Và cũng có nhiều công trìnhnghiên cứu về đặc điểm, vai trò, chức năng của nhóm kết tử đồng hướng này.Tuy nhiên, có rất ít các công trình nghiên cứu kết tử lập luận đồng hướng trong một t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
- -PHẠM THỊ THANH BÌNH
TÌM HIỂU KẾT TỬ LẬP LUẬN ĐỒNG HƯỚNG
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
- -PHẠM THỊ THANH BÌNH
TÌM HIỂU KẾT TỬ LẬP LUẬN ĐỒNG HƯỚNG
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
TS HOÀNG THỊ THANH HUYỀN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô, những người đã tậntình giảng dạy, động viên, giúp đỡ, nhận xét và đóng góp ý kiến cho tôi trongquá trình học tập cũng như khi thực hiện khóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Hoàng Thị Thanh Huyền,người đã tận tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt khóa luậnnày
Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ,khuyến khích, động viên tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhậnđược sự đóng góp, giúp đỡ của quý Thầy Cô và các bạn
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Phạm Thị Thanh Bình
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của Tiến sĩ Hoàng Thị Thanh Huyền Các luận cứ nêu trong khóaluận là xác thực Những kết luận khoa học của khóa luận chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịutrách nhiệm
Hà Nội, ngày 5 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Phạm Thị Thanh Bình
Trang 5QUY ƯỚC TRÌNH BÀY TRONG KHÓA LUẬN
1 Quy ước kí hiệu
KL: Kết luận
LC: luận cứ
CG: câu ghép
KTĐH: kết tử đồng hướng
2 Quy ước trình bày
- Chú thích cho tài liệu trích dẫn được đặt trong dấu ngoặc vuông [ ] theo thứ tự: tên tài liệu trích dẫn, trang tài liệu; thông tin tài liệu được trích dẫn được ghi trong mục Tài liệu tham khảo.
- Khóa luận sử dụng 81 ví dụ; các ví dụ được đánh số thứ tự từ 1 đến 81, các số thứ tự đó được đặt trong ngoặc đơn ( ) Sau mỗi ví dụ là xuất xứ
của ví dụ ấy theo thứ tự: tên tác phẩm, số trang; thông tin đầy đủ về tác phẩm được ghi trong mục Nguồn ngữ liệu.
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 4
7 Bố cục của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Lý thuyết lập luận 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Bản chất của lập luận 8
1.1.3 Cấu trúc thành phần lập luận 8
1.1.3.1: Luận cứ 9
1.2.3.2 Kết luận 12
1.1.4 Những tín hiệu định hướng lập luận 15
1.1.4.1 Tác tử lập luận 15
1.1.4.2 Kết tử lập luận 17
1.2 Lập luận và hành vi ngôn ngữ 21
1.2.1 Lập luận và hành vi ở lời trực tiếp 22
1.2.2 Lập luận và hành vi ở lời gián tiếp 23
1.3 Vài nét về tác giả Nam Cao 25
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp 25
1.3.2 Phong cách sáng tác 27
Trang 7CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA KẾT TỬ
ĐỒNG HƯỚNG LẬP LUẬN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO 28
2.1 Đặc điểm cấu trúc 28
2.1.1 Cấu trúc lập luận đơn 28
2.1.2 Lập luận phức hợp 30
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 37
2.2.1 Kết tử đồng hướng với số lượng và trật tự sắp xếp LC và KL
37 2.2.2 Kết tử đồng hướng với quan hệ giữa các thành phần lập luận 42
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
NGUỒN NGỮ LIỆU
PHỤ LỤC
Trang 8kể cả các nhà nghiên cứu quan tâm đến ngữ dụng học Trong những năm trởlại đây, lí thuyết lập luận đã thu hút được sự quan tâm nhiều hơn nhưng sốlượng các bài viết, và các công trình nghiên cứu còn khá hạn chế.
Trong lập luận, các kết tử (connecteurs) có vai trò rất quan trọng Kết
tử là những yếu tố thực hiện chức năng liên kết, phối hợp các phát ngôn thành
luận cứ và kết luận của lập luận “Các kết tử lập luận là những yếu tố (như
các liên từ đẳng lập, liên từ phụ thuộc, các trạng từ và các trạng ngữ…) phối hợp với hai hoặc một số phát ngôn thành một lập luận duy nhất Nhờ kết tử
mà các phát ngôn trở thành luận cứ hay kết luận của một lập luận” [4;
tr.184] Vì vậy, trong quá trình tạo lập cũng như lĩnh hội ý nghĩa của lập luận,việc hiểu nắm bắt vai trò của kết tử có vai trò rất quan trọng Hay nói cáchkhác, tìm hiểu kết tử chính là khám phá bản chất của lập luận Do đó, để tạolập nên những lập luận chặt chẽ và giàu sức thuyết phục cũng như để hiểuđược lập luận, hiểu được diễn ngôn, việc nghiên cứu hoạt động và chức năngcủa kết tử là vô cùng quan trọng và cần thiết
Theo lí thuyết lập luận, mối quan hệ giữa luận cứ với luận cứ, giữa luận
cứ với kết luận để tạo nên quan hệ lập luận, thường có hai khả năng: đồnghướng lập luận và nghịch hướng lập luận Trong đó, kết tử đồng hướng có tần
số sử dụng rất cao và bản chất rất phức tạp Và cũng có nhiều công trìnhnghiên cứu về đặc điểm, vai trò, chức năng của nhóm kết tử đồng hướng này.Tuy nhiên, có rất ít các công trình nghiên cứu kết tử lập luận đồng hướng
trong một tác phẩm cụ thể Với sự lựa chọn đề tài Tìm hiểu kết tử lập luận
Trang 9đồng hướng trong truyện ngắn của Nam Cao, chúng tôi muốn đi sâu nghiên
cứu và khám phá sâu hơn về vai trò, chức năng của của kết tử đồng hướng vàqua việc nghiên cứu này cũng nhằm tự trang bị cho bản thân mình hành trangtri thức để bước vào nghề được tự tin hơn, hướng tới tầm cao tri thức mới về
lý thuyết lập luận nói riêng, phương diện ngữ dụng học nói chung trong tiếngViệt Khi chúng ta nắm vững bản chất lí thuyết lập luận tất yếu sẽ vận dụngchúng vào giao tiếp đạt hiệu quả cao làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú
và giàu đẹp
2 Lịch sử vấn đề
Trong 20 năm trở lại đây, lí thuyết lập luận đã thu hút được sự thu hútđược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu:
Năm 2005, trong cuốn Nhập môn logic hình thức, logic phi hình thức [6]
tác giả Nguyễn Đức Dân đã trình bày những vấn đề như: đại cương lập luận;
mô hình khái quát; lập luận theo logic, theo logic tự nhiên; những vấn đềchung về chứng minh và bác bỏ; những sai lầm trong lập luận: ngộ biện vàngụy biện…
Năm 2009, tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Giao tiếp, diễn ngôn và
cấu tạo của văn bản [1] có bàn đến quan hệ lập luận, sự biểu hiện của mạch
lạc trong văn bản…
Năm 2010, tác giả Đỗ Hữu Châu [4] đã đề cập đến vấn đề lí thuyết lậpluận như: lập luận là gì; bản chất ngữ dụng của lập luận; lập luận là một hànhđộng ở lời; đặc tính của quan hệ lập luận; tác tử lập luận và kết tử lập luận; lẽthường của cơ sở lập luận; việc xác lập các lẽ thường…
Qua các công trình trên, ta thấy ít nhiều các nhà nghiên cứu đã chú ý đếnkết tử lập luận, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát Xét ở mức độchuyên sâu về kết tử lập luận đồng hướng phải kể đến một số luận văn thạc sĩ,luận án phó tiến sĩ như:
Trang 10Năm 1994, Trần Thị Lan với luận văn Tìm hiểu kết tử đồng hướng lập
luận trong tiếng Việt Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội
Năm 1995, Hoàng Huy Lập với luận án phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn:
Sự tham gia của hư từ cú pháp vào việc hình thành ngữ nghĩa của câu tiếng Việt (qua một số kết tử chỉ dẫn lập luận đồng hướng trong tiếng Việt)
Năm 2000, Kiều Tuấn luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Các kết tử lập luận
“thật ra/ thực ra”, “mà” và quan hệ lập luận.
