Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THÙY LINH
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THÙY LINH
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Luật học “Miễn trách nhiệm hình sự theo
pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi, hoàn toàn do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Tất Viễn Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tác giả luận văn
Lê Thị Thùy Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ 9
1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 9 1.2 Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự 11 1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam từ sau cách mạng Tháng Tám năm
1945 đến nay 13
1.4 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự 19 1.5 Quy định của Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới về miễn trách nhiệm hình sự 22
CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 26
2.1 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) 26 2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Phước 47
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 62
3.1.Một số kiến nghị nhằm áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Phước 62
KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê tổng số vụ án, tổng số người bị khởi tố, truy tố, xét xử trên địa bàn tỉnh Bình Phước 48 Bảng 2.2 Số bị can, bị cáo được áp dụng miễn TNHS giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 05 năm (2014-2018) 49 Bảng 2.3 Tình hình áp dụng Điều 29 BLHS, Điều 157 và Điều 155 BLTTHS trong giai đoạn 05 năm (2014-2018) 53 Biểu đồ 2.1 Tổng số vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Phước
áp dụng miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn 05 năm (2014-2018) 51 Biểu đồ 2.2 Tổng số bị can, bị cáo được các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Phước áp dụng miễn TNHS trong giai đoạn 05 năm (2014-2018) 52 Biểu đồ 2.3 Tổng số vụ án và tổng số bị can, bị cáo được miễn TNHS trong giai đoạn 05 năm (2014-2018) 53
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị “Về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020” xác định chủ trương đề cao hiệu quả phòng
ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Sự hoàn thiện pháp luật hình sự không chỉ nằm ở quá trình đấu tranh, phòng chống tội phạm ngày càng hiệu quả hơn mà song song với nhiệm vụ đó còn là đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp Trên tinh thần đó, Nghị quyết
số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa XIVvề việc thi hành BLHS năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa chính sách
hình sự nhân đạo: “xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng;
quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích”… “thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ ngày 01/01/2018…”
Trong Luật hình sự, miễn TNHS là một trong những chế định thể hiện tính
nhân đạo rõ nét, phản ánh sắc nét nguyên tắc xử lý “nghiêm trị nghiêm trị kết
hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục thuyết phục”, cũng như
phản ánh yêu cầu “không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự, mà vẫn
bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục cải tạo người phạm tội”
Đi sâu hơn để nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về miễn TNHS có thể nhận thấy những vướng mắc, bất cập còn tồn đọng khá nhiều trong cả việc hiểu lẫn áp dụng trên thực tiễn chế định này, nhất là sau khi BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực đã có nhiều thay đổi, dẫn đến các trường hợp nhầm lẫn với những quy định khác có tính chất tương đồng, không đảm bảo được tính chính xác khi áp dụng xử lý người phạm tội, đồng thời bên cạnh đó còn nhiều vấn đề chưa được các nhà làm luật nước ta
Trang 8quy định cụ thể Hiện nay trên địa bàn nhiều tỉnh thành cả nước nói chung và tỉnh Bình Phước nói riêng, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn gặp nhiều vướng mắc trong việc áp dụng quy định của BLHS về miễn TNHS
Trong nghiên cứu về chế định miễn TNHS, đã có nhiều công trình đề cập từ nhiều chiều cạnh khác nhau Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự từ thực tiễn tỉnh Bình Phước
Từ các lý do nêu trên học viên đã chọn đề tài “Miễn trách nhiệm hình sự
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” làm luận văn
cao học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Miễn TNHS là một chế định quan trọng, có liên quan chặt chẽ và mật thiết với các chế định khác trong pháp luật hình sự Việt Nam Ở nước ta hiện nay đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu về chế định miễn TNHS
Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như: 1) Giáo trình luật hình sự Việt
Nam (phần chung), Tập thể tác giả do TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội, 2001 và 2003 (tái bản lần thứ nhất); 2) Trách nhiệm hình sự và
hình phạt, Tập thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2001; 3) Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình
sự, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2005; 4) Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013;
Các công trình dưới góc độ tạp chí trong nước như: 1) Chế định miễn trách
nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học, số 4/1997; 2)
Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, Tạp chí Luật học, số 5/1997; 3) Một số ý kiến về miễn trách nhiệm hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2/1993; 4) Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2004;
Trang 9Tuy nhiên, từ đó đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam, nhất là sau khi BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực, cũng như đánh giá được thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Phước Vì vậy, việc lựa chọn đề tài đã nêu để nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Phước có tính thiết thực và góp phần hoàn thiện hơn hiệu quả áp dụng trong thực tế hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về miễn TNHS và thực tiễn áp dụng chế định miễn TNHS trên địa bàn tỉnh Bình Phước, luận văn đề xuất một số kiến nghị bảo đảm áp dụng đúng đắn các quy định về miễn TNHS
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Làm rõ những vấn đề lý luận về miễn TNHS (sự cần thiết quy định chế định
miễn TNHS,khái niệm, đặc điểm, nội dung chế định miễn TNHS, phân biệt với các chế định tha miễn khác);
Khái quát sự hình thành và phát triển của các quy định về miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay,so sánh quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành với BLHS một số nước trên thế giới
về miễn TNHS;
Phân tích quy định BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) và BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về miễn TNHS và đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong các năm 2014 – 2018;
Đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định về miễn TNHS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 10Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam
và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Phước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tại địa bàn tỉnh Bình Phước, bao gồm các cơ quan
Công an, Viện kiểm sát, Tòa án
Phạm vi thời gian: Sử dụng số liệu thống kê trong giai đoạn 05 năm (2014 - 2018)
5 Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Cơ sở luận
Luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghiã duy vật lịch sử Các quy luật của phép duy vật biện chứng như quy luật phủ định của phủ định, quy luật lượng đổi-chất đổi được sử dụng nghiên cứu cơ sở của miễn TNHS, những thay đổi về bối cảnh kinh tế-xã hội dẫn đến những thay đổi về pháp luật hình sự khi quy định về các chế định tha, miễn TNHS, miễn hình phạt Các cặp phạm trù như nội dung và hình thức, cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, được vận dụng để phân tích ý nghĩa, nội dung của các quy định về miễn TNHS trong số các biện pháp tha miễn, vai trò của các biện pháp này trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn gồm: Phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, phân tích tài liệu thứ cấp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu tổng hợp các cơ sở lý luận và thực tiễn về miễn TNHS, luận văn
là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và thực tiễn của chế định miễn TNHS Chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật hình sự
Trang 11Việt Nam về miễn TNHS Từ đó, đề xuất hệ thống các giải pháp mang tính giá trị pháp lý và thực tiễn, góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả việc áp dụng chế định miễn TNHS trong thực tiễn đối với các cơ quan tư pháp
Bên cạnh đó, luận văn còn góp phần bổ sung thêm nguồn tài liệu tham khảo cho công tác học tập và nghiên cứu Mang đến một góc nhìn mới và đa dạng hơn
về chế định miễn TNHS
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm hình sự
Chương 2: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
về miễn trách nhiệm hình sự
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự trên địa
bàn tỉnh Bình Phước và một số kiến nghị
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là một thuật ngữ của khoa học luật hình sự thể hiện hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm Theo Đại từ điển tiếng Việt, thuật ngữ
“trách nhiệm” được hiểu là “điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình” Từ đó có thể hiểu rộng hơn thuật ngữ “trách nhiệm” trong “trách nhiệm hình sự” là những hậu quả mà cá nhân phải chịu khi thực hiện những hành vi vi phạm bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trước Nhà nước, xã hội hoặc cá nhân khác
Từ trước đến nay, xung quanh vấn đề hiểu “trách nhiệm hình sự” là gì, vẫn còn nhiều luồng ý kiến khác nhau.Theo GS.TS Đỗ Ngọc Quang quan niệm
“trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người
khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình
sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện” 31,tr 14 Đối với tác giả
TSKH Lê Cảm thì “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện
tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định” 9,tr 122
Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà và TS Lê Thị Sơn thì cho rằng “trách
nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu
sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích”21, tr 126;
Có nhiều quan điểm khác nhau về “trách nhiệm hình sự” dưới nhiều góc độ nhìn nhận và phân tích Tuy nhiên, nhìn tổng thể, các quan điểm trên đều có điểm chung tương đồng mà tổng kết lại dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt
Trang 13Nam có thể định nghĩa như sau: “Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của
một hay nhiều người thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi do người đó thực hiện”
Diễn giải sơ bộ có thể hiểu TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang
án tích
Bắt đầu từ khi một người thực hiện tội phạm cũng là lúc mối quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người đó được hình thành Tức là từ thời điểm đó người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu TNHS do Nhà nước áp dụng Tuy nhiên cần lưu ý rằng khi tội phạm không bị phát hiện, hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc người phạm tội được miễn TNHS theo quy định của Luật hình sự thì nghĩa
vụ phải chịu TNHS của họ sẽ không được thực hiện trên thực tế
Bàn về TNHS không thể không nói tới miễn TNHS Miễn TNHS xuất hiện khi có TNHS, các vấn đề xung quanh miễn TNHS về cả khái niệm lẫn nội dung đều bắt nguồn từ TNHS Khái niệm miễn TNHS gắn liền và quan hệ chặt chẽ với khái niệm TNHS Theo như quan điểm khoa học của PTS Lê Thị Sơn đã
viết: “Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với người phạm tội
thì miễn trách nhiệm hình sự, miễn hậu quả pháp lý của việc phạm tội cũng chỉ
có thể đặt ra đối với người phạm tội Chúng ta không thể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đối với người không có đủ dấu hiệu pháp lý của sự cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự” Để đi tìm một khái niệm nhất quán và
chính xác nhất về TNHS không hề dễ thì ở đây miễn TNHS cũng gặp phải trường hợp tương tự Hiện nay, trong khoa học luật hình sự tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể như:
Trang 14“Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó”5, tr 7;
“Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định” 43, tr 269;
“Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý về các tội phạm đối với người thực hiện tội phạm khi có những điều kiện theo quy định của pháp luật”9, tr 109;
“Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội mà người đó đã phạm” 22, tr 166;
Dựa trên cơ sở thống nhất các quan điểm của nhiều tác giả khác nhau đồng thời phân tích dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể định nghĩa một cách
đơn giản và dễ hiểu nhất như sau: Miễn TNHS là một chế định nhân đạo của
pháp luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng văn bản với nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định
1.2 Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự
Miễn TNHS có những đặc điểm sau: Thứ nhất, miễn TNHS là một trong
những biện pháp hữu hiệu của Nhà nước ta để phân hóa và thể hiện nguyên tắc
xử lý “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo” Cũng như TNHS, miễn TNHS thể hiện sự phản ứng (lên án) đối với người có hành vi phạm tội từ phía Nhà nước và xã hội đồng thời phản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội trong luật hình sự Việt Nam Chính sách phân hóa này cũng là một cách hiệu nghiệm của việc thực
Trang 15hiện tốt nguyên tắc không để lọt tội phạm và người phạm tội…việc quy định chế định miễn TNHS, chứng tỏ rằng con đường cơ bản, hậu quả cơ bản của tội phạm
là TNHS, hình phạt và chấp hành hình phạt, còn tha miễn chỉ là trường hợp cá
