Mục tiêu nghiên cứu đề tài là nêu lên sự cần thiết phải xây dựng makét niên giám thống kê phù hợp với hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và thực trạng niên giám thống kê hiện nay. Đồng thời đưa ra đề xuất makét niên giám thống kê phù hợp với hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia đã ban hành. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1ĐỀ TÀI KHOA HỌC SỐ: 2.2.1-CS2006
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MAKÉT NIÊN GIÁM THỐNG KÊ THEO HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ QUỐC GIA
2 Thời gian nghiên cứu : 2006
3 Đơn vị chủ trì : Vụ Thống kê Tổng hợp
4 Đơn vị quản lý : Viện Khoa học Thống kê
5 Chủ nhiệm đề tài : CN Đậu Ngọc Hùng
6 Những người phối hợp nghiên cứu:
CN Nguyễn Thị Chiến
CN Nguyễn Thị Ngọc Vân
CN Phạm Tiến Nam
CN Nguyễn Thu Oanh
7 Điểm đánh giá nghiệm thu đề tài: 9,3 / Xếp loại: Giỏi
Trang 2PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG MAKÉT NIÊN GIÁM THỐNG KÊ PHÙ HỢP VỚI HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ QUỐC GIA VÀ
THỰC TRẠNG NIÊN GIÁM THỐNG KÊ HIỆN NAY
I SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG MAKÉT NIÊN GIÁM THỐNG KÊ PHÙ HỢP VỚI HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ QUỐC GIA
1 Xuất phát từ vai trò quan trọng của Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và mối liên hệ của Niên giám thống kê với Hệ thống chỉ tiêu thống
kê quốc gia
Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tổng hợp nhiều chỉ tiêu thống kê có quan
hệ mật thiết với nhau, có thể phản ánh nhiều mặt của hiện tượng hay quá trình kinh tế - xã hội trong những điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Trong công tác thống kê, hệ thống chỉ tiêu thống kê được coi là xương sống của mọi hoạt động thống kê, là cơ sở, căn cứ và là chuẩn mực để tổ chức và tiến hành các hoạt động thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, dự báo và phổ biến thông tin của ngành Thống kê Hệ thống chỉ tiêu thống kê ở nước ta bao gồm nhiều loại như: (1) Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; (2) Hệ thống chỉ tiêu thống kê Bộ/ngành; (3) Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh; (4) Hệ thống chỉ tiêu thống cấp huyện; (5) Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã Mỗi hệ thống chỉ tiêu thống kê
đó có ý nghĩa, tác dụng khác nhau, trong đó Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
"Biên soạn và xuất bản Niên giám thống kê, các sản phẩm thống kê khác của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và số liệu thống kê của nước ngoài; thực hiện so sánh quốc tế về thống kê" Nhiệm vụ này cũng đã được
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao cho Vụ Thống kê Tổng hợp tại Quyết định số 402/QĐ-TCTK, ngày 14 tháng 8 năm 2004 quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và chế độ làm việc của Vụ Thống kê tổng hợp
Trang 3Trong những năm qua, mặc dù được cải tiến thường xuyên nhưng Niên giám thống kê vẫn còn bộc lộ một số hạn chế bất cập trong điều kiện nền kinh tế nước ta liên tục phát triển với tốc độ cao, đời sống nhân dân đang từng bước được nâng lên, tình hình văn hoá xã hội ngày càng phát triển Mặt khác, chúng ta cũng tham gia và là thành viên của các tổ chức quốc tế và diễn đàn hợp tác quốc tế nên yêu cầu so sánh quốc tế cũng ngày càng nhiều
