY AND MANAGEMENT

4 Quoc Khanh Tran, Van Chinh Le: Science and technology to respond to climate change in the Mekong River Delta.

9 Ngoc Tran Nguyen: Shaping the sustainable development of the Mekong River Delta.

12 Xuan Hoc Dao: Integrated management solution to water resources and natural disaster prevention in the Mekong

River Delta

15 Van Tai Nguyen: Investment in natural capital and infrastructure - a model for sustainable development, adaptation

to climate change in the Mekong River Delta

18 Minh Quang Nguyen, James Borton…: The Mekong River Delta to face climate change challenges: Lessons and approaches

SCIENCE - TECHNOLOGY AND INNOVATION

21 l NATIF actively accompanies and solves difficulties with small and medium enterprises

24 Thi Thu Ha Tran: The 592 Program contributes to conservation and development of precious medicinal plants with

high economic values

26 Huu Xuyen Nguyen, Ngoc Hieu Pham: Promoting the transfer and exploitation of inventions in the field of

post-harvest technology

29 Tuan Anh Nguyen: The program on new rural development in Vietnam in terms of sustainable agricultural

development and disaster prevention in the Mekong River Delta

33 Xuan Thuong Dang, Phu Duyen Nguyen…: Treatment of stream water into clean water by super filtration technology

in combination with multipurpose materials

LOCAL

35 l The Ministry of Science and Technology supports to treat counterfeit Ngoc Linh ginseng

38 The Dung Tran: Thai Binh and the initial results of developing the science and technology market.

41 l Bac Lieu: Building mushroom production models for functional food processing

LOOK AT THE WORLD

45 l Nobel Prize in 2017 and the laureates

49 l Synthesis of silver nanoparticles in aloe vera extract

SCIENTIFIC AND TECHNOLOGICAL FORUM

52 My Hai Loc Tran, Son Giang Hoang: Vietnam’s position in ensuring global food security.

56 Huu Duc Nguyen: Innovation-orientated university in the context of industrial revolution 4.0

59 Van Thuong Luong, Quoc An Tran: The technology market development in the agricultural sector.

62 Xuan Co Hoang, Thi Hai Linh Dang…: Developing the grid-connected wind power projects in Vietnam

eDitorial council

Prof.Dr.Sc Academician Nguyen Van Hieu

Prof Dr Bui Chi Buu

Assoc.Prof Dr.Sc Nguyen Van Cu

Prof Dr.Sc Nguyen Dinh Duc

Assoc.Prof Dr Pham Van Duc

Prof Dr.Sc Vu Minh Giang

Assoc.Prof Dr Trieu Van Hung

Prof Dr Pham Gia Khanh

Prof Dr Pham Thanh Ky

Prof Dr Pham Hung Viet

eDitor - in - cHiefDang Ngoc BaoDeputy eDitorNguyen Thi Hai HangNguyen Thi Huong GiangHeaD of eDitorial boarDPham Thi Minh NguyetHeaD of aDministrationLuong Ngoc Quang Hungart Director

Dinh Thi Luan

office

113 Tran Duy Hung - Trung Hoa ward - Cau Giay dist - Ha Noi Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794

Email: khcnvn@most.gov.vn Website: khoahocvacongnghevietnam.com.vn

Trang 6

ĐBSCL là một trong

những vùng đồng bằng

màu mỡ và có sản

lượng nông sản lớn nhất

khu vực Đông Nam Á và đứng đầu

Việt Nam, đóng góp 54% sản lượng

lúa, 70% lượng thủy sản nuôi trồng,

36,5% lượng trái cây, cung cấp 90%

sản lượng lúa gạo và 65% sản lượng

thuỷ sản xuất khẩu của cả nước

Nhiều mặt hàng nông sản của vùng

đồng bằng này đã có mặt và được ưa

chuộng tại nhiều nơi trên thế giới

Tuy nhiên, ĐBSCL là một trong

bốn đồng bằng bị tác động mạnh

nhất của BĐKH, NBD Nơi đây đã,

đang và sẽ phải đối mặt với nhiều

tác động nghiêm trọng do BĐKH,

NBD Chính vì vậy, trong thời gian

qua, nhiều chương trình nghiên cứu

KH&CN phục vụ phát triển kinh tế -

xã hội (KT-XH), ứng phó với BĐKH,

phòng chống thiên tai, bảo vệ môi

trường, sử dụng hợp lý tài nguyên

thiên nhiên ở ĐBSCL đã được triển

khai Kết quả của các chương trình,

nhiệm vụ KH&CN đã đóng góp thiết

thực trong việc thích ứng với BĐKH

Để phòng tránh giảm nhẹ thiên tai trong bối cảnh BĐKH, việc hoàn thiện và phát triển mạng lưới quan

trắc KTTV đã được nghiên cứu chi tiết trong một số nhiệm vụ KH&CN Kết quả đánh giá hiện trạng mạng lưới quan trắc, công tác dự báo và truyền tin KTTV, hải văn đã chỉ ra mật độ trạm quan trắc còn thưa, với công nghệ quan trắc tại trạm còn khá thủ công, lạc hậu nên chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác dự báo thiên tai trong bối cảnh BĐKH

Số trạm KTTV tại ĐBSCL hiện có

là 06 và được đề xuất bổ sung thêm

05 trạm để nâng cao khả năng giám

KH&CN ứng phó với biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL

Trần Quốc Khánh, Lê Văn Chính

Bộ KH&CN

Cuối tháng 9 vừa qua, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Đây là Hội nghị đầu tiên được tổ chức với quy mô lớn để xem xét, đánh giá một cách toàn diện các thách thức, yêu cầu phát triển đặt ra đối với ĐBSCL - một vùng đất giàu tiềm năng nhưng nhạy cảm trước các tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (NBD) Dưới góc độ khoa học và công nghệ (KH&CN), đã có rất nhiều chương trình nghiên cứu về vùng đất này được triển khai thực hiện và đạt được những kết quả xuất sắc; các giải pháp, mô hình là kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ KH&CN đã góp phần quan trọng vào việc ứng phó với BĐKH của vùng đất non trẻ này.

Trang 7

sát BĐKH trong thời gian tới Ngoài

ra, thông tin KTTV là rất cần thiết và

quan trọng trong các bước của quá

trình quản lý rủi ro thiên tai trong cả

ứng phó ngắn hạn và dài hạn Vì vậy,

các kết quả nghiên cứu đã làm rõ vai

trò của thông tin KTTV trong ứng phó

BĐKH và kiến nghị thiết lập mạng lưới

giám sát khí hậu là căn cứ cho các

nghiên cứu để giám sát và phát hiện

một cách kịp thời và chính xác hơn

sự biến đổi của khí hậu Bên cạnh đó,

công nghệ viễn thám đã được nghiên

đòi hỏi phải luôn được cập nhật và

nâng cao độ tin cậy để xây dựng các

chương trình ứng phó phù hợp Kết

quả nghiên cứu đã xây dựng, cập

nhật, nâng cao độ tin cậy kịch bản

BĐKH của Việt Nam nói chung và

ĐBSCL nói riêng Kết quả xây dựng

kịch bản BĐKH cho Việt Nam theo

Nhiệt độ trung bình năm đều có

xu thế tăng trên phạm vi cả nước (1,2

- > 4oC), xu thế tăng nhiệt độ ở các

vùng khí hậu phía Bắc nhanh hơn

các vùng khí hậu phía Nam và khu vực ven biển tăng chậm hơn so với các khu vực đồng bằng và miền núi

Lượng mưa năm trên toàn quốc vào giữa thế kỷ XXI thay đổi từ -5 đến 15%, đến cuối thế kỷ XXI thay đổi từ -5 đến 10%; ở Bắc Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và một phần nhỏ Bắc Bộ lượng mưa có xu hướng giảm -5 đến 10%, còn các vùng Bắc Trung Bộ, một phần Tây Nam Tây Nguyên và Nam Bộ lượng mưa tăng khoảng 5-10% Kết quả dự tính kịch bản NBD cho các khu vực ven biển Việt Nam, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

và toàn vùng biển Việt Nam vào cuối thế kỷ XXI cho thấy, các dự báo mực NBD đối với Việt Nam vào cuối thế kỷ XXI là tương tự và cao hơn một chút

so với ước tính toàn cầu trong báo cáo AR5 của Ủy ban liên chính phủ

về BĐKH Trong đó, các tỉnh ĐBSCL

có nguy cơ ngập cao nhất là Bến Tre,

Cà Mau và Kiên Giang, khu vực chịu ảnh hưởng thấp nhất là An Giang và Đồng Tháp

Đánh giá tác động, tổn thương

do BĐKH làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp ứng phó phù hợp

Các nhiệm vụ KH&CN đã tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi tài nguyên nước, xâm nhập mặn, biến động đường bờ; tác động đến một số cây trồng chủ lực (lúa, ngô, đậu tương, mía); bùng phát sâu, bệnh hại mới trên một số cây trồng nông nghiệp có giá trị kinh tế cao;

ảnh hưởng của BĐKH tới sức khỏe, bệnh tật của người dân và đề xuất giải pháp y sinh học khắc phục

Nghiên cứu dòng chảy đến và diễn biến mặn ở ĐBSCL; đánh giá những tiềm tàng của BĐKH ở ĐBSCL gồm: Thiếu hụt nguồn nước, ngập lụt tác động đến quỹ đất (theo các mức ngập ≥ 0,25 m, ≥ 0,75 m, ≥ 1,5 m)

và dòng chảy theo mùa; xây dựng bản đồ ngập đối với các loại đất; xác định được diễn biến hạn hán, ngập lụt vùng ĐBSCL trong những năm gần đây Đồng thời xác định được sự suy giảm dòng chảy trong mùa cạn tổng cộng vào ĐBSCL có thể giảm tới

30 tỷ m3 nước Ngược lại, dòng chảy trong mùa lũ sẽ làm tăng diện tích ngập lụt, ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng đất của các ngành kinh tế Khi mực NBD 9 cm vào năm 2020, diện tích ngập khoảng hơn 2 triệu ha trong kịch bản A2 và B2 (A2 - kịch bản phát thải cao, B2 - kịch bản phát thải trung bình), chiếm khoảng 56% tổng diện tích ĐBSCL Vào năm 2050, khi mực NBD 26 cm thì diện tích ngập khoảng 2,6 triệu ha cho kịch bản A2 và B2, chiếm 67% tổng diện tích ĐBSCL.Tác động của xu thế diễn biến mặn theo không gian và thời gian

ở ĐBSCL phụ thuộc vào dòng chảy

từ thượng nguồn và phân phối dòng chảy giữa các nhánh sông, thủy triều, lượng mưa mùa cạn và bốc hơi nội đồng, tình hình khai thác, sử dụng nước cho sản xuất và đời sống Từ

đó, đánh giá sự thay đổi của xâm nhập mặn ở hạ lưu sông Mê Kông theo hai kịch bản phát thải:

- Theo kịch bản A2, chiều dài xâm nhập mặn của độ mặn 1‰ tăng từ 4,6 đến 9,9 km và của độ mặn 4‰ tăng từ 4,2 đến 9,5 km, trong đó mức tăng trên sông Mỹ Tho cao nhất

- Theo kịch bản B2, mức tăng chiều dài xâm nhập mặn của độ mặn 1‰ và 4‰ xấp xỉ so với kịch bản A2

- Trong 50 năm tới, khoảng 47% diện tích của ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng bởi độ mặn 4‰ và có tới 64% diện tích bị ảnh hưởng bởi độ mặn 1‰ Hầu hết bán đảo Cà Mau bị nhiễm

Xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng ở ĐBSCL.

Trang 8

mặn, trừ một phần phía Tây sông

Hậu Phân tích diễn biến mặn trong

nhiều năm cho thấy sự giảm lưu

lượng dòng chảy từ thượng lưu đổ

về có ảnh hưởng quyết định đến độ

lớn và chiều dài xâm nhập mặn, ảnh

hưởng trên diện rộng ở ĐBSCL

Kết quả nghiên cứu đã làm rõ

hiện trạng biến động bờ biển, nguyên

nhân gây ra và xu thế biến động bờ

biển trong mối quan hệ với NBD ở

ven biển như: Tiền Giang, Bến Tre,

Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà

Mau, Kiên Giang Biến động bờ biển

của các tỉnh ĐBSCL từ năm 1965 đến

năm 2010 do ảnh hưởng của BĐKH

và NBD thể hiện rất phức tạp bởi quá

trình bồi tụ và xói lở Tốc độ xói lở cao

nhất lên tới 126,6 m/năm với bờ có

cấu tạo bùn sét (phía bắc huyện An

Minh, tỉnh Kiên Giang) và thấp nhất

với bờ có cấu tạo đá cát kết (0,05 m/

năm ở Mũi Nai, Kiên Giang) Tốc độ

bồi tụ lớn nhất là 67,8 m/năm ở bờ

biển huyện Ba Tri, Bến Tre và 66,0 m/

năm ở xã Viên An, huyện Ngọc Hiển,

Cà Mau Trong những năm tới, xói lở

bờ biển tiếp tục có xu thế gia tăng là

do NBD, trong đó, một số đoạn xung

yếu như: Duyên Hải (Trà Vinh), Gành

Hào (Bạc Liêu), Trần Văn Thời (Cà

Mau) và An Minh (Kiên Giang) Tại

các vị trí này, đã đưa ra xu thế giật

lùi đường bờ biển so với hiện nay vào

các năm 2020, 2030 và 2050 theo

các kịch bản NBD Xói lở đã gây ảnh

hưởng lớn đến phát triển kinh tế và

đời sống của các cộng đồng dân cư

động trực tiếp của BĐKH như bệnh

phổi và bệnh lao phổi, bệnh hen,

bệnh tâm thần, bệnh cao huyết áp

là xương khớp, thần kinh và đường hô hấp Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, các giải pháp nâng cao sức khỏe cộng đồng và ứng phó với BĐKH đã được đề xuất bao gồm: Xây dựng các tài liệu truyền thông về các bệnh liên quan với BĐKH, các giải pháp ứng phó, tài liệu hướng dẫn dự phòng, cấp cứu, điều trị khi xảy ra dịch bệnh, tai nạn thương tích hàng loạt

Xây dựng các mô hình, giải pháp thích ứng với BĐKH ở ĐBSCL

Giải pháp thích ứng

Hầu hết các nghiên cứu đều đề xuất các giải pháp thích ứng BĐKH khác nhau cho các khu vực cụ thể, trong đó có một số nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp thích ứng BĐKH phù hợp với ĐBSCL cụ thể như sau:

Về quản lý nhà nước: Việc xây

dựng bộ chỉ số nhằm theo dõi và đánh giá mức độ hiệu quả của các chính sách và hoạt động thích ứng với BĐKH, áp dụng bộ chỉ số trong quản lý thực hiện các hoạt động thích ứng trở nên quan trọng để giám sát

và thực thi các hoạt động thích ứng BĐKH Bộ chỉ số thích ứng BĐKH gồm các chỉ số về chống chịu của môi trường tự nhiên; bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH; bộ chỉ số giảm nhẹ rủi ro do BĐKH; bộ chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động thích ứng với BĐKH Đã áp dụng bộ chỉ số thích ứng BĐKH ở Cần Thơ

cho thấy khả năng chống chịu của môi trường tự nhiên ở mức “thấp”; tính

dễ bị tổn thương ở mức “trung bình”; khả năng giảm nhẹ rủi ro do BĐKH dao động từ “thấp” đến “trung bình” Trên cơ sở đó, các giải pháp nâng cao khả năng thích ứng BĐKH cho thành phố Cần Thơ được đề xuất gồm: Tăng diện tích không gian xanh, xây dựng các khu vực trữ nước, cứu ngập kết hợp làm công viên đất ngập nước và bảo tồn đa dạng sinh học, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học

Đối với nuôi trồng thủy sản: Kết

quả nghiên cứu đã chỉ ra phân vùng sinh thái thích nghi với BĐKH trong nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL, gồm

5 tiểu vùng sinh thái đối với hệ sinh thái biển và bãi triều, 6 tiểu vùng sinh thái đối với vùng nội địa và phân định chức năng cho các tiểu vùng Xây dựng được bộ công cụ hỗ trợ hiệu quả cho các cơ quan quản lý, cụ thể

là phần phềm GIS-AQUA cho phép

dễ dàng lựa chọn các tiêu chí, trọng

số đầu vào để tạo ra các bản đồ khác nhau khi đánh giá tổn thương và phân vùng sinh thái trong nuôi trồng thủy sản

Đối với nông nghiệp: Nghiên

cứu mô hình canh tác thích ứng với BĐKH trên vùng đất phèn ở ĐBSCL

đã làm rõ các vấn đề sau: Ảnh hưởng của bón phân NPK đến sinh trưởng, năng suất lúa trên đất phèn ĐBSCL; ảnh hưởng của bón lân trộn

“dicarboxylic acid polyme” đến năng suất lúa trên đất phèn ĐBSCL (đã tăng hiệu quả của lân để tăng năng suất lúa); ảnh hưởng của một số hợp chất lên khả năng chống chịu mặn của lúa trên đất nhiễm mặn, các hợp chất thử nghiệm cho kết quả tốt về tăng năng suất lúa dưới điều kiện đất

bị nhiễm mặn gồm phun KNO3, bón CaO kết hợp phun Brassinosteriods.Tương tự, quy trình kỹ thuật canh tác và bảo vệ đất cho các cây trồng chủ lực (lúa, lạc và mía) để nâng cao khả năng thích ứng cũng đã được nghiên cứu và đánh giá ở khu vực

Trang 9

ĐBSCL Các mô hình ứng dụng các

biện pháp kỹ thuật canh tác và bảo

vệ đất dưới tác động của BĐKH đã

được thực hiện ở các tỉnh Kiên Giang

và Long An Các mô hình này có

thể triển khai nhân rộng ra các vùng

khác của ĐBSCL

Đối với giao thông vận tải: Đã

nghiên cứu công nghệ neo trong đất

để gia cố đê biển, làm nền đường ô

tô Cơ sở khoa học và mô hình tính

toán của nghiên cứu này có thể triển

khai mở rộng để nâng cao khả năng

ứng phó với BĐKH của hệ thống đê

biển và đường giao thông ven biển ở

ĐBSCL

Đối với công trình phòng chống

lũ: Xây dựng được bộ tiêu chí về mức

hiểm họa, vỡ đập, vỡ đê biển trong

điều kiện BĐKH, NBD, phương pháp

tính toán thiết kế lũ và mực nước thiết

kế đê biển trong điều kiện BĐKH,

NBD cùng tài liệu hướng dẫn; đề

xuất được các giải pháp phòng tránh,

giảm nhẹ thiệt hại do các sự cố công

trình gây ra dưới tác động của BĐKH,

NBD (giải pháp công trình và phi

công trình)