biệt, cụ thể, khi hoàn cảnh đòi hỏi
Thứ hai, miễn TNHS chỉ có thể được đặt ra đối với người mà hành vi của họ
thõa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong phần tội phạm của BLHS, đồng thời họ có những căn cứ và những điều kiện do luật định để không phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm
đó
Thứ ba, miễn TNHS do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định phải
được thể hiện bằng văn bản tố tụng.Tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng hình
sự, cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) áp dụng miễn TNHS cho người phạm tội khi có đủ các căn cứ có tính chất bắt buộc hoặc
tùy nghi do pháp luật hình sự quy định
Thứ tư, đối tượng được áp dụng miễn TNHS theo quy định của pháp luật
đương nhiên chỉ có thể là cá nhân người phạm tội Và cụ thể hơn với mỗi giai đoạn tố tụng người phạm tội có thể được miễn TNHS, mà tương ứng với từng giai đoạn có thể là bị can, bị cáo hoặc người bị kết án
Thứ năm, người được miễn TNHS không phải chịu hậu quả pháp lý, cụ thể
như họ không phải chịu hình phạt, biện pháp cưỡng chế về hình sự khác và không bị coi là có án tích Những người được miễn TNHS tức là đã bị truy cứu TNHS, bị tiến hành điều tra về hành vi phạm tội trên thực tế của mình Vì vậy, người được miễn TNHS vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động
về mặt pháp lý thuộc các ngành luật khác như: Dân sự, hành chính,…vào thời điểm trước hoặc sau khi miễn TNHS
Trang 161.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay
1.3.1 Quy định pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự từ năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất
Tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đứng lên làm cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại xóa bỏ chế độ thực dân – phong kiến, lập nên chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất cho thấy, Nhà nước ta đã đề cập đến vấn đề miễn TNHS ở các mức độ và tên gọi khác nhau tại các văn bản pháp lý Ngày 03/09/1945 tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Trước ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân
không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” Người đã đề nghị sớm tổ chức tuyển cử và xây
dựng Hiến pháp Cũng trong thời gian đó, nhiều văn bản để xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân được ban hành, có thể nhắc đến như: Sắc lệnh số 33C/SL
về thiết lập các Tòa án quân sự, có thẩm quyền “xử tất cả các người nào vi
phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” Để có cơ sở pháp lý cho việc xét xử, Chủ tịch Chính phủ lâm
thời đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 với nội dung là cho đến khi ban hành được những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa Trong số luật lệ cũ, có những quy định liên quan đến miễn TNHS, miễn hình phạt, ân xá Tiếp đó, ngày 19/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm
Trang 17thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa đã ban hành sắc lệnh 33Đ về đại xá Sắc lệnh
số 52/SL ngày 20/10/1945 xá miễn cho một số tội phạm trước ngày 19/08/1945; Thông tư số 314-TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tướng chính phủ về đại xá; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967;…Đơn cử có thể nhắc
đến như tại Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 có quy định “những người vì
chiến đấu cho nền độc lập của nước Việt Nam mà đã bị kết án trước ngày 19 tháng 8 dương lịch năm 1945 như là chính trị phạm hay thường phạm đều được
xá tội”(Điều thứ 2) hay“những khinh tội phạm trước ngày 19 tháng 8 năm 1945
mà Tòa án xử phạt tiền, hoặc tù treo, hoặc cả hai thứ hình phạt đó, đều được xá miễn” (Điều thứ 3)
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988, trước khi có BLTTHS, Chủ tịch nước có 29 lần ra quyết định về đặc xá tha tù trước thời hạn cho những người phạm tội hoặc đang bị tập trung giáo dục cải tạo đã ăn năn hối cải, có quá trình cải tạo tốt trong trại giam Vào đầu những năm 1970, trước những bất ổn về tình hình an ninh trật tự, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân số 150-LCT ngày 21/10/1970 được ban hành nhằm bảo hộ tài sản riêng của công dân, giữ gìn trật tự, trị an, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đồng thời
đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa, chống những hành động xâm phạm tài sản
riêng của công dân.Tại Điều 2 của Pháp lệnh đã thể hiện rõ “Nguyên tắc trừng
trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân là: nghiêm trị bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn tái phạm, bọn phạm tội có tổ chức, bọn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, bọn gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người
bị thiệt hại; xử nhẹ hoặc miễn hình phạt cho những kẻ tự thú, thật thà hối cải, tố giác đồng bọn hoặc tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra”.Đồng thời Điều
19 cũng nêu rõ những trường hợp xử nhẹ hoặc miễn hình phạt “Kẻ nào phạm
Trang 18những tội quy định ở Chương II mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trường hợp sau đây thì được xử nhẹ hoặc miễn hình phạt:
1 Tội phạm chưa bị phát giác mà kẻ phạm tội thành thật thú tội với cơ quan chuyên trách, khai rõ hành động của mình và của đồng bọn
2 Kẻ phạm tội đã có những hành động ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm
3 Trước khi bị xét xử, kẻ phạm tội tự nguyện bồi thường hoặc sửa chữa thiệt hại đã gây ra
4 Phạm tội gây thiệt hại không lớn”
Giai đoạn từ 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời có thể thấy Nhà nước ta không những chú trọng đến việc hoàn thiện pháp luật như một nút then chốt quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước mà bên cạnh đó việc xây dựng song song giữa tính nghiêm minh của pháp luật nhưng vẫn đảm bảo tính nhân đạo đối với người phạm tội cũng được đặc biệt lưu tâm Mặc dù miễn TNHS giai đoạn này chưa được gọi một cái tên cụ thể mà tồn tại dưới nhiều tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung các điều kiện áp dụng được xác định
tương tự như các điều kiện xử nhẹ hoặc miễn hình phạt
1.3.2 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm
Trang 19người phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải (khoản 1 Điều 48); cho người chưa thành niên phạm tội (khoản 3 Điều 59); cho người phạm tội gián điệp (khoản 3 Điều 74); cho người phạm tội đưa hối lộ (khoản 5 Điều 227) và cho người phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 2 Điều 247) Tiếp đó tại Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự cũng đã có những hướng dẫn chi tiết về vấn đề miễn TNHS trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Nghị quyết đã giải thích rõ các điều kiện, nguyên nhân cơ bản cũng như việc xem xét tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong trường hợp phạm tội có tổ chức Tuy nhiên, do Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 chỉ mới hướng dẫn về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành tội phạm, chưa có hướng dẫn về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong các trường hợp có đồng phạm nên Nghị quyết số 01-HĐTP ngày 19/04/1989 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung một số quy định của Bộ luật hình sự được ban hành đã hướng dẫn thêm trong các vụ án có đồng phạm, đưa ra các điều kiện cụ thể để được miễn TNHS theo Điều 16 BLHS năm 1985 đối với người người xúi giục, người tổ chức, người giúp sức