Do đó, để khắc phục tình trạng này thì vấn đề chuẩn hoá, đổi mới nội dung, cấu trúc, hệ thống chỉ tiêu và biểu mẫu của Niên giám thống kê là một trong những công việc quan trọng và cần thiết của Tổng cục Thống kê nói chung và Vụ Thống kê Tổng hợp nói riêng
II THỰC TRẠNG NIÊN GIÁM THỐNG KÊ HIỆN NAY
1 Quá trình hoàn thiện Niên giám thống kê
Niên giám thống kê được Tổng cục Thống kê chính thức biên soạn và phát hành lần đầu tiên vào năm 1961 với 169 biểu số liệu in trên 147 trang khổ 13cm x 19cm với 9 phần: (1) Dân số, đất đai, khí tượng, tài nguyên thiên nhiên 13 biểu; (2) Một số chỉ tiêu tổng hợp của nền kinh tế quốc dân 7 biểu; (3) Cải tạo xã hội chủ nghĩa 11 biểu; (4) Xây dựng cơ bản 13 biểu; (5) Nông nghiệp 38 biểu; (6) Công nghiệp 16 biểu; (7) Vận tải 15 biểu; (8) Thương nghiệp 20 biểu; (9) Lao động, tiền lương, văn hóa, y tế, xã hội 36 biểu Tuy là lần biên soạn đầu tiên nhưng với kết cấu và nội dung tương đối khái quát và toàn diện như trên nên Niên giám thống kê năm 1961 đã được nhiều đối tượng dùng tin quan tâm, sử dụng Tuy nhiên, do khi đó chưa có hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia nên việc thu thập số liệu khó khăn, mức độ phân tổ của các chỉ tiêu cũng bị hạn chế, các biểu số liệu chủ yếu được trình bày theo dãy số biến động thời gian với dãy số 6 năm, từ 1955 đến 1960
Sau lần biên soạn và xuất bản năm 1961, hàng năm Niên giám thống kê đều được nghiên cứu bổ sung hoàn thiện Ngày 17/9/1970, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê chính thức với 297 chỉ tiêu tổng hợp thuộc: (1) Dân số 10 chỉ tiêu; (2) Tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân 14 chỉ tiêu; (3) Tài sản cố định 6 chỉ tiêu; (4) Lao động và đào tạo cán bộ 11 chỉ tiêu; (5) Nông nghiệp và lâm nghiệp 67 chỉ tiêu; (6) Công nghiệp 22 chỉ tiêu; (7) Xây dựng cơ bản 21 chỉ tiêu; (8) Giao thông vận tải và bưu điện 31 chỉ tiêu; (9) Cung ứng vật tư kỹ thuật 17 chỉ tiêu; (10) Thương nghiệp 30 chỉ tiêu; (11) Tài chính, ngân hàng 16 chỉ tiêu; (12) Giáo dục, văn
Trang 4hóa thông tin, y tế và thể dục thể thao 30 chỉ tiêu; (13) Đời sống, bảo hộ lao động, bảo hiểm và phúc lợi xã hội 22 chỉ tiêu
Trên cơ sở Hệ thống chỉ tiêu thống kê chính thức gồm 297 chỉ tiêu thuộc
13 chuyên ngành được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định 168/TTg này 17/9/1970, Niên giám thống kê năm 1971 đã được bố trí lại gồm 310 biểu, in trên 420 trang khổ 13cm x 19cm với 11 phần: (1) Khí tượng, thủy văn 11 biểu; (2) Dân số 6 biểu; (3) Các chỉ tiêu tổng hợp kinh tế quốc dân
22 biểu; (4) Nông nghiệp 50 biểu; (5) Công nghiệp 58 biểu; (6) Xây dựng cơ bản 21 biểu; (7) Giao thông vận tải, bưu điện 28 biểu; (8) Nội thương, ngoại thương 27 biểu; (9) Giáo dục, văn hóa, y tế, đời sống 38 biểu; (10) Số liệu thống
kê miền Nam 10 biểu; (11) Số liệu thống kê nước ngoài 29 biểu Với kết cấu và nội dung này, Niên giám thống kê năm 1971 đã được nâng lên một trình độ mới Số phần trong kết cấu đã tăng từ 9 phần trong Niên giám thống kê 1961 lên 11 phần và quan trọng hơn, nội dung của từng phần đã được bổ sung phong phú hơn nhiều Do vậy, số biểu đã tăng từ 169 biểu lên 310 biểu và số trang tăng từ 147 trang lên 420 trang
Mặc dù các cuốn Niên giám thống kê biên soạn và phát hành từ năm
1961 đến năm 1976 thường xuyên được hoàn thiện về kết cấu và bổ sung về nội dung, nhưng số liệu của các chỉ tiêu trong các cuốn Niên giám này đều là
số liệu của miền Bắc; số liệu miền Nam nếu có thì chỉ là một phần riêng với
