Việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ THTM Ở nước ta, tín hiệu thẩm mĩ là một khái niệm được đưa vào nước ta từnhững năm 70 của thế kỷ XX qua các bản dịch công trình của M.BKhrapchenco, và cá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN ***
NGUYỄN THỊ NGẦN
TÍN HIỆU THẨM MĨ “XUÂN” TRONG THƠ XUÂN DIỆU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học:
ThS GVC LÊ KIM NHUNG
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này, được sự giúp đỡ tậntình và chu đáo của cô giáo hướng dẫn Ths GVC Lê Kim Nhung cùng cácThầy Cô trong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm HàNội 2, khóa luận của em đã được hoàn thành vào ngày 10 tháng 4 năm 2017
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Khoa Ngữ Văn, đặc biệt
là cô giáo Lê Kim Nhung đã tạo điều kiện để em hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, Ngày 10 tháng4 năm 2017
Sinh Viên
Nguyễn Thị Ngần
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của ThS GVC Lê KimNhung Đề tài được chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế thừa vàphát huy những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác cộngvới sự nỗ lực của bản thân Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu tìmtòi của tác giả Đề tài không trùng với kết quả của bất cứ tác giả nào khác.Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Ngần
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Đóng góp của đề tài 7
8 Cấu trúc khóa luận 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1 Tín hiệu 9
1.1.1 Khái niệm 9
1.1.2 Phân loại 9
1.2 Tín hiệu thẩm mĩ (THTM) 10
1.2.1 Khái niệm 11
1.2.2 Phân loại 11
1.2.2.1 Tín hiệu thẩm mĩ đơn 11
1.2.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ phức 11
1.2.3 Đặc trưng của THTM 12
1.2.3.1 Tính hệ thống 12
1.2.3.2 Tính hình tượng 13
1.2.3.3 Tính thẩm mĩ 13
1.2.3.4 Tính truyền thống và tính cách tân 15
1.2.3.5 Tính thông tin miêu tả 16
1.2.3.6 Tính biểu cảm 17
Trang 51.3 Vài nét về tác giả Xuân Diệu 18
1.3.1 Cuộc đời 18
1.3.2 Sự nghiệp văn học 19
1.3.3 Phong cách nghệ thuật 21
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỐNG KÊ 25
2.1 Tiêu chí thống kê, phân loại ngữ liệu 25
2.2 Bảng phân loại kết quả thống kê 25
2.3 Miêu tả kết quả thống kê, phân loại 27
2.3.1 Tín hiệu hằng thể“ Xuân” 27
2.3.2 Biến thể của hằng thể “Xuân” 28
2.3.2.1 Biến thể từ vựng của tín hiệu thẩm mĩ “Xuân” 28
2.3.2.2 Biến thể kết hợp của tín hiệu hằng thể “Xuân” 29
2.3.2.3 Biến thể quan hệ của tín hiệu thẩm mĩ “Xuân” 30
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ “ XUÂN” TRONG THƠ XUÂN DIỆU 34
3.1 Tín hiệu thẩm mĩ “ Xuân” thể hiện sự rung cảm của trái tim yêu đương 35
3.2 Tín hiệu thẩm mĩ “ Xuân” thể hiện sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ
40 3.3 Tín hiệu thẩm mĩ “ Xuân” thể hiện cái đẹp của thiên nhiên trần thế
43 3.4 Tín hiệu thẩm mĩ “Xuân”thể hiện thời gian nghệ thuật 48
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6Thông qua cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả, các yếu tố hiện thực trởthành tín hiệu thẩm mĩ trong văn học Thời gian là yếu tố không thể thiếu vàgắn bó mật thiết với con người Văn học phản ánh cuộc sống của con ngườicho nên thời gian trở thành một trong những đối tượng phản ánh loại hìnhnghệ thuật này Đồng thời qua hệ thống tín hiệu ta có thể thấy sự sáng tạo củanhà văn.
Xuân Diệu là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam trước, trong
và sau cách mạng Xuân Diệu cũng là tác gia có nhiều tác phẩm được đưa vàogiảng dạy trong chương trình phổ thông, như: Vội vàng, Đây mùa thu tới,…
Việc tìm hiểu giá trị ngôn từ trong thơ Xuân Diệu đang là một vấn đềđược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là soi chiếu dưới góc độ ngôn ngữ
Là người yêu và say mê thơ Xuân Diệu, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài:
“Tín hiệu thẩm mĩ “Xuân” trong thơ Xuân Diệu” Nghiên cứu đề tài này,chúng tôi hi vọng có thể đóng góp thêm một tiếng nói khẳng định tài năng
nghệ thuật của người nghệ sĩ tài hoa được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình
Việt Nam”, đồng thời chúng tôi có những kiến thức lí luận và thực tiễn cần
thiết phục vụ cho việc học tập và giảng dạy môn Ngữ Văn
Trang 72 Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây, nhiều vấn đề văn học đang được các nhàvăn nghiên cứu tìm hiểu dưới góc độ ngôn ngữ học hiện đại, đặc biệt vấn đề
lý thuyết về tín hiệu thẩm mĩ đang có ưu thế
2.1 Việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ (THTM)
Ở nước ta, tín hiệu thẩm mĩ là một khái niệm được đưa vào nước ta từnhững năm 70 của thế kỷ XX qua các bản dịch công trình của M.BKhrapchenco, và các nghiên cứu của giáo sư Đỗ Hữu Châu, Đào Thản, ĐáiXuân Ninh….Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu như sau: “Sáng tạonghệ thuật - hiện thực - con người” (Khrapchenco - Nguyễn Hải Hà, LạiNguyên Ân, Duy Lập dịch); “Những tín hiệu thẩm mĩ của thông tin thẩm mĩ”(IU.A Philipiov - Tài liệu đánh máy của trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 1);
“Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” (F.D Saussure)
Khrapchenco, trong cuốn “Sáng tạo nghệ thuật - hiện thực - con
người”, cho rằng: “Vấn đề lý thuyết quan trọng của kí hiệu thẩm mĩ và hình
tượng nghệ thuật tổng hợp vấn đề bản chất các quá trình kí hiệu” Ngoài ra
ông còn đưa ra một số luận điểm khi bàn tới tính chất tín hiệu thẩm mĩ nhưngngười đọc khó có thể tìm thấy được định nghĩa về tín hiệu thẩm mĩ
Philipiov quan tâm đến phương diện thông tin của tín hiệu thẩm mĩtrong cuốn “Những thông tin của tín hiệu thẩm mĩ” Nhưng chúng ta cũngkhông thấy một khái niệm nào về tín hiệu thẩm mĩ Gần đây phải kể tới côngtrình nghiên cứu “Ngôn ngữ với văn chương” của tác giả Bùi Minh Toán.Trong công trình này, PGS.TS Bùi Minh Toán đã dành chương 3 “Từ tínhiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương” để bàn kĩ đến tín hiệungôn ngữ và tín hiệu văn chương Ở đây, tác giả Bùi Minh Toán đã nêu ra vàphân tích rõ một số vấn đề về THTM như:
Trang 8-Trong “Ngôn ngữ với văn chương”, tác giả Bùi Minh Toán chỉ ra rằng:
“Tín hiệu thẩm mĩ là loại tín hiệu có chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp,
truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp Nó cũng cần có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nhưng cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ” [11;
139]
- Về quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ (THNN) và THTM: THNN là chấtliệu để tạo nên THTM trong văn chương THNN có hai mặt: cái biểu đạt vàcái được biểu đạt Khi cấu tạo THTM, tổng thể hai mặt THNN đóng vai tròcái biểu đạt cho THTM, được chuyển hóa từ tác động qua lại của nhiều nhântố: từ ý nghĩa của THNN, từ ngữ cảnh, từ sự cảm thụ của độc giả Như thế,quan hệ giũa THNN và THTM cùng quan hệ giữa hai mặt trong từng loại tínhiệu
- Hằng thể và biến thể của THTM: THTM có thể tồn tại ở hai dạngthức: hằng thể và biến thể
+ Hằng thể là dạng điển hình nhất, phổ biến nhất, nhưng cũng làdạng đơn gản nhất về mặt hình thức Mỗi hằng thể tập hợp xung quanh mìnhhàng loạt biến thể để tạo nên hệ thống
+ Biến thể là dạng biểu hiện tuy khác biệt về hình thức biểu đạt(cái biểu đạt) với hằng thể nhưng cùng chung một mối liên hệ mật thiết về ýnghĩa với hằng thể Biến thể của THTM có hai loại: biến thể từ vựng và biếnthể kết hợp
- Các cấp độ của THTM: gồm 2 cấp độ Ở cấp độ vi mô là nhữngTHTM được cấu tạo trên cơ sở một từ hay một ngữ Còn cấp độ vĩ mô, ở cấp
độ này THTM được hình thành từ cả một tập hợp hay từ tát cả các từ ngữtrong một văn bản nghệ thuật Cả hai tín hiệu này đồng thời tồn tại trong tácphẩm văn chương Các tín hiệu vi mô là những tế bào phối hợp thành mộtthành một chỉnh thể là THTM vĩ mô
Trang 9- Nguồn gốc của THTM: có hai nguồn gốc Thứ nhất, THTM trong vănchương có nguồn gốc từ thế giới hiện thực xung quanh con người là: tự nhiên
và xã hội Thứ hai, nguồn gốc của THTM trong văn chương còn có thể lànhững chi tiết, sự kiện, những điển tích hay những sản phẩm tinh thần thuộcđời sống văn hóa của từng dân tộc hay toàn nhân loại, đây chính là nguồn vôtận cho cảm hứng sáng tạo, cho các THTM của các nhà văn thuộc thế hệ đisau
- Phương thức xây dựng THTM: THTM có nguồn gốc từ nhiều cơ sởkhác nhau, hơn nữa nó được tạo ra từ chất liệu là các THNN thông thường
Do đó, nó phải được tạo ra từ những phương thức nhất định để cho ngườikhác có thể tiếp nhận và lĩnh hội được ý nghĩa thẩm mĩ từ đó Những phươngthức cấu tạo THTM không thể tùy tiện theo cách thức riêng của từng nhà văn,
mà mang tính phổ quát Tuy THTM rất đa dạng trong nghệ thuật văn chương,
và thuộc hai cấp độ vi mô và vĩ mô, nhưng chúng đều được cấu tạo theo haiphương thức chính là ẩn dụ và hoán dụ
- Theo GS.TS Bùi Minh Toán thì THTM có 7 tính chất: tính hìnhtuyến; tính có lí do, có thể lí giải được; tính hàm súc; tính cá thể; tính dân tộc;tính biểu cảm; tính hệ thống So với THNN thông thường và tín hiệu của cácngành nghệ thuật khác, THTM trong văn chương có những điểm tương đồng
và khác biệt nhưng nổi bật là các tính có lí do giữa cái được biểu đạt và cáibiểu đạt; tính hình tuyến; tính hàm súc; tính biểu cảm; tính cá thể; tính dân tộc
và tính hệ thống Các tính chất hòa quyện với nhau ở cả THTM vĩ mô vàTHTM vi mô của nghệ thuật văn chương
Tác giả đã lí giải bản chất và đặc điểm của THNN và THTM trong vănchương, mối quan hệ và sự chuyển hoá từ tín hiệu ngôn ngữ sang tín hiệuthẩm mĩ Đối với tín hiệu thẩm mĩ, cuốn sách đã dành một số trang đáng kể đểbàn những vấn đề về cấp độ, về hằng thể và biến thể, về nguồn gốc và phương
Trang 10thức cấu tạo, nhất là về những tính chất cơ bản của nó, nhằm mục đích làmsáng tỏ đặc thù của nghệ thuật văn chương - nghệ thuật ngôn ngữ.