Có thể nói, nhìn một cách tổng quát mảng lập luận nói chung và kết tửlập luận nói riêng đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.Tuy nhiên, cho đến nay số lượng các công trình liên quan chưa nhiều Đặcbiệt, các bài nghiên cứu về kết tử đồng hướng vào một tác phẩm cụ thể lại vôcùng ít Qua đó, ta thấy việc triển khai đề tài kết tử lập luận đồng hướng trongtuyển tập truyện ngắn của Nam Cao là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa sâusắc
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát kết tử lập luận đồng hướng trong
“Tuyển tập Nam Cao – H.:Văn học; Công ty văn hóa Minh Tân, 2016 – Nhàxuất bản văn học”
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Kết tử lập luận đồng hướng trong truyện ngắnNam Cao
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu: Với đề tài này chúng tôi hướng đến nghiên cứu
kết tử lập luận đồng hướng trong truyện ngắn của Nam Cao để thấy rõ chứcnăng của kết tử lập luận đồng hướng trong việc đem lại hiệu quả nghệ thuậtlập luận ở các truyện ngắn của Nam Cao Đây là khoảng trống vẫn còn bỏ ngỏcủa các công trình nghiên cứu về kết tử đồng hướng trước đây Qua đó góp
Trang 11phần hoàn thiện lí luận về kết tử lập luận của lí thuyết lập luận và nâng caonăng lực sử dụng, lĩnh hội từ trong hoạt động giao tiếp.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này được vận dụngtrong quá trình khảo sát ngữ liệu, là cơ sở để rút ra những đánh giá, nhận xétkhoa học về đối tượng
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đây là phương pháp được vận dụngtrong quá trình phân tích lập luận, xử lí những mâu thuẫn những mẫu lập luậnnằm ở ngôn ngữ đơn vị bậc câu và trên câu (đoạn văn, văn bản), đặc biệt hữuích đối với những hiện dạng không đầy đủ thành phần luận của kết luận
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: đây là phương pháp cần thiết để rút ranhững đặc điểm chung, cũng như đặc điểm riêng của từng kết tử trong hoạtđộng thực hiện chức năng
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: là phương pháp được vận dụng phổbiến trong quá trình nghiên cứu Phân tích sẽ làm cơ sở cho việc tổng hợpthành những vấn đề cần đạt được trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.Phương pháp tổng hợp sẽ nhằm quy nạp các vấn đề đã nghiên cứu một cáchtổng quát sau khi đã luận giải chi tiết
6 Đóng góp của khóa luận
Về lí luận: khóa luận góp phần củng cố và làm sâu sắc thêm lí thuyết vềlập luận và kết tử đồng hướng trong lập luận
Trang 12Về thực tiễn: khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu học tập, tham khảocho học sinh, sinh viên… trong việc phân tích ý nghĩa nghệ thuật lập luận củaNam Cao trong tác phẩm của mình
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính củakhóa luận được trình bày trong hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Ở chương này chúng tôi sẽ trình bày lí thuyết về lập luận, lập luận vàhành vi ngôn ngữ Đồng thời tìm hiểu đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp, cũngnhư phong cách sáng tác của Nam Cao Đó là cơ sở, tiền đề để chúng tôi khảosát, phân loại và đưa ra kết quả ở chương 2
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của kết tử đồng hướng lập luậntrong truyện ngắn của Nam Cao
Từ việc tìm hiểu về lí thuyết lập luận, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu vềđặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của kết tử đồng hướng trong truyện ngắn củaNam Cao Qua đó, sẽ hiểu thêm vai trò cũng như chức năng của kết tử đồnghướng trong việc đem lại thành công của nghệ thuật lập luận trong tuyển tậpcác truyện ngắn của ông
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lí thuyết lập luận
1.1.1 Khái niệm
Trước đây, lập luận được nghiên cứu trong tu từ học và trong logic học.Hai nhà ngôn ngữ học Pháp: Oswald Ducrot và Jean Claude Anscombre đãđặc biệt quan tâm tới bản chất ngữ dụng học của lập luận
Trong từ điển, lập luận được giải thích là hành động “sắp xếp lí lẽ mộtcách có hệ thống để trình bày, nhằm chứng minh cho một kết luận về một vấnđề” [10; tr.551]
Thời gian trước đây, các nhà nghiên cứu nghĩa của câu chủ yếu dựatrên nghĩa của các yếu tố kết hợp lại mà thành và về căn bản là dựa theo sựsuy diễn logic nội tại của câu Thực ra, sự suy diễn lập luận thuộc nghĩa học,còn lập luận trong giao tiếp là một quan hệ thuộc dụng học Nói chung, lậpluận là quan hệ xuyên suốt một diễn ngôn, một văn bản Mỗi thông tin miêu tảđều tiềm ẩn một giá trị lập luận khác nhau Quyết định tính mạch lạc của vănbản chính là quan hệ lập luận
Lập luận là đưa ra những lí lẽ dẫn dắt người nghe đến một kết luận haychấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới [4; tr.155]
Có thể biểu diễn quan hệ lập luận giữa các phát ngôn như sau:
Trang 14kiện để thuyết phục, chỉ nhằm dẫn đến kết luận còn kết luận đó có thuyếtphục được hay không là việc khác Chứng minh, suy diễn dựa trên các quy tắcvới thao tác logic, trên chân lí đã được đánh giá theo tiêu chuẩn đúng, sai.Tính đúng – sai của nó có thể kiểm nghiệm được nhờ tính đúng sai của cáctiền đề.