Đối với đô thị: Đã đưa ra các giải

pháp xây dựng và triển khai mô hình

đô thị ven biển có khả năng thích ứng

với BĐKH ở Việt Nam bằng bộ chỉ số

Trước tác động của BĐKH, giải pháp thích ứng đóng vai trò quan trọng đối với cộng đồng địa phương, đặc biệt là các vùng đất thấp Một số giải pháp đã được xây dựng và áp dụng bao gồm: Mô phỏng tính toán tài nguyên nước mặt, nước dưới đất, quá trình cân bằng nước trong lưu vực, ngập lụt Tại ĐBSCL đã thực hiện xây dựng quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất để thích ứng với BĐKH cho các tỉnh An Giang và Bạc Liêu

Xây dựng các mô hình thích ứng với BĐKH

Một số nghiên cứu đã thực hiện xây dựng các mô hình có khả năng thích ứng với BĐKH tại các khu vực

đô thị và nông thôn ở nước ta Xây dựng được bộ tiêu chí và chỉ tiêu kinh

tế - kỹ thuật mô hình làng sinh thái thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cho ĐBSCL; thiết kế được

mô hình làng sinh thái thích ứng với BĐKH và NBD; đã thử nghiệm hệ thống xử lý nước mặn thành nước ngọt cho 10 hộ gia đình tại Đầm Dơi,

Cà Mau nhằm nâng cao khả năng

thích ứng với BĐKH và nhiễm mặn Đây là mô hình thực tiễn đã được triển khai, có tính khả thi cao, cần nhân rộng cho toàn bộ vùng ĐBSCL, đặc biệt với các khu vực ven biển dễ

bị nhiễm mặn Các khu vực đô thị tại ĐBSCL gắn bó mật thiết với hoạt động sông nước hay còn được gọi là

“đô thị thủy” Do vậy, việc xây dựng

mô hình đô thị trong bối cảnh BĐKH cho ĐBSCL rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay Nội dung các mô hình

đô thị dựa trên đặc trưng “đô thị thủy”

đã được xây dựng cho thành phố Rạch Giá, nhằm phát huy văn hóa sông nước và kinh nghiệm trị thủy Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn để định hướng quy hoạch phát triển đô thị tại ĐBSCL trong tương lai

Đề xuất các giải pháp giảm nhẹ BĐKH hợp lý đối với ĐBSCL

Vấn đề giảm phát thải khí nhà kính (KNK) được xác định là nhiệm

vụ quan trọng trong giảm nhẹ BĐKH Một số kết quả nghiên cứu đã đề xuất được các giải pháp kỹ thuật và quản

lý để giảm phát thải KNK có khả năng

áp dụng vào ĐBSCL, cụ thể như sau:

Nhóm giải pháp quản lý, chính sách

Tổng lượng phát thải KNK từ lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (AFOLU) chiếm khoảng 30% tổng lượng phát thải toàn cầu

Là vùng sản xuất nông nghiệp chính của Việt Nam, giảm phát thải KNK tại ĐBSCL góp phần quan trọng trong giảm tổng lượng phát thải của Việt Nam nhưng vẫn phải đảm bảo được mục tiêu phát triển KT-XH Trên cơ sở đánh giá lượng phát thải từ AFOLU, các giải pháp và khung chính sách được đề xuất trong lĩnh vực nông nghiệp bao gồm: Định hướng giảm phát thải KNK trong AFOLU và quản

lý chất thải; thiết lập hành lang pháp

lý, nâng cao năng lực quy định, đo đạc, báo cáo kiểm chứng (MRV)

và các điều kiện thuận lợi cho giảm phát thải; đề xuất cơ chế, chính sách

Hệ thống xử lý nước biển thành nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời cho các

hộ gia đình ở tỉnh Cà Mau.

Trang 10

khuyến khích giảm phát thải KNK

như cơ chế phát triển sạch (CDM),

cơ chế giảm phát thải do phá rừng và

thoái hóa rừng (REDD+), cơ chế bù

trừ tín chỉ song phương (BOCM/

JMC)…, phát triển chính sách ưu đãi

về đất đai, tín dụng, thuế, phí… cho

các dự án giảm phát thải Ngoài

ra, khu vực ven biển ĐBSCL có hệ

thống rừng ngập mặn và rừng tràm

phát triển mạnh, đây là tiềm năng để

thực hiện các dự án liên quan tới

giảm phát thải KNK nêu trên Các

theo định hướng phát triển xã hội

cacbon thấp phù hợp với mục tiêu

phát triển bền vững của Việt Nam

Khu vực ĐBSCL đã được nghiên

cứu đánh giá về lượng phát thải

KNK Kết quả kiểm kê lượng phát

thải KNK (CO2 quy đổi) của 3 khu

kinh tế ven biển Phú Quốc - Nam

An Thới, Định An và Năm Căn lần

lượt là 54.315,58 tấn, 2.883,96

tấn và 1.774,95 tấn, thấp hơn khá

nhiều so với các khu kinh tế khác

trên cả nước Trên cơ sở đó, các cơ

chế, chính sách về giảm phát thải

KNK trong công nghiệp, dịch vụ,

xây dựng xã hội cacbon thấp có tính

chống chịu cao với BĐKH cần được

đẩy mạnh để phát triển bền vững

ĐBSCL

Nhóm giải pháp kỹ thuật - công

nghệ

Một số kết quả nghiên cứu đã hỗ

trợ, triển khai áp dụng các giải pháp

kỹ thuật - công nghệ trực tiếp vào

thực tế như như sản xuất gạch ngói,

gốm sứ và xây dựng đô thị Nghiên

cứu về đề xuất giải pháp công nghệ

nhằm tiết kiệm nhiên liệu, giảm

phát thải trong sản xuất gốm sứ bao

gồm: Giải pháp cải tiến dây chuyền

công nghệ như tái sử dụng nhiệt, áp

dụng công nghệ biến tần, sử dụng

hệ thống thông minh quản lý năng

lượng powerboss và đa dạng hóa sản phẩm; giải pháp tiết kiệm nhiên liệu bao gồm sử dụng hệ thống đốt than tự động thay cho thủ công và hệ thống quản lý lưu lượng nhiên liệu

Việc nhân rộng áp dụng các giải pháp nêu trên vào thực tế có tính khả thi cao, đặc biệt với khu vực ĐBSCL vốn đang có nhu cầu cao về vật liệu xây dựng nhưng lại khó khăn trong vận chuyển nhiên liệu Nghiên cứu thực

tế về giải pháp công nghệ nhằm nâng cao đặc tính trở nhiệt cho vỏ kết cấu bao che của các toà nhà đô thị nhằm

sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng cho thấy áp dụng công nghệ này có khả năng tiết kiệm 10% tổng năng lượng tiêu thụ ĐBSCL nằm ở vùng nhiệt đới, có nền nhiệt trung bình năm cao nên vấn đề giảm năng lượng tiêu thụ cho các hoạt động làm mát nhà ở, nhà máy có vai trò quan trọng đối với giảm phát thải KNK Do vậy, giải pháp công nghệ nêu trên với chi phí hợp lý và lợi ích mang lại có thể áp dụng tại ĐBSCL, đặc biệt tại khu vực đô thị và các khu kinh tế, khu công nghiệp, góp phần đem lại lợi ích kinh tế và giảm nhẹ BĐKH

Tác động của BĐKH đối với ĐBSCL đang diễn ra với cường độ mạnh và tốc độ rất nhanh Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra ĐBSCL bị tổn thương mạnh do BĐKH, NBD, suy giảm lưu lượng dòng chảy sông

Mê Kông từ thượng nguồn Đây là

cơ sở khoa học, thực tiễn tin cậy để

đề xuất các giải pháp, các mô hình tích hợp thích ứng, giảm nhẹ BĐKH ở ĐBSCL, gồm: Định hướng nghiên cứu khoa học phục vụ ứng phó BĐKH ở ĐBSCL; nghiên cứu các giải pháp công nghệ phục vụ ứng phó BĐKH,

sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường ở ĐBSCL và nghiên cứu giải pháp đào tạo nguồn nhân lực và quản trị thông minh với BĐKH

Qua kết quả nghiên cứu của các giai đoạn, nhiều mô hình, giải pháp thích ứng, ứng phó với BĐKH, NBD được áp dụng thực tế, chuyển giao

cho các địa phương và có khả năng nhân rộng trong thời gian tới Trong giai đoạn tới, tính liên ngành, liên vùng trong các giải pháp thích ứng, ứng phó với BĐKH cần được tiếp tục triển khai, hiện thực hóa những

đề xuất nêu trên Đồng thời, tiến tới định dạng được một cơ sở dữ liệu

về BĐKH và cơ sở dữ liệu liên quan thống nhất để có thể sử dụng rộng rãi

Nhằm hoá giải các tác động kép của BĐKH và sử dụng tài nguyên, phát triển KT-XH nội và ngoại vùng ĐBSCL để phát triển bền vững cần

tổ chức triển khai một số nội dung cụ thể như sau:

- Xây dựng và triển khai chiến lược mới, quy hoạch mới, các dự

án mới về chuyển đổi lớn, chủ động ứng phó hiệu quả với BĐKH, sử dụng hiệu quả, hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững dựa vào đánh giá và dự báo định lượng, tin cậy các nguyên nhân của chuyển đổi lớn (diễn biến, tác động, tổn thương của BĐKH, NBD, tác động của việc sử dụng nước ở thượng nguồn sông Mê Kông và khai thác tài nguyên ở vùng ĐBSCL )

- Tổ chức xây dựng và triển khai các nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia nhằm chuyển hoá các thách thức từ BĐKH, NBD thành cơ hội phát triển, đảm bảo sử dụng hợp lý tài nguyên, phát triển KT-XH bền vững nội và ngoại vùng ĐBSCL

- Đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng KH&CN về ứng phó thông minh với BĐKH, khoa học bền vững và các ngành khoa học khác liên quan để phát triển bền vững ĐBSCL ?

Trang 11

Hai sự chỉ đạo vẫn còn nguyên giá trị

Trong quá trình triển khai Chương

trình khoa học cấp nhà nước “Điều

tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL”

(1983-1990), Ban Chủ nhiệm Chương trình

luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao

của Chính phủ

Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

Võ Nguyên Giáp đã căn dặn: ĐBSCL

là một vùng đất đầy tiềm năng nhưng

là một châu thổ trẻ, rất mẫn cảm với

mọi tác động lên nó Cần phải theo

dõi đồng bằng một cách khách quan

và khoa học Chương trình cần xem

xét cơ sở khoa học của các quyết

định khai thác ĐBSCL Với tầm nhìn

chiến lược của Đại tướng, tôi hiểu

rằng các tác động lên đồng bằng

là các tác động tại chỗ và từ xa, từ

thượng nguồn và từ biển, cần được

tiếp cận theo quan điểm hệ thống và

động Có nghĩa là hậu quả của các

tác động cần được đánh giá toàn

diện, trong không gian và theo thời

gian

Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

Võ Văn Kiệt đã yêu cầu: Chương

trình phải chỉ cho được trên mỗi vùng

đất của đồng bằng, chúng ta có thể

khai thác như thế nào, với những điều

kiện gì Chương trình phải gắn với

các tỉnh Nghiệm thu tại cơ sở, được kiểm nghiệm trên hiện trường, kết quả sẽ trực tiếp đi vào cuộc sống Tôi hiểu qua lời căn dặn rằng, công tác tổng hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế,

xã hội là cần thiết để “hiểu” được thực

tế Mọi quyết định khai thác đồng

bằng luôn có hai mặt, Chương trình

phải chỉ ra các điều kiện gì để mặt

thuận hơn hẳn mặt nghịch, tổng hợp

trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi

trường, trước mắt và lâu dài, để lãnh

đạo có cơ sở cân nhắc, quyết định

Thật may mắn cho Chương trình

đã nhận được hai ý kiến chỉ đạo ở hai đầu của lộ trình đi từ điều tra nghiên cứu khoa học đến phục vụ sản xuất

và đời sống, đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Các thách thức mà ĐBSCL đang và sẽ phải đối diện

Hiện nay và trong thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với hai thách thức toàn cầu, một thách thức khu vực và thách thức từ chính hoạt động của con người tại đồng bằng2

+ Hai thách thức toàn cầu, đó là

biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế

Theo dự báo toàn cầu, nhiệt độ trung bình của khí quyển sẽ tăng; các tình huống cực đoan sẽ diễn ra thường xuyên hơn, thời gian kéo dài

và cường độ ngày càng mạnh Bão trong vùng cận xích đạo sẽ nhiều hơn Mực nước biển dâng uy hiếp các vùng ven biển và các châu thổ,

trong đó châu thổ sông Mekong là

một trong ba địa bàn bị đe dọa nhất ĐBSCL phải đối đầu với ngập, lún

chìm, bờ biển bị xâm thực, và mặn theo thủy triều xâm nhập ngày càng sâu vào nội đồng

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” năm

2009 và cập nhật vào các năm 2012

và 2016 Theo đó, lượng mưa trung bình và nhiệt độ trung bình năm sẽ tăng Có sự phân hóa khá rõ về nhiệt

độ cũng như về lượng mưa giữa các mùa Đông, Xuân, Hè, Thu Theo dự báo năm 2016, nước biển sẽ dâng từ

53 đến 73 cm vào năm 2100

Trong bối cảnh bị đe dọa như vậy, thách thức từ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế buộc nền kinh

tế đồng bằng phải có sức cạnh tranh cao hơn và phải có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu, trong khi nền kinh tế thế giới hàm chứa những yếu

tố bất ổn không lường trước được Thách thức này tuy gián tiếp nhưng

áp lực của nó lên sản xuất và khai thác tài nguyên rất lớn và cụ thể

Định hình phát triển bền vững Đbscl

GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân

Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vấn đề lớn đang thu hút sự quan tâm của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và toàn xã hội Với kinh nghiệm của một nhà quản lý, đồng thời là một nhà khoa học, tại Hội nghị phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu (Cần Thơ, 26-27/9/2017), GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân1 đã phân tích và chỉ rõ các thách thức và nguyên nhân

mà ĐBSCL đang phải đối mặt với biến đổi khí hậu, từ đó đưa ra các khuyến nghị cụ thể nhằm cải thiện tình hình Tạp chí xin trân trọng giới thiệu các ý kiến này.

1 GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân, Nguyên Phó

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà

nước, Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp

nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL

(1983-1990), Đại biểu quốc hội khóa IX, X, XI.

2Nguyễn Ngọc Trân (2016), ĐBSCL, thách thức

hôm qua và hiện tại, nhận thức và hành động,

Hội nghị quốc tế Sử dụng bền vững tài nguyên nước sông Mekong, Cần Thơ, 23-24/4/2016

Trang 12

+ Thách thức khu vực, đó là

việc khai thác tài nguyên nước trên

thượng nguồn châu thổ, trong đó có

việc chuyển nước Mekong sang lưu

vực sông khác, và nhất là việc khai

thác thủy điện trên dòng chính sông

Mekong từ cao nguyên Tây Tạng trở

xuống, trong khi nhu cầu về nước

ngày càng tăng trước sức ép gia tăng

dân số và phát triển nông nghiệp

Theo Ủy hội sông Mekong (2009),

6 đập thủy điện của Trung Quốc +

11 đập ở hạ lưu + 30 đập trên các

chi lưu sẽ tích lại một lượng nước của

sông Mekong vào năm 2030 là 65,5

tỷ m3, trong khi nhu cầu về nước ở hạ

lưu vào năm này sẽ tăng 50% so với

năm 2000

Với các đập thủy điện được xây

dựng trên sông Mekong thuộc phần

lãnh thổ Trung Quốc, lượng trầm tích

của sông Mekong ước tính sẽ bị các

đập này giữ lại vào khoảng từ 1/3 đến

1/2 tổng lượng trầm tích bình quân

chảy về châu thổ3 Với 11 đập thủy

điện dự kiến sẽ xây dựng trên dòng

tràm, hậu quả từ khai thác cát trên

sông Tiền, sông Hậu còn làm trầm

trọng thêm sự thiếu hụt trầm tích;

việc khai thác quá mức nước ngầm

làm mặt đất sụt lún; từ phát triển

nông nghiệp thiên về số lượng hơn

chất lượng dẫn đến tài nguyên đất bị

kiệt quệ và tài nguyên nước bị lãng

phí, trong khi thu nhập bình quân đầu

người ở đồng bằng thấp hơn bình

quân cả nước và không ngừng đi

xuống từ năm 2000 đến nay

Thách thức tại địa bàn còn đến

từ khâu quản lý nhà nước, thừa sự

chồng chéo nhưng thiếu sự phối hợp;

chậm ban hành một cơ chế phát triển

vùng để tạo nên sức mạnh tổng hợp

của cả vùng; thiếu các chính sách

tạo nên sự liên kết chuỗi nhằm nâng

cao giá trị và sức cạnh tranh của các mặt hàng nông sản của đồng bằng

Thách thức tại địa bàn còn là năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực của vùng còn thấp Nơi đây vẫn còn là một vùng trũng về giáo dục và đào tạo, cơ giới hóa và hạ tầng cơ sở chưa tương xứng với tiềm năng

Công thức trên đây chỉ ra rằng,

tác động của con người tại địa bàn

có thể làm trầm trọng thêm tác động của biến đổi khí hậu, và các thách

thức toàn cầu, khu vực và tại địa bàn

không tác động riêng lẻ mà cùng nhau và liên hoàn tác động, nhân

lên hậu quả của các tác hại Đây là

trong bối cảnh có rất nhiều bất định

đến từ biến đổi khí hậu và việc sử

dụng nguồn nước trên thượng nguồn, đặc biệt về thủy văn và trầm tích, ảnh

hưởng sâu sắc đến sự ổn định của

chính đồng bằng Hệ lụy đầu tiên là

mọi dự án công trình phải được tính toán thật kỹ, được phản biện khách quan, khoa học, bảo đảm không hối tiếc đầu tư

(2) Thách thức bị mất trầm tích từ thượng nguồn tải về trong khi MNBD

ngày càng rõ rệt và nhanh là thách thức trầm trọng mang tính cơ cấu

(structural challenge) đe dọa sự tồn tại của đồng bằng về lâu dài

(3) Phát triển ĐBSCL không thể

không tính đến nước lợ và mặn như là

một nguồn tài nguyên Phải phát triển vùng cận duyên và vùng đặc quyền kinh tế cũng như vị trí địa chính trị

của đồng bằng Không thể phát triển bền vững ĐBSCL mà cứ “quay lưng” lại với biển và giữ mãi quán tính cây lúa nước ngọt

(4) Nước, năng lượng, sức khỏe,

nông nghiệp và đa dạng sinh học là

tối cần thiết cho sinh kế bền vững của con người5, có quan hệ mật thiết với nhau và cùng chịu tác động của biến đổi khí hậu

(5) Tăng trưởng kinh tế, môi

trường được bảo vệ, công bằng và tiến bộ xã hội là ba cột trụ của phát

triển bền vững (Nghị quyết của Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững - WSSD, năm 2002) Có nghĩa là không thể có phát triển bền vững nếu bất cứ một cột trụ nào bị què quặt Quản lý nhà nước có vai trò quyết định đảm bảo cho sự phát triển bền vững Đầu ra của mọi dự

án đầu tư, nhất là đầu tư từ ngân sách nhà nước phải nằm trong phần giao của ba cột trụ (xem hình) Muốn

vậy, phải giải quyết tình trạng “thừa

chồng chéo, thiếu phối hợp” và phải

dứt khoát coi trọng chất lượng hơn số

lượng khi đề ra mục tiêu tăng trưởng.