tư cách như một phụ lục tham khảo Do vậy, ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, chúng ta đã tiến hành khai thác và thu thập số liệu để biên soạn Niên giám thống kê 1977, cuốn Niên giám thống kê đầu tiên mà hầu hết số liệu của các chỉ tiêu được thu thập và tổng hợp trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, việc khai thác số liệu cũ và thu thập số liệu mới ở miền Nam ngày đầu giải phóng gặp nhiều khó khăn nên Niên giám thống kê năm 1977 chỉ bao gồm 181 biểu, in trên 270 trang khổ 13cm x 19cm với 12 phần: (1) Khí tượng, thủy văn 14 biểu; (2) Dân số, lao động 25 biểu; (3) Các chỉ tiêu tổng hợp 3 biểu; (4) Công nghiệp 25 biểu; (5) Xây dựng 9 biểu; (6) Nông nghiệp 30 biểu; (7) Nội thương, ngoại thương 11 biểu; (8) Vận tải, bưu điện 12 biểu; (9) Đời sống 12 biểu; (10) Văn hóa 6 biểu; (11) Giáo dục 22 biểu; (12) Y tế 12 biểu
Từ năm 1986 đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, ngành Thống kê cũng từng bước tiếp cận với phương pháp nghiệp vụ và hệ thống chỉ tiêu theo thông lệ quốc tế Trên cơ sở kết quả một số năm triển khai thử nghiệm
Trang 5của ngành Thống kê, ngày 25/12/1992 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 183/TTg quy định từ năm 1993 sẽ áp dụng Hệ thống tài khoản quốc gia SNA thay cho Hệ thống sản xuất vật chất MPS Đây là bước chuyển đổi quan trọng của ngành Thống kê nước ta trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế về thống kê Để phù hợp với sự đổi mới này, cuốn Niên giám thống kê 1992 đã được cấu trúc lại cả về nội dung và hình thức: (1) Thêm một số biểu thuộc Hệ thống tài khoản quốc gia; (2) Được biên soạn bằng 2 thứ tiếng Việt - Anh; (3) Bìa mềm được thay bằng bìa cứng và in trên khổ 21cm x 31cm thay cho khổ 13cm x 19cm Cũng từ lần xuất bản này, Niên giám thống kê được phổ biến rộng rãi tới mọi đối tượng dùng tin, chứ không coi là tài liệu mật và phân phối hạn hẹp như những năm trước Các cuốn Niên giám thống kê biên soạn từ năm 1993 tiếp tục được bổ sung hoàn thiện cả về nội dung và hình thức, trong đó về nội dung, đáng chú ý là từ Niên giám thống kê 1994 đã có thêm phần số liệu thống kê nước ngoài; từ Niên giám thống kê năm 2003 có thêm phần Doanh nghiệp; Niên giám thống kê 2005 tách số liệu Giáo dục và đào tạo thành một phần riêng Ngoài ra, từ cuốn Niên giám thống kê 1996 đến năm 2004, hình thức Niên giám cũng đã được chuẩn hoá với cùng một kích cỡ, màu sắc và phông bìa, và đến nay Niên giám thống kê vẫn tiếp tục được bổ sung, đổi mới và hoàn hiện
2 Thực trạng Niên giám thống kê hiện nay
Niên giám Thống kê nước ta hiện nay được in ấn và phát hành hàng năm dưới 2 hình thức là sách và đĩa CD-ROM Niên giám Thống kê được biên soạn bằng tiếng Việt và tiếng Anh (Song ngữ) Trong phần này chúng tôi chỉ tập trung đánh giá Niên giám Thống kê năm 2005 là niên giám đã được bổ
sung hoàn thiện nhiều lần và hiện nay đang được sử dụng
Niên giám thống năm 2005 bao gồm 323 biểu, in trên 738 trang khổ 17cm x 25cm với 12 phần như sau: (1) Đơn vị Hành chính và Khí hậu 6 biểu; (2) Dân số và Lao động 15 biểu; (3) Tài khoản quốc gia và Ngân sách Nhà nước 14 biểu; (4) Đầu tư 22 biểu; (5) Doanh nghiệp 24 biểu; (6) Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản 76 biểu; (7) Công nghiệp 37 biểu; (8) Thương mại, Giá
cả và Du lịch 25 biểu; (9) Vận tải và Bưu chính Viễn thông 26 biểu; (10) Giáo dục 21 biểu; (11) Y tế, Văn hoá, Thể thao và Mức sống dân cư 26 biểu; (12) Số liệu thống kê nước ngoài 31 biểu
