1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ nguyễn vĩnh tiến (2017)

92 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ, NGỮ THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ NGUYỄN VĨNH TIẾN..... Thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến được xây dựng từ một hệ thốngngôn ngữ đa dạng, phong phú và mang đậm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học:

ThS GVC LÊ KIM NHUNG

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận được sự hướng dẫnnhiệt tình và chu đáo của cô giáo Lê Kim Nhung - giảng viên tổ Ngôn ngữ,các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường ĐH Sưphạm Hà Nội 2

Khóa luận được hoàn thành vào ngày…/…/ 2017

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê Kim Nhung cùng toàn thể cácthầy cô giáo trong khoa đã giúp em hoàn thành khóa luận này

Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi nhữngthiếu sót, hạn chế, em mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và cácbạn để có thể tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017

Người thực hiện

Đàm Quốc Chung

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của

riêng tôi, không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu nào.

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017

Người thực hiện

Đàm Quốc Chung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Cấu trúc của khóa luận 6

NỘI DUNG 8

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Phong cách hội thoại 8

1.1.1 Những vấn đề lí thuyết về phong cách hội thoại 8

1.1.2 Từ khẩu ngữ 15

1.2 Biện pháp dẫn ngữ 18

1.2.1 Khái niệm 18

1.2.2 Các cách dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao 19

1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 22

1.3.1 Khái niệm “Thơ” 22

1.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 23

1.4 Vài nét về tác giả Nguyễn Vĩnh Tiến 25

Trang 5

1.4.1 Con người và sự nghiệp 25

1.4.2 Phong cách thơ Nguyễn Vĩnh Tiến 26

Chương 2 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ, NGỮ THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ NGUYỄN VĨNH TIẾN 28

2.1 Kết quả thống kê, phân loại 28

2.1.1 Kết quả 28

2.1.2 Nhận xét 28

2.2 Phân tích kết quả thống kê 30

2.2.1 Sử dụng từ khẩu ngữ 30

2.2.2 Sử dụng tình thái từ 42

2.2.3 Sử dụng lớp từ, ngữ thuộc trường nghĩa dân gian 46

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 6

1.2 Nguyễn Vĩnh Tiến là một hiện tượng thơ độc đáo của nền văn họcđương đại Việt Nam Thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến vừa cách tân mới mẻ vừamang đậm màu sắc dân gian Nhà thơ Đỗ Bạch Mai nhận xét thơ NguyễnVĩnh Tiến “là một dòng suối chảy âm thầm, trong sáng và lặng lẽ” Việc đisâu nghiên cứu thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến sẽ đem lại cái nhìn sâu sắc hơn, đachiều hơn về ngôn ngữ tiếng Việt Đồng thời còn góp một phần quan trọngvào việc giảng dạy và nghiên cứu tác phẩm văn học.

1.3 Bản thân là một sinh viên Sư phạm Ngữ văn, một nhà giáo tươnglai, người mà sẽ truyền cái hay cái đẹp của các tác phẩm văn học cho học sinh.Chính vì vậy mà mỗi sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường cần phải traudồi thêm kiến thức, kĩ năng, hoàn thiện hành trang của bản thân phục vụ choviệc giảng dạy sau này Để làm được điều đó thì chúng ta cần phải nắm chắc

và sử dụng một cách nhuần nhuyễn ngôn ngữ tiếng Việt

Xuất phát từ những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên, chúng tôi đãlựa chọn đề tài nghiên cứu: “Từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơNguyễn Vĩnh Tiến.”

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề

Ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng bậc nhất đối với một tác phẩm vănhọc nghệ thuật Thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến được xây dựng từ một hệ thốngngôn ngữ đa dạng, phong phú và mang đậm màu sắc của phong cách hội thoại.Tác phẩm của ông đã dần tạo được dấu ấn trong lòng độc giả Vì vậy mà việctiếp cận và nghiên cứu thơ Nguyễn Vĩnh Tiến đã bước đầu được nhiều ngườiquan tâm Tuy nhiên, các vấn đề được người nghiên cứu đề cập tới chỉ ở mộtvài khía cạnh nhỏ mà chưa thực sự thực hiện như quy mô của một đề tài khoahọc hay khóa luận tốt nghiệp

2.1 Việc nghiên cứu thơ Nguyễn Vĩnh Tiến

Cho đến thời điểm hiện tại, từ những tài liệu mà chúng tôi tham khảo

như sách, báo, tạp chí hay phương tiện thông tin đại chúng (internet) đều

không tồn tại một đề tài nào cùng tên với đề tài mà chúng tôi lựa chọn Tuynhiên, qua quá trình tìm hiểu và khảo sát, chúng tôi đã tìm thấy được một sốbài viết tiêu biểu như sau:

Tác giả Bùi Công Thuấn với bài viết 10 khuôn mặt thơ trẻ đương đại

đã chỉ ra những cây bút tiêu biểu đó là: Nguyễn Vĩnh Tiến, Phan Huyền Thư,

Vi Thùy Linh, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, NguyễnThúy Hằng, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Trần Ngọc Tuấn, Ly Hoàng Ly Trong đó,phần viết về tác giả Nguyễn Vĩnh Tiến, tác giả đã nhận xét Nguyễn Vĩnh Tiến

là một con người “bay giữa thơ, nhạc và kiến trúc” Nhà thơ tự cho rằng: “Tôithấy trong kiến trúc có nhạc tính, có nhịp điệu, có thi ca của vật liệu, có cảmxúc của không gian và ngược lại trong âm nhạc và thi ca có những kết cấu vàbiểu hiện của kiến trúc” Với những am hiểu sâu xa về âm nhạc và kiến trúccủa mình, Nguyễn Vĩnh Tiến đã kết hợp hài hòa, tinh tế và khéo léo để tạo ranhững tác phẩm thơ vừa mềm mại lại vừa góc cạnh, ngôn ngữ sắc bén, nhiềutác phẩm mang tính triết lí cao

Trang 8

Về nghệ thuật, Nguyễn Vĩnh Tiến thường nghiêng về tinh thần hậuhiện đại Tác giả cho rằng tinh thần hậu hiện đại là những mảnh ghép rời rạckhông liên kết, không bị ràng buộc, vô cùng tự do Cuộc sống được tạo nên từnhững lát cắt khác nhau, những lát cắt này bị những lát cắt khác cắt nganglàm đổi hướng, đó là hậu hiện đại, nó là thứ tổng hợp và nhiều cảm xúc.