Và tác giả cũng đã phân tích được một số ví dụ minh họa Tuy nhiên,việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở cấp độ miêu tả, phân loại và nhận xéttrong khôn khổ một chuyên luận Đây là những cơ sở lí thuyết cần thiết đểchúng tôi nghiên cứu đề tài này
Ngoài ra nhiều luận án, luận văn triển khai theo hướng nghiên cứu này
đã khẳng định được ý nghĩa thực tiễn của hướng nghiên cứu văn học từ góc
độ ngôn ngữ đồng thời có những đóng góp, bổ sung quan trọng vào lí thuyếttín hiệu thẩm mĩ Cụ thể: Luận án “Sự biểu đạt của ngôn ngữ bằng tín hiệuthẩm mĩ” (Trương Thị Nhàn), “Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trangphục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” (Nguyễn Thị Ngân Hoa); Khóa luậntốt nghiệp “Tín hiệu thẩm mĩ “nước” trong truyện ngắn của Nguyễn HuyThiệp” (Tạ Thị Long), “Tín hiệu thẩm mĩ “lửa” trong thơ Vi Thùy Linh”(Nguyễn Thị Tân), “Tín hiệu thẩm mĩ “ hoa” trong thơ Xuân Quỳnh” (PhạmThị Hà),…
2.2 Việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Xuân Diệu
Việc nghiên cứu thơ Xuân Diệu từ góc độ ngôn ngữ tại khoa Ngữ Văntrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã có một số khóa luận như:
- “Tìm hiểu hiệu quả tu từ ẩn dụ trong thơ Xuân Diệu” của sinh viênNgô Thu Hương K25B Văn
- “Hiệu quả sử dụng từ láy trong thơ Xuân Diệu” của sinh viên TrươngThị Thu Thảo K31A Văn
- “Tín hiệu thẩm mĩ “Trăng” trong thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử” củasinh viên Nguyễn Thị Thu K32C Văn
Nhìn chung các khóa luận này đã chú ý khai thác thơ Xuân Diệu từ bìnhdiện ngôn ngữ, các biện pháp nghệ thuật để thấy được tài năng của nhà thơ
Trang 11Trên cơ sở tiếp thu lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ nói chung và ứng dụngxem xét một tín hiệu thẩm mĩ cụ thể, đề tài “Tín hiệu thẩm mĩ “Xuân” trongthơ Xuân Diệu” vẫn có lối đi riêng và không trùng với các công trình nghiêncứu trước.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp các vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài
- Thống kê, phân loại tín hiệu thẩm mĩ “Xuân” trong thơ Xuân Diệu
- Bước đầu phân tích hiệu quả sử dụng tín hiệu thẩm mĩ “Xuân” trongthơ Xuân Diệu và rút ra những kết luận cần thiết
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tín hiệu thẩm mĩ “Xuân” trong thơ Xuân Diệu
- Phạm vi nghiên cứu: Gồm 184 bài thơ rút trong các tập:
1 Xuân Diệu, Tập Thơ thơ
Trang 123 Xuân Diệu, Mũi Cà Mau-Cầm tay
% E 1 % BB %9 1 c - k%E 1 % BB % B 3 - 1 94 5 / g r ou p -
R
T c h c x AZ zB j 0 R A9 v U r Z _ ew
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm đề ra, luận văn được tiến hành với sự kết hợp củacác phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: sử dụng phương pháp này để thống kê tín hiệuthẩm mĩ “xuân” qua tác phẩm
- Phương pháp phân loại: dùng để phân loại tín hiệu thẩm mĩ “xuân”theo tiêu chí khác nhau
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: dùng để phân tích tín hiệu thẩm mĩ:
“xuân” trong các ngữ hiệu nhằm xác định hiệu quả sử dụng của chúng
7 Đóng góp của đề tài
Về phương diện lí luận, khóa luận này làm rõ một số vấn đề lý thuyết
về tín hiệu thẩm mĩ cũng như đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ, chức năng củatín hiệu thẩm mĩ
Trang 13Khóa luận có giá trị thực tiễn trong quá trình xem xét và thẩm địnhsáng tác của Xuân Diệu dưới góc độ ngôn ngữ học từ đó góp phần khẳng địnhtài năng của tác giả.
8 Cấu trúc khóa luận
Phần chính văn, ngoài phần mở đầu và kết luận là phần nội dung baogồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Kết quả khảo sát, thống kê
Chương 3: Giá trị nghệ thuật của tín hiệu thẩm mĩ “Xuân” trong thơXuân Diệu
Trang 141.1 Tín hiệu
1.1.1 Khái niệm
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN
Các tác giả Mai Đức Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong
“Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” định nghĩa như sau: “Tín hiệu là một sự
vật, một thuộc tính vật chất, một hiện tượng kích thích vào cá giác quan của con người làm cho con người tri giác và lí giải, suy diễn một các gì đó nằm ngoài sự vật ấy” [4, 20 – 21].
Ví dụ: Đèn đỏ trong bảng tín hiệu đèn giao thông vì khi nó hoạt độngbật “sáng lên” người ta sẽ thấy nó và suy diễn tới một điều kiện là phải dừnglại ở chỗ nào đó
Một vật sẽ là một tín hiệu khi nó thỏa mãn 3 điều kiện sau:
- Phải là một vật và một thuộc tính vật chất được cảm nhận qua cácgiác quan của con người như: âm thanh, màu sắc, ánh sáng,…
- Đại diện cho một cái gì đó không phải là chính nó
- Sự vật phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định để được xácđịnh tín hiệu của mình cùng với tín hiệu khác
Ví dụ: “Cái đèn đỏ” nói trên là tín hiệu nhưng khi tách ra, đặt vào hệthống đèn thắp sáng, đèn trang trí thì nó không phải là tín hiệu nữa Bởi vì chỉkhi nó nằm trong hệ thống tín hiệu giao thông thì nó mới có tư cách tín hiệuxác định cùng với đèn xanh, đèn vàng nhờ sự đối lập quy ước giữa chúng vớinhau
1.1.2 Phân loại
Tín hiệu chia làm hai loại sau: tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ
Trang 15Tín hiệu ngôn ngữ theo F.De.Sausure: “Tín hiệu ngôn ngữ kết thành
một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với hình ảnh,
âm thanh”.
Một sự vật chỉ trở thành tín hiệu khi nó được cấu thành bởi hai mặt:
- Cái biểu đạt: có thể là hình thức âm thanh (khi nói), hoặc có thể là chữviết (khi viết) Con người có thể nhận ra cái biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữbằng thính giác hoặc thị giác
Theo F.Saussure, cái biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ “diễn ra trong thời
gian và có những đặc điểm vốn có của thời gian: a) Nó có bề rộng và b) Bề rộng đó chỉ có thể được đo trên một chiều mà thôi” [5; 24].