Trang 6Với nội dung được chia làm 12 phần và 323 biểu số liệu như trên, Niên giám thống kê hiện nay đã phản ánh được một cách khá đầy đủ về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và những thông tin chung của các nước trên thế giới Niên giám thống kê đã cung cấp một lượng thông tin hàng năm và nhiều năm đến các đối tượng sử dụng và ngày càng được người dùng tin đánh giá cao Bên cạnh việc xuất bản dưới dạng ấn phẩm truyền thống, thì việc Niên giám thống kê được xuất bản dưới dạng đĩa CD-ROM đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc tra cứu và sử dụng sản phẩm này
Cùng với việc tăng thêm đáng kể số lượng biểu số liệu và trong nhiều chỉ tiêu của các biểu đã có sự phân tổ ngày càng chi tiết hơn thì cấu trúc và nội dung Niên giám thống kê những năm gần đây còn có sự đổi mới quan trọng khác là trong từng phần đều có mục “Giải thích thuật ngữ, nội dung và phương pháp tính một số chỉ tiêu chủ yếu” Phần giải thích này được biên soạn dựa trên nội dung và phương pháp tính của các hệ thống chỉ tiêu thống
kê hiện hành nhằm giúp cho người dùng tin dễ dàng hơn trong việc khai thác
và sử dụng những số liệu Niên giám thống kê và đối chiếu, so sánh với những
số liệu khai thác từ các nguồn khác
Về mặt hình thức, cuốn Niên giám thống kê năm 2005 còn được cải tiến phông bìa và do vậy ấn phẩm này càng gần đạt tới mặt bằng chung về kết cấu
và nội dung của các cuốn Niên giám thống kê do cơ quan thống kê trung ương của các nước trong khu vực và trên thế giới biên soạn và phát hành Nhờ không ngừng được hoàn thiện về kết cấu và nội dung nên Niên giám thống kê ngày càng khẳng định là một “thương hiệu” mạnh trong số các sản phẩm thông tin thống kê của nước ta Trong cuộc Điều tra nhu cầu thông tin thống kê năm 2006 do Vụ Thống kê Tổng hợp tiến hành đã đưa ra 50 câu hỏi phỏng vấn một số đối tượng sử dụng thông tin thống kê trong các cơ quan Nhà nước, cơ quan thông tin đại chúng; doanh nghiệp và các nhà đầu tư; cơ sở nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và các đối tượng sử dụng thông tin thống kê khác thuộc các Bộ, ngành, địa phương trên địa bàn 19 tỉnh, thành phố và một
số đại sứ quán, tổ chức quốc tế sử dụng thường xuyên số liệu thống kê của Việt Nam, trong đó có các câu hỏi về mức độ biết và sử dụng của các đối tượng điều tra trong thời gian vừa qua về 5 loại sản phẩm chủ yếu: (1) Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội hàng tháng; (2) Trang web thống kê; (3) Niên giám thống kê; (4) Các sản phẩm thống kê Phân tích tình hình kinh tế - xã hội nhiều năm và (5) Số liệu các cuộc điều tra Kết quả điều tra cho thấy có tới 94,9% số
Trang 7người được điều tra biết về Niên giám thống kê, trong khi tỷ lệ biết về Số liệu các cuộc điều tra thống kê chỉ có 74,9%; biết về Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội hàng tháng chỉ là 65,7%; biết về Trang web thống kê là 56,6% và biết về các sản phẩm thống kê Phân tích tình hình kinh tế-xã hội nhiều năm chỉ có 52,3% Tỷ lệ người thường xuyên sử dụng Niên giám thống kê cũng chiếm tới 49,8% tổng số người điều tra, so với 31% số người thường xuyên sử dụng các sản phẩm thống kê Phân tích tình hình kinh tế-xã hội nhiều năm và tỷ lệ 26%
số người thường xuyên sử dụng Số liệu các cuộc điều tra thống kê
Cũng theo kết quả cuộc điều tra trên cho thấy, khi phỏng vấn ngẫu nhiên
378 người đã từng sử dụng Niên giám thống kê thì có 33,3% số người được phỏng vấn “Hài lòng” với kết cấu và nội dung Niên giám thống kê xuất bản