Bài viết còn cho biết cảm hứng sáng tác của Nguyễn Vĩnh Tiến chính làquê hương và gia đình Ở Nguyễn Vĩnh Tiến chất dân gian rất tự nhiên, nóthấm vào con người ông qua đài radio, qua những chương trình lưu diễn Nhàthơ sinh ra ở quê hương hát xoan Phú Thọ, có chú làm nhạc sĩ và từ nhỏ đãđược chú dạy rất nhiều làn điệu cổ Tuổi thơ phải xa mẹ nhiều, Nguyễn VĩnhTiến sống với bà ngoại và bố, chính vì vậy mà hình tượng người bà luôn đượctác giả đưa vào trong thơ ca của mình Tất cả những điều đó đã ăn sâu vàocon người Nguyễn Vĩnh Tiến và tạo nên những nét riêng cho phong cách thơcủa tác giả

Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến được viết với ngôn ngữ biểu cảm, thể thơtruyền thống, diễn đạt tinh tế và mới lạ Các bài thơ của Nguyễn Vĩnh Tiếnkhơi được nhiều tình tự trong lòng người đọc, nó gần gũi như ca dao, đồngdao Mặt khác, tác giả bài viết chỉ ra những hạn chế trong thơ Nguyễn VĩnhTiến Những bài thơ được viết bằng ngôn ngữ ẩn dụ chưa định hình một cáchviết, một khuôn mặt tư tưởng và một cốt cách nghệ thuật Nhiều ẩn dụ trởthành siêu thực khiến cho người đọc khó hiểu Ông còn lúng túng giữa hoangtưởng và hiện thực, giữa nghệ thuật và tư tưởng

Nhà thơ Du Tử Lê với bài viết “Nguyễn Vĩnh Tiến, tài hoa và lục bát”

cũng đã đưa ra một số đánh giá về thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến Tác giả nhậnthấy thơ lục bát của Nguyễn Vĩnh Tiến mang mang hồn tính dân tộc, của đấtnước nghìn năm trước Nó không phải là cái “mang mang thiên cổ sầu” củaHuy Cận vì thơ Huy Cận vẫn đậm chất Đường thi, không gian bất định và

Trang 9

không cá tính Thơ lục bát của Nguyễn Vĩnh Tiến lại là những vần thơ cóđược cái không gian, quá khứ Việt gần như đã mất hẳn trong thi ca, âm nhạccủa chúng ta sau nhiều thế kỷ.

Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến mang tính hài hước, thể hiện rất Việt Nam.Tính hài hước của Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung là tính ýnhị, tinh tế Nó đòi hỏi người đọc giây phút lắng đọng, suy nghĩ Sau đó mớigật gù cùng nụ cười thâm trầm, nó như một thứ duyên ngầm của người phụ

nữ Việt Nam

Cuối bài viết tác giả đã giới thiệu một số bài thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến

viết theo thể lục bát do Nguyễn Đăng Khoa sưu tập lại như: Đáy xuân, Tuổi

tôi, Chồn hoang, Canh tư, Đáy mùa đông, Trung du, Mưa mùa thu…

Đó là những bài viết tiêu biểu bàn về thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, chủ yếu đisâu phân tích những giá trị về nội dung và nghệ thuật Ngoài ra, còn một sốbài viết nhỏ nhưng chỉ mang tính chất giới thiệu tác giả, tác phẩm Ta thấychưa có tác giả nào đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu về ngôn ngữ trong thơcủa Nguyễn Vĩnh Tiến Đó cũng là một lí do hướng chúng tôi lựa chọn nghiêncứu đề tài “Từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến”

2.2 Việc nghiên cứu hiệu quả của các yếu tố ngôn ngữ thuộc phong cách hội thoại trong các đề tài, khoá luận

Qua tìm hiểu, chúng tôi thống kê được các công trình nghiên cứu sau:

Đề tài khoa học cấp trường của ThS.GVC Lê Kim Nhung, trường Đại

học Sư phạm Hà Nội 2: “Tìm hiểu màu sắc dân gian trong thơ Nguyễn Bính

từ góc độ ngôn ngữ”, năm 2003.

Luận văn tốt nghiệp của Phạm Thị Hậu, sinh viên K24H Văn, trường

Đại học Sư phạm Hà Nội 2: “Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ và ca dao

trong thơ Nguyễn Bính”.

Trang 10

Khóa luận tốt nghiệp của Hà Thị Kim Thoa, sinh viên K35B Sư phạm

Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2: “Hiệu quả sử dụng lớp từ, ngữ

thuộc phong cách hội thoại trong thơ nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương”.

Khóa luận tốt nghiệp của Đoàn Thị Hà Chung, sinh viên K30A Văn,

trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2: “Hiệu quả của biện pháp dẫn ngữ trong

thơ Việt Nam hiện đại”.

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Mai, sinh viên K33B Ngữ văn,

trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2: “Biện pháp dẫn ngữ trong thơ Đồng Đức

Bốn”.

Như vậy, đã có các công trình nghiên cứu được tiếp cận dưới nhiềugóc độ khác nhau Mỗi người có một hướng tiếp cận và cách đánh giá riêngnhưng đều lấy ngôn ngữ làm cơ sở cho việc nghiên cứu

Ở một số đề tài nghiên cứu của các tác giả khóa luận, những yếu tốngôn ngữ thuộc phong cách hội thoại đã được nghiên cứu trong sáng tác củacác tác giả khác nhau Trên cơ sở những công trình nghiên cứu đi trước,chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu các từ, ngữ thuộc phong cách hội thoạitrong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến

- Đề tài là tư liệu phục vụ chúng tôi trong quá trình học tập và nghiêncứu thơ ca đương đại Đồng thời nó còn đóng góp một tài liệu thiết thực phục

Trang 11

vụ cho quá trình học tập, giảng dạy văn học và tiếng Việt ở nhà trường Trung học phổ thông sau này.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện một vàinhiệm vụ sau:

- Tập hợp những vấn đề lí thuyết có liên quan tới đề tài nghiên cứu

- Khảo sát, thống kê, phân loại, nhận xét những từ, ngữ thuộc phongcách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến

- Phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu và rút ra kết luận vềviệc sử dụng từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến

Từ đó rút ra được kết luận về phong cách của nhà thơ

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ

Nguyễn Vĩnh Tiến

5.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Chúng tôi khảo sát ở tập thơ “Những bình minh khác”, “Tuổi 1827” và

một số tác phẩm được lấy từ trang Facebook cá nhân của chính tác giả

- Do giới hạn về đề tài nên chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu vào việc sửdụng từ khẩu ngữ, ngữ dân gian và từ thuộc trường nghĩa dân gian trong thơNguyễn Vĩnh Tiến

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục tài liệu tham khảo thì nội dung chínhtrong khóa luận của chúng tôi có các phần như sau:

Trang 12

Chương 1 Cơ sở lí luận

Chương 2 Hiệu quả của việc sử dụng từ, ngữ thuộc phong cách hộithoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Phong cách hội thoại