3 C Thorne, G Annandale, J Jensen (2011),

Review of Sediment Transport, Morphology,

and Nutrient Balance, Part of The MRCS

Xaya-buri Prior Consultation Project Review Report,

March 2011.

4 J.P Ericson, C.J Voromarty, S.L Dingman, L.G Ward, M MeyBaeck (2006), “Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and

human implications”, Global and Planetary

Change, 50(1-2), pp.63-82.

5 Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát triển bền vững (WSSD), Report N0263694, Johan- nesburg 2002.

Trang 13

(6) Vai trò của cộng đồng xã hội

(bao gồm cộng đồng dân cư, các

hội, các hình thức hợp tác, các chủ

nông hộ, doanh nghiệp, viện nghiên

cứu - trường đại học, nhà khoa học

và thông tấn báo chí) cũng có tính

quyết định không kém bởi con người

là một thành tố của môi trường, vừa

tác động lên môi trường vì sự sung

túc của mình, vừa gánh chịu hậu quả

của những tác động đó nếu chúng

sai quy luật; và con người còn vừa là

động lực vừa là đối tượng của phát

triển

(7) Sự đồng điệu giữa quản lý nhà

nước và cộng đồng xã hội là nền tảng

cho phát triển bền vững Tạo ra sự

đồng điệu đó chính là vai trò của Nhà

nước kiến tạo Có nghĩa là, để phát

triển bền vững, quy hoạch phải tích

hợp được ý kiến của cộng đồng xã

hội, qua đó họ thấy phần việc, quyền

lợi và trách nhiệm của mình (cá nhân

và tập thể), thay cho tình trạng hiện

nay, quy hoạch thì cứ quy hoạch, còn

họ thì cứ “tự làm ăn”, “tự bơi” để rồi

lao đao với cảnh “được mùa thì rớt

giá” Bên cạnh đó, cần đào tạo, nâng

cao hiểu biết của các chủ nông hộ về

kỹ thuật nông lâm ngư nghiệp, quy

luật thị trường, quản trị kinh doanh,

giúp cho mỗi nông hộ trở thành một

doanh nghiệp siêu nhỏ

Bốn điều cấp bách kiến nghị với Chính

phủ

1) ĐBSCL đang đối diện với sạt

lở bờ sông, bờ biển ngày càng nhiều

và nghiêm trọng Có ý kiến cho là

cần phải nghiêm cấm khai thác cát

sông Tuy nhiên, điều cần thiết ở đây

là quản lý tốt hơn là nghiêm cấm Có

ý kiến cho là phải có quy hoạch tổng

thể chỉnh trị bờ biển, phải có dự án chỉnh trị sông ở những đoạn bị sạt

lở… Đây đều là những dự án cực kỳ tốn kém, tác động sâu sắc đến đồng bằng, mà hiệu quả không chắc chắn bởi không chỉ có nguyên nhân tự nhiên mà còn có nguyên nhân kinh tế

- xã hội Cần phải nghiên cứu thật kỹ, tránh sự chia cắt, thiếu phối hợp, cái nhìn ngắn hạn và phớt lờ quy luật6.2) Rà soát lại các quy hoạch tổng

thể, ngành, địa phương theo 5 hướng:

- Tiết kiệm và sử dụng có hiệu

quả cao nước ngọt, đảm bảo cho sinh

hoạt của người dân; chung sống với

mặn và ngập, khai thác nước lợ và nước mặn ở vùng biển chiếm ưu thế

- Vì có nhiều yếu tố bất định, trước khi chọn một giải pháp công trình, phải tính toán cán cân Được - Mất trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường Để có sự thống nhất trên hai vấn đề lớn hiện nay của đồng bằng, cần đánh giá Được - Mất của việc bao

đê triệt để để sản xuất lúa Thu Đông (theo Quyết định số 101/BNN-KH ngày 15/1/2015 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt quy hoạch phát triển lúa vụ Thu Đông vùng ĐBSCL đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030)

trên cả 3 mặt kinh tế, môi trường và

xã hội; cần tiến hành tương tự đối với

Dự án Ba Lai trước khi xây các cống

Cái Lớn, Cái Bé và sau đó các cống Hàm Luông, Cổ Chiên…

- Rà soát lại quy hoạch thủy lợi

đến năm 2020, tầm nhìn 2050 đã

được phê chuẩn trong Quyết định 1397/QĐ-TTg, để phù hợp với bối cảnh mới mà ĐBSCL phải đối diện

- Quy hoạch nông nghiệp đảm

bảo những vùng sản xuất lúa “ăn chắc”, chất lượng cao, sử dụng ít nước và ít phát thải khí nhà kính, những vùng nuôi trồng thủy sản được thủy lợi hóa, những vùng rừng ngập mặn, rừng tràm vốn có

- Rà soát lại quy hoạch xây dựng

và sử dụng không gian phù hợp với

nền đất yếu, dành không gian cần thiết cho giao diện giữa con người và sông, biển

3) Theo quy hoạch chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam, vào năm 2030, ĐBSCL sẽ trở thành trung tâm nhiệt điện than lớn nhất cả nước với tổng công suất 18.270 MW, ước tính sử dụng hàng chục triệu tấn than/năm Đây là một quyết định cần cân nhắc vì hậu quả tai hại đối với môi trường và sức khỏe người dân Phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) nghiêm túc cho từng nhà máy và báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược (ĐMC) cho các nhà máy nhiệt điện

than tại ĐBSCL Chủ trương “Không

đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng

kinh tế” cũng phải được áp dụng cho

ĐBSCL

4) Để đảm bảo phát triển bền vững và sử dụng có hiệu quả vốn đầu

tư công, hồ sơ trình duyệt chủ trương đầu tư phải là những báo cáo nghiên cứu khả thi nghiêm túc, có ĐTM (và ĐMC nếu cần) được phê chuẩn đúng theo quy định của pháp luật Sửa đổi quy định hiện hành về quy trình phê duyệt chủ trương đầu tư Tuyệt đối không để ngân sách nhà nước bị cài vào tình thế “đã phóng lao buộc phải theo lao!” ?

6Nguyễn Ngọc Trân (2017), Sạt lở ở ĐBSCL

trong bối cảnh các thách thức hiện nay, Báo

cáo tại Hội nghị khoa học toàn quốc của Hội

Cơ học thủy khí lần thứ 20 tại Cần Thơ, ngày 27/7/2017

Ba trụ cột của phát triển bền vững, vai trò của quản lý nhà nước và vai trò của

cộng đồng xã hội

Trang 14

Thực trạng và thách thức trong quản lý tài

nguyên nước

Thực trạng

Được sự quan tâm của Nhà nước,

hơn 20 năm qua, nhiều chương trình

(kiểm soát lũ, cụm tuyến dân cư, thuỷ

lợi cho thuỷ sản, kiểm soát mặn, cải

tạo đất) và chính sách hỗ trợ người

dân trong vùng lũ ở ĐBSCL đã được

thực hiện có hiệu quả Nhờ vậy, thiệt

hại về người và của do lũ lụt đã giảm

đáng kể; diện tích đất gieo trồng,

năng suất và sản lượng nông nghiệp

liên tục phát triển Tuy nhiên, các

chương trình được thực hiện bởi các

bộ, ngành và địa phương khác nhau,

thiếu sự kết nối giữa các quy hoạch,

chưa được đặt trong một bài toán

tổng thể với tầm nhìn dài hạn của

vùng ĐBSCL nên đã bộc lộ nhiều

bất cập trong quản lý nước ở khu vực

này, cụ thể như sau:

- Số lượng đê bao, bờ bao và cụm

tuyến dân cư được xây quá nhiều

(19.930 km đê bao chống lũ triệt để

bảo vệ hơn 6.000 ô ruộng sản xuất

3 vụ và 17.760 km đê bao chống lũ

sớm để bảo vệ hơn 4.500 ô ruộng

sản xuất 2 vụ) đã gây cản trở dòng

chảy, chiếm dung tích trữ lũ làm cho

mực nước trong đồng dâng cao (tại

Cần Thơ, mực nước năm 2011 cao

hơn năm 2000 tới 20 cm, mặc dù ở Tân Châu, mực nước năm 2011 thấp hơn năm 2000 hơn 20 cm) gây úng ngập hầu hết các đô thị và làng mạc

ở khu giữa của đồng bằng

- Sự hạ thấp mực nước ngầm ở các đô thị và Bán đảo Cà Mau (ở mức 70 cm/năm) là rất nghiêm trọng, kéo theo việc lún sụt đất ở các đô thị

và đồng bằng (2-3 cm/năm, gấp 5-7 lần tốc độ NBD) là một trong những nguyên nhân chính gia tăng úng ngập các đô thị ở ĐBSCL

- Do không có hệ thống cấp thoát nước riêng biệt nên năng suất và sản lượng vùng nuôi trồng thuỷ sản ven biển không ổn định, dịch bệnh tàn phá các khu nuôi, gây nên sự bấp bênh đối với cuộc sống của người nuôi trồng thủy sản

- Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người dân,

ổn định đới bờ, nhưng đã giảm tới 80,4% diện tích trong 50 năm qua

Các dạng thiên tai cực đoan (bão lớn, mưa lớn, hạn hán, xâm nhập mặn) xuất hiện ngày càng nhiều hơn, đã gây ra những tổn thất rất lớn và khó lường Vấn đề úng ngập ở các đô thị

do lũ, triều cường và mưa lớn đã trở thành lực cản trong quá trình phát triển của các đô thị ở ĐBSCL

Để giải quyết nhu cầu bức bách

về ngập úng, lũ lụt cũng như những thách thức từ BĐKH và thượng nguồn, Chính phủ đã phê duyệt một số dự án như: Quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH và NBD đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2050 do các chuyên gia Hà Lan giúp đỡ thực hiện, cùng nhiều chương trình nghiên cứu khác Đặc biệt, để chống ngập cho các

đô thị, vẫn tiếp tục đắp bờ bao, đê bao nhỏ (Cần Thơ, Vĩnh Long và

Cà Mau đã được phê duyệt và đang được thực hiện với tổng diện tích được quy hoạch bảo vệ là 66.800 ha, chia thành 39 ô bao, được bảo vệ bởi 500

km đê bao và 47 trạm bơm tiêu; các

đô thị như Châu Đốc, Long Xuyên,

Sa Đéc, Long An, Tiền Giang và các thị trấn nhỏ khác nằm ở vùng Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười và nửa trên của vùng kẹp giữa sông Hậu, sông Tiền… sẽ được thực hiện trong thời gian tới) Theo cách tiếp cận này, chiều dài đê bao ở khu vực ĐBSCL

sẽ lên tới hơn 57.000 km; mực nước trong nội đồng sẽ tiếp tục gia tăng; đất ở đồng bằng tiếp tục lún sụt, lũ tiếp tục tăng thêm; mực nước biển tiếp tục dâng thêm, vấn đề domino

về đê bao tất yếu sẽ xảy ra và sẽ tiếp tục theo chiều hướng bất lợi trong một vòng luẩn quẩn không ngừng

GIảI PHáP quảN Lý TổNG HợP TàI NGuyêN NướC

Và PHòNG CHốNG THIêN TAI VùNG ĐBSCL

GS.TS Đào Xuân Học

Chủ tịch Hội Thuỷ lợi Việt Nam

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng kinh tế trọng điểm, có vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt đối với cả nước Tuy nhiên, khu vực này đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng, nhất là những tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng (NBD), xâm nhập mặn ngày càng tăng Trước thực tế đó, các giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước và phòng chống thiên tai theo hướng thích ứng với BĐKH là rất cần thiết để có thể phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm này.

Trang 15

Thách thức

Hệ thống hồ chứa thủy điện đã

và sẽ được xây dựng trong lưu vực

sông Mê Kông là 144 hồ, lưu vực

sông Đồng Nai là 22 hồ, với tổng

dung tích lần lượt là 26 và 30% tổng

lượng dòng chảy bình quân Lưu

lượng dòng chảy trung bình mùa lũ

sẽ giảm, những năm lũ trung bình

và nhỏ sẽ gần như không còn lũ, lưu

lượng dòng chảy trung bình mùa kiệt

sẽ tăng Nhưng lưu lượng dòng chảy

lũ lớn nhất vẫn tăng cao, lưu lượng

dòng chảy kiệt nhỏ nhất sẽ giảm,

mùa kiệt sẽ đến sớm hơn và chế độ

dòng chảy phụ thuộc nhiều vào chế

độ vận hành các hồ chứa Lưu lượng

tạo lòng sông thay đổi, cùng với sự

sụt giảm khoảng 60-75% hàm lượng

phù sa đã, đang và sẽ tiếp tục gây

ra xói lở ở ven sông, kênh rạch và

ven biển một cách nghiêm trọng

Bên cạnh đó, sự suy thoái môi trường

nước do hoạt động xây dựng, khai

thác khoáng sản, khai thác dầu khí ở

Biển Hồ cũng đưa đến những thách

thức không nhỏ

Những trận mưa có tổng lượng

trên 135 mm đã xuất hiện và chắc

còn tiếp tục gia tăng sẽ gây ra úng

ngập ngày càng nghiêm trọng ở các

đô thị vùng ĐBSCL

Những tác động từ suy giảm diện

tích rừng, BĐKH, sự gia tăng nhu cầu

nước ở các nước thượng nguồn và vấn

đề quản lý hồ thủy điện có thể làm

cho lưu lượng lũ lớn nhất trên sông

Mê Kông gia tăng 10% (năm 2030)

đến 15% (năm 2050), dòng chảy kiệt

có thể suy giảm khoảng 10% (năm

2030) đến 20% (năm 2050) Tất yếu

sẽ kéo theo sự gia tăng đỉnh lũ lớn và

sự xâm nhập mặn một cách nghiêm

trọng ở ĐBSCL trong thời gian tới

Biển Hồ ở Campuchia với dung

tích 2-80 tỷ m3 có vai trò quan trọng

trong việc tạo chế độ dòng chảy hài

hòa ở hạ lưu Tuy nhiên, nếu như ý

tưởng xây dựng công trình điều tiết

trên sông Tonle Sap được thực hiện

thì mực nước mùa lũ về ĐBSCL sẽ tăng lên 50 cm/ngày, dòng chảy mùa kiệt sẽ suy giảm nghiêm trọng Vì vậy, cần có một kịch bản nghiên cứu trạng thái cực đoan về dòng chảy lũ

và dòng chảy kiệt khi có công trình trên sông Tonle Sap kiểm soát Biển

Hồ để chủ động thích ứng với sự thay đổi này

Đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp nguồn tài nguyên nước và phòng chống thiên tai

đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài trong quản lý lũ, chống NBD,

kể cả đối với bài toán cực đoan, theo chúng tôi cần chuyển từ chiến lược

“sống chung với lũ” sang chiến lược

“chủ động sống chung với lũ” Đó

là chủ động đưa lũ vào ruộng vườn

để khai thác tất cả những lợi ích từ

lũ mang lại như: Vệ sinh đồng ruộng

và cải tạo đất; lấy phù sa để bồi bổ đất và nâng cao mặt đất; lấy nước ngọt, bổ cập nước ngầm, giữ gìn sự

đa dạng sinh học và khai thác nguồn lợi thủy sản Đối với những trận lũ lớn cực đoan, đỉnh lũ trong đồng cần được kiểm soát để không gây ngập các cụm tuyến dân cư, khu dân cư, các thành phố, phá hoại các cơ sở

hạ tầng, đe dọa đến tính mạng và tài sản của nhân dân Muốn vậy, chúng

ta chỉ cần một hệ thống đê (sử dụng

hệ thống đường giao thông hiện có) dọc hai sông lớn và một hệ thống cống (gồm cống và âu thuyền) Cống được thiết kế rộng bằng mặt cắt kênh, được mở thường xuyên để nước chảy

và phục vụ giao thông thủy Cống chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát đỉnh lũ với những trận lũ lớn cực đoan, hạn chế những trận lũ sớm để bảo vệ vụ lúa

hè thu và đóng cống cuối vụ để tiêu nước trong đồng đối với những năm lũ muộn Âu thuyền phục vụ giao thông

thủy khi cống làm nhiệm vụ kiểm soát

lũ Như vậy, chúng ta không cần xây dựng thêm đê để bảo vệ các thành phố, làng ấp, không cần đê chống lũ hai vụ, không cần kinh phí để nâng cấp, duy tu bảo dưỡng hệ thống đê trong nội đồng và các cơ sở hạ tầng

kỹ thuật sau mỗi năm lũ lớn; không cần xây dựng các hệ thống trạm bơm tiêu cho các đô thị, làng ấp, không cần bơm tiêu nước lũ vào những năm

lũ rút muộn Ngoài ra, còn giúp tăng

lưu lượng mùa kiệt vào đồng và tăng

mực nước lũ nhỏ thành lũ trung bình nhờ công tác quản lý khi có hệ thống cống ở hai đầu kênh