và phát hành hàng năm của Tổng cục Thống kê và 59,6% số người được phỏng vấn đã “Tương đối hài lòng”; chỉ có 7,1% số người được hỏi là “Chưa hài lòng” Trong tổng số 338 người được điều tra cho điểm về mức độ thỏa mãn của những đối tượng được điều tra đối với Niên giám thống kê theo thang điểm 10 thì số người cho điểm 9 và 10 chiếm 26,8%; số người cho điểm 7 và 8 chiếm 53,9%; số người cho điểm 5 và 6 chiếm 18,3%; số người cho dưới 5 điểm chỉ có 1% Những số liệu dẫn ra cho phép phần nào khẳng định Niên giám thống kê đã đáp ứng tương đối tốt nhu cầu của người sử dụng thông tin thống kê
Bên cạnh những mặt đạt được về kết cấu và nội dung như đã trình bày ở trên thì đến nay Niên giám thống kê vẫn còn có những hạn chế cần tiếp tục
xử lý hoàn thiện, trong đó có ba nhóm vấn đề chủ yếu như sau:
Một là, Niên giám thống kê vẫn chưa có sự cân đối hài hòa giữa các
phần Với tư cách là Niên giám thống kê tổng hợp của quốc gia và theo thông
lệ quốc tế thì các chỉ tiêu thuộc phần hệ thống tài sản quốc gia và tài chính ngân hàng phải là phần chủ yếu với số chỉ tiêu, số biểu và số trang tương xứng, nhưng Niên giám thống kê của nước ta hiện nay phần này chỉ có 14 biểu với 18 trang Một số chỉ tiêu rất quan trọng như tài chính ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán, xây dựng, tư pháp, trật tự an toàn xã hội, môi trường và các chỉ tiêu về giới đến nay vẫn chưa có hoặc có nhưng chưa tương xứng với nội dung cần phải có trong kết cấu của một cuốn Niên giám thống
kê quốc gia Trái lại, các chỉ tiêu thống kê chuyên ngành lại quá chi tiết và chiếm phần lớn kết cấu và nội dung của Niên giám, đặc biệt là phần thống kê Nông, lâm nghiệp và thủy sản có tới 76 biểu với 124 trang
Hai là, Niên giám thống kê vẫn chưa có sự ổn định về kết cấu và nội
dung Thí dụ, phần Đơn vị hành chính và Khí hậu, Niên giám thống kê năm
Trang 82004 có 9 biểu với 16 trang, nhưng Niên giám thống kê năm 2005 chỉ có 6 biểu với 8 trang; tương tự, phần Số liệu thống kê nước ngoài Niên giám thống kê năm 2004 có 33 biểu với 176 trang, nhưng Niên giám thống kê năm
2005 chỉ còn 31 biểu với 136 trang Đó là chưa kể việc phân tổ nhiều chỉ tiêu theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế, theo vùng và địa phương giữa các lần biên soạn và xuất bản cũng chưa được thống nhất
Ba là, phần giải thích thuật ngữ, nội dung và phương pháp tính đề cập
đến quá ít chỉ tiêu, nhiều chỉ tiêu rất quan trọng chưa đuợc đề cập tới Trong cuốn Niên giám thống kê năm 2005 mới giải thích khái niệm được 94 thuật ngữ và giải thích phương pháp tính, nguồn số liệu thì còn ít hơn nhiều, làm cho nhiều người sử dụng Niên giám thống kê gặp khó khăn khi phải tìm hiểu
kỹ về bản chất các số liệu Ngoài ra, phần tiếng Anh trong Niên giám cũng chưa thực sự được chuẩn xác và thống nhất
Những hạn chế nêu trên của Niên giám thống kê bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân quan trọng nhất là trong những năm qua Niên giám thống kê thiếu chỗ dựa của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành năm 1970 đến nay đã lạc hậu, trong khi đó hệ thống chỉ tiêu thống
kê quốc gia phù hợp với sự đổi mới và chuẩn mực quốc tế về thống kê lại chưa được ban hành Do vậy, Niên giám thống kê thiếu nguồn cung cấp số liệu ổn định, theo một hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất có tính pháp quy Tình hình này đã dẫn tới một thực tế là, việc biên soạn Niên giám thống kê nhiều năm qua chủ yếu được tiến hành trên cơ sở các số liệu chuyên ngành có chỉ tiêu nào thì đưa chỉ tiêu đó, không có thì bỏ; số liệu phân tổ chi tiết của các chỉ tiêu có đến đâu thì đưa đến đó Phần giải thích thuật ngữ cũng trong tình trạng như vậy Thực trạng này cho thấy, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia vừa qua chính là cơ hội, là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện kết cấu và nội dung Niên giám thống kê