1.1.1 Những vấn đề lí thuyết về phong cách hội thoại

1.1.1.1 Khái niệm “phong cách hội thoại”

Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Đinh Trọng Lạc đã đưa

ra định nghĩa về phong cách hội thoại như sau: “Phong cách hội thoại (haycòn có tên gọi khác là phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách khẩu ngữ)

là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thểhiện “vai” của nhân vật tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày” [7, 122]

1.1.1.2 Đặc trưng của phong cách hội thoại

Muốn thực hiện được chức năng trao đổi - cảm xúc – giao tiếp hàngngày, phong cách hội thoại phải có những đặc trưng như: Tính cá thể, tính cụthể, tính cảm xúc Phong cách hội thoại thường thiên về những chi tiết riêng,

cụ thể, sinh động, bộc lộ rõ rệt tình cảm, thái độ hơn là những chi tiết chungchung, trừu tượng, trung lập

a Tính cá thể

Ðặc trưng này thể hiện ở chỗ khi giao tiếp, người nói bao giờ cũng thểhiện vẻ riêng về thói quen ngôn ngữ của mình khi trao đổi, chuyện trò, tâm sựvới người khác Người này thường nói từ tốn, khoan thai, nghiêm túc, ngườikia thường hay nói hấp tấp, vội vàng, đại khái, qua loa Người thích nói thẳng,người lại hay nói vòng vo, bóng bẩy Trong giao tiếp, lời nói tự nhiên, sinhđộng là lời nói đẹp Trong thực tế không ai là nói giống ai, mỗi người có cáchnói riêng của mình Ngôn ngữ là công cụ chung dùng để giao tiếp trong mộtcộng đồng nhưng ở mọi người có sự vận dụng và thể hiện không giống nhau

do nhiều nguyên nhân như: nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, tâm lí, tính cách,

Trang 14

trình độ học vấn, văn hoá Tính cá thể đã giúp cho phong cách này thêmphong phú và đa dạng.

b Tính cụ thể

Tính cụ thể là một đặc điểm nổi bật của phong cách hội thoại Tính cụthể là một đặc trưng nổi bật được thể hiện ở chỗ “Phong cách sinh hoạt hàngngày tránh lối nói trừu tượng, chung chung, thích lối nói cụ thể, nổi bật làmcho sự vật không phải chỉ được gọi tên mà còn được hiện lên với những hìnhảnh âm thanh rõ nét Tính cụ thể đã làm cho sự giao tiếp trong sinh hoạt hàngngày trở nên dễ dàng, nhanh chóng ngay trong trường hợp phải đề cập đếnnhững vấn đề trừu tượng” [7, 128]

c Tính cảm xúc

Ðặc trưng này gắn chặt với tính cụ thể Phong cách hội thoại được sửdụng trong cuộc sống cụ thể, sinh động, truyền đạt được những tư tưởng, tìnhcảm của con người Lời nói phát ra cũng đến từ cảm xúc tự nhiên Khi giaotiếp ở phong cách hội thoại người ta luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, tìnhcảm của mình đối với đối tượng được nói đến Những cách diễn đạt đầy màusắc tình cảm đã nảy sinh trực tiếp từ những tình huống cụ thể trong thực tế đờisống muôn màu muôn vẻ Chính thái độ, tình cảm, cảm xúc làm thành nộidung biểu hiện bổ sung của lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng,hiểu sâu sắc nội dung cơ bản và nhất là mục đích, ý nghĩa của lời nói Nhữngđiều đó đã đem lại cho phong cách sinh hoạt sự duyên dáng, sâu xa, hấp dẫn,

đó vốn là nét đẹp trong những cách cảm, cách nghĩ của con người Từ nhữngphương tiện và biện pháp tu từ của phong cách hội thoại, nhân dân ta đã tạonên một kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hò vè giàu đẹp, đa dạng vàphong phú

Trang 15

Trên đây là ba đặc điểm của phong cách hội thoại, nó được biểu hiệntrong những đặc điểm ngôn ngữ của phong cách này, sự biểu hiện ở nhiềumức độ khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau.

1.1.1.3 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của phong cách hội thoại

a Cách thức sử dụng ngữ âm

Trong phong cách hội thoại, dạng biểu hiện chủ yếu là dạng nói Khinói người ta có thể thấy được tất cả các biến thể ngữ âm

Ví dụ 1:

“Hải Đường đỏ mặt, trợn mắt, hỏi nặng lời rằng:

- Té ra bây giờ cô cũng không ưng nữa sao?

- Em đã nói em không thể làm vợ anh được

- Tại sao vậy?

- Anh không biết hay sao?

- Cô nói cho tôi nghe thử coi Cô phải nói đi

- Thân em như đóa hoa tàn, còn phận anh như cái lục bình quí Hoa tàn

mà cặm trên cái lục bình quí thì uổng lục bình, mà cũng thẹn cho hoa quá Tại vậy mà em không vưng lời anh được, chớ nào phải em làm khó cho anh đâu Anh thương em, xin anh trọng giùm em, đừng làm cho em hổ với cái tiết

của em mới phải.”

(Đóa hoa tàn – Hồ Biểu Chánh)

Đây là sự thể hiện phong cách hội thoại ở Nam Bộ Ta thấy cácbiến thể ngữ âm như là: té ra (hóa ra), vưng lời ( vâng lời), chớ (chứ)

Trang 16

- Thôi ông để cho đến hôm khác”

(Vợ nhặt – Kim Lân)

Đây là sự thể hiện của phong cách hội thoại ở vùng đồng bằng Bắc Bộ

Ta thấy các biến thể ngữ âm như: mấy (thế), hẵng (hãy)

Ví dụ 3:

“Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiền cúng ma rập rờn nhảy múa.

A Sử đến nhà bố Mỵ

A Sử nói:

- Tôi đã đem con gái bố về cúng trình ma nhà tôi Bây giờ tôi đến cho

bố biết Tiền bạc để cưới, bố tôi bảo đã đưa cả cho bố rồi

Rồi A Sử về Ông lão nhớ câu nói của thống lý dạo trước: cho con gái

về nhà thống lý thì trừ được nợ Thế là cha mẹ ăn bạc nhà giàu kiếp trước,

bây giờ người ta bắt con trừ nợ Không làm thế nào khác được rồi”

(Vợ chồng A phủ - Tô Hoài)

Đây là sự thể hiện của phong cách hội thoại ở vùng đồng bào dân tộcTây Bắc Ta thấy cách dùng từ tiếng Việt chịu ảnh hưởng của từ vựng dân tộc

như cách xưng hô tôi – bố, cúng trình ma, ăn bạc nhà giàu…

Những ví dụ trên chứng tỏ phong cách hội thoại, khi nói năng người taphát âm thoải mái theo một tập quán địa phương không theo chuẩn mựcchung của âm đầu, âm cuối hay thanh điệu Cách phát âm này cũng là mộtcách để giữ gìn bản sắc văn hóa của vùng miền, thể hiện tình cảm đối với quêhương Ngày nay do nhiều yếu tố khách quan mà nhiều người đã có ý thứckhắc phục tập quán phát âm của địa phương và đi theo các phát âm chuẩnmực chung của cả nước