Theo chiến lược này, tổng chiều dài đê ngăn lũ trước mắt và lâu dài chỉ luôn là 1.200 km so với 57.000

km đê của phương án bao như hiện nay (và sẽ tăng lên 100.000 km nếu NBD 50 cm) Đối với kịch bản cực đoan khi Campuchia xây dựng công trình điều tiết mực nước ở Biển Hồ cũng không gây ảnh hưởng vì có thể chủ động thích ứng

Đồng Tháp Mười là vùng đất trũng thấp, vùng lũ kín nên thường ngập lũ dài ngày Để rút ngắn thời gian ngập

lũ và úng ngập, cần tăng khả năng thoát nước của sông Vàm Cỏ Đông

và Vàm Cỏ Tây ra cửa Soài Rạp - cửa chung với sông Sài Gòn - Đồng Nai và Nhà Bè từ thành phố Hồ Chí Minh Việc thực hiện dự án đê biển Vũng Tàu - Gò Công nhằm giải quyết triệt để vấn đề ngập úng do tổ hợp tác động của lũ thượng nguồn, mưa lớn và triều cường, đồng thời cũng là công trình chống NBD, chống BĐKH

ở thế chủ động cho thành phố Hồ Chí Minh; tăng cường khả năng thoát

lũ, chống úng ngập, ngăn mặn cho vùng Đồng Tháp Mười, một phần đất thuộc tỉnh Long An, Bình Dương và Đồng Nai, với tổng diện tích hưởng lợi khoảng 1,1 triệu ha, về lâu dài có thể thành hồ trữ ngọt cho toàn vùng thuộc lưu vực sông Tiền Đồng thời còn tạo ra quỹ đất và mặt nước rộng lớn (khoảng 43.000 ha), tạo động lực

Trang 16

phát triển cho vùng cũng như bù gần

đủ vốn xây dựng công trình Dự án đê

biển Vũng Tàu - Gò Công được triển

khai không chỉ là một dự án thủy lợi

thuần túy mà còn là một dự án phát

triển kinh tế - xã hội trong vùng Cụm

6 đề tài nghiên cứu do 4 Bộ thực hiện

(Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn, Tài nguyên và Môi trường, Giao

thông vận tải, Kế hoạch và Đầu tư)

cũng đã khẳng định: Việc xây dựng

dự án đê biển Vũng Tàu - Gò Công

là cần thiết và hợp lý vì đây là công

chế và tiến tới không khai thác nước

ngầm, ở các khu đô thị mới cần quy

định dành khoảng 10% quỹ đất để

làm hồ sinh thái Các hồ sinh thái này

sẽ giúp cung cấp đất để san lấp nền

(giảm nhu cầu cát khai thác từ sông

khoảng 60-80%), chống úng ngập

do mưa lớn, cung cấp nước sinh hoạt

nhằm giảm và không khai thác nước

ngầm - nguyên nhân chính gây lún

sụt đất, cải tạo vi khí hậu cho các khu

đô thị, bố trí hệ thống năng lượng mặt

trời (50% diện tích mặt hồ) Từ các

hồ sinh thái tiến tới xây dựng các đô

thị sinh thái và làng sinh thái là giải

pháp đa mục tiêu tạo sự phát triển

bền vững ĐBSCL

Với các khu đô thị cũ có mật độ

dân cư cao, việc tìm quỹ đất để xây

dựng các hồ sinh thái là khó khả thi

Vì vậy, nghiên cứu giải pháp trữ nước

mưa trong từng hộ dân là một nội

dung cần thiết trong nghiên cứu giải

pháp chống úng ngập cho các đô thị

ở khu vực ĐBSCL

Quản lý xâm nhập mặn và thiên

tai

Đối với vùng Bán đảo Cà Mau, do

chưa có nguồn cấp nước cho vùng

nuôi trồng thủy sản ven biển và chất

lượng nước không tốt nên người nuôi

đã khai thác nước ngầm quá mức,

dẫn đến lún sụt đất nghiêm trọng

(2-3 cm/năm) Giải quyết vấn đề cấp nước ngọt chủ động cho vùng nuôi trồng thủy sản là một nhu cầu cấp bách tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững vùng nuôi, đồng thời khắc phục được nguyên nhân chính gây lún sụt đất ở ĐBSCL hiện nay Tuy nhiên, việc cung cấp nước cho vùng Báo đảo Cà Mau là khó khăn, ngoài việc nghiên cứu giải pháp cung cấp bằng động lực, chúng ta cần nghiên cứu giải pháp xây dựng hồ chứa nước ngọt ở vùng biển Kiên Giang

Trong kịch bản cực đoan, vấn đề xâm nhập mặn vào sâu trên sông Hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống, đồng thời dòng chảy trong mùa kiệt không đủ cung cấp cho toàn đồng bằng Khi đó cần xem xét đến những hồ chứa lớn trữ nước ở đồng bằng như hồ ven biển Kiên Giang, Vũng Tàu - Gò Công

Theo Quyết định số BTNMT ngày 16/12/2016 về việc công bố kết quả cập nhật phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão và phân vùng gió cho các vùng ở sâu trong đất liền khi bão mạnh, siêu bão đổ bộ, bão cấp 12-13

2901/QĐ-có thể vào ĐBSCL Với cấp bão này

đổ bộ vào ĐBSCL (một đồng bằng trũng thấp và bằng phẳng) sẽ gây

ra hiện tượng nước dâng cao 1,5-2

m vào sâu trong đất liền tới 5-10 km

và gây ra những thiệt hại khôn lường

Trong điều kiện BĐKH, những trận bão lớn hơn và siêu bão có thể xuất hiện Sóng thần cũng là một dạng thiên tai không được loại trừ ở Việt Nam Vì vậy, cần có các giải pháp bền vững nhằm giảm thiểu thiệt hại

về người và tài sản cho nhân dân Để quản lý, giảm thiểu thiệt hại do NBD, nước dâng do bão lớn, siêu bão, sóng thần vào ĐBSCL, ý tưởng hình thành tuyến đê biển dọc theo tuyến đường ven biển khá thuyết phục Tuyến đê biển (thứ 2), ngoài nhiệm vụ ngăn chặn những nguy cơ do NBD, ngăn chặn nước dâng do bão, siêu bão

và sóng thần, còn có nhiệm vụ phân ranh mặn - ngọt và kết hợp với các

cơ sở hạ tầng khác Phân ranh mặn

- ngọt hướng tới một vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, chuyên canh theo hướng nuôi công nghiệp là một nhu cầu cấp thiết của vùng

Tóm lại, tuyến đường giao thông ven biển đang được xây dựng rất cần thiết là một công trình công ích với nhiều mục tiêu như: 1) Bảo vệ dân

cư khi có siêu bão và sóng thần; 2)

Là nơi phân ranh mặn - ngọt (vùng nuôi trồng thuỷ sản và vùng trồng lúa); 3) Hệ thống cầu giao thông kết hợp với cống ngăn mặn và giữ ngọt; 4) Là đường cấp nước ngọt cho vùng nuôi trồng thuỷ sản ven biển Để đạt được những mục tiêu này rất cần

sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ

và sự phối hợp giữa các ngành như nông nghiệp, giao thông

Quản lý nguồn nước và nguồn nước xuyên biên giới

Tổng lượng dòng chảy ở Việt Nam thuộc loại trung bình thấp, nhưng khoảng 64% lại từ nước ngoài về,

vì vậy những tác động vào nguồn nước từ phía thượng lưu đều ảnh hưởng đến nước ta Tuy nhiên, mọi tác động đều có hai mặt lợi và hại Nhiệm vụ của các nhà chuyên môn

là cần chỉ ra những tác động, nguy

cơ và có cách ứng xử phù hợp với mỗi loại tác động Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách ngoại giao, nội dung đàm phán và tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để yêu cầu các nước thượng nguồn phối hợp, đàm phán với chúng ta nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của những lưu vực sông quốc tế

Ngoài ra, để đồng bộ và thống nhất trong quản lý nước trên toàn đồng bằng, đề nghị Chính phủ cho nghiên cứu thành lập một số công ty quản lý và khai thác công trình thủy lợi liên vùng như: Vùng Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Bán đảo

Cà Mau, cửa sông và ven biển ?

Trang 17

Vốn và cơ sở hạ tầng tự nhiên ở ĐBSCL

Nguồn vốn là một khái niệm

trong kinh tế học, đề cập đến của

cải vật chất hay tài chính có thể

sử dụng để tạo ra thu nhập, hàng

hóa hay các dịch vụ “Nguồn vốn

tự nhiên” là một khái niệm được

mở rộng để miêu tả các cấu phần

của môi trường tự nhiên có thể

tạo ra thu nhập, hàng hóa và

các dịch vụ

Vốn tự nhiên bao gồm sinh vật

(động vật và thực vật) và các cấu

phần vật chất của tự nhiên, như

nước và khoáng sản Nguồn vốn

tự nhiên luôn là nền tảng để con

người phát triển kinh tế, xã hội và

mang lại sự thịnh vượng Trong

đó, những nguồn lực tự nhiên như

nguồn nước, lương thực, năng

lượng là những trụ cột để phát triển kinh tế nhưng vẫn chưa được đánh giá đúng mức trong tài khoản quốc gia

ĐBSCL với địa hình trũng, là

hạ lưu của sông Mê Kông, cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt… được đánh giá là vùng trữ nước ngọt lớn nhất cả nước Thế nhưng, trên thực tế, tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa và nước ngầm ở vùng ĐBSCL đang diễn

ra ngày càng nghiêm trọng.

Với diện tích khoảng 4 triệu

ha, ĐBSCL có thể được xem là một vùng đất ngập nước rộng lớn với phần lớn diện tích đã được canh tác nông nghiệp ĐBSCL cung cấp trên 50% sản lượng

lương thực, 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước và là nơi nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản lớn của nước ta ĐBSCL có đa dạng sinh học cao, nhiều loài quý hiếm trong Danh mục đỏ của IUCN và Sách đỏ Việt Nam, nhiều khu bảo tồn đã được thiết lập

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 2011 đến 2016, rừng ngập mặn vùng ĐBSCL đã bị suy giảm nghiêm trọng, chủ yếu do vùng bãi bị sạt lở và việc giao rừng

để nuôi trồng thủy, hải sản Chỉ tính riêng trong 5 năm qua, diện tích rừng ngập mặn toàn vùng

đã giảm gần 10%, từ 194.723 ha năm 2011 xuống còn 179.384 ha vào năm 2016

Đầu tư vào vốn và cơ sở hạ tầng tự nhiên -

Mô hình phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng ĐBSCL

TS Nguyễn Văn Tài

Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường

Vốn tự nhiên và cơ sở hạ tầng tự nhiên gồm đất, nước, các hệ sinh thái tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của khu vực này Tuy nhiên, ĐBSCL hiện đang phải đối mặt với những thách thức mang tính sống còn do mô hình phát triển trước đây không còn phù hợp, chính sách quy hoạch, phân vùng, quản lý thiếu gắn kết, đồng bộ, tổng thể trước xu thế không thể đảo ngược của biến đổi khí hậu Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của ĐBSCL nói riêng và của cả nước nói chung Vì vậy,

để chuyển đổi mô hình phát triển dựa vào nguồn vốn tự nhiên một cách bền vững, cần thiết phải xây dựng chiến lược phục hồi

và sử dụng bền vững nguồn vốn tự nhiên tại ĐBSCL dựa trên các phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trang 18

Trong quá trình phát triển kinh

tỉnh ven biển Cà Mau, Bến Tre,

Bạc Liêu Ở các tỉnh Kiên Giang,

Sóc Trăng, Trà Vinh, phần lớn

diện tích đất trồng lúa, đất rừng

các huyện ven biển cũng chuyển

sang nuôi tôm với mô hình quảng

canh cải tiến hoặc thâm canh

(nuôi công nghiệp) Ở vùng nội

địa, phần lớn diện tích đồng cỏ

tự nhiên và rừng tràm đã được

chuyển sang nông nghiệp Đa

dạng sinh học bên ngoài các

khu bảo tồn gần như suy kiệt do

sự mở rộng và thâm canh nông

nghiệp, các sinh cảnh còn lại bên

trong các khu bảo tồn chỉ mang

tính bán tự nhiên

Nguồn nước mặt ở ĐBSCL bị

ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng

từ nhiều nguồn Ở những vùng đê

bao khép kín canh tác ba vụ lúa

mỗi năm, nước bị tù đọng, tích tụ

nhiều hóa chất nông nghiệp Các

vùng nuôi thủy sản cũng thải một

lượng lớn chất ô nhiễm hữu cơ

và hóa chất vào nguồn nước Sự

phát triển nhanh các dự án công

nghiệp, đặc biệt là các khu công

nghiệp, nhà máy điện than, nhà

máy giấy đã đe dọa trực tiếp đến

nguồn nước ĐBSCL Hệ thống

kênh rạch ĐBSCL cũng đang

phải tiếp nhận một lượng lớn chất

thải sinh hoạt và chăn nuôi từ các

khu dân cư Hệ sinh thái ĐBSCL

chủ yếu là hệ sinh thái đất ngập

nước, vì vậy ô nhiễm nguồn nước

chính là ô nhiễm “máu” của hệ

sinh thái Các loài sinh vật ngoại

lai xâm hại đã ảnh hưởng mạnh

đến đa dạng sinh học, nông

nghiệp gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế và môi trường

Do nhu cầu phát triển kinh

tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và sức ép dân số , các nước ở thượng nguồn sông

Mê Kông sẽ đẩy mạnh việc khai thác nguồn nước Các đập thủy điện, công trình chuyển nước sông cho các vùng khô hạn, sự hình thành các khu công nghiệp, khu dân cư dọc theo 2 bờ sông

sẽ làm tình hình thêm nghiêm trọng Hệ quả là dòng chảy sẽ thất thường hơn, mùa khô càng ít nước và mùa lũ sẽ nặng nề hơn

Giải pháp cho phát triển bền vữngCác áp lực lên vốn và hạ tầng

tự nhiên ở vùng ĐBSCL có thể

sẽ tiếp tục tăng nếu duy trì cách tiếp cận thông thường, tiếp tục gây ra mất mát vốn tự nhiên, đe dọa sự phát triển trong tương lai

Một số động lực chính đang gây

áp lực gia tăng lên vốn tự nhiên

ở ĐBSCL bao gồm: Thứ nhất,

tăng trưởng kinh tế dự kiến sẽ

tiếp tục làm gia tăng nhu cầu về lương thực, năng lượng, nước và

có thể đẩy nhanh sự cạn kiệt vốn

tự nhiên Thứ hai, các mô hình

tiêu dùng trong tiểu vùng đang chuyển đổi do kết quả của phát triển xã hội cũng như dân số đô thị đang gia tăng nhanh chóng, tạo thêm áp lực về vốn tự nhiên

Thứ ba, biến đổi khí hậu sẽ tạo

thêm áp lực lên vốn tự nhiên ở vùng ĐBSCL Các tài nguyên nông nghiệp (bao gồm cả đất và nước) rất nhạy cảm với sự thay đổi của khí hậu Sản lượng nông nghiệp ở tiểu vùng có thể giảm

do nhiệt độ quá cao, sự xâm nhập mặn vào vùng đất trồng trọt

do mực nước biển dâng cao, hạn hán và sương mù gia tăng, ảnh hưởng của gió và xói mòn đất

Vì vậy, việc xây dựng một

chiến lược phục hồi và sử dụng

bền vững vốn tự nhiên ở ĐBSCL trên nền tảng áp dụng các phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu là phù hợp và thiết thực trong giai đoạn

Bảo vệ rừng - một trong những giải pháp quan trọng cho phát triển bền vững.