PHẦN II
ĐỀ XUẤT MAKÉT NIÊN GIÁM THỐNG KÊ PHÙ HỢP VỚI
HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ QUỐC GIA ĐÃ BAN HÀNH
I CÁC NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG MAKÉT NIÊN GIÁM THỐNG KÊ PHÙ HỢP VỚI HỆ THỐNG CHỈ TIÊU QUỐC GIA
1 Phải bám sát Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
Nguyên tắc này xuất phát từ 3 căn cứ, một là, do yêu cầu cấu trúc và nội
dung Niên giám thống kê phải phù hợp với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia nên khi xây dựng makét Niên giám thống kê không thể thoát ly Hệ thống
Trang 9chỉ tiêu thống kê này; hai là, như trên đã nêu, Hệ thống chỉ tiêu thống kê
quốc gia là nguồn cung cấp số liệu đầu vào rất quan trọng của Niên giám thống kê, do vậy việc xây dựng makét Niên giám thống kê càng phải bám sát vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia để có thêm căn cứ và chỗ dựa về dữ
liệu; ba là, do Hệ thống chỉ tiêu thống kê có tính pháp quy và tính ổn định
cao nên một khi makét Niên giám thống kê xây dựng bám sát hệ thống chỉ tiêu thống kê này thì Niên giám thống kê cũng sẽ bảo đảm được tính ổn định
về kết cấu và nội dung của mình
Tuy nhiên, việc xây dựng makét Niên giám thống kê bám sát Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia không có nghĩa là Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia có bao nhiêu phần, bao nhiêu chỉ tiêu đòi hỏi Niên giám thống kê cũng phải có bấy nhiêu phần, bấy nhiêu chỉ tiêu Trái lại, số phần cũng như số chỉ tiêu trong từng phần có thể và cần phải được bố trí, sắp xếp theo kết cấu và nội dung của một cuốn Niên giám thống kê Sở dĩ như vậy vì giữa Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và Niên giám thống kê có sự khác biệt nhất định về hình thức và nội dung Về mặt hình thức, Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia tuy rất quan trọng, nhưng chưa phải là một sản phẩm thông tin thống kê như Niên giám thống kê; về mặt nội dung, trong quá trình biên soạn, Niên giám thống kê không chỉ dựa vào nguồn số liệu của Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia cho dù nguồn số liệu này là chủ yếu, mà còn dựa vào một số nguồn
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia vì bản thân Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia cũng được xây dựng theo nguyên tắc mở, trước hết mở về thời gian Thực tiễn cho thấy, Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia cho dù được xây dựng công phu đến đâu cũng chỉ có “tuổi thọ” hữu hạn Nước ta đang trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế thì tình hình kinh tế-xã hội luôn luôn biến động, yêu cầu về thông tin quản lý vì thế cũng thay đổi thường xuyên nên tuổi thọ của Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia càng trở nên hữu hạn
Trang 10Mặt khác, Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia vừa mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành nên việc thu thập và tổng hợp số liệu theo Hệ thống chỉ tiêu này của các Bộ/ngành và địa phương cũng như của Tổng cục Thống kê đòi hỏi phải có thời gian Trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia có một số chỉ tiêu đã có đầy đủ số liệu, nhưng cũng có những chỉ tiêu trong một vài năm tới chưa thể tổ chức thu thập và tổng hợp được số liệu Do vậy, khi xây dựng makét Niên giám thống kê phải quán triệt đầy đủ tinh thần này Tuy nhiên, cũng không vì thế mà thụ động, trái lại, bằng việc xây dựng makét Niên giám thống kê và yêu cầu số liệu cho sản phẩm thông tin này cố gắng góp phần cao nhất thúc đẩy việc triển khai Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành Theo tinh thần này, trong quá trình xây dựng makét Niên giám thống kê cần phải xác định rõ là makét Niên giám thống kê xây dựng sẽ áp dụng cho khoảng thời gian nào, thí dụ cho đến năm 2010 hoặc đến năm 2015 Ngay trong khoảng thời gian xác định đó cũng cần phải có lộ trình từng năm với những bước đi phù hợp để cuối cùng sẽ thực hiện được toàn bộ makét đã xây dựng Để đạt được mục tiêu này, khi xây dựng makét Niên giám thống kê cần khắc phục cách làm hiện nay là có số liệu đến đâu thì xây dựng makét Niên giám thống kê đến đó
3 Makét Niên giám thống kê phải đảm bảo tính so sánh và tính nhất quán về thời gian và không gian
Theo nguyên tắc này, các chỉ tiêu trong Niên giám thống kê phải đảm bảo tính ổn định, tính nhất quán về nội dung; thống nhất về thời gian và về không gian Các chỉ tiêu phải có thể so sánh được về thời gian như so sánh giữa thời kỳ này với thời kỳ trước; giữa năm này với năm trước Đáp ứng nhu cầu so sánh quốc tế giữa Việt Nam và các nước, yêu cầu so sánh giữa các vùng trong cả nước, cũng như giữa các địa phương với nhau
II ĐỀ XUẤT MAKÉT NIÊN GIÁM THỐNG KÊ PHÙ HỢP VỚI HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ QUỐC GIA ÁP DỤNG TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010
1 Kết cấu và nội dung khái quát
Xuất phát từ Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành, từ thực trạng Niên giám thống kê hiện nay và tham khảo Niên giám thống kê một số nước trong khu vực, từ nguồn số liệu hiện có cũng như những nguyên tắc được trình bày ở phần trên, chúng tôi đề xuất kết cấu và nội dung makét Niên giám thống kê áp dụng từ nay đến năm 2010 nên bao gồm 523 biểu với 16 phần chính như sau:
Trang 11(1) Đặc điểm tự nhiên và sắp đặt hành chính, 12 biểu;
(2) Dân số, Lao động và Việc làm, 22 biểu;
(3) Tài khoản Quốc gia, Tài chính, Ngân hàng, Thị trường chứng khoán
và Bảo hiểm, 32 biểu;
(4) Đầu tư và Xây dựng, 32 biểu;
(5) Doanh nghiệp và Cơ sở kinh doanh cá thể, 31 biểu;
(6) Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản, 92 biểu;
(7) Công nghiệp, 77 biểu;
(8) Thương mại, Giá cả và Du lịch, 38 biểu;
(9) Vận tải và Bưu chính Viễn thông, 31 biểu;
(10) Giáo dục - Đào tạo và Hoạt động Khoa học công nghệ, 46 biểu; (11) Y tế và Chăm sóc sức khỏe, 26 biểu;
(12) Văn hóa Thông tin và Thể dục Thể thao, 14 biểu;
(13) Mức sống dân cư 21 biểu;
(14) Trật tự an toàn xã hội, 9 biểu;
(15) Môi trường sinh thái, 7 biểu;
(16) Số liệu thống kê nước ngoài, 33 biểu
Ngoài số lượng bảng biểu nêu trên, trong mỗi phần cần có phần giải thích khái niệm, phương pháp tính và nguồn số liệu những chỉ tiêu chủ yếu, đặc biệt
là những chỉ tiêu, những số liệu mới đưa vào Niên giám thống kê để người sử dụng, nhất là những đối tượng chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm sử dụng, khai thác số liệu thống kê có thêm điều kiện và cơ sở để tra cứu
Với kết cấu nội dung như trên thì Niên giám thống kê đề xuất áp dụng đến năm 2010 đã có những cải tiến đáng kể so với Niên giám hiện nay cả về kết cấu nội dung và số lượng hệ thống chỉ tiêu, biểu mẫu, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Nội dung cấu trúc Niên giám thống kê được phân chia thành
16 phần, tăng 4 phần so với 12 phần như hiện nay, trong đó bổ sung thêm 2 phần rất quan trọng là "Trật tự an toàn xã hội, gồm 9 biểu" và "Môi trường sinh thái gồm 7 biểu"
Thứ hai, Chia tách phần "Y tế, Văn hoá, Thể thao và Mức sống dân cư"
gồm 26 biểu như Niên giám hiện nay thành 3 phần: (1) Y tế và chăm sóc sức khoẻ, 26 biểu; (2) Văn hoá thông tin và Thể dục thể thao, 14 biểu; (3) Mức sống dân cư, 21 biểu
Trang 12Thứ ba, Tên một số phần cũng được thay đổi và chuẩn hoá cho phù hợp
với nội dung từng lĩnh vực hơn Ví dụ, phần "Đơn vị hành chính và khí hậu" được đổi thành "Đặc điểm tự nhiên và sắp đặt hành chính"; Phần "Dân số và lao động" đổi thành "Dân số, lao động và việc làm"
Thứ tư, Số lượng các biểu số liệu đã tăng lên đáng kể (523 biểu so với
323 biểu trong Niên giám hiện nay), trong đó hầu hết các phần, các lĩnh vực đều được bổ sung thêm các biểu số liệu như: Các chỉ tiêu và biểu số liệu về tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, bảo hiểm (Phần Tài khoản Quốc gia, Tài chính, Ngân hàng, TTCK và Bảo hiểm) Các chỉ tiêu, biểu số liệu về
tư pháp, an toàn lao động, an toàn giao thông (Phần Trật tự an toàn xã hội); các chỉ tiêu về thiên tai, ô nhiễm môi trường (Phần Môi trường sinh thái); các chỉ tiêu liên quan đến giới và bình đẳng giới như số nữ giáo viên, nữ học sinh, sinh viên; nữ y sĩ, nữ bác sĩ, nữ dược sĩ; các chỉ tiêu liên quan đến bà mẹ và trẻ em, chỉ tiêu hệ số ICOR, HDI Ngoài ra còn chuyển một số biểu vào các phần, lĩnh vực phù hợp hơn, như chuyển các biểu: "Diện tích rừng bị cháy", "Diện tích rừng bị chặt phá" từ phần Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản sang phần Môi trường sinh thái
Kết cấu và số lượng biểu trong NGTK sẽ được ra soát và bổ sung, hoàn thiện hàng năm cho phù hợp với điều kiện thực tế trong nước và quốc tế, bởi
vì NGTK được xây dựng theo nguyên tắc mở
Có thể so sánh khái quát giữa Niên giám thống kê được đề xuất và Niên giám thống kê hiện nay (NGTK 2005) qua bảng sau:
Niên giám thống kê 2005 (12 phần - 323 biểu) Niên giám thống kê đề xuất áp dụng đến năm
V- Doanh nghiệp (24 biểu) V- Doanh nghiệp và Cơ sở kinh doanh cá thể (31 biểu) VI- Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản (76 biểu) VI- Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản (92 biểu) VII- Công nghiệp (37 biểu) VII- Công nghiệp (77 biểu)
VIII- Thương mại, Giá cả và Du lịch (25 biểu) VIII- Thương mại, Giá cả và Du lịch (38 biểu) IX- Vận tải và Bưu chính Viễn thông (26 biểu) IX- Vận tải và Bưu chính Viễn thông (31 biểu) X- Giáo dục (21 biểu) X- Giáo dục - Đào tạo và Hoạt động Khoa học
công nghệ (46 biểu)
Trang 13Niên giám thống kê 2005 (12 phần - 323 biểu) Niên giám thống kê đề xuất áp dụng đến năm
2010 (16 phần - 523 biểu)
XI- Y tế, Văn hoá, Thể thao và Mức sống dân
cư (26 biểu)
XI- Y tế và Chăm sóc sức khỏe (26 biểu)
XII- Số liệu thống kê nước ngoài (31 biểu) XII- Văn hóa Thông tin và Thể dục Thể thao (14 biểu)
XIII- Mức sống dân cư (21 biểu) XIV- Trật tự an toàn xã hội (9 biểu) XV- Môi trường sinh thái (7 biểu) XVI- Số liệu thống kê nước ngoài (33 biểu)
II Dân số, Lao động và Việc làm
Trang 14NGTK 2005
Mới được
bổ sung
III Tài khoản Quốc gia, Tài chính, Ngân hàng, Thị trường chứng
khoán và Bảo hiểm
Trang 15NGTK 2005
Mới đƣợc
bổ sung
IV Đầu tƣ và Xây dựng
Trang 16V Doanh nghiệp và Cơ sở kinh doanh cá thể