Trang 17

- Nó là một đứa vắt cổ chày ra nước chứ có tốt đẹp gì (So sánh với:

Nó là một đứa keo kiệt chứ có tốt đẹp gì)

Phong cách hội thoại sử dùng nhiều ngữ khí từ với nhiều màu sắc

tình cảm khác nhau để thực hiện chức năng giao tiếp Ví dụ:

Mẹ đi ngoại về đấy à ? ( để hỏi người đang ở trước mặt mình)

Em nên tránh xa loại người đó đi nhé ! ( để khuyên răn, dạy bảo)

Muộn rồi, nhanh lên thôi ! ( để thúc giục)

Anh đưa đây em cầm giúp nào ( để yêu cầu được giúp đỡ)

Em đã bảo rồi mà chị không nghe cơ ( để trách mắng, đay nghiến)

Dạ, cháo chào bác ạ ! ( để tỏ thái độ kính cẩn với người trên)

Phong cách hội thoại sử dụng nhiều cảm thán từ chỉ những màu sắctình cảm, cảm xúc, thái độ khác nhau vốn làm thành nội dung biểu hiện bổsung của lời nói mang lại sự ý nhị, duyên dáng, sâu xa, hấp dẫn Ví dụ như:

A ! Bố về ! ( dùng khi reo mừng)

Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu ( dùng để bày tỏ sự nuối tiếc,

chán nản)

Eo ơi ! Khắp vùng này chẳng khác gì một bãi rác khổng lồ ( chỉ thái độ

ngạc nhiên, cường điệu hóa)

Rõ khổ ! Người đâu mà chịu lắm tai ương vậy chứ ( bày tỏ sự cảm

thông với người khác)

Trang 18

gì đó)

Ừ nhỉ ! Thôi coi như xí xóa chuyện này ( dùng khi sực nhớ ra một điều

Phong cách hội thoại ưa dùng từ láy, vì vậy đã sinh ra những từ láy

giàu sắc thái cụ thể, gợi hình, gợi cảm Láy vần có tác dụng gợi cảm: hấp tấp,

lủng củng, lảm nhảm Láy âm hoàn toàn có giá trị gợi cảm, nhấn mạnh ý: đo

đỏ, tim tím, trăng trắng, nao nao, bươm bướm, châu chấu Láy bốn âm tiết

thường là nhấn mạnh hoặc châm biếm: Hớt ha hớt hải, đỏng đà đỏng đảnh,

nhí nha nhí nhảnh, ngớ nga ngớ ngẩn Ví dụ:

Đi đâu mà hớt ha hớt hải thế không biết

Người đâu mà đỏng đà đỏng đảnh

Phong cách hội thoại thích dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, quán ngữ:

Tre già măng mọc, gà mọc đuôi tôm, gắp lửa bỏ tay người, đen như cột nhà cháy, khí không phải, ai đời Ví dụ:

Nó là một đứa hay gắp lửa bỏ tay người đấy, nên đề phòng

Ôi dào ! Tre già thì măng mọc

Tôi hỏi khí không phải chứ làm sao mà bác lại biết được chuyện này ?

Phong cách hội thoại ưa dùng lối nói tắt ví dụ như : Hợp tác xã nông

nghiệp – hợp tác xã, kích thích nhu cầu – kích cầu, Việt Nam Độc lập Đồng minh – Việt Minh, thương binh và bệnh binh – thương bệnh binh

c Cách thức sử dụng câu

Đặc điểm nổi bật của phong cách hội thoại là hay dùng câu hỏi, câucảm thán, câu đưa đẩy, câu trực tiếp Ví dụ như:

- Đã tối rồi mà sao còn không thấy chị hai mày về nhỉ ? ( câu hỏi )

- Trời ơi là trời ! Cái số tôi nó khổ (câu cảm thán)

- Vào ăn cơm cái đã nào (câu trực tiếp, mời gọi )

- Ai muốn ăn oản thời năng lên chùa đấy chị em (câu đưa đẩy)

Trang 19

Phong cách hội thoại có kết cấu cú pháp riêng mà những phongcách khác rất ít khi sử dụng:

- Dùng đã lại thay cho không những mà còn: Đã trời mưa rồi lại

còn kèm theo giông bão

- Dùng kết cấu “động từ - gì mà – động từ”: Học hành gì mà chỉ thấy

ăn với chơi

- Dùng kết cấu có – thì để nhấn mạnh: Có vất vả thì mới có thành công

- Dùng câu hỏi để phủ nhận: Mày làm như thế thì liệu còn ai nó thèm

giúp đỡ mình nữa không ?

- Chọn cách nói cụ thể trong cách nói đồng nghĩa: Hơn một nửa dân

làng đã theo cách mạng ( So sánh với: Quá bán người dân đã theo cách mạng)

Ngược lại, ở những phong cách khác có những hình thức cú pháp riêng

mà phong cách hội thoại không dùng Tiêu biểu như cấu trúc bị động thườngđược dùng trong phong cách khoa học hay phong cách chính luận

d Tu từ trong phong cách hội thoại

Phong cách hội thoại hay dùng cách nói ví von, so sánh hình ảnh gợi ranhững đặc điểm riêng biệt của đối tượng được nói tới Ví dụ như trong cách

gọi tên: Thành thúng, Lan mít, Vân cà chua, Hoàng giáo sư, Huấn râu

ngô

Ta có thể hiểu: Thành thúng là chỉ Thành có thân hình mập mạp, Vân

cà chua là chỉ Vân có đôi má hồng hào, Hoàng giáo sư là chỉ Hoàng học rất

giỏi, Huấn râu ngô là chỉ Huấn có mái tóc màu râu ngô

Phong cách hội thoại thích dùng cách diễn tả khoa trương, nói giảm để

tô đậm hình ảnh khiến người nghe chú ý: Nóng như thổi lửa, ngoan như cún

con, đẹp như tiên, xấu như ma, vắng như chùa bà đanh run như cầy sấy

Ví dụ:

Chỉ có vậy thôi mà cũng run như cầy sấy rồi

Trang 20

Thời tết hôm nay nóng như thổi lửa

Người đâu mà đẹp như tên vậy trời !

1.1.2 Từ khẩu ngữ

1.1.2.1 Khái niệm “từ khẩu ngữ”

Trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, tác giả Cù

Đình Tú đã nhận định: “Trong vốn từ của bất kì người dân Việt Nam bìnhthường nào, bên cạnh vốn từ ngữ đa phong cách, mỗi con người đều có vốn

từ ngữ rất quen thuộc, rất gắn bó, đó là vốn từ khẩu ngữ (gọi tắt là từ khẩungữ) Từ khẩu ngữ được dùng chủ yếu cho phong cách khẩu ngữ tự nhiêntiếng Việt và là công cụ riêng của phong cách này Do chúng phục vụ cho nhucầu nói năng hàng ngày cho nên người ta còn gọi chúng là từ khẩu ngữ hàngngày, từ khẩu ngữ sinh hoạt”

1.1.2.2 Đặc điểm của từ khẩu

ngữ

Từ khẩu ngữ mang “tính miêu tả chi tiết và cụ thể Chúng biểu thị mộtcách cụ thể và chi tiết những sự vật, tính chất hành động… từ khẩu ngữ tiếngViệt rất giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm” [1, 133]

Ta thấy sự khác biệt rõ rệt giữa từ khẩu ngữ và ngôn ngữ bình thường

Ví dụ:

Từ khẩu ngữ Từ ngữ khácDẻo miệng Khéo ăn nói

Con gái con đứa Con gái

Đàn ông đàn ang Đàn ông

Biết tuốt

Trẻ trâu

Mặc thây

Cái gì cũng biết Cậu bé chăn trâuKhông quan tâm

Trang 21

1.1.2.3 Cách cấu tạo từ khẩu ngữ

Theo Cù Đình Tú, Khảo sát từ vựng tiếng Việt theo bình diện phong

cách ngôn ngữ (trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt tu từ, H,

1982), từ khẩu ngữ được cấu tạo theo bốn cách sau:

a Thêm yếu tố

Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là thêm yếu tố vào đơn vịnguyên là từ đa phong cách để tạo nên đơn vị mới là từ khẩu ngữ Nguyêntắc này có bố kiểu:

Kiểu 1:

Trắng thêm xóa thành trắng xóa

Xanh thêm rì thành xanh rì

Kiểu 2:

Xe thêm cộ thành xe cộ

Điện thêm đóm thành điện đóm

Kiểu 3: Lặp lại bộ phận

Đàn ông lặp lại bộ phận thành đàn ông đàn

ang Con gái lặp lại bộ phận thành con gái con

đứa Kiểu 4:

Đắt thêm như tôm tươi thành đắt như tôm tươi

Nhẹ thêm tựa lông hồng thành nhẹ tựa lông hồng

Các yếu tố như trắng, xanh, xe, điện, đàn ông, con gái, đắt, nhẹ

nguyên là từ đa phong cách không mang tnh miêu tả cụ thể

Các từ như trăng xóa, xanh rì, xe cộ, điện đóm, đàn ông đàn ang, con

gái con đứa, đắt như tôm tươi, nhẹ tựa lông hồng vốn không có nghĩa

khi đứng riêng, vốn không phải là từ độc lập nhưng khi thêm vào thì làm chođơn vị mới trở thành từ khẩu ngữ, mang sắc thái biểu cảm cao

Trang 22

b Bớt yếu tố

Nguyên tắc cấu tạo của cách này là rút bớt yếu tố ở đơn vị nguyên là

từ đa phong cách để tạo thành đơn vị khẩu ngữ

Mẫu: Nhân khẩu rút bớt nhân thành khẩu

c Biến yếu tố

Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là biến yếu tố ở các đơn vịnguyên là từ đa phong cách để tạo nên đơn vị mới là từ khẩu ngữ Cáchnày tồn tại ba kiểu sau:

Kiểu 1: Biến âm

Năm ba thành dăm ba

Vâng lời thành vưng

lời Kiểu 2: Biến nghĩa

Ăn ( cơm, bánh) biến nghĩa thành ăn (một quả lớn )

Tay ( tay chân) biến nghĩa thành tay ( đua cừ khôi )

Kiểu này có sức sinh sản lớn so với các kiêu khác Hiện nay các từkhẩu ngữ mới thường được cấu tạo chủ yếu theo cách này

Kiểu 3: Chuyển nghĩa

Đầu bạc biểu thị cho người già ( chuyển nghĩa theo cách hoán dụ) Níu áo biểu thị cho cản trở ( chuyển nghĩa theo cách ẩn dụ)

Trang 23

d Dùng yếu tố không lí do

Ta thấy có một số từ được mặc nhiên xem như là từ khẩu ngữ, khôngcắt nghĩa được nguyên nhân cấu

tạo:

Các từ khẩu ngữ: vớ, quăng, béng, chuồn…

Các quán ngữ khẩu ngữ: Khí không phải, của đáng tội, buồn nỗi…

Khi xác định cụ thể được các cách cấu tạo của từ khẩu ngữ tếng Việt

sẽ giúp cho chúng ta có căn cứ để xác định từ khẩu ngữ trong thực tế

1.1.2.4 Hiệu quả sử dụng của từ khẩu

ngữ

Trong giao tiếp “Con người luôn tiếp xúc thẳng với mọi mặt cụ thể,sinh động của cuộc sống Con người muốn bày tỏ tức khắc những phản ứng

ít nhiều ở dạng cảm tnh của mình … từ khẩu ngữ tiếng Việt giàu hình ảnh

và sắc thái biểu cảm xuất hiện chính là để đáp ứng nhu cầu diễn đạt nói trên.Nói năng sinh hoạt hàng ngày mà thiếu từ khẩu ngữ thì sự diễn đạt sẽ trởnên sơ

lược, tẻ nhạt, sẽ chỉ còn lại một hoạt động đưa tin nhận tin thuần

Trang 24

1.2 Biện pháp dẫn ngữ

1.2.1 Khái niệm

Trang 25

Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thái Hòa đã đưa ra định nghĩa về biện pháp dẫn ngữ như sau: “Dẫn ngữ là phương

thức vay mượn danh ngôn, tục ngữ, điển cố, thơ văn… để làm cho lí lẽ thêm vững chắc, màu sắc thêm phong phú.” [8, 223] Trong các sáng tạo văn học,

việc vận dụng những danh ngôn, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, điển tch, điểncố… cũng có thể được xem là một biện pháp tu từ

1.2.2 Các cách dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Trong các tác phẩm văn học, việc dẫn ngữ là một phương thức rất phổbiến Có hai cách dẫn ngữ thường dùng đó là dẫn nguyên văn và dẫn có biếnđổi ( chủ yếu là dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao )

1.2.2.1 Dẫn nguyên văn một câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Ví dụ 1:

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi”

(Mời trầu – Hồ Xuân Hương)

Có hai câu thành ngữ đó là “Xanh như lá” và “Bạc như vôi” được nhà

thơ Hồ Xuân Hương trích dẫn một cách nguyên văn để đưa vào bài thơ này.Nhà thơ đã rất tài tình khi đi khai thác ý nghĩa tượng trưng của màu sắc Látrầu và vôi, ăn chung với nhau sẽ thành sắc thắm Nhưng tách riêng thì ta chỉcòn thấy màu xanh của lá, màu bạc của vôi và trong tình yêu nó tượng trưngcho sự bội bạc, gian dối

Ví dụ 2:

“Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”

(Thương vợ - Tú Xương)

Trang 26

Nhà thơ Tú Xương đã sử dụng nguyên văn hai câu thành ngữ để

đưa vào ý thơ của mình “Một duyên hai nợ” là câu thành ngữ chỉ duyên nợ

vợ chồng Gặp nhau là do chữ duyên, kết nghĩa vợ chồng là còn thêm chữ nợ,

đó chính là trách nhiệm gia đình “Năm nắng mười mưa” là một thành ngữ

chỉ sự dãi dầu mưa nắng, chịu đựng nhiều nỗi vất vả, nhọc nhằn của cuộcđời Bằng cách sáng tạo dẫn hai thành ngữ trên vào thơ, nhà thơ Tú Xươngmột phần đã nói lên được sự chịu thương, chịu khó, yêu chồng thươngcon của

người vợ Đồng thời, qua đó thể hiện sự chịu ơn và lòng thương yêu sâusắc

Nguyễn Trãi đã tách câu thành ngữ “Công danh phú quý” ra làm hai vế

và đưa vào hai câu thơ thất ngôn trong bài thơ “Tự thán” của mình Ông đã

“treo”, “gửi” công danh, phú quý trên ngọn cỏ, cành cây Qua đó thể hiện

được thái độ thờ ơ, không màng tới công danh, lợi lộc của Nguyễn Trãi Ôngquyết tâm đỗ đạt để ra làm quan không vì quyền thế mà vì muốn đemcông sức của mình ra để giúp dân, giúp nước

Trang 27

b Mượn ý của câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Trang 28

“Giàu sang lắm kẻ đón chào Khó khăn dẫu có kêu gào ai thương”

(Ca dao)Phải chăng Nguyễn Trãi đã mượn ý của những câu ca dao trên để viếtnhững câu thơ mang đầy hàm ý mỉa mai sự giả dối, bất lương của nhữngcon

người sống trong thời đại của đồng tiền? Họ quý trọng kẻ giàu sang,khinh chê người nghèo khó Qua đó Nguyễn Trãi muốn lên án, phê phán

những conngười đểu giả ấy

Ý nghĩa của việc dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân gian vào trong thơ

Trong giáo trình Văn học dân gian đã từng nhận xét: “Văn học dân gian

là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian Nhiều tác phẩm, nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết Nhiều nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc( Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,

Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh….) đã tếp thu có kết quả văn

Trang 29

học dân gian để sáng tạo nên những tác phẩm văn chương ưu tú” Như vậy

ta thấy, văn học dân gian đóng một vai trò rất quan trọng, nó làm nền tảng,

cơ sở tền đề cho văn học viết Văn học viết từ những tinh hoa của văn họcdân tộc mà có những bước đệm vững chắc để ngày một phát triển hơn

Thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hò vè… là một trong những yếu tố nổi bậtcủa văn học dân gian Việc dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao… vào trong thơ ca

nó tạo được một số hiệu quả nghệ thuật nhất định:

Dẫn ngữ giúp tác phẩm trở nên gần gũi, quen thuộc, dễ tiếp thu vớitất cả mọi người Nguyên nhân chính là do văn học dân gian vốn là nền vănhọc miêu tả chân thực nhất đời sống nhân dân lao động

Hình thành nên tnh hình tượng cho câu thơ, làm cho câu thơ đặc sắc,

lôi cuốn hơn

Dẫn ngữ tạo nên hàm ý cho câu thơ, hướng người đọc tới nhiều cách

tư duy logic và sự đồng sáng tạo trong văn học…

1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ

1.3.1 Khái niệm “Thơ”

Có nhiều quan niệm và cách định nghĩa khác nhau về thơ Từ rất lâu,nhiều người đã đi tm cho thơ một định nghĩa nhưng có vẻ như vẫn chưathực sự thỏa đáng Nữ nhà thơ Emily Dickinson – một cây bút thơ đặc sắc

nhất của Mỹ thế kỉ XIX đã từng nói rằng: “Nếu một cuốn sách làm cho tôi

cảm thấy giá lạnh mà không một ngọn lửa nào có thể sưởi ấm, tôi biết đó

là thơ Nếu tôi cảm thấy mình đang cất cánh, tôi cũng biết đó là thơ.”

William Wordsworth – một nhà thơ lãng mạn người Anh cũng đã từng

định nghĩa về thơ như sau: “Thi ca là một chuỗi cảm nghĩ thanh thản trào ra

và thoát đi từ cửa ngõ tâm hồn với những cảm xúc được hồi tưởng lại trong sự tĩnh lặng Những xúc động đó ngừng lại bởi những nguyên tố phản ứng

Trang 30

khiến cho sự tĩnh lặng dần dần tan biến và nguồn thơ được dâng lên từ tâm

chữ trong

thơ

“Thân em như quả mít trên cây

Da nó xù xì múi nó dày Quân tử có thương thì đóng cọc Xin đừng mân mó nhựa ra tay”

(Quả mít – Hồ Xuân Hương)Nhà thơ Hồ Xuân Hương rất tài tình khi lấy hình tượng quả mít để nói

về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ Qủa mít tuy vỏ ngoài xù xì nhưngmúi dày thơm ngọt Người phụ nữ thôn quê tuy lam lũ, vất vả nhưng lại

Trang 31

mang trong mình vẻ đẹp thanh cao,chung thủy, dịu hiền Trân trọng ngườiphụ nữ cũng như trân trọng cái thanh cao, đẹp đẽ trên đời.

Trang 32

1.3.2.2 Tính cảm xúc

Đỗ Hữu Châu, trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã viết rằng:

“Ngôn ngữ thơ không phải là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm

tự sự Lời thơ thường là lời đánh giá, trực tiếp thể hiện mối quan hệ của chủ thể với cuộc đời.” [2]

Mỗi bài thơ đều là một sáng tác tinh thần của nhà thơ Mỗi câu thơ

Thuyền đi đâu, về đâu.”

(Thuyền và biển – Xuân Quỳnh)Phối thanh, hiệp vần, ngắt nhịp… là những yếu tố cốt lõi giúp ngôn ngữthơ có nhạc tnh Nhạc tính của ngôn ngữ thơ thể hiện rõ nhất ở ba

Trang 33

phương diện đó là sự cân đối, sự trùng điệp và sự trầm bổng Sự cân đối là

sự tương xứng hài hòa giữa các dong thơ Sự trùng điệp thể hiện ở việcdùng vần, điệp

Trang 34

câu, điệp ngữ Trầm bổng là sự thay đổi những âm thanh cao thấp khác nhau

giữa thanh bằng và thanh trắc

1.4 Vài nét về tác giả Nguyễn Vĩnh Tiến

1.4.1 Con người và sự nghiệp

Nguyễn Vĩnh Tiến sinh ngày 28 tháng 12 năm 1974 Quê ở Phú Thọ.Năm 1996, ông tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội Năm 2003, NguyễnVĩnh Tiến nhận được học bổng Bộ văn hóa Pháp và theo học cao học Phápngữ chuyên ngành “Thiết kế đô thị với di sản và phát triển bền vững”

Nguyễn Vĩnh Tiến là thành viên của nhóm sáng tác M6, từng đoạtnhiều giải thưởng văn học, kiến trúc và nổi tiếng với tư cách là người sángtác ca khúc

Ngoài đời, ông là một người giản dị, vui tính, dễ gần, từ tốn, yêu ca hát

và đặc biệt rất nhiệt huyết với công việc

* Sự nghiệp văn học:

Năm 1992, Nguyễn Vĩnh Tiến là người sáng lập ra nhóm thơ “Hoa lạ”với chủ trương đổi mới, đi sâu vào những “tiềm thức thơ” và phân tch “logiccủa những phi lí”

- Đã xuất bản:

+ Những giấc mộng kín [Tập truyện ngắn], Nhà xuất bản Trẻ, 1999 + Những bình minh khác [Tập thơ], Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2001.

- Các Giải thưởng văn học đã được nhận:

+ Giải thưởng Truyện ngắn và Thơ "TPTX" - Báo Tiền Phong,

1991-1993 Tác phẩm: "Con Chó Hư", " Lá Rụng"

+ Giải thưởng Thơ "Thanh Xuân", 1992 Tác phẩm: “Mùa Gặt"

+ Giải thưởng Thơ Hay - Báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh,

1993.Tác phẩm:" Những Ngón Tay Của Tôi"

Trang 35

+ Giải thưởng Truyện Ngắn và Thơ"Hoa Học Trò" 1994 Tác phẩm:

"Một Cánh Chuồn Chuồn", "Bốn con chào mào"

+ Giải thưởng Thơ Tuổi Hoa (Hội nhà văn VN và Tạp chí Tuổi Xanh)

1994 Tác phẩm:" Cái Roi Tre"

+ Giải thưởng Thơ Cho Thiếu Nhi - Nhà xuất bản Thanh Niên, 1997

Tác phẩm: “Thấy Một Mùa Quen Quen"

+ Giải thưởng Truyện ngắn - Báo Văn Nghệ Trẻ, 1997 Tác phẩm: “Sự

ra đời của Buổi Tối"

Hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 2006

1.4.2 Phong cách thơ Nguyễn Vĩnh Tiến

Nguyễn Vĩnh Tiến từ nhỏ đã yêu thích văn chương và đến vớithơ ca từ năm tám tuổi Hiện nay ông hoạt động trên nhiều lĩnh vực như kiếntrúc, văn chương, âm nhạc Ông có một sức sáng tạo mạnh mẽ và rất mựctài

hoa

Trong cuốn Chút tình tri âm, Nxb Hội nhà văn 2009, tác giả Bùi Công

Thuấn đã viết rằng: “Nguyễn Vĩnh Tiến được mệnh danh là người “bay giữathơ, nhạc và kiến trúc Anh cho biết: “Tôi thấy trong kiến trúc có nhạc tính, cónhịp điệu, có thi ca của vật liệu, có cảm xúc của không gian và ngược lạitrong âm nhạc và thi ca có những kết cấu và biểu hiện của kiến trúc” NguyễnVĩnh Tiến không chỉ đơn thuần là một nhà thơ mà ông còn là một nghệ sĩ tàinăng có thể tạo hình cho âm thanh và câu chữ Bản thân ông là một kiến trúc

sư, chính vì vậy mà nét đặc biệt trong thơ ông càng thể hiện đậm nét hơn,thơ như có hình khối, lớp lang, mỗi bài thơ là một cấu trúc độc đáo của củangôn ngữ Trong thế giới của Nguyễn Vĩnh Tiến, người ta có thể nhìn ra mộtbức tranh đa sắc màu với những bậc thềm, mái ngói, tam quan, chiếu sờn,đồng rạ, cây đa, bến nước, triền đê…

Trang 36

Tác giả Nguyễn Hữu Hồng Minh trong bài viết “Thơ Nguyễn VĩnhTiến: Câu chuyện lôi thôi của con chồn hoang” đã nhận xét rằng:

“Trong những nhà thơ trẻ Hà Nội, Nguyễn Vĩnh Tiến được biết đến như mộtngười làm thơ già và cũ” Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến mang đậm màu sắc dângian, đó là thơ của một làng quê trung du Người ta nói ông như mộtngười của những chuyến viễn du nhưng lại chưa bao giờ quên đi bóng hìnhquê nhà và mùi vị xứ sở Nguyễn Hữu Hồng Minh một lần nữa lại cho rằng:

“Dường như, Nguyễn Vĩnh Tiến không thể thoát ra khỏi những làng quê bénhỏ Bắc Bộ thì phải Anh như đứa trẻ con ngơ ngác giữa chốn thị thành,đôi mắt lay láy vẫn còn vương lại nhưng đồng chiều, cuống rạ, bỏ saulưng…” Gắn bó với quê hương và có một tnh yêu đất nước đậm sâu, chính

vì vậy mà thơ ông man mác buồn, gợi chút cô đơn, đưa người yêu thơ tớimọi ngóc ngách của tuổi thơ và tình yêu làng quê, đất nước Nguyễn VĩnhTiến chính là một người giữ lửa đại tài mà vùng quê Bắc Bộ đã sinh ra

Trang 37

Chương 2 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ, NGỮ THUỘC

PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ NGUYỄN VĨNH TIẾN

2.1 Kết quả thống kê, phân loại

2.1.1 Kết quả

Qua khảo sát 95 bài thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến trong tập thơ “Những

bình minh khác”, “Tuổi 1827” và một số tác phẩm được lấy từ trang

Facebook cá nhân của chính tác giả, chúng ta thấy tần số xuất hiện của

từ ngữ thuộc phong cách hội thoại trong các bài thơ là lớn (1426 phiếu)và

được chia làm các tiểu loại khác nhau Số liệu cụ thể được miêu tả ở bảng thống kê dưới đây:

Trang 38

Từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến

Sử dụng từ khẩu ngữ Sử dụng từ

tình thái

Sử dụng từ ngữ thuộctrường nghĩa dân gian

Sử dụngthành ngữ, tụcngữ, ca dao

T

ừ ghépsắc tháihóa

T

ừ láy mang màu sắc khẩu ngữ

hán từ

T

rợ tìnhthái

Ttừ

Trường nghĩa gia đình

rườngnghĩa nông thôn

T Trường nghĩa không gian làng quê

S

ử dụng

y nguyên

S

ử dụng

có biếnđổi

9 53 142 48 34 49 31 58 914 51 3 34

(0,63%) (3,7%) (9,95%) (3,36%) (2,4%) (3,43%) (2,17%) ( 4,06%) ( 64%) ( 3,57%) (0,2%) (2,38%)

1426 phiếu ( 95 tác phẩm )

29

Trang 39

2.1.2 Nhận xét

Qua bảng miêu tả kết quả thống kê phân loại, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ

và mức độ sử dụng các từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ NguyễnVĩnh Tiến là rất đa dạng

2.1.2.1 Sử dụng từ khẩu ngữ, từ tình thái và từ thuộc trường nghĩa dân gian

Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến gần gũi, giản dị, thân thuộc và đặc biệt là mangđậm màu sắc dân gian Chính vì vậy mà các yếu tố ngôn ngữ đời thườngđược ông đưa vào trong thơ của mình có tỉ lệ vô cùng lớn Theo thống kê củachúng tôi, trong tổng số 1426 phiếu thì có tới 1389 phiếu thuộc loại này Có

ba tểu loại như sau: Sử dụng từ khẩu ngữ, sử dụng từ tnh thái và sử dụngcác từ ngữ thuộc trường nghĩa dân gian

Việc sử dụng các từ ngữ thuộc trường nghĩa dân gian chiếm số lượnglớn nhất trong tổng số phiếu (1023 phiếu), chiếm 71,7 % Từ khẩu ngữ cũngđóng một vai trò rất quan trọng với số phiếu thống kê là 286 phiếu,chiếm

20,05 % Việc sử dụng từ tnh thái để đưa vào trong thơ cũng được NguyễnVĩnh Tiến đặc biệt lưu ý (80 phiếu), chiếm 5,6 %

Từ khẩu ngữ là một yếu tố rất quan trọng trong việc thể hiện thái

độ, tâm tư, tnh cảm, nhận xét, phê bình, đánh giá của hoạt động giao tếphàng ngày Khi đưa vào văn chương, các từ khẩu ngữ được biến đổi linhhoạt và tạo nên nét độc đáo, hấp dẫn cho tác phẩm Nhiều từ khẩu ngữđược biến âm đã tạo ra những sắc thái biểu cảm khác nhau Trong thơNguyễn Vĩnh Tiến, những từ ngữ thuộc trường nghĩa dân gian và từ tình tháicũng xuất hiện một cách dày đặc Việc đưa các yếu tố phi nghệ thuật vàođúng lúc, đúng chỗ một cách khéo léo làm cho bài thơ trở nên nghệ thuật vàthêm gần gũi hơn với người đọc

Trang 40

2.1.2.2 Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân

gian

Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Đinh Trọng Lạc đã viết

rằng: “Phong cách sinh hoạt hàng ngày thích dùng thành ngữ, tục ngữ, cadao, quán ngữ…: Vẽ đường cho hươu chạy, mượn gió bẻ măng, cá lớn nuốt

cá bé…” Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến cũng không nằm ngoài nhận đinh này.Trong rất nhiều bài thơ của ông, thành ngữ, tục ngữ, ca dao đã được vậndụng một cách sáng tạo, linh hoạt vừa tạo ra sự mới mẻ vừa mang lại cảmgiác gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày

Qua việc khảo sát, chúng tôi đã thống kê được 37 phiếu trên tổng số

1426 phiếu là có vận dụng các câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao dân gian,chiếm 2,58 % Tuy không phải là con số quá lớn nhưng biện pháp dẫn ngữ lại

là một yếu tố cơ bản giúp thơ Nguyễn Vĩnh Tiến có tính hội thoại và mangđậm màu sắc thơ ca dân gian Sử dụng ca dao và thành ngữ là hai yếu

tố chiếm tỉ lệ nhiều hơn, chủ yếu là dẫn một cách có biến đổi Tục ngữ cũngxuất hiện trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến nhưng số lượng không nhiều

Trong tổng số 37 phiếu thuộc về dẫn ngữ, việc dẫn ca dao chiếm 20phiếu, chiếm 1,4% Hoàn toàn là dẫn có biến đổi một câu ca dao Đây là con

số không quá lớn xét trên tổng thể, song nó cũng đóng vai trò nhất địnhtrong việc đem màu sắc dân gian vào trong thơ Ca dao là một tấmgương phản chiếu chân thực hiện thực đời sống xã hội Ca dao là kết tnh vẻđẹp của dân tộc Việc đưa ca dao vào trong thơ là góp phần giữ gìn bản sắcvăn hóa dân tộc và hướng người đọc tới một cách tiếp cận tác phẩm văn họcgần gũi hơn, dễ dàng hơn

Tỉ lệ sử dụng thành ngữ trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến chiếm 15 phiếu,đạt 1,05% Đây là một con số khiêm tốn, tuy nhiên, không phải vì số lượng ít

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Bình, Cù Đình Tú. Nguyễn Thái Hòa (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình, Cù Đình Tú. Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
2. Đỗ Hữu Châu (1997), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb.ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb.ĐHQG
Năm: 1997
3. Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh (2001), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ, tụcngữ Việt Nam
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
4. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Hoàng Văn Hành (2002), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb.KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb.KHXH
Năm: 2002
6. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
7. Đinh Trọng Lạc (2002), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục 8. Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa (2009), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt", Nxb Giáo dục8. Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa (2009), "Phong cách học tiếngViệt, Nxb Giáo dục
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (2002), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục 8. Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục8. Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa (2009)
Năm: 2009
9. Hoàng Phê (2007), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học Vietlex Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng và Trung tâm từđiển học Vietlex
Năm: 2007
10. Vũ Ngọc Phan (2003), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Vănhọc
Năm: 2003
11. Cù Đình Tú (1982), Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt tu từ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt tutừ
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
13. Lã Nhâm Thìn (1988), Thơ Nôm Đường luật, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Nôm Đường luật
Tác giả: Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1988
14. Nguyễn Vĩnh Tiến (2001), Những bình minh khác, Nxb Hội NhàII. TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bình minh khác
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Tiến
Nhà XB: Nxb Hội NhàII. TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU
Năm: 2001
15. Bùi Công Thuấn, 10 khuôn mặt thơ trẻ đương đại, ThoTre.Com Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 khuôn mặt thơ trẻ đương đại
16. Du Tử Lê, Nguyễn Vĩnh Tiến, tài hoa và lục bát, dutule.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Vĩnh Tiến, tài hoa và lục bát
12. Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w