Trang 19

hiện nay Chiến lược này sẽ đưa

ra các hoạt động ưu tiên như sau:

Điều tra, đánh giá, kiểm kê

hiện trạng nguồn vốn tự nhiên:

Tiến hành điều tra, đánh giá

thực trạng để xây dựng dữ liệu

về nguồn vốn tự nhiên khu vực;

xây dựng các công trình bảo vệ

tài nguyên thiên nhiên nhằm ứng

phó với các tác động của biến

đổi khí hậu; rà soát và triển khai

chiến lược “an ninh lương thực”

nhằm giảm việc thâm canh ba vụ

lúa mỗi năm để tăng không gian

trữ lũ, hạn chế xâm nhập mặn

và giảm sử dụng hóa chất nông

nghiệp; ưu tiên phát triển hành

lang xanh dải ven biển, bao gồm

cả việc trồng rừng ngập mặn

nhằm ổn định và bảo vệ bờ biển

trước các tác động của thời tiết

cực đoan; bảo tồn và phục hồi

các vùng đất ngập nước ứng phó

với biến đổi khí hậu; xây dựng đê

ven biển và đập cửa sông lớn để

ngăn và kiểm soát xâm nhập

mặn trên cơ sở không gây xáo

trộn đối với điều kiện tự nhiên và

hệ sinh thái; nghiên cứu và triển

khai các giải pháp phi công trình

nhằm thích ứng và giảm thiểu tác

động của biến đổi khí hậu đến sự

phát triển của vùng

Quy hoạch khai thác, sử dụng

nguồn vốn tự nhiên: Các khu

vực cần ưu tiên bảo vệ cơ sở

hạ tầng vốn tự nhiên gồm các

vùng rừng ngập mặn, các khu

đất ngập nước quan trọng ; tiến

hành rà soát và thống nhất các

quy hoạch phát triển ngành, lĩnh

vực nhằm đảm bảo phát huy giá

trị nguồn vốn tự nhiên phục vụ

phát triển kinh tế và bảo vệ môi

trường, bao gồm: Điều chỉnh quy

hoạch phát triển và quy hoạch

sử dụng đất của từng tỉnh phù

hợp với phương án điều chỉnh

quy hoạch sử dụng đất của cả vùng ĐBSCL, đặc biệt thúc đẩy xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của vùng và các tỉnh trong vùng đảm bảo thống nhất với quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước; quy hoạch sử dụng đất theo hướng tạo hành lang đa dạng sinh học kết nối các khu bảo tồn riêng

lẻ trong vùng Đối với các tỉnh đã xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học, cần thúc đẩy triển khai quy hoạch, trong đó ưu tiên thành lập và quản lý bền vững các khu bảo tồn, các hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học cao; thiết lập các vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn, quy định hạn chế sử dụng hóa chất nông nghiệp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học và an ninh lương thực

Xây dựng các cơ chế, chính sách cho việc đầu tư vốn tự nhiên: Có chính sách huy động

các tổ chức, cá nhân thực hiện các chương trình và hoạt động nhằm bảo tồn và phát triển vốn

tự nhiên, cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến vốn tự nhiên;

xây dựng chiến lược quản lý phù hợp để giảm thiểu các rủi ro do

biến đổi khí hậu và đầu tư vốn tự

nhiên; tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa chính quyền, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội dân

sự và các bên liên quan để kết hợp các nguồn lực, tối đa hóa lợi thế kinh tế và xác định cơ hội đầu

tư vào vốn tự nhiên; cung cấp những ưu đãi tài chính như giảm thuế, trợ cấp bảo hiểm, cho thuê đất với lãi suất ưu đãi và giảm lãi suất nhằm khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh thân thiện với vốn tự nhiên như canh tác hữu cơ, du lịch sinh thái và

vận chuyển hàng hóa xanh

Tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức về vai trò của vốn

tự nhiên: Tăng cường nâng cao

nhận thức của cộng đồng về vai trò, giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái ĐBSCL và trách nhiệm của cộng đồng, các bên liên quan trong việc bảo vệ, duy trì và phát triển dịch vụ hệ sinh thái của

khu vực Cộng đồng địa phương

nên được tham gia sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước,

đa dạng sinh học một cách có tổ chức; hỗ trợ áp dụng các sinh kế bền vững cho cộng đồng và phát huy, bảo tồn các nguồn dược liệu,

nguồn gen quý hiếm của khu vực

Nâng cao ý thức, hiểu biết của người dân và các cơ quan chức năng về ảnh hưởng của việc nuôi trồng, phát tán sinh vật ngoại lai

Thúc đẩy hợp tác quốc tế, xây dựng các diễn đàn, đối tác về nguồn vốn tự nhiên: Tăng cường

sự phối hợp giữa các sáng kiến cấp khu vực và quốc gia; các nỗ lực song phương và đa phương

để đạt được các mục tiêu chính sách chung liên quan đến nguồn vốn tự nhiên; tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong lưu vực sông Mê Kông để có thể

sử dụng hiệu quả nguồn nước

và các tài nguyên cát, sỏi nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến khu vực ĐBSCL; đẩy mạnh hợp tác quản lý môi trường và

đa dạng sinh học ĐBSCL với các quốc gia khu vực và thế giới nhằm tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý tài nguyên thiên nhiên, môi trường lưu vực sông

Mê Kông ?

Trang 20

Câu chuyện 1: Chính sách “tăng

trưởng là trên hết” và hệ lụy không

thể phục hồi

Kể từ khi khu công nghiệp đầu

tiên được thành lập ở TP Cần

Thơ đầu thập niên 90, các tỉnh

ĐBSCL đã nhanh chóng lao vào

cuộc đua công nghiệp hóa, lấy

giá trị thu hút đầu tư làm thước

đo tốc độ tăng trưởng của địa

phương Hệ quả là nhiều tỉnh/

thành phố đã không ngần ngại

thu hồi đất nông nghiệp với quy

mô lớn để xây dựng hạ tầng kêu

gọi đầu tư Báo cáo từ Phòng

Thương mại và Công nghiệp Việt

Nam (VCCI) cho thấy, đến năm

2015 toàn vùng ĐBSCL có tới

74 khu công nghiệp và hơn 214

điểm công nghiệp với tổng diện

tích đất nông nghiệp bị thu hồi

trên 42.000 ha Báo cáo cũng chỉ

ra tỷ lệ diện tích được sử dụng ở

các khu công nghiệp trên thực

tế là rất hạn chế, trung bình dưới 40%, trong khi rất nhiều khu công nghiệp ở Cà Mau, Sóc Trăng, Hậu Giang… vẫn trong tình trạng

bỏ hoang hoặc xây dựng dở dang

do các nhà đầu tư không đủ năng lực thực hiện Điều này tạo ra sự lãng phí tài nguyên và thất thu giá trị nông nghiệp rất lớn Nhiều nơi

là những dải đất phù sa màu mỡ ven sông Tiền, sông Hậu vốn rất nổi tiếng với các loại cây trồng đặc hữu như bưởi da xanh, cam sành, sầu riêng, vú sữa, gạo thơm… ở Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang

và Vĩnh Long nay trở nên hoang hóa do các dự án treo, trong khi người dân buộc phải chuyển cư

để tìm sinh kế mới Tập trung vào

“công nghiệp hóa” nhưng ít chú trọng hoặc không có chiến lược thiết thực trong việc hỗ trợ nông dân chuyển đổi sinh kế đã khiến cho phần lớn cư dân địa phương

tái nghèo, cuộc sống bấp bênh không lâu sau khi thu hồi đất.Ngay cả những khu công nghiệp thu hút được đầu tư cũng tạo ra những hệ lụy xã hội và môi trường nghiêm trọng Nguyên nhân là bởi chính quyền chỉ quan tâm đến giá trị đầu tư mà các doanh nghiệp cam kết hơn là việc đánh giá tác động môi trường và tác động bền vững của dự án Kết quả là, hàng loạt nhà máy vốn không có thế mạnh về nguyên liệu

ở ĐBSCL và thuộc nhóm những ngành công nghiệp ô nhiễm cao như sản xuất bia rượu, dệt may, sản xuất bột giấy và tái chế giấy…

đã mọc lên nhanh chóng Trong khi chính quyền đang “tiến thoái lưỡng nan” với những dự án công nghiệp thiếu bền vững, hàng chục ngàn hộ dân bị thu hồi đất vẫn đang xoay sở để thích ứng với cuộc sống không ruộng,

ĐBSCL trướC tháCh thứC BĐKh:

Những bài học và hướng tiếp cận

Nguyễn Minh Quang1, James Borton2 và Gary Sands3

Trong bài báo này, các tác giả nêu và phân tích một số câu chuyện thực tế trong quy hoạch và phát triển ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) để thấy rằng, sự nóng vội và sai lầm trong tiếp cận phát triển luôn để lại những hệ lụy không nhỏ Và rằng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) diễn biến phức tạp, có những nơi người dân vẫn biết cách xoay sở để tìm ra lối đi riêng, thích

ứng hiệu quả với môi trường sống đang biến đổi

Trang 21

vườn, còn môi trường thì phải

gánh thêm nhiều sức ép bởi các

nguồn ô nhiễm từ các nhà máy

Câu chuyện 2: “Trời giúp người biết tự

giúp mình”

Đợt hạn - mặn lịch sử năm

2016 đã khiến hơn nửa triệu nông

dân khắp ĐBSCL bị mất trắng

mùa vụ, hàng ngàn người phải

di cư do thiếu việc làm và khan

hiếm nước ngọt, tổng thiệt hại

thống kê lên đến hơn 15.000 tỷ

đồng Trong bối cảnh đó, người

ta chợt nhận ra, có một số làng

quê cách không xa các khu công

nghiệp đang xây dang dở, người

nông dân vẫn bình yên trên mảnh

ruộng, vườn ao trước nhà Đó là

câu chuyện của những hộ dân

có xuất phát điểm rất nghèo ở cù

lao Giêng (An Giang) và Cồn Sơn

(Cần Thơ) Vài năm trước, khi

cảm nhận được những diễn biến

thời tiết bất thường, cây trồng

truyền thống bị ảnh hưởng, họ đã

chủ động tìm tòi những giống cây

trồng, vật nuôi mới để thích ứng

Ở cù lao Giêng - một cù lao

nhỏ trên thượng nguồn sông

Hậu - nhiều nông hộ mạnh dạn

chuyển từ trồng lúa sang trồng

xoài ba màu - giống xoài có giá trị

kinh tế cao, dễ trồng và thích hợp

với thời tiết khô hạn Sau vài vụ

thu hoạch, cung ứng nguồn hàng

cho xuất khẩu với thu nhập trung

bình 1 tỷ đồng/ha/năm, các hộ

này đã mau chóng thoát nghèo

và trở thành những “tỷ phú nông

dân” bền vững Đáng nói là khu

vườn của họ không chỉ tạo doanh

thu cao gấp 5-7 lần so với trồng

lúa mà còn tạo ra điểm du lịch

sinh thái quan trọng của tỉnh An

Giang Vì vậy, ngoài doanh thu từ

xoài, các hộ dân giờ còn có thêm

nguồn thu nhập đáng kể từ hoạt động du lịch cộng đồng, cung cấp dịch vụ tham quan, trải nghiệm bản sắc địa phương và nghỉ ngơi tại chính khu vườn của mình

Xuôi dòng sông Hậu, Cồn Sơn - tên gọi một cù lao nhỏ do phù sa bồi đắp cũng là một minh chứng thành công nữa cho những nông dân biết “tự cứu mình” trước thách thức của thiên nhiên Nhiều

hộ dân nơi đây lựa chọn chuyển sang nuôi các loài cá đặc hữu như cá bông lau, cá hồng vỹ, cá cọp, cá hô, cá thác lác… Điều thú

vị hơn là một số hộ dân còn sáng tạo ra cách đưa những loài cá nuôi thành những sản phẩm du lịch “độc quyền” như “cá lóc bay”

hay “chả cá Cồn Sơn”… Nhờ đó, Cồn Sơn đã mau chóng trở thành

mô hình sản xuất kết hợp du lịch cộng đồng điển hình, là điểm đến không thể thiếu của các tour miệt vườn ở Cần Thơ Câu chuyện thành công của những nông dân này tuy không quá mới lạ, nhưng cách họ vượt qua nghịch cảnh

từ thiên nhiên nhắc nhở chúng

ta về câu thành ngữ đáng giá:

“Tự cứu mình trước khi Trời cứu” hay “Trời giúp người biết tự giúp mình” Là vùng đất cuối nguồn sông Mê Kông, cùng lúc phải gánh chịu những tác động kép do BĐKH và đập thủy điện ở thượng nguồn gây ra, có lẽ cách tiếp cận vừa giản đơn, vừa thuận theo tự nhiên, nhưng lại rất hiệu quả của người dân cù lao Giêng và Cồn Sơn sẽ là bài học đáng giá cho các nhà làm chính sách hiện nay

ở ĐBSCL Triết lý thành công của họ chính là biết tìm hướng

đi mới để bảo tồn sản xuất nông nghiệp - loại hình sinh kế mà nông dân có kinh nghiệm và thế mạnh nhất nhằm duy trì hệ sinh thái tự nhiên Đó là cách khôn ngoan nhất để người dân vẫn có thể làm chủ trên mảnh đất của mình, làm giàu bền vững và bảo tồn được lối sống, bản sắc của làng quê Ý nghĩa hơn là sự thành công của họ còn tạo ra việc làm

và nhiều hoạt động kinh tế phụ

Mô hình trồng xoài ba màu đã mang lại cuộc sống ấm no cho nhiều hộ dân ở

An Giang.

Trang 22

trợ khác như dịch vụ thu gom,

vận chuyển nông sản, dịch vụ du

lịch… Từ đó, góp phần quan trọng

vào việc thúc đẩy tăng trưởng ở

địa phương mà không cần phải lệ

thuộc vào các “dự án công nghiệp

tỷ đô” nhưng thiếu bền vững

Câu chuyện 3: Khoa học dân sự - khi

sự hiểu biết của người dân lên tiếng

Câu chuyện thành công của

những “tỷ phú nông dân” ở cù lao

Giêng và Cồn Sơn đã chứng minh

rằng, nông dân - những người

vốn học ít nhưng rất am tường

về các quy luật tự nhiên được

đúc rút qua nhiều thế hệ có đủ

bản lĩnh và sự hiểu biết để tìm tòi

những mô hình sản xuất sáng tạo

và hiệu quả Mặt khác, sự thành

công đó còn là bài kiểm nghiệm

thuyết phục để nhấn mạnh rằng,

sự hiểu biết và kinh nghiệm của

người dân địa phương trong việc

tự điều chỉnh và thích ứng có hiệu

quả với bối cảnh biến đổi môi

trường cần được nhìn nhận như

một thành tố quan trọng trong

xây dựng chính sách phát triển

ĐBSCL thích ứng với BĐKH

Ở một số vùng quê của Hậu

Giang, Sóc Trăng và Cần Thơ,

nhiều nông hộ cũng được tuyển

chọn để tham gia các dự án

nghiên cứu về môi trường, học

tập chuyển đổi (T-learning), mô

hình sinh kế… do các dự án của

các tổ chức như: GIZ, Danida,

JICA, SubProM… thực hiện Trong

sự hợp tác này, người dân vừa

đóng vai trò cung cấp cơ sở thực

nghiệm cho các nhà khoa học,

nhưng quan trọng hơn, ở chiều

ngược lại, những hiểu biết theo

lối kinh nghiệm mà họ chia sẻ

chính là những bằng chứng và dữ

liệu đáng tin cậy để kiểm nghiệm

và điều chỉnh các lý thuyết khoa học chính thống Rõ ràng, người dân (hay nông dân) không được đào tạo để làm khoa học bài bản, nhưng hiểu biết của họ có hàm lượng khoa học với độ thuyết phục cao bởi đó là thành quả đúc kết từ quá trình thử nghiệm, thất bại và thành công trong sản xuất, kéo dài qua nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ Chính vì vậy, các quy hoạch và chiến lược phát triển ở địa phương cần có

sự tham gia đầy đủ và đóng góp thiết thực từ đại diện cộng đồng địa phương, đặc biệt là những người dân có kinh nghiệm và tâm huyết Các nhà quản lý, chuyên gia chính sách và cả giới học giả cũng cần lắng nghe nhiều hơn tiếng nói của cộng đồng, một mặt để chia sẻ những hiểu biết thực tế, kiểm chứng lý thuyết hàn lâm qua phản biện từ người dân;

mặt khác cũng là cách để đảm bảo rằng những chủ trương được thông qua có sự hài hòa lợi ích giữa các bên: Nông dân, nhà đầu

tư và chính quyền

Thay lời kếtBĐKH và những tai biến thời tiết mà nó gây ra như hạn hán,

lũ lụt… không phải là hiện tượng mới lạ ở ĐBSCL, nhưng thảm họa môi trường kép năm vừa rồi

là một minh chứng điển hình nhất

để thấy rằng, thiên tai sẽ trở nên phức tạp và tàn phá đến mức nào khi nó có sự cộng hưởng của các bậc thang thủy điện ở thượng nguồn Trong nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các dự án công nghiệp đang xây dựng dang

dở hay đã đi vào hoạt động ở ĐBSCL và sự thất bại trong quản

lý sản xuất nông nghiệp bền

vững đã góp phần gia tăng thêm những tác động tiêu cực đến an ninh nguồn nước, suy thoái môi trường Mặc dù những tháng vừa qua, thực trạng môi trường

và diễn biến thời tiết ở ĐBSCL có chiều hướng tích cực, song những

gì đã diễn ra là sự nhắc nhở đáng giá cho Việt Nam trong việc lựa chọn chiến lược phát triển khôn ngoan và thận trọng

Có thể khẳng định rằng, tại Hội nghị về ĐBSCL được tổ chức trong hai ngày 26-27/9 vừa qua, Chính phủ đã thể hiện quyết tâm chính trị rõ ràng, tìm thấy tư duy đột phá trong định hướng cơ chế tiếp cận cho ĐBSCL, trong đó cũng đã thừa nhận sự cần thiết của “chính sách tự lực” trong thích ứng với điều kiện BĐKH gia tăng trong khu vực Vì vậy, ngoài hướng tiếp cận liên kết vùng, quy hoạch phát triển theo không gian lãnh thổ, hạn chế sự can thiệp quá

đà từ các biện pháp công trình…; các nhà hoạch định chính sách cần phải quan tâm nhiều hơn đến các cơ chế tiếp cận “mềm”, trong đó có giáo dục cộng đồng, thúc đẩy học tập chuyển đổi, trao quyền và tạo thuận lợi nhiều hơn cho “khoa học dân sự”, bởi người dân là đối tượng mục tiêu của mọi quy hoạch phát triển và cũng là đối tượng chịu tác động nhiều nhất khi quy hoạch thành công hoặc thất bại Nhìn nhận ở góc độ này, những câu chuyện trên vẫn còn nguyên giá trị, là bài học đáng giá cho sự thận trọng

và nhạy bén trong phát triển thích ứng với BĐKH ở ĐBSCL ?