Tại thời điểm này, tình hình tội phạm dần phức tạp hơn, gây nhiều khó khăn trong công tác đảm bảo trật tự trị an cũng như phát giác tội phạm Trước những diễn biến trên, nhằm thực hiện chính sách khuyến khích người phạm tội ra tự thú
và nâng cao hiệu quả công tác vận động người phạm tội ra tự thú, căn cứ vào những quy định trong Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, Bộ Nội vụ (nay là
Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp đã ban hành thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 02/06/1990 hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú theo nguyên tắc chung là những người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị phát hiện hoặc đã bị
Trang 20phát hiện, bị giam giữ, bị phạt tù nhưng trốn khỏi nơi giam giữ, trốn tránh thi hành án hoặc đang bị truy nã mà ra tự thú được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước
Có thể nói, chính sách nhân đạo được xem như một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng BLHS năm 1985 cũng như tại nhiều Nghị quyết được ban hành trong giai đoạn này trong việc quy định về việc xử lý người phạm tội Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 04 lần vào các năm 1989, 1992 và 1997 Những thay đổi này xuất phát từ thực tiễn trong thời kì đổi mới BLHS năm 1999 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý, tích cực của BLHS năm 1985 So với BLHS năm 1985, BLHS năm
1999 có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối hoàn thiện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam mà cụ thể nội dung chúng ta đang phân tích và tìm hiểu là vấn đề miễn TNHS
Tương tự như BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 cũng gồm các quy định về miễn TNHS chia làm hai nhóm thuộc Phần chung và Phần các tội phạm Bao gồm các điều trong Phần chung như: Miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19); do sự thay đổi của tình hình (khoản 1 Điều 25); do sự
ăn năn hối cải của người phạm tội (khoản 2 Điều 25); khi có quyết định đại xá (khoản 3 Điều 25); cho người chưa thành niên phạm tội (khoản 2 Điều 69) và các điều trong Phần các tội phạm như: Miễn TNHS cho người phạm tội gián điệp (Điều 80); cho người phạm tội đưa hối lộ (đoạn 2 khoản 6 Điều 289); cho người phạm tội làm môi giới hối lộ (khoản 6 Điều 290) và cho người phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 3 Điều 314) Bao gồm hai dạng TNHS có tính chất bắt buộc và tùy nghi
So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có điểm khác biệt hơn về kỹ thuật lập pháp khi tách vấn đề miễn TNHS thành một chương riêng quy định về thời hiệu truy cứu miễn TNHS, miễn TNHS, đồng thời còn quy định một điều luật
Trang 21riêng về miễn TNHS có tính chất chung áp dụng cho mọi tội phạm tại Điều 25 của chương này Nếu như trước đây vấn đề đại xá chỉ được nêu trong Hiến pháp
và các sắc lệnh, thông tư thì tại khoản 3 Điều 25 BLHS năm 1999, lần đầu tiên cụm từ “Đại xá” được nhắc đến trong BLHS với “tư cách” là một căn cứ để người phạm tội được miễn TNHS Đồng thời BLHS năm 1999 đã thay đổi tính chất không bắt buộc tại khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1985 thành bắt buộc tại
khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999, đối với trường hợp “khi tiến hành điều tra
hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội”
BLHS năm 1999 ra đời bên cạnh việc được kế thừa những nội dung tích cực, hợp lí của BLHS năm 1985, đãhoàn thiện thêm một bước các quy định thuộc Phần chung để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, thay đổi kết cấu các chương tội phạm theo hướng vừa phù hợp với diễn biến mới của tình hình tội phạm Việt Nam và vừa phù hợp với xu hướng chung của thế giới, phân hóa TNHS ở mức
độ cao hơn để nâng cao hiệu quả của Luật hình sự trong thực tiễn áp dụng
1.3.3 Quy định về miễn TNHS trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Sau 14 năm BLHS năm 1999 đã bộc lộ những bất cập hạn chế trước diễn biến tình hình và đòi hỏi của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLHS năm 2015, đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, góp phần bảo vệ chủ quyền,
an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ và thúc đẩy kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 07 năm 2016
Trang 22Tuy nhiên, do BLHS năm 2015 có nhiều thiếu sót, cần có thời gian sữa chữa,
bổ sung nên đã lùi hiệu lực thi hành theo Nghị quyết số 144/2016/QH13, ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội khóa XIII Ngày 20/06/2017, Quốc hội khóa XIVđã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 Căn
cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 thì BLHS năm 2015 (bao gồm cả phần sửa đổi, bổ sung năm 2017 – gọi tắt là BLHS năm 2015), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018
BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về miễn TNHS gồm 3 quy định tại Phần chung và 05 quy định tại phần các tội phạm với những đổi mới về
cả nội dung lẫn hình thức
1.4 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
1.4.1 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt
Miễn TNHS và miễn hình phạt là hai trong nhiều chế định quan trọng của luật hình sự ở nước ta đã được ghi nhận từ rất sớm, xuyên suốt lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam bằng các thuật ngữ khác nhau từ Quốc triều hình luật (Bộ luật Hông Đức) đến Hoàng Việt luật lệ Về điểm giống nhau giữa miễn TNHS và miễn hình phạt, có thể nhận thấy:
Miễn TNHS và miễn hình phạt đều là hai chế định thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta Đồng thời đều phản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội cũng như các nguyên tắc nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục và cải tạo
Miễn TNHS và miễn hình phạt chỉ áp dụng đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện chính tội phạm đó Tức là áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội được Luật hình sự quy định
Cuối cùng, việc áp dụng miễn TNHS và miễn hình phạt tức là Nhà nước không cách ly họ khỏi đời sống xã hội Tạo điều kiện để họ có cơ hội sửa chữa
Trang 23sai phạm cũng như hướng thiện trở thành con người có ích cho xã hội Bên cạnh
đó miễn TNHS và miễn hình phạt cũng có những điểm khác biệt như:
Thứ nhất, về căn cứ pháp lý miễn TNHS có năm căn cứ chung (Điều 16,
Điều 29, khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015) và năm căn cứ riêng (Điều 110, Điều 247, Điều 364, Điều 365, Điều 390 BLHS năm 2015) Miễn hình phạt có hai căn cứ chung quy định tại Điều 59 và Điều 88 cùng một căn cứ riêng quy định tại Điều 390 BLHS năm 2015
Thứ hai, so về chủ thể áp dụng thì miễn TNHS có phần rộng hơn so với miễn
hình phạt Đối với miễn TNHS, tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể, các
cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án có thẩm quyền áp dụng miễn TNHS cho người phạm tội khi đáp ứng các điều kiện do luật định Riêng miễn hình phạt thì chỉ do Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng ở giai đoạn xét xử
Thứ ba, từ chủ thể áp dụng có thể suy ra đối tượng bị áp dụng của miễn
TNHS rộng hơn so với miễn hình phạt Nếu miễn TNHS có thể là bị can, bị cáo hoặc người bị kết án thì chỉ có người bị kết án là đối tượng duy nhất của miễn hình phạt Tức là người phạm tội có thể được miễn TNHS ở mỗi giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng nếu đáp ứng đủ các yêu cầu do luật định, còn riêng miễn hình phạt chỉ được áp dụng khi người phạm tội đã bị kết án bằng một bản
án có hiệu lực pháp luật
Thứ tư, các điều kiện đặt ra của miễn TNHS được quy định rõ ràng và chặt
chẽ hơn so với miễn hình phạt Người được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện, nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu biện pháp tác động từ các ngành luật tương ứng Tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS: “Khi
đã miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không được quyết định bất kỳ loại hình phạt nào nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải
Trang 24quyết tang vật” Ngược lại, đối với trường hợp miễn hình phạt, tuy đương nhiên
được xóa án tích nhưng người phạm tội vẫn phải chịu các biện pháp tư pháp được quy định luật hình sự (các Điều 46-49 BLHS năm 2015)
1.4.2 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Loại trừ TNHS trong luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định ranh giới giữa hành vi bị coi là tội phạm và hành vi không phải tội phạm, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật trong mỗi trường hợp tương ứng, cũng như phát huy tinh thần chủ động đấu tranh phòng chống tội phạm
Có thể nói miễn TNHS và loại trừ TNHS là một trong những chế định thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội nhưng vẫn mang tính giáo dục, răn đe đối với họ
Các trường hợp miễn TNHS so với các tình tiết loại trừ TNHS có bản chất
pháp lý khác nhau Trên thực tế, nhiều quan điểm cho rằng “Suy cho cùng miễn
trách nhiệm hình sự cũng là không truy cứu trách nhiệm hình sự (căn cứ vào hậu quả - nếu người phạm tội không bị áp dụng biện pháp xử lí nào)” (5, tr 7)
Từ sự giống nhau về hậu quả pháp lý cuối cùng là đều không phải chịu TNHS
mà dẫn đến quan điểm hiểu sai khi cho rằng các trường hợp miễn TNHS tức là loại trừ TNHS
Miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải chịu TNHS về hành vi trái pháp luật do mình gây ra Tức hành vi được nói đến ở đây đã thõa mãn các dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm tương ứng được pháp luật hình sự quy định phải chịu TNHS nhưng do có những điều kiện nhất định và xét thấy không cần thiết phải truy cứu TNHS nên họ được miễn TNHS Ngược lại các tình tiết loại trừ TNHS là trường hợp người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội khi có một trong các tình tiết được loại trừ TNHS quy định trong luật hình sự thì không
Trang 25phải chịu TNHS do động cơ của hành vi đã làm mất tính tội phạm của hành vi,
Chính từ sự giống nhau nhưng khác bản chất pháp lý là lý do nên tìm hiểu và
đi sâu vào phân tích chế định miễn TNHS của nhiều quốc gia trên thế giới trong tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam
Trong hệ thống pháp luật của Cộng hòa Lat-vi-a (là nước Cộng hòa thuộc Liên xô cũ, tách khỏi Liên xô từ năm 1991), khái niệm và đối tượng áp dụng miễn TNHS của nước này được các nhà lập pháp áp dụng đối với người đã thành niên và đối với người chưa thành niên phạm tội khi đáp ứng những điều kiện nhất định Trong quá trình sữa chữa bổ sung Luật hình sự, các nhà làm luật nước này đã bổ sung quy định về TNHS của người chưa thành niên và phân loại
cụ thể hơn những nguyên tắc khi áp dụng TNHS đối với người chưa thành niên,
và chú ý đến trường hợp miễn TNHS đối với đối tượng này cũng như khuyến khích áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo đối với họ nhằm thực thi các nguyên tắc của trách nhiệm hình sự Chẳng hạn như: Giảm bớt các danh mục hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên; xây dựng các chế định riêng biệt cho việc áp dụng các hình phạt đó cũng như các tình huống dẫn đến tội phạm và việc áp dụng hình phạt,…
Trang 26Cũng giống với pháp luật của Cộng hòa Lat-vi- a, BLHS Việt Nam ngoài quy định các trường hợp miễn TNHS cho người phạm tội nói chung, có một chương riêng quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho
xã hội Đảm bảo nguyên tắc BLHS đã quy định rằngkhi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn TNHS và các biện pháp khác không đảm bảo được tính hiệu quả giáo dục, phòng ngừa
BLHS Liên Bang Nga năm 1996, sửa đổi năm 2010 bằng Luật Liên bang số
147 ngày 01/07/2010 quy định tại Chương 11 của phần chung BLHS bao gồm bốn điều luật tương ứng với bốn trường hợp miễn TNHS, ngoài ra còn có hai trường hợp miễn TNHS khác và quy định nhiều trường hợp khác tại phần tội phạm
Bốn trường hợp miễn TNHS bao gồm: 1) Miễn TNHS do người phạm tội ăn năn hối cải (Điều 75); 2) Miễn TNHS do người phạm tội đã hòa giải với người
bị hại (Điều 76); 3) Miễn TNHS do sự thay đổi của tình hình (Điều 77) và tại Điều 78 là miễn TNHS do đã hết thời hiệu truy cứu TNHS Hai trường hợp khác được quy định là miễn TNHS do đại xá (Điều 85) và miễn TNHS cho người chưa thành niên (Điều 91) Ngoài ra các trường hợp được quy định tại phần các tội phạm như: Miễn TNHS cho người bắt cóc người (Điều 127); cho người đưa hối lộ (Điều 286); cho người tổ chức đơn vị vũ trang bất hợp pháp (Điều 205); cho người trốn khỏi nhà tù hoặc nơi tạm giam (Điều 307);…
Có thể thấy các quy định tại phần chung của BLHS Nga có những điểm tương đồng với các trường hợp miễn TNHS trong BLHS Việt Nam Riêng phần các tội phạm do tình hình đặc trưng của mỗi nước mà pháp luật Nga quy định khác biệt và khá nhiều hơn so với các quy định tại phần tội phạm của luật hình
sự Việt Nam
Trang 27Tại BLHS của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào năm 1999 được quy định tại Chương IV – Miễn trừ trách nhiệm hình sự Bao gồm các trường hợp cụ thể sau:
“ 1) Người chưa đủ 15 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì không
phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 17) nhưng Tòa án phải áp dụng biện pháp giáo dục, cải tạo quy định tại Điều 48 BLHS;
2) Người bị mất trí, không nhận thức được hậu quả của hành vi do mình gây ra thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp tội phạm nghiêm trọng thì sự đe dọa, uy hiếp chỉ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 19);
3) Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp phòng vệ chính đáng, thì không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 20); 4)Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp tình thế cấp thiết thì không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 21)”
Xem xét quy định miễn TNHS tại BLHS của nhiều nước trên thế giới có thể thấy mặc dù tại các chương đều quy định là miễn TNHS nhưng lại nội dung lại
đề cập đến các trường hợp người phạm tội không phải chịu TNHS Điều này khác so với BLHS Việt Nam khi quy định rõ từng chương cụ thể về vấn đề miễn
TNHS và các trường hợp loại trừ TNHS
Kết luận Chương 1
Miễn TNHS là một trong những chế định quan trọng của pháp luật hình sự Việt Nam, thể hiện rõ nét nhất tính nhân đạo trong áp dụng pháp luật khi xử lý người phạm tội mà Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng hướng đến Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa giữa xử lý và không xử lý hình sự người phạm tội, hướng đến mục đích hạn chế sử dụng các biện pháp trừng trị về mặt hình sự nhưng vẫn đảm bảo việc giáo dục và cải tạo người phạm tội Có thể nói miễn TNHS xuất hiện từ rất sớm dưới dạng nhiều thuật ngữ khác nhau trải dọc theo chiều dài lịch
Trang 28sử của pháp luật nước ta Tại BLHS năm 2015 hiện nay, chế định miễn TNHS
đã được quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng và phù hợp với chính sách khoan hồng, nhân đạo mà Đảng và Nhà nước ta đề ra
Xét về cả nỗi dung lẫn hình thức, việc quy định chế định miễn TNHS ở mỗi nước đều mang đặc thù riêng theo từng đặc trưng của mỗi quốc gia Nhưng nhìn chung, ở hệ thống pháp luật của bất kỳ đất nước nào cũng đều hướng đến một tinh thần chung đấy chính là tinh thần nhân đạo và chế định miễn TNHS là một trong những chế định thể hiện rõ nhất tinh thần ấy mà mỗi quốc gia trên thế giới đều hướng đến khi xây dựng pháp luật
Trang 29Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
2.1.1 Quy định của phần chung về miễn trách nhiệm hình sự
2.1.1.1 Miễn trách nhiệm hình sự cho người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Điều 16 BLHS năm 2015 quy định về miễn TNHS đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Với quy định trên, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội một mặt thể hiện tính nhân đạo của luật hình sự, nó cho một người đã
có ý định phạm tội, đã có hành vi chuẩn bị hoặc bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, nhưng đã tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được hưởng lượng khoan hồng, không phải chịu TNHS Mặt khác, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cũng là một trong những biện pháp góp phần ngăn chặn những hậu quả nguy hiểm cho xã hội Nó cho phép một người có ý định phạm tội, đã chuẩn bị hoặc bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, vẫn có khả năng lựa chọn cách xử sự của mình: Một là tiếp tục thực hiện tội phạm đến cùng thì có thể sẽ phải chịu TNHS; hai là tự mình chấm dứt việc phạm tội thì sẽ được hưởng lượng khoan hồng, không phải chịu TNHS Trong nhiều trường hợp một người
có hành vi nguy hiểm cho xã hội đã lựa chọn cách xử sự thứ hai và điều đó rõ ràng đã góp phần hạn chế bớt những thiệt hại nguy hiểm có thể xảy ra cho xã hội
Cần phân biệt rõ với giai đoạn phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 BLHS năm 2015, tức nếu một người đã thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm nhưng chưa hoàn thành do những nguyên
Trang 30nhân khách quan ngoài ý muốn của người đó thì dù sau đó người ấy không tiếp tục thực hiện tội phạm cũng không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì hành vi đó đã ở giai đoạn phạm tội chưa đạt Ví dụ: A định giết B đã chĩa súng vào B bóp cò nhưng đạn không nổ Sau đó mặc dù súng còn đạn nhưng A đã tự mình từ bỏ ý định, không tiếp tục thực hiện hành vi giết B nữa Đối với trường hợp khi một người đã thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm, để gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng giữa hành vi mà người đó thực hiện với hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra còn có một khoảng thời gian nhất định Trong khoảng thời gian này người đó lại có hành động tích cực để ngăn chặn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra và hậu quả đó đã được ngăn ngừa, tội phạm đã không hoàn thành được, thì cần phải coi người đó là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, vì hành vi mà người đó thực hiện thỏa mãn điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Điều kiện đó là: Trước khi chấm dứt việc phạm tội hành vi mà người đó thực hiện chưa thỏa mãn được tất cả các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể và sự chấm dứt việc phạm tội khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng là do người đó tự nguyện quyết định tuy không
có gì ngăn cản
Cần lưu ý trường hợp người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vẫn phải chịu TNHS nếu hành vi thực tế của họ đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác Ví dụ: Một người mua lựu đạn để giết người, mặc dù họ tự ý nửa chừng chấm dứt việc giết người vẫn phải chịu TNHS về hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng (Điều 304 BLHS năm 2015)
Các quy định của pháp luật về miễn TNHS chỉ mới quy định việc áp dụng biện pháp này đối với người thực hành chưa có hướng dẫn tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đối với các trường hợp có đồng phạm Theo đó, ngày 19/04/1989, Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
Trang 31dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS đã hướng dẫn một số vấn đề như sau:
Trong các vụ án có đồng phạm, nếu người xúi giục hoặc người tổ chức hay người giúp sức tuy tự ý nửa chừng từ bỏ ý định phạm tội, nhưng không áp dụng những biện pháp cần thiết để ngăn chặn kẻ thực hành thực hiện tội phạm, thì tội phạm vẫn có thể được thực hiện
Đối với người xúi giục, người tổ chức thì phải thuyết phục, khuyên bảo, đe dọa để người thực hành không thực hiện tội phạm hoặc phải báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, báo cho người sẽ là nạn nhân biết về tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện để cơ quan Nhà nước hoặc người sẽ là nạn nhân có biện pháp ngăn chặn tội phạm
Đối với người giúp sức phải chấm dứt việc tạo những điều kiện tinh thần, vật chất cho việc thực hiện tội phạm (như không cung cấp phương tiện, công cụ phạm tội; không chỉ điểm, dẫn đường cho kẻ thực hành…) Nếu sự giúp sức của người giúp sức đang được những người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm, thì người giúp sức cũng phải có những hành động tích cực như đã nêu
ở trên đối với người xúi giục, người tổ chức để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm Tuy nhiên, nếu những việc họ đã làm không ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm vẫn xảy ra, thì họ có thể vẫn phải chịu TNHS Họ chỉ có thể được miễn TNHS nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác mà họ đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm Tóm lại, khi đề cập đến điều kiện của sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, cần phải chú ý một số điểm sau:
Sự chấm dứt tội phạm được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải là do người thực hiện hành vi tự nguyện và dứt khoát chấm dứt không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa
Trang 32Sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải xảy ra trước khi một người
có hành vi thỏa mãn hết các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể, nghĩa là chỉ có thể xảy ra khi một người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc khi đã có hành vi bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện được tội phạm đến cùng
Nếu một người đã thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm nhưng giữa hành vi mà người đó thực hiện với hậu quả nguy hiểm cho xã hội còn có một khoảng thời gian Trong khoảng thời gian này người ấy lại có những hành động tích cực ngăn chặn tội phạm khiến cho tội phạm không hoàn thành được cũng được coi là tự ý nủa chừng chấm dứt việc phạm tội
Đối với người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cần xác định được là sau những việc mà họ
đã làm (tổ chức, xúi giục hay giúp sức) họ lại có những hành động tích cực để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm của người thực hành khiến cho tội phạm không hoàn thành được, không kể hành động ngăn chặn của họ xảy ra trước hay sau khi người thực hành bắt tay vào việc thực hiện tội phạm
2.1.1.2 Miễn trách nhiệm hình sự do sự thay đổi chính sách hình sự
Đây là một điểm mới so với BLHS năm 1999, cùng với trường hợp có quyết định đại xá là hai trường hợp được quy định có tính chất bắt buộc Tuy nhiên, quy định này có thể dẫn đến cách hiểu không thống nhất vì việc thay đổi chính sách, pháp luật phải làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì mới được miễn TNHS, còn nếu tuy có thay đổi chính sáchpháp luật mà hành vi phạm tội vẫn còn nguy hiểm thì không được miễn TNHS Trên thực tế, thì cứ có sự thay đổi chính sách, pháp luật mà hành vi phạm tội có còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không, không cần biết thì người phạm tội đương nhiên được miễn TNHS
Trang 33Ví dụ: BLHS năm 2015 đã bỏ 11 tội so với BLHS năm 1999, trong đó có các tội như: Tội hoạt động phỉ (Điều 83); Tội tảo hôn (Điều 148); Tội kinh doanh trái phép (Điều 159); tức là kể từ ngày BLHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật những người trước đây đã thực hiện một (hoặc nhiều) trong các hành vi mà BLHS năm 1999 quy định là tội phạm mà sau ngày BLHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật mới bị phát hiện thì được coi là hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa và mặc nhiên người có hành vi này được miễn TNHS Đơn cử như tại
vụ án “Buôn bán hàng cấm” sau cũng là một ví dụ điển hình cho sự thay đổi của chính sách pháp luật: Ngày 23/01/2016, Trần Thị Lập mua 305 bao thuốc lá ngoại đem về nhà để tiêu thụ Tối 26/01/2016, Công an thị xã Sông Cầu phối hợp với đội quản lý thị trường kiểm tra, phát hiện và thu giữ toàn bộ số thuốc lá trên Sau đó, Lập bị khởi tố, điều tra về tội buôn bán hàng cấm
Tháng 03/2016, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố Lập ra trước Tòa án nhân dân cùng cấp để xét xử về tội buôn bán hàng cấm theo khoản
1 Điều 155 BLHS năm 1999
Ngày 18/07/2016, Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu căn cứ Công văn số 06/TANDTC-PC ngày 26/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép thuốc
nổ, thuốc lá điếu nhập lậu để quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Ngày 25/07/2017, Tòa án nhân dân Tối cao có Công văn số
154/TANDTC-PC hướng dẫn việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu
nhập lậu trong nội địa Theo đó, tại điểm b mục 2 công văn này quy định: “Kể từ
0 giờ 00 phút ngày 01/07/2015 đến trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, không
xử lý về hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa Trường hợp vụ án đang trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm được thực hiện như sau: (…); Trường hợp Viện kiếm sát có công văn (hoặc quyết định) rút quyết định
Trang 34truy tố và đề nghị tòa án đình chỉ vụ án thì thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa xét xử vụ án phải căn cứ vào quy định của BLHS năm 1999 và các quy định của pháp luật có liên quan để ra quyết định đình chỉ vụ án”
Thực hiện quy định này, ngày 29/08/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu ban hành công văn rút quyết định truy tố đối với Trần Thị Lập Trên
cơ sở đó, Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị cáo Lập Theo quyết định này, lý do của việc miễn TNHS là do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự”
2.1.1.3 Miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá
Đây là một trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc Đại xá có thể hiểu
là việc miễn TNHS đối với một loại tội phạm hoặc một người phạm tội nhất định.Tuy nhiên, nhận định chung thì có thể hiểu đại xá là văn bản của Quốc hội, miễn TNHS hoặc miễn hình phạt hoặc thay đổi hình phạt đã tuyên bằng một hình phạt nhẹ hơn đối với một loại người phạm tội nhất định Văn bản đại xá có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội được nêu trong văn bản đó xảy ra trước khi ban hành văn bản đại xá thì được miễn truy cứu TNHS Nếu đã khởi tố, truy
tố hoặc xét xử thì phải đình chỉ, nếu đã chấp hành xong hình phạt thì được coi là không có án tích Đối với hành vi phạm tội được đại xá thì dù đang ở trong giai đoạn nào từ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đều được tha tội hoàn toàn, có nghĩa sẽ được trả tự do ngay, phục hồi toàn bộ quyền công dân và được coi như không phạm tội
Quyết định đại xá được ban hành nhân dịp những sự kiện trọng đại nhất của đất nước Nếu tính từ khi Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1992 đến nay, Quốc hội nước ta chưa có lần nào ra quyết định đại xá Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung các nghị quyết của Quốc hội như: Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21/12/1999, Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Nghị
Trang 35quyếtsố144/2016/QH13 ngày30/06/2016, Nghịquyết số41/2017/QH14 ngày 20/06/2017về việc thi hành BLHS thì nội dung của các Nghị quyết này có chứa đựng nội dung của đại xá Ví dụ: BLHS năm 2015 có hiệu lực từ 0 giờ 00 ngày
01/01/2018 nhưng Nghị quyết số 41 quy định:“Kể từ ngày BLHS được công bố,
không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử những người phạm những tội mà BLHS đã bỏ hình phạt tử hình; đối với người đủ 75 tuổi trở lên, đối với phụ nữ
có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử; hình phạt tử hình đã tuyên đối với những người thuộc trường hợp nêu trên mà chưa thi hành, thì không thi hành nữa…”
Như vậy, tuy Nghị quyết số 41 không phải là quyết định đại xá, nhưng nội dung của Nghị quyết thể hiện nội dung đại xá Tuy nhiên, cũng cần phân biệt đại
xá với đặc xá Đặc xá theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Đặc xá năm 2007
“Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định
tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt” Tức là miễn toàn bộ hay một phần hình phạt đối với một hoặc một số
người bị kết án Ở nước ta, đặc xá được Chủ tịch nước quyết định vào các dịp Lễ lớn của đất nước và dân tộc Người được đặc xá không phải chấp hành hình phạt
tù còn lại Họ chỉ phải tiếp tục chấp hành các hình phạt bổ sung theo bản án của
Tòa án (nếu có), người được đặc xá vẫn là người có án tích
2.1.1.4 Miễn trách nhiệm hình sự do chuyển biến của tình hình
Trước đây tại BLHS năm 1999, trường hợp miễn TNHS do chuyển biến của tình hình có tính chất bắt buộc, tuy nhiên đến BLHS năm 2015, trường hợp này được chuyển sang tính chất tùy nghi (quy định có thể được miễn) Nghĩa là khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử do có sự chuyển biến của tình hình mà các
cơ quan tiến hành tố tụng xét thấy hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho
xã hội nên có thể cho người phạm tội được miễn TNHS
Trang 36Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, tuy có một số trường hợp khó xác định nhưng không khó bằng trường hợp do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Trong thực tiễn, các cơ quan tiến hành
tố tụng cũng rất ít áp dụng trường hợp này để miễn TNHS cho người phạm tội
Có ý kiến cho rằng, khi phạm tội họ là người nguy hiểm cho xã hội nhưng sau
đó họ biết ăn năn hối cải, nỗ lực phấn đấu để trở thành người tốt, có ích cho xã hội và xã hội rất cần họ thì nên coi là do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa để miễn trách nhiệm hình sự cho
họ Tuy nhiên, cũng có luồng quan điểm cho rằng bản thân người phạm tội không có sự biến đổi nào, khi phạm tội họ là người như thế nào thì vẫn như vậy nhưng do tình hình xã hội thay đổi nên họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Chính do không nắm chắc những yếu tố này nên trong thực tiễn, có nhiều người lầm tưởng sự nỗ lực của bản thân người phạm tội nên họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa và đã miễn trách nhiệm hình sự cho họ Mặc dù trong thực tiễn, những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự do chuyển biến của tình hình
mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa rất ít xảy ra Ngay tại Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS cũng
đã nêu rõ nghĩa thực của “chuyển biến tình hình” ở đây tức là sự thay đổi, chuyển biến về chính trị, kinh tế, xã hội
Ví dụ: Điều 196 quy định về Tội đầu cơ “Người nào lợi dụng tình hình khan
hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế mua vét hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán lại để thu lợi bất chính thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” Nếu trong quá trình thực hiện hành vi mua vét hàng hóa mà do sự chuyển
Trang 37biến của kinh tế khiến hàng hóa đó không còn khan hiếm nữa thì các Cơ quan tiến hành tố tụng có thể cho người phạm tội đầu cơ được miễn TNHS vì hành vi mua vét hàng hóa đó không còn nguy hiểm cho xã hội
Có thể nói, tội phạm là một hiện tượng xã hội nên nó cũng có tính lịch sử, vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, do yêu cầu của xã hội và các quy định của pháp luật thì hành vi đó cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự, nhưng sau
đó khi các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng của mình để truy cứu TNHS đối với người có hành vi phạm tội thì tình hình xã hội đã thay đổi, Nhà nước thấy không cần phải xử lý người có hành vi phạm tội trước đó bằng biện pháp hình sự nữa Sự chuyển biến của tình hình bao gồm các mặt như kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, Tuy nhiên, cần phải lưu ý hành vi phạm tội trước
đó xâm phạm đến quan hệ xã hội nào và quan hệ xã hội đó có chuyển biến làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm nữa không Ở đây, sự chuyển biến tình hình đã là nguyên nhân làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm nữa
Căn cứ để xác định do chuyển biến tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa là những quy định của Nhà nước có liên quan đến hành vi phạm tội, các quy định này nhất thiết phải bằng văn bản có tính pháp lý, bao gồm Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn của các bộ hoặc cơ quan ngang bộ Nếu sự chuyển biến của tình hình và tình hình đó tuy có liên quan đến tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội đã xảy ra nhưng chưa được Nhà nước quy định thì người có hành vi phạm tội vẫn bị truy cứu TNHS như các trường hợp phạm tội khác
2.1.1.5 Miễn trách nhiệm hình sự do người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo
BLHS năm 2015 đã mở rộng thêm căn cứ miễn TNHSkhi bổ sung thêm
trường hợp miễn TNHS “Khi tiến hành điều tra, truy tố, người phạm tội mắc
Trang 38bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa”
(điểm b khoản 2 Điều 29) Theo đó, để được áp dụng quy định về miễn TNHS
do mắc bệnh hiểm nghèo, người phạm tội phải đảm bảo có đủ 02 yếu tố đó là: Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo trong quá trình tiến hành điều tra, truy
tố xét xử;
Việc mắc bệnh này làm cho người phạm tội không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa
Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 02/2014/NĐ- CP thì:“Người
mắc bệnh hiểm nghèo là người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong hủi, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS hoặc bệnh hiểm nghèo khác theo quy định của Bộ Y tế” Tình trạng mắc bệnh hiểm nghèo phải dẫn tới bản thân người
phạm tội không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, được hiểu là khi người phạm tội bị bệnh như vậy thì tính chất nguy hiểm của họ đối với xã hội không còn nữa, chẳng hạn như: Suy giảm về khả năng nhận thức, không có khả năng tự mình thực hiện và điều khiển hành vi, không còn đủ sức khỏe để tự di chuyển,….Tuy nhiên, không phải trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo nào cũng có thể được miễn TNHS, mà phải có thêm điều kiện không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa như phải nằm liệt giường có người chăm sóc, tức là họ không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa thì mới có thể được miễn TNHS
2.1.1.6 Miễn trách nhiệm hình sự do người phạm tội tự thú, thành khẩn khai báo
Đây là trường hợp miễn TNHS có tính chất tùy nghi (có thể được miễn) Để được miễn TNHS theo điểm c khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015 thì người phạm
tội phải đáp ứng đủ hai điều kiện: Thứ nhất, một người khi thực hiện hành vi
phạm tội, mặc dù chưa bị phát giác, người đó phải chủ động tự thú, khai nhận rõ