- Cái được biểu đạt chính là ý nghĩa của tín hiệu Trước hết, đó là ýnghĩa do các thành viên trong cộng đồng ngôn ngữ quy ước mà thành
Mặt hình thức của tín hiệu là các dạng âm thanh khác nhau mà trongquá trình nói năng con người đã thiết lập và đã cụ thể cho từng ngôn ngữ
Còn mặt nội dung là những thông tin, thông điệp về những mảng khácnhau của cuộc sống hiện thực mà con người đang sống, hoặc dấu hiệu hìnhthức để phân cắt tư duy, phân cắt thực tại
Hai mặt này gắn bó mật thiết với nhau, trong một quan niệm không thể
có mặt này mà không có mặt kia được
1.2 Tín hiệu thẩm mĩ (THTM)
“Tín hiệu thẩm mĩ” là thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng đểchỉ các phương tiện dùng trong nghệ thuật tạo hình nói chung Để chỉ loạiphương tiện này các nhà khoa học đã lựa chon những thuật ngữ khác nhau ỞViệt Nam, Lại Nguyên Ân lựa chọn thuật ngữ “kí hiệu thẩm mĩ” Trong khóa
Trang 16luận này chúng tôi lựa chọn “tín hiệu thẩm mĩ” để chỉ tín hiệu ngôn ngữ sửdụng trong tác phẩm văn chương.
1.2.1 Khái niệm
Từ việc trích dẫn cách lí giải khác nhau của một số nhà nghiên cứutrong và ngoài nước giải thích khái niệm này, Phạm Thị Kim Anh đã đưa rađịnh nghĩa về THTM như sau:
“THTM là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu đạt của ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố hiện thực, của tâm trạng những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ văn chương, ) được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ” [1; 25].
VD: Con thuyền, ngôi nhà, mưa, gió,
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, cái biểu của tín hiệu này tương ứng với
đơn vị từ trong hệ thống ngôn ngữ của dân tộc “THTM đơn” có chức năng
tạo THTM ở cấp độ cao hơn
1.2.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ phức
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, đây là loại THTM ứng với nhiều sự vậthiện tượng Chúng được xây dựng từ THTM đơn nhưng ý nghĩa không phải là
Trang 17kết quả của phép cộng giản đơn những THTM đơn Cái biểu đạt của THTMloại này tương đương với những đơn vị câu, đoạn văn bản và văn bản.
Ví dụ:
“Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con
cò trên ruộng cánh phân vân Chim nghe trời rộng dang thêm cánh Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần”
(Thơ Duyên - Xuân Diệu)
1.2.3 Đặc trưng của THTM
1.2.3.1 Tính hệ thống
Tín hiệu nói chung và tín hiệu thẩm mĩ nói riêng bao giờ cũng thuộc vềmột hệ thống nhất định, bởi vậy nó chịu sự chi phối của những yếu tố kháctrong cùng hệ thống thông qua những quan hệ nhất định
F de Saussre đã chỉ ra rằng: “Thường người ta không nói bằng tín hiệu
riêng lẻ, mà bằng từng nhóm tín hiệu, từng khối có tổ chức vốn cũng là tín hiệu” [7; 107] Và khi nói đến vấn đề tính có tổ chức ở lĩnh vực này, ta không
thể không nói đến tính hệ thống - một đặc tính làm nên bản chất tín hiệu củangôn ngữ
Hệ thống được phát biểu như sau: Đó là một tổng thể những yếu tố cóliên hệ qua lại và quy định lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất và phức tạp
Các THTM có tính hệ thống theo sách giáo khoa Tiếng Việt 10: “Các
yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau, giải thích cho nhau, hỗ trợ cho nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung” [2;18].
Tính hệ thống của THTM được xem xét từ hai khía cạnh: Khía cạnh nộitại (cấu trúc), với những quy luật thuộc cấu trúc tác phẩm; khía cạnh ngoại tại(chức năng) với những quy luật về sự hoạt động thực hiện các chức năng giaotiếp của sáng tạo nghệ thuật
Trang 181.2.3.2 Tính hình tượng
Ngôn ngữ nghệ thuật là công cụ để tác giả tư duy hình tượng Vì vậy,
nó mang tính hình tượng là tất yếu
THTM có khả năng gợi ra một cảm giác, một biểu tượng tâm lí nào đó,gợi hình ảnh, tác động vào cảm quan người đọc và nó tư duy lí tính cũngthông qua cảm giác đó
“Họ vui vẻ kéo hàng trên chợ biếc Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon Vài cụ già chống gậy bước lom khom
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ.”
(Chợ Tết- Đoàn Văn Cừ)Bài thơ đã thể hiện tâm trạng vui mừng, náo nức của chính tác giả khi
xuân về bằng sự kết hợp hài hòa gữa các biện pháp nghệ thuật như: láy (vui
vẻ, lon xom, lon xon), hoán dụ (thằng cu áo đỏ, cô yếm thắm), ẩn dụ (cỏ biếc)
và những từ ngữ giản dị khác
1.2.3.3 Tính thẩm mĩ
Đây là đặc trưng phản ánh bản chất của nghệ thuật, vì “Cái đẹp là điều
kiện không thể thiếu của nghệ thuật” (Belinxki) Tính thẩm mĩ của ngôn ngữ
thể hiện ở việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ Ở việc sử dụng biện pháp tu từ
để tạo ra lời nói nghệ thuật có sức hấp dẫn với người đọc
Ví dụ:
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng, Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.”
(Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên)
Trang 19Bằng việc sử dụng tín hiệu ngôn ngữ giàu hình ảnh, có sức biểu cảmkết hợp với biện pháp nghệ thuật, tác giả đã miêu tả tình yêu lứa đôi mang vẻđẹp của quê hương đất nước, thiên nhiên và tình yêu ấy được chuyển hóathành tình yêu tổ quốc.
Pierce cho rằng: “Biểu trưng có quan hệ với đối tựng của nó chỉ qua
một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta “gán” cho nó trong một hoàn cảnh nào đó,… Nghĩa đó là do một con người trong một cộng đồng đặt ra mà thôi”
[12; 186]
Ví dụ:
“Bao giờ mận mới hỏi đào Vườn
hồng đã có ai vào hay chưa Mận
hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng đã có nhưng chưa ai vào.”
(Ca dao)
Trong bài ca dao trên các từ “mận”, “đào”, “ vườn hồng” đều có tính biểu trưng “Mận” tượng trưng cho người con trai, “đào” tương ứng cho người con gái, “vườn hồng” tượng trưng cho vẻ đẹp tình yêu của đôi trai gái.
Tác giả Đỗ Hữu Châu và Pierce đều cho rằng tính biểu trưng củaTHTM biểu hiện ở hai mặt THTM có tính hình tượng cụ thể, mặt khác, cáiđược biểu đạt của nó hàm chứa ý nghĩa khái quát, ý nghĩa đó được mọi ngườihiểu và chấp nhận
Ví dụ:
“Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.”
(Ca dao)
Trang 20“Củ ấu gai” là một THTM mang tính biểu trưng Một mặt, tn hiệu này
gợi hình ảnh củ ấu gai với thuộc tính “ruột trong thì trắng”, “vỏ ngoài thì
đen” Nhưng mặt khác thể hiện phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội
phong kiến đồng thời ca ngợi phẩm chất trong trắng của họ
1.2.3.4 Tính truyền thống và tính cách tân
Theo Đỗ Hữu Châu: “Truyền thống và cách tân là hai phương diện
biện chứng của THTM” [3; 559] Nói đến tnh truyền thống là nói đến tnh cố
định, tính lặp lại, tính kế thừa, có sẵn của THTM trong kho tàng nghệ thuậtcủa một dân tộc Nói đến cách tân là nói đến sự đổi mới, sự sáng tạotrong việc sử dụng THTM của mỗi tác giả, thậm chí là trong từng tác phẩm
THTM mang tính truyền thống, vì những đơn vị ngôn ngữ nghệ thuậtđều được các nghệ sĩ tạo ra từ ngôn ngữ dân tộc Cách sử dụng ngônngữ trong tác phẩm văn chương, mặc dù có đóng góp của cá nhân nhưng vẫnphải dựa trên các tín hiệu ngôn ngữ thuộc hệ thống tín hiệu thứ nhất
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.”
(Than đạo- Nguyễn Đình Chiểu)
Ở hai ví dụ trên từ “thuyền” là ẩn dụ tượng trưng Đây là THTM thể
hiện cách vận dụng sáng tạo của tác giả, những tín hiệu đó được tạo ra theophép chuyển nghĩa dựa trên sự liên tưởng tương đồng với một nét nghĩa
của tín hiệu “thuyền” trong hệ thống.
Trang 21Ở ví dụ 1: Cơ sở tại ra ẩn dụ là để chỉ người đi xa, đó là nét nghĩa giốngnhau của 2 đối tượng (cùng di chuyển).
Ở ví dụ 2: Nguyễn Đình Chiểu dùng “thuyền” để tượng trưng cho văn
chương Cơ sở để tạo ra ẩn dụ đó là sự tương đồng về chức năng chuyên chởcủa thuyền và văn chương
THTM mang tnh cách tân Cách tân chính là những đổi mới, nhữngsáng tạo của tác giả văn chương thông qua các THTM Khi nói đến cách tân,các nhà phong cách học thường sử dụng thuật ngữ “tnh cá thể hóa”, “tínhriêng” Việc dùng ngôn ngữ nghệ thuật luôn đòi hỏi tác giả phải cách tân -cách tân trong ngôn ngữ, cách tân trong cách nhìn, cách cảm
1.2.3.5 Tính thông tin miêu tả
Chức năng quan trọng của ngôn ngữ nghệ thuật là chức năng phản ánhhiện thực, vì vậy thông tin miêu là một đặc trưng đặc thù của THTM
Sự biểu hiện hiện thực của THTM, theo tác giả Đỗ Hữu Châu đều dựatrên khả năng miêu tả, thay thế, “dẫn nhập” các sự kiện của đời sống xã hội
Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông”
(Truyện Kiều- Nguyễn Du)Chỉ với sáu câu thơ, Nguyễn Du đã miêu tả được diện mạo, tài năng,tính cách, quê quán của Từ Hải Từ Hải quê ở Việt Đông Từ hình dáng đếntài năng, chí khí và sự nghiệp; tất cả đều phi thường, hiếm có Từ Hải là hiện
Trang 22thân ý chí đội trời đạp đất và khát vọng tự do của người dân Con người ấychỉ tôn thờ chính nghĩa và không chịu khuất phục trước bất cứ cường quyền,bạo lực nào Bởi vậy, chàng coi khinh cái triều đình mục ruỗng, thối nát
đương thời Từ Hải hơn người, khác người ở thái độ: “Dọc ngang nào biết
trên đầu có ai.”
1.2.3.6 Tính biểu cảm
Đặc tnh này thể hiện chức năng thông báo của THTM trong mối quan
hệ của nó với nhân tố người viết (hay tác giả) Để đạt đến một giá trị thẩm mĩnhất định, THTM không chỉ dừng lại đơn thuần là nội dung tái hiện hiện thực.Ngoài những thông tn hiện thực, THTM còn thông tn về cảm xúc, tâm trạngnhất định của người nghệ sĩ với bạn đọc Chính vì vậy, nằm trong cấu trúc củaTHTM, tnh biểu cảm là một đặc tnh quan trọng mang dấu ấn chủ quancủa
người sáng tác M.B.Khapchenco đã chỉ ra rằng “có một hệ số cảm xúc nhất
định một cơ cấu cảm xúc thuộc cấu trúc THTM” Theo tác giả “cảm xúc là cái
để truyền đạt trong THTM vừa là cái xác định gián tiếp cái đối tượng và hiện thực làm cơ sở cho việc tm hiểu một THTM” [6, 23] Chẳng hạn như những
câu thơ sau của Tố Hữu chúng ta không chỉ thấy cát, nắng, gió của xứ Thanh
mà còn thấy niềm cảm xúc dâng trào của nhà thơ khi trở lại vùng quê xưa,nơi có người mẹ từng chở che, nuôi dưỡng mình trong những năm khángchiến:
“Tôi trở về quê mẹ nuôi xưa Một buổi trưa nắng dài bãi cát Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa Mát rượi lòng ta ngân nga tếng hát.”
(Mẹ Tơm - Tố Hữu)
Trang 23Trong THTM, cảm xúc - vốn là chủ quan của chủ thể sang tạo, đã đượckhách quan hóa thành một thành phần quan trọng trong cơ cấu nghĩa của tnhiệu.
Trang 24Cùng một nội dung hiện thực nhưng với ý nghĩa biểu cảm khác nhau thì
sẽ tạo lên cái mới, cái sinh động, cụ thể và riêng biệt cho THTM trong mỗilần xuất hiện
1.3 Vài nét tác giả Xuân Diệu
1.3.1 Cuộc đời
Xuân Diệu (1916-1985), tên khai sinh Ngô Xuân Diệu Quê làng ChảoNha, Cam Lộc, Hà Tĩnh Thân sinh là một nhà nho dạy học, lấy bà hai ở TuyPhước, Bình Định rồi sinh ra ông
Xuân Diệu lớn lên ở Quy Nhơn Học hết bậc thành trung ông ra HàNội.Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho.Xuân Diệu được thừa hưởng truyền thống văn hóa của hai miền Trung
và Nam Quê ngoại ở Quy Nhơn với biển biếc, trời trong, với ngọn gió nồmnam, đây cũng là cảm hứng của ông cho một số bài thơ tình nổi tiếng
Khi học ở Hà Nội, phong cảnh miền Bắc với bốn mùa xuân hạ thu đông khiến Xuân Diệu có nhiều thay đổi trong nhìn nhận Những làng hoa ởngoại thành Hà Nội, những sóng nước hồ Gươm, hồ Tây, hồ Trúc Bạch đãgây ấn tượng và cảm xúc mạnh mẽ Xuân Diệu đã từng kể rằng “Học ở Huế
-đã cho tôi biết, -đã tạo cho tôi cái lả lướt đắm đuối, -đã bồi dưỡng chotôi những nam ai nam bằng với sông Hương và nhất là với đôi mắt của ngườicon gái Huế” Thế nên, thiên nhiên và con người xứ Huế khác với thiên nhiên
và con người xứ Bắc đã là nguồn sống cho thơ ca ông
Từ năm 1938-1940, Xuân Diệu dạy học ở trường Thăng Long, sốngcùng Huy Cận khi Huy Cận học ở trường Cao đẳng Canh Nông Năm 1940,ông làm tham tán ở Mĩ Tho Năm 1943, khi Huy Cận đỗ kĩ sư Canh nông thìXuân Diệu nghỉ việc ở Mĩ Tho về Hà Nội sống cùng bạn
Năm 1944, hai người tham gia mặt trận Việt Minh, hoạt động trong hộivăn học cứu quốc Cách mạng tháng Tám thành công Xuân Diệu nhiệt tình ca
Trang 25ngợi đất nước, nhân dân và Đảng trong các tập thể tiêu biểu như: “Hội nghịnon song” (1946); “Ngọn quốc kì” (1945 - 1961).
Tháng 12/1946, toàn quốc kháng chiến Ông lên Việt Bắc công tác ởĐài tiếng nói Việt Nam
Tháng 8/1948, Xuân Diệu về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam,tham gia Ban chấp hành ở tòa soạn Năm 1949, Ông được kết nạp vào ĐảngCộng sản Việt Nam
Năm 1954, Xuân Diệu về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam cho đếnlúc mất
Xuân Diệu được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm nghệ thuậtCộng hòa dân chủ Đức, đươc nhà nước trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Vănhọc nghệ thuật vào năm 1996
1.3.2 Sự nghệp văn học
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến
như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ
mới" (Hoài Thanh), "ông hoàng của thơ tnh” [8; 119].
Có thể tm hiểu sự nghiệp văn học của Xuân Diệu qua thơ và văn xuôi:-Về lĩnh vực thơ ca, chúng ta có thể tm hiểu qua hai giai đoạn chính,trước và sau cách mạng tháng Tám
+ Trước cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu là một nhà thơ lãng mạn.Các tác phẩm chính: tập thơ “Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió”(1945) Nội dung của thơ Xuân Diệu trong thời kỳ này là: Niềm say mê ngoạigiới, khát khao giao cảm trực tếp, cháy bỏng, mãnh liệt với cuộc đời (“Vộivàng”, “Giục giã”) Nỗi cô đơn rợn ngợp của cái tôi bé nhỏ giữa dòng thờigian vô biên, giữa không gian vô tận (Lời kỹ nữ) Nỗi ám ảnh về thời giankhiến nhà thơ nảy sinh một triết lý về nhân sinh: lẽ sống vội vàng (“Vội
Trang 26vàng”); nỗi khát khao đến chảy bỏng được đắm mình trọn vẹn giữa cuộcđời
Trang 27đầy hương sắc và thể hiện nỗi đau đớn, xót xa trước khát vọng bị lãng quên trước sự thật phũ phàng của cuộc đời (“Dại khờ”, “Nước đổ lá khoai”).
+ Sau cách mạng, thơ Xuân Diệu đã vươn tới chân trời nghệ thuật mới,
nhà thơ đã đi từ “cái tôi bé nhỏ đến cái ta chung của mọi người” (P.Eluya).
Xuân Diệu giờ đây đã trở thành một nhà thơ cách mạng say mê, hăng sayhoạt động và ông đã có thơ hay ngay trong giai đoạn đầu Xuân Diệu chàomừng cách mạng với “Ngọn quốc kỳ” (1945) và “Hội nghị non sông”(1946) với tấm lòng tràn đầy hân hoan trước lẽ sống lớn, niềm vui lớn củacách mạng
Cùng với sự đổi mới của đất nước, Xuân Diệu có nhiều biến chuyểntrong tâm hồn và thơ ca Ông ý thức được cái Tôi công dân, của một nghệ sĩ,một trí thức yêu nước trước thực tế cuộc sống Đất nước đã đem đến choông những nguồn mạch mới trong cảm hứng sáng tác Nhà thơ hăng say viết
về Đảng, về Bác Hồ, về Tổ quốc Việt Nam, về quá trình xây dựng chủ nghĩa xãhội miền Bắc và công cuộc thống nhất nước nhà Các tác phẩm têu biểu: tập
“Riêng chung” (1960), “Hai đợt sóng” (1967), “Hồn tôi đôi cánh” (1976)…
+ Từ những năm sáu mươi trở đi, Xuân Diệu tiếp tục viết thơ tnh Thơtình Xuân Diệu lúc này không vơi cạn mà lại có những nguồn mạch, cảmhứng mới Trước cách mạng, tình yêu trong thơ ông hầu hết là nhữngcuộc tình xa cách, cô đơn, chia li, tan vỡ… Nhưng sau cách mạng, tình yêucủa hai con người ấy không còn là hai vũ trụ bé nhỏ nữa mà đã có sự hòađiệu cùng mọi người Tình cảm lứa đôi đã hòa quyện cùng tình yêu tổ quốc.Xuân Diệu nhắc nhiều đến tình cảm thủy chung gắn bó, hạnh phúc, sum vầychứ không lẻ loi, đơn côi nữa (“Dấu nằm”, “Biển”, “Giọng nói”, “Đứng chờem”)
- Về lĩnh vực văn xuôi, có thể nói, Xuân Diệu cũng rất thành công Cáctác phẩm chính: “Trường ca” (1939) và “Phấn thông vàng” (1945) Các tác
Trang 28phẩm này được Xuân Diệu viết theo bút pháp lãng mạn nhưng đôi khi ngòibút lại hướng sang chủ nghĩa hiện thực (“Cái hỏa lò”, “Tỏa nhị Kiều”).
Trang 29Ngoài ra, Xuân Diệu còn tài tình trong lĩnh vực phê bình văn học, dịchthuật thơ nước ngoài Các tác phẩm têu biểu: “Kí sự thăm nước Hung”,
“Triều lên”, “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”, “Dao có mài mới sắc”…
Dù ở phương diện nào, Xuân Diệu cũng có đóng góp rất to lớn với sự
nghiệp văn học Việt Nam Vũ Ngọc Phan từng nhận xét “Xuân Diệu là người
đem nhiều cái mới nhất cho thơ ca hiện đại Việt Nam” Sự đóng góp của
Xuân Diệu diễn ra đều đặn và trọn vẹn trong các thể loại và các giai đoạn lịch
sử của dân tộc Chính vì thế, có thể nói rằng, Xuân Diệu xứng đáng là mộtnhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn của dân tộc
1.3.3 Phong cách nghệ thuật
Thơ Xuân Diệu không mới ở đề tài, chủ đề, thi pháp mà mới ở cảmhứng và thi từ Những vấn đề như phong hoa tuyết nguyệt, tùng cúc trúcmai, tình yêu nỗi buồn đã được nhiều tác giả đề cập đến và có những thiphẩm tuyệt bút, cái hay, cái mới của Xuân Diệu là ở chỗ làm cho ngườiđọc cảm thấy được cái hay, cái mới mẻ, cái lạ kì ở chính cuộc sống trần giannày
Đối với Tản Đà, cô đơn là một cảm hừng muôn đời ngay cả khi không
có rượu, không có bạn ở gần Đối với Nguyễn Bính;
“Cô đơn buồn lại thêm buồn Tạnh mưa bươm bướm vẫn còn sang chơi”
(Cô hàng xóm – Nguyễn Bình)Riêng với Xuân Diệu kể cả khi có cảnh, có người thi sĩ vẫn là hòn đảođơn côi:
“Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm bể Suốt đời nhưu núi đứng nghiên tây.”
(Mai sau – Xuân Diệu)Tình yêu trong thơ Xuân Diệu không bóng gió ước lệ tượng trưng mà
Trang 30ngược lại rất trần thế hơn nữa lại đẫm màu nhục cảm cả thể xác và linh hồn.
Trang 31Có cả những tình yêu, tnh cảm thánh thiện trong sáng nhưng cũng có cảnhững đắm say, rạo rực, hòa nhập, tan biến.
Những đặc điểm về thi pháp phát triển đã tạo cho thơ Xuân Diệunhững nét khác biệt về: mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc - đó là mộtthế giới mới mẻ, tnh tứ Ở đó trời, đất, cỏ, cây tất cả đều đa tình, say đắm
“Một tối bầu trời đắm sắc mây Cây tm nghiêng xuống cánh hoa gầỵ Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầỵ”
(Với bàn tay ấy)Xuân Diệu như là một trái tim vĩ đại trong tình yêu không bao giờ biếtmệt mỏi Ông nhìn đâu cũng thấy có đôi lứa, có tình yêu
Nội dung thi pháp trên đã chi phối quan niệm thẩm mĩ thơ Xuân Diệu.Nếu như trước kia thiên nhiên được coi là chuẩn mực của con nguời thìbây giờ con người được coi là chuẩn mực của thiên nhiên Nếu như trước thời gian là tuần hoàn thì bây giờ thời gian trong thơ Xuân Diệu là thời giantuyến tính, một đi không trở lại Vì vậy mỗi con người chỉ có một mùa xuân,một tuổi trẻ một hạnh phúc, một tnh yêu
“Răng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ hàng ngàn”.
(Đây mùa thu tới)Những quan niêm thẩm mĩ của Xuân Diệu khác hoàn toàn với nhàthơ cổ điển phương Đông thậm chí ông còn nâng của con người lên tầng cao mới:
“-Lá liễu dài như một nét mi.”
(Nhị Hồ)
“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.”
Trang 32(Vội vàng)Quan niệm ấy đã khiến thơ Xuân Diệu trong sáng, khỏe khoắn vàtươi tắn.
“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi.”
(Vội vàng)Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng có tính chất hiện đại phương Tây bởiông chịu ảnh hưởng của trường phái thơ tượng trưng thế kỉ XIX Bởi bản thểcủa tác giả không thể cảm nhận được thế giới thông thường, các sự vật nhìnthấy chỉ là những hình ảnh tượng trưng mà thôi Do đó, nhà thơ phải làngười chỉ ra được bản chất bên trong của nó
Ngữ pháp thơ Xuân Diệu rất tây, rất mới lạ nhiều khi còn vượt cả cấutrúc ngữ pháp thông thường để diễn tả một cấu trúc quá mãnh liệt và dồi
dào như sóng tràn bờ Hoài Thanh nhận xét “Xuân Diệu làm thơ như trẻ con
học nói tiếng An Nam” [8; 120] Câu văn Xuân Diệu cũng chơi vơi và ý thơ
dồn đầyquá vượt cả những công thức quy phạm thơ Xuân Diệu:
“- Vì sao giặp mặt buổi đầu tiên, Tôi đã đày thân giữa xứ phiền, Không thể vô tình qua trước cửa, Biết rằng gặp gỡ đã vô duyên? “
(Vì sao)Ngoài ra, Xuân Diệu còn sử dụng đậm đặc các đảo ngữ với nối nói Tâyhóa và những từ ngữ mới lạ và sáng tạo:
“Hơn một lòa hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh”
(Đây mùa thu tới)
Trang 33Tuy hiện đại nhưng thơ Xuân Diệu không hề xa rời với phương Đông.Kinh nghiệm của Đông và Tây, kinh ngiệm của truyền thống và hiện đại đãkết tnh trong một nghệ sĩ tài năng và khát khao giao cảm với đời Điều nàythể hiện ở nghệ thuật cách tân từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp, đổi mới tư duylàm cho thơ trở lên gần gũi, gắn bó với trần thế con người.
Trang 34CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ 2.1 Tiêu chí thống kê, phân loại ngữ liệu
Chúng tôi khảo sát THTM “xuân” trong thơ Xuân Diệu dưới hai dạng
là biến thể từ vựng ngữ nghĩa và biến thể kết hợp
Biến thể là dạng biểu hiện tuy khác biệt về hình thức biểu đạt với hằngthể nhưng cùng chung hoặc có mối liên hệ mật thiết về ý nghĩa với hằng thể
Biến thể từ vựng là những từ ngữ khác biệt về hình thức âm thanh vớicác hằng thể nhưng cùng biểu hiện một ý nghĩa như hằng thể Đó có thể làcác biến thể ngữ âm, biến thể ngữ âm, biến thể địa phương hay những
từ gốc ngoại, hoặc từ phái sinh
Biến thể kết hợp là tất cả những từ ngữ cùng một trường nghĩa vớihằng thể và có kết hợp theo trục ngang với từ ngữ hằng thể Về mặt logic,biến thể kết hợp có thể là danh từ, cụm danh từ, động từ, cụm động từ,tính từ, cụm tính từ.Về mặt ý nghĩa các biến thể kết hợp của một hằng thểtuy cùng trường nghĩa nhưng có những ý nghĩa cụ thể, đa dạng
2.2 Bảng phân loại kết quả thống kê
Tư liệu khảo sát của khóa luận gồm 184 bài thơ của Xuân Diệu trongnhững tập thơ sau: Thơ Thơ, Gửi hương cho gió, Ngọn quốc kì, Riêng chung,Cầm tay, Một khối hồng, Tôi giàu đôi mắt Chúng tôi đã tiến hành khảo sát,thống kê và thu được kết quả như sau:
Bảng thống kê tần suất xuất hiện của tín hiệu thẩm mĩ “xuân”
trong thơ Xuân Diệu STT THTM Số lần xuất hiện (lần) Tỉ lệ xuất hiện (%)
Trang 36Bên cạnh THTM khác thì THTM “xuân” có vai trò không hề nhỏ trong thơ
Xuân Diệu Ở loại này, chúng tôi thống kê được tỉ lệ 40/102 phiếu chiếm
39,21% “Xuân” ở đây chính là một mùa trong năm, là mùa chuyển tếp từ
đông sang hạ, là mùa đầu tên trong năm
Ví dụ:
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi
rộng nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm
chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi
trẻ chẳng hai lần thắm lại.”
(Vội vàng)
Trang 37Hay:
“Xuân hỡi! Trời ơi, xuân sắc ơi!
Say mê ta vẫn níu chân người
Sao mà vội vã đi nhanh quá -Họa có ta còn quyết trẻ trai.”
(Trò chuyện với thơ thơ)
“Xuân” còn được gọi cụ thể hoá hơn bằng tên gọi đồng nghĩa gần nhưhoàn toàn là “mùa xuân” THTM “mùa xuân” có tỉ lệ 14/102 phiếu chiếm13,72%
Hay là anh đã bỏ em rồi?”
(Đơn sơ)
2.3.2 Biến thể của hằng thể “Xuân”
2.3.2.1 Biến thể từ vựng (BTTV) của THTM “Xuân”
BTTV “tết” xuất hiện 1/102 phiếu chiếm 0,98% “Tết” chính là ngày lễ
đầu tiên trong năm và ở đó có vui chơi, hội hè theo truyền thống dân tộc
“Cây trồng - ta chẳng trồng nêu tết
Những lá đầu tiên vừa nhú biếc
Người đi chợ búa tiếng râm ran, Quần láng mới thâm còn sột soạt.”
(Thơ tình mùa xuân)
Trang 38BTTV “Tháng giêng” chính là tháng đầu của năm, xuất hiện 2 lần trêntổng số 102 phiếu chiếm 1,98%.
Ví dụ:
Hay
“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi
buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng
giêng ngon như một cặp môi gần Tôi
sung sướng Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”
(Vội vàng)
“Ngày trong lắm, lá êm, hoa đẹp Nhan
sắc ơi, cây cỏ chói đầy sao Tháng
giêng cười không e lệ chút nào.
Bằng trăm cánh của bướm chim rối rắm.”
(Mời yêu)
2.3.2.2 Biến thể kết hợp (BTKH) của tín hiệu hằng thể“xuân”
BTKH “xuân hồng” xuất hiện 1/102 phiếu chiếm 0,98%
Ví dụ:
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây và cỏ rạng Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi.”
(Vội vàng)
Trang 39BTKH “tuổi trẻ” xuất hiện 10/102 chiếm 9,8%
Ví dụ:
Hay:
“Lòng tôi rộng nhưng lượng trời quá chật Không cho dài thời trẻ cuả nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.”
(Vội vàng)
“Cảm ơn tuổi trẻ bay về lại, Hay
cảm ơn em đẹp tuyệt trần; Tôi cảm ơn đời thương mến lắm, Cho tôi lại thấy mặt ngày xuân.”
(Hiểu)
THTM “sức xuân” xuất hiện 1 lần chiếm 0,98%
Ví dụ:
“Vườn hồng hoa chậm hay hoa ủ
Trước sức xuân sang chợp nở đều…
Đêm hóa bếp hồng em chụm thổi Ngày thành lụa tuyết để em thêu.”
(Vui - Tình yêu san sẻ)
2.3.2.3 Biến thể quan hệ (BTQH) của THTM “xuân”
a Tín hiệu BTQH là danh từ, cụm danh từ
Đó là những tín hiệu như: ngày xuân, gió xuân, sáng xuân, chồi xuân, trời xuân
Biến thể “Hoa xuân” xuất hiện 3/102 chiếm 2,94%