Trang 23

SMEs gặp khó trong việc triển khai

hoạt động đổi mới công nghệ

Trong bối cảnh toàn cầu hoá

và hội nhập kinh tế quốc tế như

hiện nay, doanh nghiệp sẽ là

trung tâm của hoạt động khoa

học và công nghệ, là nơi ứng

dụng các kết quả nghiên cứu của

các nhà khoa học từ các viện

nghiên cứu, trường đại học Theo

số liệu thống kê, cả nước hiện có

hơn 600.000 doanh nghiệp, trong

đó SMEs chiếm gần 98% SMEs

đóng vai trò quan trọng trong việc

tạo công ăn việc làm, cải thiện

thu nhập cho người lao động và

huy động nguồn lực cho phát

triển kinh tế Tuy nhiên, phần

lớn các doanh nghiệp này đang

sử dụng công nghệ lạc hậu hơn

so với mức trung bình của thế

giới từ 2-3 thế hệ Trong đó, có

đến 76% máy móc, dây chuyền

công nghệ thuộc thế hệ những

năm 60-70 của thế kỷ trước, 75%

số thiết bị đã hết khấu hao, 50%

thiết bị là đồ tân trang , chỉ có

20% sử dụng công nghệ cao1 Chính vì thế phần lớn các doanh nghiệp của Việt Nam mới chỉ tham gia vào khâu có giá trị thấp trong chuỗi cung ứng, là lắp ráp

và gia công, cung cấp các phụ tùng thay thế, chứ chưa tham gia sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ cũng rất

ít, SMEs Việt Nam nói chung còn

ở trình độ công nghệ thấp hơn

so với nhiều nước trong khu vực ASEAN Công nghệ lạc hậu dẫn đến nhiều tác động tiêu cực, điển hình là năng suất lao động thấp, tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng cao, ô nhiễm môi trường

và ứng dụng công nghệ tiên tiến

Để có được nguồn tài chính đầu

tư cho hoạt động đổi mới công nghệ, hầu hết SMEs đều thiên

về giải pháp vay vốn từ các ngân hàng thương mại, tuy nhiên chỉ có khoảng 30% trong số này có thể nhận được khoản vay vì những

lý do như khả năng tài chính và

kỹ năng quản lý kém, công nghệ lạc hậu, thị trường hạn chế Các ngân hàng thương mại cũng cho rằng, cho SMEs vay thường rủi

ro cao, nên chỉ quan tâm đến các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhà nước Do đó, SMEs

nAtiF chủ Động Đồng hành

và tháo gỡ khó khăn cùng các doAnh nghiệp vừA và nhỏ

Với nguồn vốn 1.000 tỷ đồng/năm để hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) đang nỗ lực tiếp cận, trở thành bạn đồng hành, giúp các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) nói riêng triển khai hoạt động đổi mới công nghệ, tạo tiền đề và cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh trước xu

thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

1 Nguyễn Anh Thu, Vũ Thanh Hương, Nguyễn Thị Thanh Mai (2017), Báo cáo Đề tài "Cải thiện tiếp cận của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam với các hỗ trợ đổi mới công nghệ:

Trường hợp NITIF", Dự án Năng lực thương mại Việt Nam.

Trang 24

gặp nhiều khó khăn và hạn chế

trong việc tiếp cận các khoản

vay ngân hàng để đổi mới công

nghệ cũng như phát triển các sản

phẩm mới, sản phẩm chủ lực

NATIF chủ động đồng hành và cùng

tháo gỡ khó khăn cho SMEs

NATIF được thành lập theo

Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày

5/8/2011 của Thủ tướng Chính

phủ, với mục tiêu chính và trực

tiếp là hỗ trợ các doanh nghiệp

đổi mới công nghệ, nâng cao

năng lực cạnh tranh và tạo mối

liên kết giữa trường đại học, viện

nghiên cứu và SMEs trong hoạt

động đổi mới công nghệ Tổng

vốn điều lệ của NATIF là 1.000 tỷ

đồng/năm Đến 8/1/2015, NATIF

mới chính thức ra mắt và đi vào

hoạt động, nên việc tiếp cận của

SMEs đối với Quỹ còn chưa phổ

biến Câu hỏi đặt ra là, làm thế

nào để SMEs Việt Nam có thể

tiếp cận nhiều hơn với các hỗ trợ

đổi mới công nghệ nói chung và

NATIF nói riêng, tạo tiền đề và

cơ hội thúc đẩy SMEs nâng cao

năng lực cạnh tranh trong dài

hạn?

Để giải quyết vấn đề này, bên

cạnh việc tiếp nhận và xử lý hiệu

quả các đề xuất từ doanh nghiệp,

NATIF còn chủ động kết nối, làm

việc với các hội/hiệp hội doanh

nghiệp và các ngành nghề, lĩnh

vực, các sở/ban/ngành… để tuyên

truyền, giới thiệu và tìm kiếm các

doanh nghiệp có tiềm năng, có

nhu cầu đổi mới và chuyển giao

công nghệ Với sự nỗ lực không

ngừng, sau gần 2 năm triển khai,

là bước khởi đầu mới của NATIF theo hướng chủ động tìm kiếm và đồng hành cùng doanh nghiệp

Dự án của Công ty CIE1 xuất phát từ nhu cầu rất lớn ở trong nước và khu vực về các trạm trộn

bê tông tiêu chuẩn Tại Việt Nam hiện nay chỉ có khoảng 600 trạm trộn, phần lớn là công suất thấp, bởi các máy trộn và trạm trộn công suất lớn phải nhập khẩu với giá cao Dự kiến đến năm 2030, các trạm trộn trong nước sẽ không còn đáp ứng được yêu cầu của thị trường Nếu không chủ động về công nghệ, Việt Nam sẽ

bị phụ thuộc hoàn toàn vào dây chuyền thiết bị nhập khẩu, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành xây dựng cũng như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trước yêu cầu của thực tiễn, NATIF đã chủ động tìm

kiếm các đơn vị có năng lực, kinh nghiệm và nhu cầu đổi mới công nghệ, đổi mới dây chuyền trong lĩnh vực sản xuất trạm trộn bê tông tự động công suất lớn Qua quá trình xét chọn, dự án “Đổi mới công nghệ sản xuất các loại trạm trộn bê tông tự động chất lượng cao, công suất lớn cho ngành xây dựng Việt Nam và xuất khẩu” của Công ty CIE1 được Hội đồng khoa học của Quỹ đánh giá cao vì tính thực tiễn, cũng như tính tiên phong về công nghệ sản xuất Theo nhận định của các chuyên gia, dự án sẽ giúp nâng công nghệ sản xuất tại Công ty CIE1 lên tầm khu vực và thế giới Đồng thời, góp phần định hướng phát triển công nghệ mới, công nghệ hiện đại cho các doanh nghiệp trong nước sản xuất sản phẩm cùng loại (như Công ty Hitechco - Khu công nghiệp Biên Hòa, Đồng Nai), góp phần tạo ra nhiều sản phẩm mới có chất lượng cao cho ngành xây dựng

Các kỹ sư của Công ty CIE1 đang triển khai dự án.

Trang 25

Giống như dự án của Công

ty CIE1, dự án “Hoàn thiện công

nghệ và thiết bị sản xuất sơn Alkyd

dung môi - nước có hàm lượng

VOC thấp, công suất 15.000 tấn/

năm” của Công ty sơn Hải Phòng

được NATIF lựa chọn tài trợ vì giải

quyết được 2 vấn đề: Một là tính

ưu việt của loại sơn Alkyd mới so

với các sản phẩm hiện hành; hai

là chứng minh được năng lực thực

hiện của doanh nghiệp Theo ước

tính, với tốc độ xây dựng cơ sở hạ

tầng như hiện nay, nếu sử dụng

sơn thông thường mỗi năm sẽ

thải ra gần 20.000 tấn dung môi

hữu cơ, gây tác hại không nhỏ

đến môi trường Hiện nay, các

nước trong khu vực và thế giới

đang hướng tới chế tạo sơn có

hàm lượng VOC thấp, nhằm giảm

thiểu ảnh hưởng đến sức khỏe

con người và thân thiện hơn với

môi trường Cụ thể, hàm lượng

VOC tối đa quy định cho các sản

Tuy nhiên, quy trình công nghệ đang sử dụng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất sản phẩm mới, cần phải cải tiến rất nhiều nhưng nguồn lực tài chính của một SME lại không cho phép

Cuối năm 2015, được sự hướng dẫn của NATIF, Công ty sơn Hải Phòng đã trình bày kế hoạch thực hiện dự án rất chi tiết và thuyết phục, dựa trên những nghiên cứu nghiêm túc và các đề xuất mang tính ứng dụng cao, được Hội đồng khoa học của Quỹ thông qua Đến nay, Công ty đã nhận được sự hỗ trợ tài chính thiết thực

từ NATIF để triển khai hoạt động đổi mới công nghệ Toàn bộ các nội dung nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm của dự án sẽ kết thúc trong năm 2017, dự kiến nghiệm thu vào giữa năm 2018 Sự hỗ trợ kịp thời của NATIF đối với Công

ty sơn Hải Phòng được kỳ vọng

sẽ tạo ra một mô hình tiêu biểu, giúp khẳng định hiệu quả của hoạt động đổi mới công nghệ ở một SME, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ tới hệ thống SMEs trên cả nước Tính đến thời điểm hiện tại, dự án đã trở thành kênh quảng bá thiết thực, đưa NATIF đến gần hơn với SMEs, giúp Quỹ tiếp tục triển khai thành công hơn

10 dự án tài trợ cho SMEs trong hoạt động đổi mới công nghệ.Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả hỗ trợ/tài trợ, bên cạnh sự nỗ lực của NATIF, SMEs nói riêng, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung cần chủ động đối thoại với Quỹ, nêu lên những khó khăn trong quá trình tiếp cận các loại hình hỗ trợ đổi mới công nghệ, để cùng tìm ra giải pháp khắc phục, cũng như góp phần vào quá trình đổi mới chính sách Đó là cơ sở để NATIF đạt được thành công trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, nâng cao tiềm lực công nghệ, cũng như sức cạnh tranh không chỉ của doanh nghiệp mà của cả quốc gia trong thời kỳ hội nhập ?

Tuấn Hải Nhóm nghiên cứu của Công ty Sơn Hải Phòng kiểm tra sản phẩm.

Trang 26

Mở đầu

Trong số các loài cây thuốc

quý của nước ta, Lan kim tuyến

(Anoectochilus setaceus Blume),

Đinh lăng (Polyscias fruticosa

L Harm) và Gừng gió (Zingber

zerumbert sm.) rất được quan tâm bởi

công dụng dược liệu của chúng rất

lớn Cụ thể, Lan kim tuyến được dùng

để điều trị các bệnh về tim mạch, bồi

bổ sức khỏe cho phụ nữ sau khi sinh

Đặc biệt, loại dược liệu này còn có

khả năng tiêu diệt các khối u Đinh

lăng là cây thuốc cổ truyền được sử

dụng nhiều trong điều trị bệnh ho ra

máu, chữa kiết lỵ, kích thích tiêu hóa,

tăng sức dẻo dai nhờ chứa nhiều

chất có tác dụng bồi bổ sức khỏe và

chữa bệnh như các hợp chất saponin,

vitamin B1, tanin Trong tinh dầu

Gừng gió có chứa nhiều monoterpen,

sesquiterpen seton, zerumbom có

tác dụng tán phong hàn, giảm đau,

trị ứ huyết, chóng mặt, tẩy độc, kích

thích tiêu hóa, ăn ngon, ngủ ngon

Tuy nhiên, cũng giống như nhiều loài

dược liệu quý khác, số lượng Gừng

gió, Lan kim tuyến khai thác được

trong tự nhiên hiện nay không đáp

ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước

và xuất khẩu Trong khi đó, cây Đinh

lăng mặc dù được thuần hóa và trồng

ở vườn nhà từ lâu, song do thiếu nguồn giống và quy mô trồng nhỏ lẻ nên cũng không đủ nguyên liệu để cung cấp cho thị trường

Hiện tại, việc nhân giống 3 loài dược liệu quý nêu trên chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp truyền thống (giâm hom, củ) nên không đảm bảo đủ số lượng cho nhu cầu

mở rộng vùng nguyên liệu cũng như chất lượng không đồng đều, giá thành cao… Trước nhu cầu về cây giống cho phát triển vùng nguyên liệu, một số tổ chức nghiên cứu trong nước đã có những nghiên cứu nhân giống Lan kim tuyến, Gừng gió và Đinh lăng bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào (in vitro), song còn rất hạn chế và chỉ dừng ở mức độ phòng thí nghiệm

Để góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro, nuôi trồng thâm canh phục vụ sản xuất quy mô hàng hóa cho 3 loài dược liệu Lan kim tuyến, Gừng gió và Đinh lăng, Viện Nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp

đã đề xuất và được Ban chủ nhiệm Chương trình 592 phê duyệt thực hiện dự án “Hoàn thiện công nghệ nhân giống in vitro và nuôi trồng một

số cây thuốc quý có giá trị kinh tế cao (Lan kim tuyến, Đinh lăng và Gừng gió)”

Kết quả của dự án và sự ra đời của doanh nghiệp KH&CN

Để có cơ sở khoa học phục vụ nhân giống in vitro, dự án đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của 3 loài Lan kim tuyến, Đinh lăng và Gừng gió Trên cơ sở đó,

dự án đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp khử trùng mẫu và đối tượng làm mẫu (đỉnh sinh trưởng, thân, rễ, lá…) để tạo mẫu vật liệu vô trùng; ảnh hưởng của một

số môi trường và chất điều hòa sinh trưởng (NAA, IBA…) đến khả năng tạo chồi của cây; ảnh hưởng của môi trường, chất điều hòa sinh trưởng và dịch chiết hữu cơ đến khả năng nhân nhanh cụm chồi; ảnh hưởng của môi trường đến tạo cây con hoàn chỉnh; ảnh hưởng của điều kiện chiếu sáng, chế độ tưới nước, bón phân và kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh cho cây…

Từ những nghiên cứu này, dự án đã hoàn thiện được quy trình nhân giống

in vitro cho 3 loài Lan kim tuyến, Đinh lăng, Gừng gió và sản xuất thành công 255 nghìn cây Lan kim tuyến,

211 nghìn cây Đinh lăng, 180 nghìn

Trang 27

cây Gừng gió (đạt lần lượt 105,5;

127,5 và 180% so với kế hoạch)

Cây giống sinh trưởng phát triển tốt,

không bị sâu bệnh

Bên cạnh đó, để hoàn thiện quy

trình nuôi trồng thâm canh Lan kim

tuyến, Đinh lăng và Gừng gió, dự

án đã nghiên cứu thử nghiệm trên

nhiều loại giá thể, đất, mật độ và

mùa vụ trồng khác nhau; nghiên cứu

ảnh hưởng của chế độ phân bón,

tưới nước và kỹ thuật phòng trừ sâu

bệnh… Dựa trên các kết quả nghiên

cứu, cơ quan chủ trì dự án đã hoàn

thiện quy trình nuôi trồng cho 3 loài

Lan kim tuyến, Đinh lăng và Gừng

gió, đảm bảo tỷ lệ sống đạt trên

90%, cây sinh trưởng phát triển tốt

Thực tế triển khai mô hình trình diễn

theo công nghệ của dự án (tại huyện

Đại Từ, Định Hóa và thành phố Thái

Nguyên) cho cả 3 loài Lan kim tuyến,

Đinh lăng và Gừng gió với diện tích

1,67 ha (vượt 10% so với kế hoạch) cho thấy tỷ lệ sống đạt trên 95%, cây sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh

Để thuận lợi trong việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, cơ quan chủ trì dự án đã hoàn thiện hồ sơ và trình Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ Kết quả, 6 quy trình công nghệ được hoàn thiện từ dự án (quy trình nhân giống cây Lan kim tuyến;

quy trình nhân giống cây Đinh lăng;

quy trình nhân giống cây Gừng gió;

quy trình trồng cây Lan kim tuyến;

quy trình trồng cây Đinh lăng; quy trình trồng cây Gừng gió) đã được Cục Sở hữu trí tuệ chấp nhận đơn bảo hộ

Trên cơ sở các quy trình công nghệ đã hoàn thiện, cơ quan chủ trì dự án đã phối hợp với đơn vị trực thuộc xây dựng hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN Sở KH&CN Thái Nguyên đã

thẩm định và cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN cho Công ty

Cổ phần nông lâm nghiệp và môi trường Việt Nam (đơn vị liên kết được Viện Nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp chuyển giao công nghệ của dự án) để sản xuất và thương mại hóa sản phẩm của 3 loài dược liệu quý Lan kim tuyến, Đinh lăng

và Gừng gió (Giấy chứng nhận số 4601292139)

Với những kết quả đạt được, dự án không chỉ giúp đơn vị chủ trì làm chủ công nghệ trong nhân giống, nuôi trồng, chăm sóc một số cây dược liệu quý mà còn có tác động tích cực tới phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của tỉnh Thái Nguyên nói riêng, các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung Theo đánh giá của GS.TSKH Trần Duy Quý - Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cấp nhà nước, thành công của

dự án là mô hình mẫu góp phần tích cực vào việc thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc, giúp khai thác hiệu quả tiềm năng

và lợi thế sẵn có Bên cạnh đó, việc trồng cây dược liệu thâm canh trên đất vườn nhà không những đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ gia đình mà còn đóng góp lớn về hiệu quả môi trường, bởi vì Lan kim tuyến, Đinh lăng và Gừng gió là những cây trồng xen tạo nên thảm thực vật che phủ và hạn chế xói mòn đất, đồng thời góp phần bảo vệ nguồn nước Ngoài

ra, việc nhân giống thành công bằng phương pháp nuôi cấy mô đã góp phần đảm bảo nguồn giống cho sản xuất, hạn chế việc khai thác trong tự nhiên, góp phần bảo tồn nguồn gen dược liệu quý, có giá trị kinh tế cao nhưng đang ngày càng khan hiếm

do khai thác không bền vững Đặc biệt, với việc phát triển thêm được một doanh nghiệp KH&CN, dự án đã góp phần thực hiện thành công mục tiêu của Chương trình 592 là thúc đẩy việc hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN trong cả nước ?

Gừng gió nuôi cấy mô (A) và ra bầu trong vườn ươm (B).

Lan kim tuyến nuôi cấy mô (C) và huấn luyện trong vườn ươm (D).