Kết luận trong giao tiếp không hoàn toàn như vậy Kết luận rút ra chỉ làkết quả chỉ là kết quả của sự chiêm nghiệm thực tế và việc nắm được nghĩacủa phát ngôn luận cứ Kết luận không phải là quan hệ chặt chẽ giữa các tiên
đề và kết luận logic
Ngôn ngữ học đã từng phân biệt thông tin miêu tả thuần túy với nhữngnhận định đánh giá và những kết luận mà người lập luận muốn hướng tới Tấtnhiên cũng có nhiều văn bản chủ yếu nhằm cung cấp những thông tin miêu tảnhưng thông thường thì thông tin miêu tả cũng có một giá trị lập luận nào đó.Ducrot cho rằng ý nghĩa thực sự của các thông tin miêu tả chính là các hiệulực lập luận của chúng Lập luận là một bộ phận không thể loại bỏ đối với nộidung các phát ngôn
Những câu:
(1) “Con mèo này màu đen”
(2) “Con mèo này rất dễ sợ”
Đây là những câu thuần túy, là những thông tin miêu tả Nếu chúng tađặt gần nhau, liên tiếp “ Con mèo này màu đen Con mèo này rất dễ sợ” thì đãbắt đầu xuất hiện mối quan hệ lập luận và nếu chúng ta thêm vào một số yếu
tố liên kết thì quan hệ lập luận càng rõ nét và chặt chẽ hơn
(3)“ Con mèo này màu đen n ên rất dễ sợ”
(4)“ Con mèo này lông đã màu đen l ạ i c ò n hay ăn vụng n ê n rất dễ
sợ”
Trang 151.1.2 Bản chất của lập luận
Trong lôgic có phép quy nạp và diễn dịch Quy nạp hay diễn dịch đều
là đi từ luận cứ đến kết luận Nếu đi từ luận cứ cục bộ đến kết luận khái quátthì ta có quy nạp, nếu đi từ một tiền đề (premise) khái quát để suy ra kết luậncục bộ thì ta có diễn dịch Nói tới lập luận thường là nói tới suy luận theo diễndịch và ta thường nghĩ ngay đến logic, đến lí luận, đến diễn ngôn nghị luận
Lập luận đồng thời cũng là vấn đề then chốt trong văn nghị luận Tuynhiên, lập luận có mặt khắp nơi, trong bất cứ diễn ngôn nào, đặc biệt trongcác diễn ngôn đời thường
Ví dụ:
Khi mua bán, người mua phải lập luận để kết luận giá của món hàngmình nêu ra cho khách là hợp lí Và ngược lại, người bán cũng phải đưa ranhững lí lẽ thuyết phục để bán được hàng cho người mua
(5) Có chiếc váy này đẹp, rất hợp với cậu, lại đang được giảm giá, cậumua đi
Lập luận được đưa ra trong ngữ liệu trên người bán đã đưa ra những lí
lẽ đầy tính thuyết phục “chiếc váy này đẹp”, “lại được giảm giá” để dẫn tới một kết luận “cậu mua đi” Như vậy, lập luận của người bán lúc này rất hợp
lí và mang tính thuyết phục cao
Hơn thế nữa, không phải chỉ khi nào cần phải lí luận, tranh luận vớinhau chúng ta mới lập luận Khi chúng ta kể lại một sự kiện, miêu tả một hiệnthực, chúng ta cũng thực hiện một vận động lập luận
Như vậy, có nghĩa là cần phân biệt lập luận lôgic với lập luậnđời thường
1.1.3 Cấu trúc thành phần lập luận
Thành phần lập luận bao gồm: Luận cứ (LC) và kết luận (KL)
Trang 161.1.3.1: Luận cứ
a Khái niệm
Luận cứ được giải thích theo rất nhiều khái niệm khác nhau, ta có thể
kể đến một số định nghĩa khác nhau về luận cứ như sau:
Theo Đỗ Hữu Châu, “lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt ngườinghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nóimuốn đạt tới” [4; tr1.55] Theo đó, lí lẽ được gọi là luận cứ, có thể là mộtthông tin miêu tả hay một định luật, một nguyên lí xử thế… nào đấy
Ví dụ:
(6) Không ai nói gì, người ta dần dần lảng đi
(R) Vì nể cụ Bá cũng có, nhưng vì nghĩ đến sự yên ổn của mình cũng có: Người nhà quê vốn ghét lôi thôi Ai dại gì đứng ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng [13; tr.30] ( LC là một thông tin là một nguyên lí
xử thế)
Nguyễn Đức Dân cho rằng một lập luận có 3 thành tố logic là: tiền đề(LC), kết đề (KL) và lí lẽ [6; tr.196] Tiền đề là một hoặc nhiều dữ kiện xuấtphát là căn cứ cho lập luận Kết đề là một khẳng định đích hay là một khẳngđịnh mục tiêu Lí lẽ (còn gọi là luật suy diễn hay là luận chứng) là những yếu
tố mà nhờ nó từ tiền đề chúng ta suy ra kết đề Những yếu tố này có thể lànhững nguyên lí, quy luật tự nhiên, những định lý, định luật, quy tắc trong cácngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật và cũng có thể là những lí lẽ trong logic đờithường
Một quan điểm khác của Trần Thế Hùng cho rằng “luận cứ là một kháiniệm tương đối” [8; tr.3] bởi lẽ:
Trong cùng một phát ngôn, ta có thể trình bày luận cứ của lập luận nàynhưng lại là kết luận của lập luận khác và ngược lại
Ví dụ:
Trang 17(7) Đã chín giờ rồi (P) Vậy là Y đã về đến nhà (R).
(8) Y đã về đến nhà (P) Vậy là đã tám giờ rồi (R)
Như vậy, ta thấy cả hai lập luận trên đều được tổ chức theo mô hình:P R Trong đó: phát ngôn đi trước kết tử “vậy là” luôn là LC, còn phát ngôn
đi sau là KL Việc tổ chức các phát ngôn theo hai trật tự khác nhau khiếnchức năng của chúng trong mỗi lập luận có sự khác biệt Cụ thể: phát ngôn
“đã chín giờ rồi” đóng vai trò LC của lập luận (7) nhưng lại là KL của lậpluận (8); phát ngôn “Y đã về nhà” là KL của lập luận (7) nhưng là LC của lậpluận (8)
Một phát ngôn chỉ được xem như một luận cứ khi người nói có ý địnhdùng phát ngôn ấy là luận cứ của kết luận và người nghe có thể hiểu được ýđịnh của người nói, chấp nhận phát ngôn đó có giá trị như là một luận cứ
Tuy nhiên, một phát ngôn được xem như một LC không nhất thiết thỏamãn cả hai điều kiện từ người nói và người nghe Tức là: một phát ngôn cóthể được chấp nhận là LC đối với cả người nói và người nghe nhưng cũng cóthể chỉ có giá trị LC với một trong hai đối tượng trên
Ví dụ:
(9) Sp1: Chiếc váy này đẹp quá!
Sp2: Thế anh mua tặng em nhé!
Sp1: Đừng Nó đẹp thật nhưng giá rất đắt, mua phí hoài đi
Hồi đáp của Sp2 trong đoạn thoại trên cho biết: Sp2 coi phát ngôn
“Chiếc váy này đẹp quá!” của Sp1 là LC hướng đến KL hàm ẩn là một hành
động gợi ý Sp2 hãy mua chiếc váy này để tặng Sp1 Nhưng phản hồi của Sp1
“Đừng Nó đẹp thật nhưng giá rất đắt, mua phí hoài đi” chứng minh suy luậncủa Sp2 đã sai: Sp1 không chủ định dùng phát ngôn của mình như là LChướng đến KL hàm ẩn nêu trên
Trang 18Về nội dung, LC có thể là những sự việc, hiện tượng trong thực tế, cóthể là những lí lẽ thông thường, hay một định luật, một nguyên lí xử thế nàođó (Như ví dụ 6 chúng tôi đã phân tích)
Về chức năng, LC là những căn cứ, những bằng chứng để từ đó rút raKL
Về vị trí, LC có thể đứng trước, đứng sau hay nằm giữa các KL Ở mỗi
vị trí, LC đều giữ vai trò là chỗ dựa cho KL, song nó thể hiện sự khác nhautrong cách thức suy luận của người lập luận và kiểu cấu trúc lập luận
(10) Tôi thề rằng: từ thuở cha mẹ đẻ đến giờ tôi có biết cái xóm cô đầu nó ở chỗ nào (P) thì tôi chết [13; tr.85]
Như vậy, LC của lập luận (10) đứng ở vị trí đầu câu
(11) Thật công toi! Bởi rồi người ta cứ phải ghét tôi, ghét tôi tuy không có cớ để mà ghét mới khổ cho tôi chứ (P) [13; tr.60]
Ở ví dụ (11), ta thấy vị trí xuất hiện của LC lại đứng ở vị trí cuối câu
Về quan hệ định hướng lập luận, LC có thể đồng hướng lập luận, nghĩa
là các LC P, Q được đưa ra cùng phục vụ cho một KL R nào đấy; ngược lại,các LC có thể nghịch hướng lập luận, khi P hướng tới R còn Q hướng tới - R(với điều kiện R và - R phải cùng một phạm trù, nói cách khác, - R phải làphủ định của R)
Về trật tự sắp xếp, trong trường hợp lập luận có nhiều hơn một LC mà
các LC có hiệu lực lập luận khác nhau, nghĩa là P có sức mạnh đối với R hoặc(- R) lớn hơn Q hoặc ngược lại thì các LC có hiệu lực lập luận mạnh hơn sẽđược đặt ở gần KL vì nó quyết định hướng lập luận
Trang 191.2.3.2 Kết luận
a Khái niệm
Kết luận là cái được rút ra từ các luận cứ của lập luận, là cái mà cácluận cứ hướng tới Dù các luận cứ có quan hệ đồng hướng hay nghịch hướngcũng đều có sự cộng hưởng hàm ý để tạo nên một kết luận chung Kết luận làcái mà dụng ý người sử dụng muốn đạt tới Cái dụng ý kết luận đó có khi thểhiện ở một mệnh đề trong câu, ở một phát ngôn khác trong đoạn nhưng cũng
có khi mang nội dung hàm ẩn để tự người đọc rút ra (quan hệ giữa tín hiệuvới người sử dụng, người lý giải)
Theo Trần Thế Hùng, KL có thể hiểu là “một hành động, một ý niệm,
một quan điểm mà người nói thông qua diễn ngôn, muốn dẫn dắt người nghe hướng tới thực hiện nó hay chấp nhận nó” [8; tr.5]
Ví dụ
(12)Thật ra tôi cũng có chút mộng văn chương (R) Nhưng cái mộng
ấy cũng hơi…khỉ khỉ (P1) Tôi cũng muốn vừa có thể phụng sự nghệ thuật (P2) lại vừa có thể kiếm tiền nuôi cả nhà (P2) [13; tr.83]
Ngữ liệu trên là một lập luận bao gồm ba LC (P1; P2; P3) và KL (R).Các LC lần lượt đưa ra sự miêu tả hay nói cách khác là sự giải thích cho KL
của nhân vật tôi trong tác phẩm “ Những truyện không muốn viết” của nhà văn Nam Cao Đó là các LC: “nhưng cái mộng ấy cũng hơi…khi khỉ” (P1), “
tôi cũng muốn vừa có thể phụng sự nghệ thuật” (P2), “ lại vừa có thể kiếm tiền nuôi cả nhà” (P3) Đây là những lí lẽ nhằm dẫn dắt người đọc chấp nhận
đánh giá ở R là: “Thật ra tôi cũng có chút mộng văn chương”
b Vị trí và sự hiện diện
Trong một lập luận, kết luận có thể ở vị trí đầu, vị trí giữa hoặc cuốicủa luận cứ
Trang 20Ví dụ:
* KL xuất hiện vị trí đầu:
(13) Con vợ nó không phải giống người (R) Nó có biết thương mẹ già
đâu (P1)! Chồng chết vừa mới xong tang, nó đã vội vàng đi lấy chồng ngay (P2) [13; 217]
Trong ngữ liệu trên, ta thấy KL xuất hiện ở vị trí đầu câu như một lời
khẳng định: “con vợ nó không phải giống người” Các LC sau bổ sung, giải thích ý nghĩa cho KL: “ nó có biết thương mẹ già đâu”; “chồng chết vừa mới
xong tang, nó đã vội vàng đi lấy chồng ngay”.
* KL xuất hiện ở vị trí giữa:
(14) Cái kiếp sống vất vưởng ấy cứ bập bùng chực tắt mà không tắt
(P1) Nó cứ còn mãi, còn để sợ từng cơn gió, để run rẩy trước từng cơn gió
(P2) Như thế, thà chết quách đi cho rồi (R) Đã già nua, lại đau yếu, lại đói
khát, lại bơ vơ thì khổ hơn là chết (P3) Khốn nỗi bà cứ sống, dai dẳng như nỗi lầm than trên đời…(P4) [13; tr.310]
Ở ngữ liệu (14), ta thấy xuất hiện các thành phần lập luận bao gồm bốnLC: P1, P2, P3, P4 và một KL: R Trong lập luận trên, vị trí xuất hiện của KL
là ở giữa câu làm cho lập luận tăng thêm tính thuyết phục Các LC xuất hiện
trước và sau KL để giải thích và bổ sung ý nghĩa cho KL “như thế, thà chết
quách đi cho rồi”.
* KL xuất hiện ở vị trí cuối:
(15)Thật ra thì tôi chỉ thương tôi (P1) Tôi bỗng nhiên thành ra không
nhà (P2) Không những thế, vườn của tôi bị tàn phá hết (P3) Bao nhiêu tiền của, bao nhiêu mồ hôi nước mắt đổ ra chăm chút cho giàn bầu, bụi mí thôi thế là mất toi.(R) [13; tr.143]
Trang 21Vị trí xuất hiện của KL ở ngữ liệu (15) là ở vị trí cuối lập luận Các LC
lần lượt được đưa ra: “thật ra thì tôi chỉ thương tôi (P1)”; “tôi bỗng nhiên
thành ra không nhà (P2)”;“không những thế, vườn của tôi bị tàn phá hết (P3)
để đi đến KL cuối cùng:“bao nhiêu tiền của, bao nhiêu mồ hôi nước mắt đổ
ra chăm chút cho giàn bầu, bụi mí thôi thế là mất toi (R)” Như vậy, ở lập
luận trên các lí lẽ hay còn gọi là LC đưa ra để hướng người đọc đến một KLcuối cùng đầy tính thuyết phục
Trong một lập luận gồm nhiều kết luận thành phần (R= R1, R2, R3…),
KL có thể theo sau, đi trước hoặc bao quanh LC Khi cả LC và KL đều được
mở rộng, KL có thể theo sau, đi trước, ở giữa, bao quanh hoặc xen kẽ với các
LC của lập luận
Cũng giống như LC, các thành phần KL có thể hiện diện tường minh,tức có thể được nói rõ ra Tuy nhiên, không ít những trường hợp trong đó mộtkết luận có thể hàm ẩn, người lập luận không nói ra, người nghe tự mình phảisuy ra mà biết
Ở lời thoại của Sp2 kết luận từ chối lời rủ của cô gái ở dạng hàm ẩn Sp2 đã
đưa ra hai luận cứ, thứ nhất là: Phim này chiếu những một tháng kia mà và thứ hai: anh không muốn em bị gò bó vì anh đã có hẹn với mấy bạn trai từ
trước đó
Trang 22 Kết luận chung lời thoại của Sp2 là do hai luận cứ hàm ẩn mà có và hailuận cứ hàm ẩn này tự thân lại là những kết luận hàm ẩn bộ phận Kếtluận hàm ẩn đó là lời từ chối đi xem phim của chàng trai đối với cô gái.
1.1.4 Những tín hiệu định hướng lập luận
Khi nhắc đến những tín hiệu định hướng lập luận trong một quan hệlập luận chúng ta cần nói tới các yếu tố có vai trò chỉ dẫn lập luận bao gồmhai loại lớn là tác tử (operateurs) lập luận (operateurs) và kết tử(connecteurs) lập luận
1.1.4.1 Tác tử lập luận
a Định nghĩa
- Theo Đỗ Hữu Châu: “Tác tử lập luận là một yếu tố khi được đưa vào
một nội dung miêu tả nào đấy sẽ làm thay đổi tiềm năng lập luận của nó, độc lập với thông tin miêu tả vốn có của nó” [4; tr.180] Theo đó, những yếu
tố như: đã, mới, chỉ, những, là, ít, là nhiều, thôi… là tác tử lập luận tiếng Việt.
Ví dụ:
(17) Chỉ nhịn thôi chứ lấy gì mà ăn! [13; tr.223]
(18) Chao ôi! Giá anh đã được ăn bát chè kia! [13; tr.215]
(19) Bây giờ mới tám giờ thôi, cứ từ từ [4; tr.180]
(20) Có những ba nghìn trong túi (kia) [4; tr.181]
Theo như phân tích của tác giả, chúng ta sẽ thấy chỉ, là nhiều chuyển
những thông tn miêu tả tương ứng thành luận cứ hướng về kết luận
“ít”, “nhẹ”, đồng thời những/có là những tác tử lập luận có thể chuyển
những thông tin miêu tả tương ứng thành luận cứ hướng về kết luận “nhiều”,
“nặng”
- Nguyễn Đức Dân cũng đưa ra định nghĩa: “Tác tử lập luận là những
yếu tố tác động vào một phát ngôn sẽ tạo ra một định hướng nghĩa tạo nên
Trang 23tềm năng cho một lập luận xác định” [6; tr.200] Theo đó, những yếu tố như
có, những… là tác tử lập luận
Trang 24Ví dụ:
(21) Chiếc bình cổ này giá có/những 10 cây vàng [4; tr.200]
Theo như phân tích của tác giả, những/có là những tác tử lập luận bởi:
những từ này thể hiện sự đánh giá cao, nhiều, do đó định hướng phát ngôn
chứa nó đến KL nên mua; đồng thời trợ từ những thể hiện sự đánh giá cao, nhiều Do đó định hướng phát ngôn chứa nó đến KL không nên mua.
Như vậy, tác tử lập luận là những yếu tố tình thái mà người nói
đưa vào phát ngôn nhằm tạo ra sự tác động của chúng đến nội dung miêu tả của phát ngôn, giúp cho người nói có thể lập luận theo một định hướng nhất định Theo quan sát của chúng tôi, tác tử lập luận có thể chia thành các
nhóm nhỏ sau đây:
Thứ nhất, nhóm tác tử định hướng sự đánh giá về thời gian: tác tử mới, vừa, vừa mới, mới… thôi… biểu thị thời gian còn sớm, còn dài; tác tử đã, đã… rồi… biểu thị thời gian đã kéo dài, đã muộn Ví dụ:
(22) Tôi mới làm việc được hai tiếng đồng hồ thôi.
(23) Tôi đã làm việc được hai tiếng đồng hồ rồi.
Thứ hai, nhóm tác tử định hướng sự đánh giá về lượng: các tác tử chỉ,
có, chỉ có, thôi thể hiện sự đánh giá là “ít”, “rẻ”, “nhẹ” về đối tượng được
đề cập tới so với chuẩn thông thường hoặc trong quan hệ đối chiếu với một
cái gì đó; các tác tử: những, kia, đấy thể hiện sự đánh giá với ý nghĩa
“nhiều”, “đắt”, “nặng” về đối tượng được đề cập tới so với chuẩn thôngthường hoặc trong quan hệ đối chiếu với một cái gì đó Ví dụ:
(24) Nếu cậu mua chỉ một cái áo thôi thì giá của nó có hơn trăm nghìn
Thứ ba, nhóm tác tử định hướng sự đánh giá theo ý nghĩa gia tăng về
mức
độ hoặc bổ sung làm tăng hiệu lực lập luận: lại, lại cũng, lại còn Ví dụ:
(25) Thành thử bà đã già ngót bẩy mươi, lại còn phải làm còm cọm, làm
mà nuôi đứa con gái ấy cho chúng nó [13; tr217].
Trang 25Thứ tư, nhóm tác tử định hướng nghĩa về sự khẳng định, chấp nhận đồng
tình hay bác bỏ: cũng, mà cũng, thì có Ví dụ:
Trang 26(26) Đã đến thế này tôi chẳng còn mong gì được Kha yêu Có ở đây nữa,
cũng chỉ thêm nhục mà thôi [13; tr188]
b Các đặc tính của tác tử lập luận:
- Phạm vi tác động của tác tử nằm trọn vẹn trong một phát ngôn
- Tác tử lập luận độc lập với nội dung miêu tả vốn là phát ngôn chứa nó
- Tác tử kết luận thường là các tình thái từ hoặc quán ngữ tình thái
Ví dụ:
Các tình thái từ như: có, chỉ, thôi, những, đến, tận,…
Các quán ngữ tình thái: là ít, là nhiều, cùng lắm cũng chỉ, nhiều lắm
sau:
Theo Nguyễn Đức Dân: “Kết tử lập luận là yếu tố liên kết tiền đề với
kết đề trong một lập luận” [6; tr202] Như vậy, những yếu tố ngôn ngữ như vì…nên, bởi vì…nên, nếu…thì, hễ…thì, cho…nên, thì, và … làm nhiệm vụ nối đề
- LC với kết đề - KL là các kết tử lập luận
Ví dụ:
(27) Giá nhà ông phải đói như nhà người ta thì không biết ông còn bóp nặn
dân làng đến đâu [13; tr.248]
(28) Sau cái hành vi đẹp của hắn, và thấy cái hành vi ấy được trả công bằng
một tnh yêu rất êm đềm, hắn chỉ còn nghĩ đến gia đình, chỉ cốt làm sao nuôiđược gia đình [13; tr.331]
(29) Nếu cứ muốn làm người nhã nhặn mãi ở đây thì có lẽ chẳng bao giờ hắn
lĩnh được ba chục bạc [13; tr.374]
Trang 27Theo Đỗ Hữu Châu: “Kết tử là những yếu tố (như các liên từ đẳng lập,
liên từ phụ thuộc, các trạng từ, trạng ngữ…) phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thành một lập luận duy nhất Nhờ kết tử mà các phát ngôn trở thành luận cứ hay kết luận của một lập luận” [4; tr184] Như vậy, qua định
nghĩa ta thấy chức năng của kết tử không giới hạn ở việc liên kết LC với KL
mà còn kết nối các LC lại với nhau Theo đó, các từ ngữ như: cho nên, nên,
thì, vây,… có chức năng nối LC với KL Hay các từ: thêm vào đó, lại còn, đã… lại, vả, vả lại, chẳng những… mà còn,… dùng để nối LC với LC đều là kết tử lập
luận (30) Lão Bá vừa nói một tếng, bao nhiêu người đã ai về nhà nấy, hắn
có lăn ra kêu nữa, liệu có còn ai ra? (P) Vả lại bây giờ rượu nhạt rồi, nếu
lại phải rạch mặt thêm mấy nhát nữa thì cũng đau (Q) Vào thì vào, cần quái gì (R) [13; tr.27]
(vả là kết tử nối kết LC p và q với nhau)
(31) Thầy Ninh cũng hiểu Ninh nhớ mẹ (P), nên không nỡ mắng (R) [13;
tr.158]
(nên là kết tử nối kết LC p với KL R)
Như vậy, có thể định nghĩa khái quát kết tử lập luận là những yếu
tố ngôn ngữ thực hiện chức năng liên kết các thành phần trong một lập luận
* Các kết tử lập luận có thể chia thành: kết tử hai vị trí và kết tử ba vị trí
- Kết tử hai vị trí: là những kết tử chỉ cần hai phát ngôn là đủ lập thànhmột lập luận, không nhất thiết cần có luận cứ thứ 3 (một phát ngôn khác)
Ví dụ:
(32) Trời đẹp nên tôi đi chơi
Nên là kết tử hai vị trí, chỉ cần một phát ngôn – luận cứ (lí do) với một phát
ngôn – kết luận là đã thành một lập luận
Trang 28- Kết tử ba vị trí: là kết tử đòi hỏi phải có hai luận cứ và một kết luậnhay nói cách khác là hải có ba phát ngôn mới có thể hình thành nên một lậpluận.
Ví dụ:
(33) Trời đẹp nhưng tôi bận học, nên tôi không đi chơi
* Tùy theo quan hệ với luận cứ hay kết luận, các kết tử còn được chiathành kết tử dẫn nhập luận cứ và kết tử dẫn nhập kết luận
- Kết tử dẫn nhập luận cứ “là kết tử đưa nội dung (hay một hành vi ở
lời) vào làm luận cứ cho lập luận Đó là những kết tử như vì, tại vì, lại, vả lại, hơn nữa, chẳng những… mà còn…, đã…lại,… vv.” [4; tr.185]
- Kết tử dẫn nhập kết luận “là kết tử “nối” một nội dung (hoặc một
hành vi) đóng vai trò kết luận cho lập luận với luận cứ Đó là những kết tử như thì, nên, vậy nên, cho nên, dù thế nào cũng, dù sao cũng” [4; tr.185]
- Thông thường, dấu hiệu nhận biết đâu là kết tử dẫn nhập luận cứ,đâu là kết tử dẫn nhập kết luận, người ta căn cứ vào vị trí xuất hiện củakết tử Nếu một kết tử xuất hiện ở vị trí mở đầu hoặc thuộc về phần mở đầucủa phát ngôn hoặc phần phát ngôn làm LC thì nó sẽ là kết tử dẫn nhập LC.Ngược lại, nếu một kết tử mở đầu của phát ngôn hoặc phần phát ngôn làm
Trang 29Như vậy, căn cứ vào vị trí xuất hiện của kết tử, ta có thể dễ dàng nhận
diện nếu, có lẽ, nữa là là các kết tử dẫn nhập LC, còn thì là kết tử dẫn nhập
KL
Trang 30* Trong giáo trình Đại cương ngôn ngữ học tập 2 [4], tác giả Đỗ Hữu
Châu dựa trên tiêu chí khả năng biểu hiện quan hệ định hướng lập luận giữacác LC và KL, kết tử lập luận có thể được chia thành 2 nhóm là: kết tử đồnghướng và kết tử nghịch hướng:
- Kết tử đồng hướng là những kết tử như: và, hơn nữa, thêm vào
đó, vả lại, lại còn, đã…lai, chẳng những… mà còn, huống hồ… huống chi, quả vậy, thật vậy, nữa là… Dấu hiệu nhận biết kết tử đồng hướng là các LC cùng
hướng đến KL
Ví dụ:
(37) Thị hớt cơm chó thật nhiều rồi bớt lại, giấu đi, để ăn cơm với cả nhà rồi lại lấy ra ăn (P) Thậm chí đến đổ cám cho lợn ăn mà thị cũng ăn vụng vài
bát ngay ở ngoài chuồng lợn được(Q).Ghê tởm quá.(R) [13; tr.346]
Ngữ liệu trên là một lập luận gồm các thành phần P, Q, R Trong đó, P
và Q cùng hướng đến R: “ghê tởm quá” Như vậy trong lập luận này, thậm chí
thực hiện chức năng dẫn nhập q đồng thời đánh dấu quan hệ đồng hướnggiữa P và Q (PR; Q R)
- Kết tử nghịch hướng là những kết tử như: nhưng, thế mà, tuy vậy,
tuy nhiên, song, mặc dầu, tuy…nhưng, Dấu hiệu nhận biết kết tử nghịch
hướng là các LC hướng đến KL
Ví dụ:
(38) Duy chỉ có Nhu không thuận lắm (P), nhưng Nhu cũng chẳng làm gì
(Q), chẳng ngỏ ý kiến gì để mà chống lại (R) [13; tr.346]
Ngữ liệu trên là một lập luận gồm các thành phần P, Q và R Trong lập
luận trên, nhưng là kết tử nghịch hướng, đánh dấu quan hệ trái chiều giữa
P và Q với R
Trang 311.2 Lập luận và hành vi ngôn ngữ
Trong đời sống hàng ngày, con người thực hiện rất nhiều hành độngkhác nhau như: dọn nhà, pha nước, viết, … gọi chung là hành động vật lý.Bên cạnh đó còn có hành động tnh thần như: suy nghĩ, tư duy,… Trong sốcác hành động của con người có một loại hành động rất đặc biệt đó là hànhđộng ngôn ngữ (hay còn gọi là hành vi ngôn ngữ, hành động nói) Hành vingôn ngữ hành vi được thực hiện nhờ phương tiện ngôn ngữ
Theo Đỗ Hữu Châu, hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiệnngay khi nói năng [4; tr.89]
Ví dụ:
(39) Sp1: Mấy giờ rồi?
Sp2: Mới có 5 giờ thôi
Như vậy ở đây, sp1 đã thực hiện hành động hỏi ngay trong phát ngôn
“mấy giờ rồi?” Hành động hỏi như vậy là hành động ở lời
- Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa làchúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận
Ví dụ: Khi chúng ta hỏi ai về một vấn đề nào đó thì người được hỏi cónhiệm vụ phải trả lời chúng ta, cho dù trả lời không biết Nếu người được hỏikhông trả lời bị xem là không lịch sự
- Hành vi ở lời có ý định, quy ước và thể chế của chúng không hiểnngôn mà quy tắc vận hành chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữtuân theo một cách không tự giác
- Theo O Ducrot, hành vi ở lời thay đổi tư cách pháp nhân của ngườiđối thoại Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ vàquyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời đó
Ví dụ:
Trang 32Khi ta ra lệnh cho một ai đó, bản thân chúng ta phải chịu tráchnhiệm về lệnh của mình Đồng thời, chúng ta đặt người nghe vào tình trạngphải thực hiện lời ra lệnh của mình.
Khi ta hứa với một ai đó về một vấn đề nào đó Chính lúc hưa ấy, ta đã
bị ràng buộc vào trách nhiệm phải thực hiện được lời hứa mà mình nói ra.Đồng thời người nghe có quyền lợi chờ đợi, để được hưởng kết quả ấy
- Trong hoạt động giao tiếp bình thường, các phát ngôn kế tếp
nhau của các nhân vật giao tếp không chỉ liên kết với nhau về nội dung giao tiếp mà còn phải liên kết với nhau về hành động ở lời [7; tr.45].
- Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp luân phiên nhauthực hiện hành vi ở lời
1.2.1 Lập luận và hành vi ở lời trực tiếp
* Định nghĩa lập luận hành vi ở lời trực tiếp
Hành vi ở lời trực tiếp là hành vi được sử dụng để thực hiện hành vingôn ngữ một cách trực tếp, tức hành vi ở lời chứa các dấu hiệu đặctrưng cho hành vi ngôn ngữ nào thì được sử dụng để đạt đến hiệu lực ở lờicủa đúng hành động ngôn ngữ ấy
Ví dụ:
(40) Ở Hà Nội có lễ hội triển lãm sách Hoa hỏi Lan:
Hoa: Mai cậu có đi Hà Nội Không? (P)
Lan: Mai tớ có (R)
Câu trả lời của Lan được coi là hành vi ở lời trực tiếp Nó thể hiện hành
vi ngôn ngữ một cách trực tiếp và đạt được hiệu lực ở lời của đúng hànhđộng ngôn ngữ câu hỏi của Hoa
* Biểu thức hành vi ở lời trực tiếp tường minh
Ta có hai biểu thức hành vi ngôn ngữ sau:
(41) Tôi khuyên anh nên đi khám
Trang 33(42) Anh đi khám đi.
Ta thấy cả hai biểu thức hành vi ở lời trên đều đặc trưng cho các hànhđộng ngôn ngữ thuộc nhóm điều khiển Tuy nhiên, ở biểu thức (36) có chứadấu hiệu hình thức để người nhận thấy rõ (một cách tường minh) hành độngngôn ngữ của người phát thực hiện là “yêu cầu” Ở biểu thức ngôn hành (37),nếu chỉ căn cứ vào hành thứ, người nhận không nhận biết được chínhxác hành động ngôn ngữ cụ thể mà người phát thực hiện là hành động nào(yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, hay khuyên,…) trong nhóm điều khiển (người nhận
tự phải suy ra từ các đặc điểm cụ thể của cuộc giao tiếp) Biểu thức ngônhành trực tiếp (hay hành động ở lời trực tiếp) chứa dấu hiệu tường minh hóahành động ngôn ngữ (như ở biểu thức ngôn hành 37) được gọi là biểu thứcngôn hành trực tiếp tường minh
1.2.2 Lập luận và hành vi ở lời gián tiếp
a Định nghĩa
Theo Đỗ Hữu Châu, hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặthành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác đượcgọi là hiện tượng sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp Một hành viđược sử dụng gián tếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện mộthành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào nhữnghiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu
Trang 34Con 2
- Con không chịu đâu, mẹ phải giữ đúng lời hứa chứ!
(44) Trong một phòng kí túc xá sinh viên, đã khuya rồi 23h mà có một số bạn chưa đi ngủ vẫn ngồi chơi và nói chuyện rất to:
Hoa 1 (Một cô bạn trong phòng lên tiếng)
- Mấy giờ rồi nhỉ?
Lan 1 (một cô bạn chưa ngủ)
- Thôi bọn mình đi ngủ đi
Nga (một cô bạn khác trong phòng)
- Cứ nói chuyện đi, vẫn sớm mà
Lan 2:
- Thôi có người nhắc khéo rồi kìa
Hoa 2:
- Đúng là dân khoa Văn, suy nghĩ sâu sa quá.
Ở ví dụ (43) con 1 đã là hành vi ở lời trực tếp là thông báo nhưng gián
tếp là “đòi” (mẹ cho đi chơi công viên) Câu trả lời của mẹ trực tếp là đánhgiá nhưng gián tếp là hành vi ở lời từ chối (lời đòi hỏi của con), hoặc hoãnviệc mình đã hứa với con từ trước
Ở ví dụ (44) Hoa đã dùng hành vi ở lời trực tiếp có mục đích là để hỏi
nhưng đồng thời nhằm làm cho các nữ cùng phòng nắm được hiệu lực ở lời
gián tiếp là “họ hãy đi ngủ vì quá khuya rồi” hay còn gọi là “nhắc khéo” Hiệu lực gián tếp này đã đạt hiệu quả và được Lan “giải thích” rõ ra: “có
người nhắc khéo rồi” Như vậy, ta thấy hành vi ở lời “nhắc khéo” là hành vi ở
lời gián tiếp KL hàm ẩn ở đây là: “ khuya quá rồi mọi người đi ngủ đi.
* Các đặc điểm hành vi ở lời gián tiếp:
- Hành vi ngôn ngôn ngữ gián tiếp lệ thuộc rất mạnh vào ngữ cảnh [4; tr.150]
Ví dụ:
Trang 35(45) Lời nhắc khéo: Giá như bây giờ có một chiếc ô thì tốt biết mấy chỉ thể
hiện hành vi gián tiếp thể hiện sự giúp đỡ của một cô gái trước mặt mộtchàng trai mình đang đi cùng Người con trai này tuy không phải người gầngũi với cô gái (như người yêu) nhưng cũng không hoàn toàn khác tranglứa, khác cộng động xã hội với cô ta (có thể là một người bạn) Chínhhoàn cảnh ấy (trời nắng rất to) đã tạo ra hành vi ngôn ngữ gián tiếp, nếukhông ở trong hoàn cảnh như vậy chắc hẳn cô ta sẽ không “mong muốn”mặc dù cô ta đang cần sự giúp đỡ
- Khi nghiên cứu hành vi ở lời gián tiếp phải chú ý tới quan hệ ngữ nghĩa giữacác thành phần của nội dung mệnh đề trong biểu thức ngữ vi trực tếp vớingữ cảnh
- Không nên nghĩ rằng hành vi ngôn ngữ gián tiếp là một hiện tượng riêng rẽ,chỉ do hành vi ngôn ngữ trực tiếp tạo ra Trong thực tế, nó còn bị quy địnhbởi lý thuyết lập luận, bởi các phương châm hội thoại, bởi phép lịch sự, bởicác quy tắc liên kết, bởi các quy tắc hội thoại và cả bởi logic nữa
1.3 Vài nét về tác giả Nam Cao
Nam Cao là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học ViệtNam nói chung và văn học hiện thực phê phán 1930-1945 nói riêng Ông đã
có những đóng góp đáng kể vào quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Namtrên hành trình phát triển văn học thế kỉ XX Những sáng tác của Nam Caotheo dòng chảy của thời gian không hề mai một hay bị lãng quên mà nó luôntrở thành đối tượng nghiên cứu cho các nhà văn, nhà lý luận phê bìnhvăn học, các thế hệ giáo viên và học sinh tìm tòi nghiên cứu
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh năm 1917 trong một gia đìnhtrung nông, tại làng Đại Hoàng, thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, Phủ
Trang 36Nhân, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam) Bút danh Nam Cao do ghép hai chữ đầu tên huyện và tổng mà thành.
Nam Cao xuất thân trong một gia đình bậc trung Công giáo, cha làmnghề thợ mộc, bốc thuốc Mẹ làm vườn, dệt vải Nam Cao là con trai của mộtgia đình đông anh em, có 4 em trai và 3 em gái Trong số đó chỉ Nam Caođược ăn học Nam Cao học sơ học ở trường làng Đến cấp tiểu học và bậctrung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồitrường Thành Chung Nhưng vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành Chung ông
đã phải về nhà chữa bệnh, rồi cưới vợ năm 18 tuổi
Nam Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với vănchương đầu tiên vì mục đích mưu sinh Năm 1941, Nam Cao viết tập truyện
đầu tay Đôi lứa xứng đôi, (ban đầu tên trong bản thảo là Cái lò gạch cũ), với
bút danh Nam Cao do NXB Đời mới Hà Nội ấn hành được đón nhận như làmột hiện tượng văn học thời đó Sau đó, khi in lại Nam Cao đã lấy tên nhân
vật chính để đặt tên cho tập truyện “Chí Phèo”.
Tháng 4/1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và là mộttrong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này
Năm 1946, Nam Cao ra Hà Nội tiếp tục hoạt động trong Hội Văn hóaCứu quốc Tiếp đó, ông vào miền Nam với tư cách phóng viên Ở đây, Nam
Cao viết và gửi in truyện ngắn Nỗi truân chuyên của khách má hồng trên tạp chí Tiên Phong, in tập truyện ngắn Cười ở NXB Minh Đức, đồng thời in lại tập truyện ngắn Chí Phèo Năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc Ông là thư ký
tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc, viết Nhật ký ở rừng Năm 1948, Nam Caogia nhập Đảng cộng sản Việt Nam
Ngày 30/11/1951, trên đường đi công tác vào vùng địch hậu liênkhu III, Nam Cao cùng đoàn cán bộ thuế nông nghiệp bị phục kích và đã anhdũng hi sinh
Trang 37Năm 1996, Nam Cao đã được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học, Nghệ thuật cho các tác phẩm: Đôi mắt (truyện ngắn), Sống
mòn (tểu thuyết), Truyện ngắn chọn lọc: Chí Phèo, Nửa đêm.
1.3.2 Phong cách sáng tác
Trong nền văn xuôi Việt Nam, Nam Cao là nhà văn có phong cách độcđáo Nét độc đáo đó được thể hiện cụ thể như sau:
Nam Cao đặc biệt quan tâm tới đời sống tinh thần của con người
Đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý tới hoạt động bên trong của conngười, coi đó là nguyên nhân của những hoạt động bên ngoài Quan tâm tớiđời sống tinh thần của con người, luôn hứng thú khám phá “con ngườitrong con người” Đây là phong cách rất độc đáo của Nam Cao
Ông thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh trong đời sống.Nhưng cũng chính từ cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh ấy đã được Nam Cao khéo léođưa vào các tác phẩm của mình, qua đó làm nổi bật vấn đề xã hội có ýnghĩa to lớn triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật
Ông có giọng điệu riêng, đó là giọng buồn thương, chua chát Ông cóphong cách nghệ thuật triết lí trữ tình sắc lạnh Có nhà nghiên cứu đã ví ôngvới nhà văn Lỗ Tấn của Trung Quốc với phong cách Téc-mốt (Phiên âm tếngviệt có nghĩa là cái phích nước)
Đặc biệt, ông có quan niệm nghệ thuật là “Nghệ thuật vị nhân sinh(nghệ thuật phải viết về con người và hướng đến những điều tốt đẹp của conngười); ông phê phán quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” ông cónhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện truyện ngắn và tiểuthuyết Việt Nam trên quá trình hiện đại hóa ở nửa đầu thế kỉ XX
Trang 38CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA KẾT TỬ ĐỒNG HƯỚNG LẬP LUẬN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
2.1 Đặc điểm cấu trúc
2.1.1 Cấu trúc lập luận đơn
a Khái niệm
Lập luận đơn là lập luận chỉ có một kết luận [4] Như vậy, đối với kiểu
cấu trúc này thì mỗi vế của lập luận sẽ đóng vai trò là một LC hay một KL,đồng thời trong kết cấu nội tại của LC hay KL đó không chứa những lập luận
bộ phận Kết tử lập luận đồng hướng trong cấu trúc của lập luận đơn đòi hỏicấu trúc đó phải xuất hiện ít nhất hai LC và chỉ có một KL
Ta có thể chứng minh qua ví dụ sau:
(46) Thời buổi này, khổ đến đâu mà không phải chịu? (P1) Vả lại nhà
mình khổ mãi quen đi rồi (P2) Tìm được no, ăn no: tìm được đói, ăn đói (P3) Chẳng tội gì mà lo, mình ạ (R) [13; tr.383]
Ở hai ví dụ (41) là những kết tử đồng hướng trong cấu trúc của lậpluận đơn bao gồm: ba LC và một KL, các LC giải thích và bổ sung ý nghĩacho
KL
b Phân loại
b.1 Lập luận có luận chứa KTĐH cùng hướng tới KL tường minh
Đây là loại lập luận tiêu dễ nhận thấy nhất của lập luận đơn giản Sau đây
là một vài ví dụ:
(47) Nhưng chưa hiểu họ có kiêng kị gì không, anh chàng không dám
nhờ ông ngồi để cho anh vẽ (P1) Vả lại, cũng chẳng biết nói thế nào để cho
ông hiểu (P2) Anh chàng đành để đến khi nào đôi bên quen thuộc nhau hơn đã (R) [13; tr.435]