Trang 28

Thực trạng chuyển giao, khai thác sáng

chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu

hoạch

Hiện nay, tổn thất sau thu hoạch

của Việt Nam thuộc hàng cao so

với các nước trong khu vực châu Á:

Khoảng 14% đối với lúa gạo, 22% đối

với chăn nuôi, cây ăn quả, đánh bắt

thủy hải sản và 30% đối với rau củ

Một trong những nguyên nhân dẫn

tới tổn thất sau thu hoạch cao là do

công nghệ được sử dụng trong lưu

trữ, chế biến, bảo quản và đóng gói

còn hạn chế Điều này ảnh hưởng

trực tiếp tới giá trị hàng nông sản Do

đó, việc cải tiến, đổi mới, nâng cao

trình độ công nghệ thông qua việc

tiếp nhận, chuyển giao sáng chế, giải

pháp hữu ích nhằm từng bước giảm

tổn thất sau thu hoạch tại các doanh

nghiệp sản xuất, chế biến nông sản

là cần thiết

Đến nay, Việt Nam chưa có thống

kê đầy đủ về hoạt động chuyển giao,

khai thác, cũng như đo lường giá trị

giao dịch các sáng chế trong lĩnh vực

công nghệ sau thu hoạch Trên thực

tế có nhiều sáng chế, đối tượng sở

hữu công nghiệp được chuyển giao

mà không có đăng ký Theo Cục

Sở hữu trí tuệ (2016), số đơn đăng

ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng theo đối tượng sở hữu công nghiệp trong giai đoạn 2010-2015

là 4.902 và chuyển nhượng quyền

sở hữu là 12.749 Trong đó có 43 sáng chế, giải pháp hữu ích được chuyển giao quyền sử dụng (chiếm 1,05%), 478 sáng chế, giải pháp hữu ích được chuyển giao quyền sở hữu (chiếm 3,75%) Trong các sáng chế, giải pháp hữu ích được chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng,

có rất ít các sáng chế, giải pháp hữu ích trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch Điều này cho thấy, việc đăng

ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng về sáng chế, giải pháp hữu ích còn khiêm tốn so với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp trong lĩnh vực sau thu hoạch

Thực tế, để giảm tổn thất sau thu hoạch trong lưu trữ, chế biến, bảo quản và đóng gói đối với cây ăn quả, lúa gạo, ngô, đậu tương, lạc, thủy hải sản thông qua chuyển giao, khai

thác sáng chế thì các nhà sáng chế, chủ sở hữu bằng sáng chế và các bên liên quan cần tiến hành phân tích môi trường, xác định mục tiêu

và hình thức chuyển giao, khai thác phù hợp; đồng thời cần xác định được các thuận lợi, khó khăn trong toàn bộ quá trình chuyển giao, khai thác sáng chế Điều này đã được Viện Nghiên cứu sáng chế và khai thác công nghệ ghi nhận từ các chuyên gia, nhà sáng chế, doanh nghiệp và các nhà quản lý tại Hội thảo “Khai thác và thương mại hóa sáng chế trong một số ngành có lợi thế cạnh tranh” được tổ chức vào tháng 9/2016 tại Hà Nội và Hội thảo

“Khai thác và thương mại hóa sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch” được tổ chức vào tháng 7/2017 tại thành phố Hồ Chí Minh.Hoạt động chuyển giao công nghệ nói chung, sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch nói riêng trong thời gian qua có những thuận lợi cơ bản sau:

Một là, Nhà nước luôn quan tâm

và có chính sách khuyến khích phát triển như: Tài trợ, hỗ trợ, ưu đãi thuế, tín dụng, đào tạo, hỗ trợ đánh giá,

THúC Đẩy CHuyểN GIAo, KHAI THáC SáNG CHế TRoNG LĩNH VựC CôNG NGHệ SAu THu HoạCH

TS Nguyễn Hữu Xuyên, TS Phạm Ngọc Hiếu

Viện Nghiên cứu sáng chế và khai thác công nghệ

Giảm tổn thất sau thu hoạch là một vấn đề hết sức có ý nghĩa Thực tế cho thấy, việc giảm tổn thất sau thu hoạch thông qua việc ứng dụng, khai thác sáng chế để cải tiến, đổi mới công nghệ sau thu hoạch ở Việt Nam còn nhiều hạn chế; đồng thời các chính sách hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao, khai thác sáng chế nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch chưa thực sự phát huy được hiệu quả như mong muốn, cho dù đây là lĩnh vực được Nhà nước quan tâm phát triển Trên cơ sở phân tích những thuận lợi, khó khăn, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển giao, khai thác sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch ở nước ta trong thời gian tới.

Trang 29

định giá sáng chế Nhà nước từng

bước cải thiện môi trường kinh doanh

theo hướng thuận lợi, an toàn và thân

thiện cho doanh nghiệp nhằm phát

huy lợi thế cạnh tranh của các ngành

(đặc biệt là nông nghiệp), trong đó

chú trọng tới hoạt động chuyển giao,

khai thác sáng chế phục vụ cho việc

nâng cao trình độ, năng lực công

nghệ, góp phần chuyển đổi mô hình

tăng trưởng kinh tế dựa trên nền tảng

khoa học và công nghệ (KH&CN),

đổi mới sáng tạo

Hai là, để hỗ trợ, nâng cao năng

lực triển khai công nghệ trong lĩnh

vực sau thu hoạch với mục tiêu ứng

dụng và phát triển thành công một

số công nghệ bảo quản, chế biến

hiện đại và giải pháp phù hợp nhằm

giảm tổn thất sau thu hoạch, Nhà

nước đã ban hành nhiều chính sách

hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu

hoạch đối với nông sản và thủy sản

Các chính sách đã tạo ra hành lang

pháp lý và điều kiện tương đối thuận

lợi cho hoạt động khai thác, chuyển

giao sáng chế nói chung và trong

lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch

nói riêng Bộ Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn đã phê duyệt Chiến

lược quốc gia sau thu hoạch về lúa

gạo, ngô, đậu tương và lạc đến năm

2020 Đây là những điều kiện thuận

lợi cho hoạt động chuyển giao sáng

chế nhằm giảm tổn thất sau thu

hoạch thông qua việc áp dụng, khai

thác sáng chế để cải tiến và đổi mới

công nghệ

Ba là, Việt Nam đã hình thành cơ

sở dữ liệu sáng chế và hỗ trợ chuyển

giao sáng chế (thư viện số về bằng

sáng chế của Cục Sở hữu trí tuệ; một

số sàn giao dịch thiết bị và công nghệ

trực tuyến, trong đó có giao dịch sáng

chế; hỗ trợ tra cứu sáng chế tại cơ sở

dữ liệu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế

giới, Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu

Hoa Kỳ, Cơ quan sáng chế châu Âu,

Cơ quan sáng chế Nhật Bản…) Qua

đó đã giúp đẩy nhanh quá trình tìm

kiếm, đánh giá và lựa chọn sáng chế

trong lĩnh vực sau thu hoạch phù hợp

để phục vụ cho hoạt động chuyển giao, khai thác sáng chế

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, hoạt động chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch ở nước ta thời gian qua cũng gặp phải một số khó khăn nhất định, như:

Nguồn lực (vốn, nhân lực chất lượng cao) cho hoạt động tiếp nhận, khai thác và chuyển giao sáng chế còn hạn chế Trên thực tế, các doanh

nghiệp chế biến, bảo quản nông sản

đã nhận thức được các lợi ích khi khai thác, ứng dụng sáng chế để cải tiến, đổi mới công nghệ, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng lại gặp khó về tài chính, nhân lực chất lượng cao Thống kê cho thấy, có tới 98% doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn về vốn, chỉ có 25% doanh nghiệp có vốn tự có, còn lại phải huy động vốn từ bên ngoài với lãi suất cao nên khó đầu tư trang thiết bị, mua sáng chế để đổi mới công nghệ

Các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để mua máy móc, trang thiết bị, sáng chế phục vụ cho đổi mới quy trình nhằm giảm tổn thất trong quá trình chế biến; nhân lực có trình độ,

kỹ năng tay nghề cao trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch còn hạn chế Đây là những trở ngại lớn trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến, sáng chế vào sản xuất, dẫn đến năng suất thấp, chất lượng bảo quản, chế biến nông sản chưa cao

Hoạt động đánh giá, định giá và lựa chọn sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch để tiếp nhận hay chuyển giao còn có những bất cập nhất định Thực tế cho thấy,

việc đánh giá, định giá sáng chế hiện nay còn hạn chế, chưa thể là chứng thư để giúp các chủ sở hữu sáng chế vay vốn, thế chấp tại các tổ chức tín dụng, ngân hàng; đồng thời năng lực

nghiên cứu, thiết kế, tính toán, chế tạo, mô phỏng thử nghiệm sáng chế, công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch ở Việt Nam còn chưa phát triển Việc lựa chọn, thích nghi, đồng hóa, làm chủ, cải tiến, giải mã công nghệ sau thu hoạch được nhập từ các nước phát triển chưa được Nhà nước, các doanh nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch quan tâm đúng mức

Thúc đẩy chuyển giao sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch

Từ những phân tích trên, để thúc đẩy chuyển giao, khai thác sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch, thời gian tới cần thực hiện một

số giải pháp chính sau:

Một là, cần tạo hàng lang pháp

lý thuận lợi cho hoạt động chuyển giao, khai thác sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch Kinh nghiệm của hầu hết các quốc gia cho thấy, chuyển giao, khai thác sáng chế là quy trình phức tạp và rất dễ xảy ra tranh chấp Do đó, các vấn đề pháp lý liên quan đến chuyển giao sáng chế cần rõ ràng, minh bạch, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn, lợi ích và rủi ro của các bên trong hoạt động chuyển giao, khai thác sáng chế nhằm tạo dựng được lòng tin cho các bên tham gia, cũng như tạo thuận lợi cho việc quản lý sáng chế Hệ thống pháp luật về sáng chế đầy đủ, kịp thời, nhất quán, cơ chế phân chia lợi ích phù hợp, minh bạch

có tác động lớn tới việc gia tăng số lượng sáng chế được chuyển giao và khai thác nói chung và trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch nói riêng

Hai là, nuôi dưỡng nguồn cung

sáng chế, thúc đẩy thị trường sáng chế phát triển và chú trọng tới các giao dịch sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch Để có thể chuyển giao được sáng chế thì cần

có nguồn cung sáng chế Phần lớn các sáng chế được tạo ra từ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát

Trang 30

triển công nghệ Do đó, cần khuyến

khích mọi cá nhân, doanh nghiệp, tổ

chức, đặc biệt là các trường đại học,

viện nghiên cứu, các tổ chức KH&CN

hoạt động trong lĩnh vực công nghệ

sau thu hoạch tạo ra các sản phẩm

nghiên cứu có chất lượng để có thể

đăng ký bảo hộ sáng chế, giải pháp

hữu ích Để nuôi dưỡng nguồn cung

sáng chế, Nhà nước cần tăng cường

trách nhiệm giám sát các đề tài, dự

án sử dụng ngân sách Đối với các đề

tài, dự án trong lĩnh vực công nghệ

sau thu hoạch, ngoài các sản phẩm

như báo cáo, bài báo và mô hình thử

nghiệm thì cần thiết phải bổ sung sản

phẩm đầu ra là các đăng ký để xin

cấp bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp

hữu ích Hơn nữa, cần thiết phải đẩy

nhanh hoạt động kết nối cung cầu

thông qua các tổ chức trung gian,

các sàn giao dịch công nghệ, trong

đó có giao dịch sáng chế trong lĩnh

vực công nghệ sau thu hoạch, hỗ trợ

cung ứng các dịch vụ về thu thập, xử

lý thông tin sáng chế và đưa ra các

cảnh báo trong việc áp dụng, chuyển

giao sáng chế

Ba là, phát triển và nâng tầm các

tổ chức đánh giá, định giá sáng chế,

trong đó có đánh giá, định giá về sáng

chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu

hoạch Để có thể chuyển giao, khai

thác sáng chế thì cần phải định giá

đúng giá trị của sáng chế theo các

phương pháp định giá phù hợp (chi

phí, thị trường, thu nhập) và phải

được các bên chấp nhận Đặc biệt

là các tổ chức tín dụng, ngân hàng

chấp nhận kết quả định giá để cấp tín

dụng, cho vay với tài sản đảm bảo là

sáng chế Thực tế cho thấy, việc định

giá để chuyển giao, khai thác sáng

chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu

hoạch còn gặp những khó khăn nhất

định Các kết quả định giá sáng chế

của các tổ chức có chức năng thẩm

định và định giá chưa được các bên

chấp nhận cao, nên họ thường tự thỏa

thuận với nhau, tự đánh giá, định giá

sáng chế Do đó, cần thiết phải phát

triển, nâng tầm các tổ chức định giá sáng chế, hình thành và phát triển hệ thống chuyên gia, các tổ chức định giá sáng chế độc lập trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch để phục

vụ, hỗ trợ cho hoạt động chuyển giao, khai thác sáng chế

Bốn là, hỗ trợ tài chính và đào tạo

nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động chuyển giao, khai thác sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch Để hỗ trợ tài chính cho việc tiếp nhận và khai thác sáng chế, Nhà nước cần rà soát và xác định các ưu tiên theo từng giai đoạn phát triển

để hỗ trợ trực tiếp trong hoạt động chuyển giao, khai thác sáng chế (hỗ trợ tiếp cận thông tin sáng chế, đàm phán với nhà sáng chế, chủ sở hữu sáng chế, hỗ trợ chuyên gia) Trước tiên, cần hỗ trợ kinh phí hoàn thiện sáng chế để cải tiến công nghệ chế biến nhằm gia tăng giá trị sản phẩm

và giảm tổn thất về chất lượng đối với

cà phê, rau quả, chè, hạt điều Đây là các ngành hàng có tổn thất sau thu hoạch cao và cần được ưu tiên đầu

tư phát triển Đồng thời cần triển khai

có hiệu quả chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp, trong đó có ưu đãi, hỗ trợ về tài chính theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp của Thủ tướng Chính phủ

Hơn nữa, cần hỗ trợ tổ chức các khóa tập huấn, đào tạo để nâng cao nhận thức, nghiệp vụ, kỹ năng tổ chức thực hiện chuyển giao, khai thác cho nhà sáng chế, doanh nghiệp trong việc tìm hiểu phương thức, cách thức chuyển giao, nghiên cứu thị trường, soạn thảo, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao, khai thác sáng chế theo đúng các quy định hiện hành của pháp luật

Năm là, tăng cường hoạt động

hợp tác, liên kết về chuyển giao sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch Các hoạt động hợp tác, liên kết này cần hướng tới và góp phần

thực hiện chiến lược quốc gia sau thu hoạch tới năm 2020 theo Quyết định

số 20/2007/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Do

đó, cần thúc đẩy chuyển giao, khai thác sáng chế để cải tiến, đổi mới, hoàn thiện công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch đối với sản xuất lúa gạo, ngô, đậu tương, lạc; ưu tiên chuyển giao, khai thác sáng chế đối với thiết bị chế biến, bảo quản hoa quả, kho lạnh, xử lý nồng độ thuốc bảo vệ thực vật trong hoa quả để bảo đảm chất lượng sản phẩm Việc liên kết, hợp tác là cần thiết để khắc phục điểm yếu của các bên và tăng cường sức mạnh trong quá trình chuyển giao, khai thác sáng chế Để mối liên kết, hợp tác có hiệu quả trong chuỗi giá trị thì các bên tham gia (nhà sáng chế/chủ sở hữu sáng chế nhà nước, nhà đầu tư, doanh nghiệp) phải được hình thành dựa trên cơ sở tự nguyện, tin tưởng vào năng lực, tiềm lực của các bên ?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

(2007), Quyết định số 20/2007/QĐ-BNN ngày

15/3/2017 về chiến lược quốc gia sau thu hoạch lúa gạo, ngô, đậu tương và lạc đến năm 2020.

2 Cục Sở hữu trí tuệ (2016), Báo cáo thường

niên hoạt động sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Khoa

học và Kỹ thuật.

3 Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định

số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch trong nông nghiệp.

4 Trần Thị Định (2016), “Giới thiệu kết quả nghiên cứu về công nghệ sau thu hoạch và các

cơ hội hợp tác”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Học

viện Nông nghiệp Việt Nam.

5 Nguyễn Hữu Xuyên, Trịnh Minh Tâm

(2017), Khai thác sáng chế và đổi mới sáng tạo,

Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân.

6 Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung

ương (2015), Báo cáo điều tra về năng lực cạnh

tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động.

Trang 31

Phát triển nông nghiệp bền vững và

những vấn đề đặt ra cho ĐBSCL

Nông nghiệp bền vững trước

hết phải là nền nông nghiệp

xanh, sử dụng tiết kiệm và hiệu

quả các nguồn tài nguyên, bảo

vệ môi trường, tạo ra tăng trưởng

xanh bền vững Đó phải là nông

nghiệp sạch, đảm bảo an toàn

cho con người và môi trường

Đó cũng là nông nghiệp hiện đại

và thông minh, có năng suất,

chất lượng cao, cơ giới hóa đồng

bộ, chủ động ứng phó với thiên

nhiên, né tránh thiên tai hiệu quả

hơn trong điều kiện BĐKH, nước

biển dâng Đồng thời là nền

nông nghiệp có nền tảng vững

chắc trên cơ sở hạ tầng thủy lợi

được xây dựng khoa học và phù

hợp, có khả năng hỗ trợ đắc lực

cho phát triển các ngành sản

xuất (như trồng trọt, chăn nuôi,

thủy sản, muối và các ngành công nghiệp), phục vụ nhu cầu dân sinh ở cả nông thôn và đô thị

Nông nghiệp phát triển bền vững còn phải là nền nông nghiệp được

tổ chức tốt, có sức tăng trưởng cao và ổn định, chịu đựng dẻo dai trước những biến động kinh tế, xã hội trong và ngoài nước cũng như những tác động ngày càng bất thường của BĐKH

Các nông hộ không thể đơn lẻ

mà phát triển bền vững được Sự bền vững của nông nghiệp phải gắn với sự bền vững trong quan

hệ đất đai, tích tụ ruộng vườn, tập trung sản xuất, phát triển các hình thức tổ chức hợp tác, liên kết tiên tiến phù hợp, kết nối chặt chẽ sản xuất với thị trường, nông dân với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị, thu hút sự quan tâm đầu

tư ngày càng lớn của các doanh

nghiệp và cả xã hội Nông nghiệp bền vững cần dựa trên sự bền vững của yếu tố con người, vai trò chủ thể của nông dân, chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn, năng lực tổ chức, quản lý phát triển, năng lực nhận thức, hấp thụ, chấp nhận chuyển giao công nghệ

Đối với ĐBSCL, các yếu tố bền vững của nông nghiệp nêu trên càng trở nên bức thiết, gắn kết chặt chẽ với nhau, khi khu vực này do đặc thù địa lý, đang phải chịu những tác động cộng hưởng của BĐKH, nước biển dâng và kết quả khai thác của các nước

ở thượng nguồn sông Mê Kông Bên cạnh sự biến đổi ngày càng thất thường và cực đoan của khí hậu, thiên tai, việc mất an ninh nguồn nước ngọt và thiếu hụt phù

sa của sông Mê Kông chảy về

Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới

với phát triển nông nghiệp bền vững và phòng chống thiên tai ở ĐBSCL

GS.TS Nguyễn Tuấn Anh

Chủ nhiệm Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới

Trong thời gian qua, Chương trình khoa học và công nghệ (KH&CN) phục vụ xây dựng nông thôn mới (NTM) đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển sản xuất, phòng chống thiên tai ở nước ta nói chung, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng Trong đó, các vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững, hạ tầng thủy lợi, phòng chống thiên tai thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) là những vấn đề cốt lõi, có liên quan mật thiết, không thể tách rời trong hoạch định chiến lược phát triển bền vững ĐBSCL Do vậy, theo tác giả, giải pháp cho nền nông nghiệp bền vững ở ĐBSCL phải là tổng hòa của nhiều giải pháp, bao gồm các giải pháp về hạ tầng thủy lợi, tổ chức sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu ngành và các giải pháp thuộc lĩnh vực

văn hóa, kinh tế, xã hội.

Trang 32

ĐBSCL làm tăng thêm cường độ

khô hạn, xâm nhập mặn, khiến

môi trường bị suy thoái do không

được thau rửa, vệ sinh; hiện

tượng sạt lở bờ sông, sụt lún đất ở

cả đô thị và đồng bằng ngày càng

nghiêm trọng, nguồn cá tự nhiên

cũng bị sụt giảm đáng kể, đe dọa

sản xuất nông nghiệp, an ninh

lương thực, đời sống người dân ở

vùng nông nghiệp hàng hóa lớn

nhất cả nước

Các kết quả nghiên cứu của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn năm 2016 cho thấy,

với 144 hồ chứa thủy điện được

xây dựng trong lưu vực sông Mê

Kông (chiếm khoảng 26% tổng

lượng dòng chảy bình quân nhiều

năm của sông Mê Kông) sẽ làm

sông ở ĐBSCL theo hướng giảm

lưu lượng dòng chảy trung bình

mùa lũ, kèm theo những hiện

tượng cực đoan, như không còn

lũ vào những năm lũ trung bình

và nhỏ; tăng cao lưu lượng dòng

chảy lũ lớn nhất; giảm thiểu lưu

lượng dòng chảy kiệt nhỏ nhất,

mùa kiệt sẽ đến sớm hơn

Cùng với thiếu hụt phù sa từ

thượng nguồn về, nhu cầu khai

thác cát cho san lấp nền và xây

dựng gia tăng, dẫn đến mất cân

bằng nghiêm trọng bùn cát ở hạ

lưu sông Cửu Long Những điều

này càng làm mất cân đối giữa

bồi lấp và sói lở của sông, khiến

sạt lở thường xuyên diễn ra

Bên cạnh đó, tác động do con

người gây ra cũng không nhỏ

Do khai thác nước ngầm cho

sinh hoạt và sản xuất quá mức

đã dẫn đến sự hạ thấp nghiêm trọng mực nước ngầm ở ĐBSCL (70 cm/năm), kéo theo việc lún sụt đất ở mức 2-3 cm (gấp 5 lần tốc độ nước biển dâng) Trong khi đó, lượng mưa lớn gây ngập

ở ĐBSCL đã tăng từ 9 đến 17,5%

so với năm 1990 trở về trước

Ngoài ra, việc mở rộng diện tích nuôi tôm không kiểm soát cả về diện tích và kỹ thuật cũng tác động rất nghiêm trọng tới quá trình mặn hóa đất đai, gia tăng sạt lở vùng cửa sông, ven biển

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn năm

2017 cho thấy, tình hình thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của người dân mùa khô 2015-2016 ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL là rất lớn Ở Kiên Giang, tổng diện tích lúa bị thiệt hại do hạn hán và xâm nhập mặn

là 65.679 ha; Cà Mau là 49.343 ha; Bạc Liêu là 11.383 ha Vào những năm ít nước, đến mùa khô nguồn nước mặn có thể xâm nhập vào sâu trong các sông tới 70 km

từ biển, gây nên tình trạng nhiễm mặn nguồn nước và đất Nếu không được kiểm soát tốt bởi hệ thống cống, đê ngăn mặn sẽ gây thiệt hại rất lớn cho sản xuất, tần suất các đợt sạt lở diễn ra càng cao Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thủy lợi (2017), vùng ĐBSCL hiện có tới 265 điểm sạt

lở bờ sông, bờ biển với chiều dài trên 450 km, gây tổn thất nghiêm trọng về tài sản, đất đai và kinh phí để khắc phục sự cố

Đóng góp của Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng NTM vào phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL

Để phát triển nông nghiệp bền vững ở ĐBSCL, chúng ta cần thống nhất nhận thức rằng, BĐKH

là quá trình không thể đảo ngược,

việc khai thác lưu vực sông Mê Kông gây bất lợi là không thể tránh khỏi Từ đó, phải tìm ra những giải pháp tối ưu trong xây dựng và vận hành các hệ thống thủy lợi, cống, đập, hồ để hạn chế những tác động bất lợi nêu trên, đồng thời phải thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp cả trong cách

tổ chức sản xuất và lựa chọn cơ cấu mùa vụ, cây con Theo cách tiếp cận đó, Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng NTM đã có những nghiên cứu cụ thể, đóng góp tích cực vào xây dựng NTM gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả Cụ thể, Chương trình

đã đề xuất được nhiều giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, như giải pháp về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; định hướng và

đề xuất một số giải pháp về đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp; thể chế chính trị nông thôn một cách đồng bộ; làm rõ vai trò chủ thể của nông dân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã, các

tổ chức chính trị - xã hội và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức này; đề xuất các giải pháp và xây dựng nhiều mô hình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế, xã hội nông thôn; đề xuất nhiều giải pháp xây dựng hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng, giải pháp chuyển đổi sản xuất thích ứng với BĐKH; các giải pháp KH&CN về

hạ tầng, xử lý môi trường nông thôn, nông nghiệp; thực hiện các

mô hình ứng dụng KH&CN vào sản xuất, mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân theo chuỗi giá trị Có thể kể đến một

số kết quả nổi bật như:

* Hiện nay, nhu cầu và thị

Trang 33

hiếu của người tiêu dùng trong

và ngoài nước về sản phẩm cây

ăn quả và rau màu đang hướng

tới chất lượng cao và an toàn thực

phẩm Xuất phát từ thực tiễn đó,

dự án “Xây dựng mô hình sản

xuất và liên kết chuỗi giá trị sản

phẩm trong sản xuất bưởi và cam

sành theo hướng VietGAP tại một

số tỉnh ĐBSCL” được thực hiện

với mục tiêu xây dựng được mô

hình liên kết sản xuất bưởi và

cam sành theo chuỗi giá trị và đạt

tiêu chuẩn VietGAP ở ĐBSCL

Kết quả sau 2 năm thực hiện

(2015-2016), dự án đã xây dựng

được 40 ha bưởi và cam sành đạt

tiêu chuẩn VietGap tại 2 tỉnh Tiền

Giang và Bến Tre; thành lập được

4 tổ hợp tác sản xuất bưởi và cam

sành theo hướng VietGap với sự

tham gia của hơn 150 hộ nông

dân; tập huấn kỹ thuật trồng,

chăm sóc, thu hoạch và bảo quản

theo VietGAP cho hơn 1.100 lượt

hộ nông dân trồng bưởi, cam

sành; hoàn thiện quy trình quản lý

tổng hợp sâu đục quả trên bưởi

Hiệu quả của mô hình trồng bưởi

và cam sành mang lại lợi nhuận

tăng lần lượt 27 và 39% Sản

phẩm của mô hình được doanh

nghiệp cam kết bao tiêu trên

80% Ngoài hiệu quả kinh tế lâu

dài, thành công của mô hình sản

xuất bưởi và cam sành theo tiêu

chuẩn VietGAP đã góp phần tạo

sự chuyển biến tích cực cả về

nhận thức, tư tưởng, hành động

của người dân vùng dự án nói

riêng, ĐBSCL nói chung

* ĐBSCL là vựa lúa, vùng nuôi

trồng thủy sản chủ lực của cả

nước Tuy nhiên hạ tầng ô thuỷ lợi

hiện nay chưa được chuẩn hóa,

các công trình hạ tầng chủ yếu

được xây dựng tự phát, chưa theo

tiêu chuẩn, quy chuẩn nên chất

lượng không cao; các công trình

hạ tầng ô thủy lợi ở ĐBSCL hiện nay thường sử dụng vật liệu bê tông cốt thép Trong vùng mặn,

lợ thì kết cấu bê tông cốt thép có nhiều hạn chế, bị xâm thực, chiều dày lớp bảo vệ bê tông cốt thép theo tiêu chuẩn phải đạt 5-10 cm,

do đó ít nhất kết cấu bê tông phải dày 20 cm dẫn đến giá thành cao, thi công khó khăn Để góp phần giải quyết vấn đề này, Viện Thủy công đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện đề tài “Nghiên cứu áp dụng công nghệ mới để xây dựng mô hình kết cấu hạ tầng trong các ô thủy lợi tại tỉnh

Cà Mau” Sau gần 2 năm thực hiện (12/2015-4/2017), đề tài đã nghiên cứu cải tiến kết cấu đập

xà lan áp dụng cho cống đầu mối

ô thủy lợi Giải pháp cải tiến kết cấu cống mỏng, nhẹ, rẻ, bền, sản xuất trong hố móng và lai dắt hạ chìm, giúp giá thành giảm 30%, phù hợp với điều kiện kinh tế hiện tại của khu vực; cải tiến kết cấu mang cống đầu mối dùng cừ bê tông cốt sợi, trọng lượng nhẹ, bền và giá thành rẻ, sản phẩm có thể sản xuất trong nhà máy nên kiểm soát chất lượng tốt; sản xuất được 1 mẫu cửa van cống đầu mối (kích thước 2 x 2 m) với giá thành chỉ bằng 36% so với cửa van thép, 20% so cửa van inox

có cùng kích thước Cửa van này

có triển vọng thay thế cho cửa van bằng composite hiện nay với nhiều tính năng ưu việt như chịu lực tốt, trọng lượng nhẹ, đặc biệt

là không bị xâm thực trong môi trường nước mặn nên đáp ứng tốt các yêu cầu về cửa van cho cống đầu mối ô thủy lợi; sản xuất được 1 mẫu cống lấy nước vào

ao nuôi tôm (kích thước 5 x 1,5 x 0,8 m) bằng vật liệu bê tông cốt sợi, gia cường cốt thanh đáp ứng tiêu chí nhẹ, rẻ, bền, đẹp Giải pháp công trình hạ tầng ô thủy lợi

được nghiên cứu của đề tài là một hướng nghiên cứu mới, hiện đại, phù hợp với thực tế, có tính khả thi cao, mang lại hiệu quả kinh tế

- xã hội lớn, thay đổi hẳn bộ mặt

hạ tầng thủy lợi Vì vậy, các công nghệ này đang được nhiều tỉnh trong vùng ĐBSCL nghiên cứu ứng dụng vào sản xuất

* Nhận thức được sự tác động nặng nề của BĐKH đối với nông nghiệp, nông thôn cũng như ý nghĩa của việc lồng ghép BĐKH trong xây dựng NTM, đề tài

“Nghiên cứu lồng ghép BĐKH trong quy hoạch, kế hoạch xây dựng NTM” đã được phê duyệt thực hiện Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần hoàn thiện, chi tiết và cụ thể hóa cách thức lồng ghép vấn đề BĐKH, đặc biệt là lồng ghép BĐKH trong quy hoạch, kế hoạch xây dựng NTM; tạo điều kiện và cơ sở nâng cao năng lực và nhận thức về BĐKH, các hiện tượng khí hậu cực đoan,

đề xuất các biện pháp thích ứng

và giảm thiểu tác động của BĐKH, các hiện tượng thời tiết cực đoan phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung, xây dựng NTM nói riêng; hỗ trợ cho việc lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng NTM nhằm hạn chế và giảm thiểu các tác động của BĐKH gây ra đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần xây dựng phát triển kinh tế - xã hội theo chủ trương của Đảng và Nhà nước; xây dựng được phần mềm đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương do BĐKH đến lĩnh vực nông lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp tại các vùng nghiên cứu điển hình Các kết quả nghiên cứu của đề tài cũng tạo tiền đề xây dựng các quy hoạch phát triển kinh tế -

xã hội nói chung, quy hoạch, kế hoạch xây dựng NTM nói riêng,

Trang 34

góp phần phát triển bền vững

nông nghiệp, nông thôn

Một số vấn đề ưu tiên nghiên cứu

trong thời gian tới

Mặc dù Chương trình KH&CN

phục vụ xây dựng NTM cùng với

nhiều chương trình khác đã có

những đóng góp tích cực trong

xây dựng và phát triển nền nông

nghiệp theo hướng bền vững ở

ĐBSCL, nhưng trước những vấn

đề đặt ra như đã phân tích, trong

thời gian tới chúng ta cần quan

tâm giải quyết một số vấn đề

trọng tâm sau:

Một là, cải thiện môi trường

vùng đất nhiễm mặn phục vụ sản

xuất nông nghiệp, bảo đảm sinh

kế người dân Để giải quyết vấn

đề này, cần tiếp tục nghiên cứu,

đề xuất hoàn chỉnh các giải pháp

cải tạo đất mặn, mặn phèn vùng

ven biển bằng các giải pháp thủy

lợi (rửa mặn, cấp ngọt, đê bao

ngăn mặn); ưu tiên xây dựng và

hoàn thiện hệ thống công trình

thuỷ lợi nhằm chủ động cấp thoát

nước, kiểm soát quá trình xâm

nhập mặn và trữ nước ngọt; quy

hoạch công trình thuỷ lợi phục

vụ cho chuyển đổi mục đích sản

xuất, đảm bảo có thể lấy đủ nước

mặn, ngọt cho phát triển nuôi

trồng thủy sản mặn, lợ (chủ yếu

là tôm thẻ, tôm sú) trong mùa

khô và cung cấp đủ nước ngọt và

thoát nước trong mùa mưa phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp và

sinh hoạt Bên cạnh đó, cần ưu

tiên phát triển mô hình nuôi thủy

đảm bảo chức năng của rừng

ngập mặn, cũng như vai trò bảo

vệ thiên nhiên, cân bằng sinh

thái, tăng cường tính đa dạng sinh học; vùng phía trong đê biển nên ưu tiên phát triển mô hình tôm - lúa để cải thiện môi trường nuôi, đồng thời giảm dịch bệnh tôm, đảm bảo thu nhập bền vững cho người dân

Hai là, áp dụng các giải pháp

đồng bộ phát triển nông nghiệp thích ứng với BĐKH, phòng chống sạt lở Cụ thể: 1) Rà soát lại quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp toàn vùng ĐBSCL trong điều kiện có xét đến xâm nhập mặn, hạn hán - thiếu nước Trên

cơ sở đó thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi các vùng ven biển, xây dựng các vùng nuôi thâm canh thủy sản nước mặn - lợ; 2) Rà soát, quy hoạch lại hạ tầng thủy lợi ĐBSCL phục vụ tái

cơ cấu ngành, chỉnh trang bố trí đồng ruộng, xây dựng đồng bộ

cơ sở hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng, đảm bảo tưới tiêu chủ động, đáp ứng cơ giới hóa sản xuất, giảm chi phí, tăng lợi nhuận

và thu nhập cho nông dân Quy hoạch bỏ dần các trạm bơm điện nhỏ, manh mún (tưới 5-100 ha), xây dựng trạm bơm lớn tưới tiêu cho ô bao tiểu vùng có diện tích 300-500 ha Đồng thời thành lập, củng cố các tổ chức thủy lợi cơ

sở có đại diện nông dân sử dụng dịch vụ thủy lợi phù hợp với Luật Thủy lợi; 3) Hoàn thiện tổ chức quản lý tưới tiêu, đẩy mạnh áp dụng các kỹ thuật tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho các loại cây trồng chủ lực của vùng, như lúa, cây ăn trái; 4) Đẩy mạnh phát triển tổ chức, liên kết sản xuất

và tiêu thụ nông sản Trong đó, tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản bền vững, thích ứng với hạn - mặn, nước biển dâng; thành lập, củng cố các tổ

chức của nông dân làm đại diện cho nông dân (hợp tác xã, tổ hợp tác ) trong liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản; 5) Kiên quyết chuyển từ nông nghiệp chú trọng

số lượng sang chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách

hỗ trợ nông dân tiếp cận vốn, khuyến khích dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất, quy hoạch lại đồng ruộng, tăng cường quyền tự chủ của nông dân đối với ruộng đất

Ba là, nghiên cứu đề xuất giải

pháp ngăn chặn những nguyên nhân gây lún sụt, sạt lở, xâm nhập mặn Thực hiện giải pháp này, cần từng bước phát triển đai rừng ngập mặn phòng hộ ven biển chắn sóng, hạn chế tình trạng sạt lở bờ biển, bảo vệ đất

và tính phong phú, đa dạng của

hệ sinh thái ngập nước ven biển; nghiên cứu các mô hình kè mềm

sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, gây bồi, tạo bãi bồi trồng rừng ngập mặn bảo vệ bờ biển, tạo môi trường cho các loài thủy sinh phát triển, tăng cường sinh

kế của người dân vùng ven biển; tăng cường quản lý chặt chẽ khai thác cát; quy hoạch, xây dựng

hệ thống hồ sinh thái chứa nước ngọt ở ĐBSCL Đây là giải pháp phi công trình dài hạn và bền vững, nhằm chủ động khắc phục các nguyên nhân quan trọng của sạt lở, ngập úng và lún sụt đất do thiếu hụt, mất cân bằng bùn cát

và khai thác nước ngầm quá mức Cùng với quy hoạch xây dựng hệ thống hồ sinh thái, cần nâng cao nhận thức người dân, phát động việc khai thác nguồn tài nguyên nước mưa, xây dựng các phương

án tích trữ nước mưa theo quy mô nhóm hộ và hộ gia đình ?

Ngày đăng: 07/01/2020, 18:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm