1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp nhận tác phẩm cánh đồng bất tận của nguyễn ngọc tư (2017)

87 307 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nên, với mỹ học tiếp nhận, mọi tiếpnhận văn học là ngang bằng nhau, khác nhau; vì thế, không nên so sánh hơn kém.Chỉ có điều, nếu kinh nghiệm thẩm mỹ của anh phong phú, sâu dày, thì

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Người hướng dẫn khoa học:

TS MAI THỊ HỒNG TUYẾT

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc của mình tới cô giáo hướng

dẫn TS Mai Thị Hồng Tuyết – giảng viên tổ Lí luận văn học, người đã tận tình

giúp đỡ hướng dẫn em hoàn thành khoá luận này

Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trong tổ Lí luận văn học cùng toàn thể cácthầy cô trong khoa Ngữ Văn – Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợicho em trong quá trình học tập, nghiên cứu

Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Ngọc Châu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong khoá luận này là kết quả

nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Mai Thị Hồng Tuyết.

Đề tài này không trùng với kết quả của tác giả khác Tôi xin cam đoan rằng:

- Khoá luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi

- Mọi tư liệu trích dẫn trong khoá luận là hoàn toàn trung thực

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Ngọc Châu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa của khóa luận 5

7 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MỸ HỌC TIẾP NHẬN 6

1.1 Sự ra đời của mỹ học tiếp nhận 6

1.2 Sự giới thiệu và vận dụng lí thuyết tiếp nhậ n ở Việt Nam 12

1.3 Một số thuật ngữ cơ bản khi nghiên cứu mỹ học tiếp nhận 21

Chương 2 CÁC KHUYNH HƯỚNG TIẾP NHẬN TÁC PHẨM CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 24

2.1 Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn xã hội học dung tục 24

2.1.1 Khái quát về khuynh hướng xã hội học dung tục trong tiếp nhận văn học

24 2.1.2 Vấn đề tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn xã hội học dung tục 24

2.2 Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn phân tâm học 27

2.2.1 Khái quát về khuynh hướng tiếp nhận tác phẩm văn học từ lí thuyết phân tâm học 27

2.2.2 Vấn đề tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ lí thuyết phân tâm học 28

2.3 Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ lí thuyết nữ quyền 32

2.3.1 Khái quát về phê bình nữ quyền 32

2.3.2 Vấn đề tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ lí thuyết nữ quyền 34

2.4 Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn văn hoá 39

2.4.1 Khái quát về khuynh hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa

39 2.4.2 Vấn đề tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn văn hóa 40

2.5 Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn thi pháp học 43

Trang 5

2.5.1 Khái quát về thi pháp học 43

2.5.2 Vấn đề tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ lí thuyết thi pháp học 45

2.6 Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn liên văn bản 51

2.6.1 Khái quát về lí thuyết liên văn bản 51

2.6.2 Vấn đề tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ lí thuyết liên văn bản 52

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 7

1.1 Mĩ học tiếp nhận ra đời ở Đức vào những năm 60 và hưng thịnh vàonhững năm 70 của thế kỷ 20, lan tỏa ra nhiều nước trên thế giới và thu được nhữngthành tựu nghiên cứu quan trọng, tiêu biểu là ở Mĩ, chủ yếu chịu ảnh hưởng tưtưởng của Iser đã hình thành nên khuynh hướng Phê bình theo phản ứng người đọc.Với việc đề cao vấn đề tiếp nhận, vai trò tiếp nhận của độc giả của mĩ học tiếp nhận

đã góp phần giải quyết những bế tắc trong giới nghiên cứu văn học thời kì đó Líthuyết về mĩ học tiếp nhận đã lan ra rất nhiều nước trên thế giới, trong đó có ViệtNam Sự giới thiệu và vận dụng mĩ học tiếp nhận ở Việt Nam đóng một vai trò quantrọng trong việc nghiên cứu cũng như giải quyết những vấn đề văn học phức tạp vàgây nhiều tranh cãi

1.2 Hơn ba mươi năm trở lại đây, văn học Việt Nam có nhiều biến chuyển đadạng và phức tạp Khác với văn học của những thời kì trước, văn học thời kì này đãthể hiện những cái nhìn mới về hiện thực đời sống, về con người Đề tài thay đổi và

mở rộng, cảm hứng đời tư, thế sự được đề cao Cái nhìn của tác giả cũng có sự thayđổi, hiện thực được khai thác sâu hơn, chân thực hơn, đa chiều hơn Bởi thế văn họcthời kì này có những màu sắc phong phú đồng thời cũng từng gây nhiều tranhluận Trong nền văn học Việt Nam thời kì đổi mới, khoảng mười năm đầu thế kỷXXI người yêu văn chương cũng như giới phê bình nghiên cứu không còn xa lạ vớiNguyễn Ngọc Tư Tên tuổi của chị gắn với những tác phẩm có dấu ấn với bạn đọc

và giới phê bình Cánh đồng bất tận là một tác phẩm thành công nhất của Nguyễn

Ngọc Tư và được coi là một trong những hiện tượng văn học phức tạp và chưa baogiờ giới phê bình hết tranh cãi

Cũng chính vì lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tiếp nhận tác phẩm

Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư” để nghiên cứu với mục đích tìm hiểu

thêm về các hướng tiếp nhận truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư.

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn ngọc Tư là một nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam, chị được

biết đến nhiều nhất bởi tập truyện gây tranh cãi mang tên Cánh đồng bất tận.

Trang 8

“Cánh đồng bất tận” (2005)… Đến thời điểm sau này chị vẫn tiếp tục sáng tác như tập truyện ngắn “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” (2008), “Yêu người ngóng núi” (2009), “Khói trời lộng lẫy” (2010).

Nguyễn Ngọc Tư viết cả truyện ngắn và tạp văn Tuy nhiên, truyện ngắn vẫnđược người đọc quan tâm hơn cả Bởi nhiều lí do mà cho đến nay những bài luậnnghiên cứu về tác phẩm còn chưa nhiều

Cho đến bây giờ, giới phê bình vẫn còn dè dặt khiêm tốn trong việc tiếp cậnđánh giá sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Do vậy chúng tôi cũng chỉ mới thuthập được một số bài viết, ý kiến đánh giá của một số tác giả trên các tạp chí, cácbài đăng trên báo điện tử Hầu hết đó là những bài viết nhằm khẳng định giá trị củatác phẩm như: Ông Trần Hữu Dũng (Việt kiều Mĩ), một giáo sư yêu văn học nướcnhà và đặc biệt say mê văn chương của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư đã lập trang

web Văn học và giáo dục trong đó có hẳn một tủ sách của Nguyễn Ngọc Tư Trong

đó ông viết: “Nguyễn Ngọc Tư - Đặc sản miền Nam” là một bài viết vô cùng đặc sắc Ông cho rằng: “trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta, ở khắp mọi phương trời, tìm được quê hương nơi tâm tưởng, những tình tự ngủ quên trong lòng mình, những kỉ niệm mà mình tưởng như không ai chia sẻ…” Trên báo Văn nghệ số

39 ra ngày 24 tháng 9 năm 2005, tác giả Hoàng Thiên Nga có bài: “Đọc Nguyễn

Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận” Tác giả đề cập đến: “Các nhân vật trong truyện đầy tính thiện nhưng cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo, dốt nát, lam lũ và điều kiện sống ngột ngạt tù túng xô đẩy người này là nạn nhân của người kia” Trong bài viết

“Cánh đồng bất tận và những vấn đề liên quan” của tác giả Hà Quảng đăng trên trang EVăn của báo điện tử Vnexpress.Net, tác giả đã nhận xét : “Các nhân vật trong Cánh đồng bất tận không phải nhân vật hiện lên trần trụi, hiện sinh Con

Trang 9

người hành xử theo bản năng nhiều hơn là ý thức xã hội Mà ai cũng có cái tốt cái xấu chứ không hoàn toàn xấu Ta gặp họ không ít lần trong cuộc đời và họ không đáng làm ta xa lánh chứ không nói là đáng lên án” Tạp chí Phật giáo số 11 ra ngày

28 tháng 12 năm 2005 có bài viết: “Nỗi đau trong Cánh đồng bất tận” của tác giả

Thảo Vy nói về màu sắc Phật giáo trong tác phẩm “nỗi hận”, “sự sợ hãi”, “sự hổthẹn”, “sự tối tăm” Qua đó thấy được thông điệp mà tác giả gửi đầy chất nhân văn

Bên cạnh đó là các bài báo và ý kiến bạn đọc xoay quanh vấn đề phủ địnhgiá trị tác phẩm và kiểm điểm nữ nhà văn được đăng trên báo Tuổi trẻ, Tiền phong,

các trang web… Trên báo Tuổi trẻ số ra ngày 21 tháng 4 năm 2006 có bài viết

“Nguyễn Ngọc Tư bị kiểm điểm nghiêm khắc vì điều gì?” Bài báo đã trích dẫn báo

cáo số 35 ngày 27-3-2006 của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Cà Mau về những hạn chếcủa truyện ngắn như: miêu tả cái xấu của xã hội nông thôn, câu từ hơi nặng nề, để

ám chỉ con người bần cùng túng quẫn; Cánh đồng bất tận thiếu tính tư tưởng, giáo

dục xã hội, giáo dục con người… Cùng với một số bài báo khác như: “Cánh đồng bất tận không phản động nhưng…” đăng trên báo Tuổi trẻ, số ra ngày 8 tháng 4

năm 2006 của tác giả Trần Đức

Ngoài ra, qua tìm hiểu chúng tôi thống kê và tiếp thu được một số khoá luận

Trang 10

sau:

- Đề tài “Cánh đồng bất tận từ văn học đến điện ảnh” của tác giả Lê Thanh

Minh, trường ĐHSP Hà Nội 2 (2011)

- Đề tài “Thế giới nghệ thuật trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư” của tác giả Phạm Thị Vân, trường ĐHSP Hà Nội 2 (2007).

- Đề tài “Tiếp nhận tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam” của

tác giả Chu Thị Hằng, trường ĐHSP Hà Nội 2 (2015)

Tuy nhiên, ở mỗi đề tài nghiên cứu trên lại có những hướng tiếp cận rải rác

khác nhau Trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy đề tài “Tiếp nhận tác

phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư” dường như ít có đề tài nào đề cập

đến hoặc nếu có thì vẫn chưa nghiên cứu rộng rãi Do đó trong công trình nàychúng tôi dựa trên các tư liệu sẵn có để giải quyết vấn đề

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu “Tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc

Tư”, chúng tôi đi giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Khái quát lại lí thuyết tiếp nhận trên thế giới và sự vận dụng ở Việt Nam.

- Tiếp cận tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư từ các góc

nhìn: Xã hội học dung tục, phân tâm học, từ lí thuyết nữ quyền, văn hoá, thi pháphọc và liên văn bản

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tập trung tìm hiểu về các khuynh hướng tiếp nhận tác phẩm Cánh

đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư qua các thời kì.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện tìm tư liệu và khuôn khổ của khóa luận mà chúng tôi chỉ tập

trung vào những hướng tiếp nhận chính đối với tác phẩm Cánh đồng bất tận của

nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện khóa luận chúng tôi thực hiện một số phương pháp

cụ thể sau:

- Phương pháp phân tính đối tượng theo quan điểm hệ thống

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích tổng hợp

Trang 12

6 Ý nghĩa của khóa luận

Khoá luận đưa ra một cái nhìn có tính chất hệ thống, toàn diện về các hướng

tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể

dùng để làm tài liệu cho việc tìm hiểu tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, những vấn

đề có liên quan đến tác giả và trên cơ sở đó ta có thể tìm hiểu những hiện tượng vănhọc khác

7 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm haichương:

Chương 1: Khái quát chung về mỹ học tiếp nhận

Chương 2: Các khuynh hướng tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận của

Nguyễn Ngọc Tư

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MỸ HỌC TIẾP NHẬN1.1 Sự ra đời của mỹ học tiếp nhận

Quá trình hình thành và phát triển của chuyên ngành lí luận văn học đã vàđang nảy sinh nhiều lí thuyết của nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng nghiêncứu Một trong những lí thuyết đã góp phần lấp khoảng trống của lí luận văn học và

lịch sử văn học là lí thuyết mỹ học tiếp nhận Mỹ học tiếp nhận là “một khuynh hướng trong nghiên cứu và phê bình văn học, xuất phát từ ý tưởng theo đó, tác phẩm: “nảy sinh”, “được thực hiện” chỉ trong quá trình “gặp”, xúc tiếp của tác phẩm văn học với độc giả, và đến lượt mình, nhờ “liên hệ ngược”, độc giả lại tác động đến tác phẩm, do vậy, độc giả quyết định tính chất lịch sử cụ thể của việc tiếp nhận và tồn tại của tác phẩm Như thế đối tượng nghiên cứu chủ yếu của mỹ học tiếp nhận là sự tiếp nhận, tức là sự cảm nhận tác phẩm văn học của độc giả hoặc thính giả” [4; 81].

Tuy hệ thống lí thuyết mỹ học tiếp nhận mới được xác lập vào những năm 60của thế kỷ XX, nhưng nó đã nhanh chóng được vận dụng vào nghiên cứu và giảngdạy văn học một cách có hiệu quả Mỹ học tiếp nhận được thừa nhận như là một líthuyết mới về tiếp nhận văn học, song nó có tiền đề ngay từ thời cổ đại Hy Lạp Lầnđầu tiên trong lịch sử mỹ học của nhân loại, Platon – một triết gia Hy Lạp cổ đại đãđưa ra các quan điểm mỹ học của mình, trong đó đề cập đến sự tác động của nghệthuật đối với công chúng độc giả Cụ thể hơn, Platon còn phân loại các thị hiếu từthấp đến cao theo các tiêu chí: lứa tuổi, trình độ văn hoá, địa vị xã hội của côngchúng độc giả Tuy vậy, điều đáng tiếc là Platon đã hạ thấp vai trò của văn học nghệthuật khi ông cho rằng: nghệ thuật là triết học nghèo nàn, còn triết học mới là nghệthuật xuất sắc Điều này cũng phần nào nói lên sự hạn chế bởi tính chất nguyên hợpcủa các khoa học thời ấy

Trang 14

Aristote đồ đệ của Platon đã tiếp tục sự nghiệp của thầy mình bằng lí thuyết

về Catharsis Aristote là người đầu tiên đưa thuật ngữ catharsis vào mĩ học khi ôngcho rằng mọi vở kịch với những tình tiết làm thức tỉnh tình thương và nỗi sợ hãi vàqua đó thực hiện sự thanh lọc đối với những cảm xúc ấy Từ đó ta hiểu catharsisnhư là hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm nghệ thuật nói chung và văn chương nóiriêng đối với người thưởng thức nghệ thuật hay tiếp nhận các tác phẩm bi kịch.Ngoài ra, “Aristote cho rằng khi thưởng thức tác phẩm người đọc cảm thấy thú vị,

là vì vừa xem, họ vừa đoán định được tác phẩm đang nói đến người và việc nào đó

ở ngoài đời… Rải rác về sau vẫn thấy không ít những ý kiến càng nhấn mạnh vaitrò của người đọc” [3; 326] Quan niệm của nhà thi học này mới chỉ là thuyết môphỏng, tái hiện hay nói cách khác, quan niệm chỉ dừng lại tập trung vào mối quan

hệ giữa tác phẩm và hiện thực mà thôi

Mỹ học tiếp nhận ra đời dựa trên cơ sở hợp thành của ba khuynh hướng líluận tiếp cận tác phẩm và người đọc Khuynh hướng lí luận thứ nhất là xem tácphẩm văn chương như là sản phẩm nghệ thuật được sáng tác ra để tiếp nhận,thưởng thức tác phẩm như là một văn bản, một thông báo nghệ thuật như một mãđặc thù, hướng tới sự tiếp nhận của người đọc Ở khuynh hướng lí luận này có tiêntuổi của Roman Ingarden (1931), RJacobson (1959), Vugotski (1965), Z-Niro(1974), M.Policob (1978), Saparob (1968), Mikhailova (1976) Khuynh hướng líluận thứ hai, nghiêng hẳn về việc đọc tác phẩm, cắt nghĩa tác phẩm bằng các quyluật của giao tiếp và tiếp nhận, đi vào tâm lí học tiếp nhận, giải thích học, sự đồngsáng tạo của người đọc Một số tên tuổi nổi lên ở khuynh hướng này như nhànghiên cứu Potebnia (1894), Gadamer (160), H.RJauss (1967), W.Iser (1976),Boreb (1981) Khuynh hướng lí luận thứ ba nghiên cứu các quy luật và các vấn đềlịch sử - xã hội của tiếp nhận như cách đọc tâm phân học, cách đọc xã hội học, cách

đọc “phê bình mới” Các tên tuổi ở khuynh hướng này như Plekhanob (1918), Eliot

(1919), Risot (1924),

Ngọn nguồn của mỹ học tiếp nhận có giải thích học, dựa vào “triết học sựsống” của W.Dilthey và hiện tượng học của E.Husserl, có chủ nghĩa cấu trúc củatrường phái Prague, chủ nghĩa hình thức Nga những năm 10 – 20 của thế kỉ XX

Trang 15

“Chủ nghĩa hình thức Nga, phê bình mới rồi chủ nghĩa cấu trúc… chỉ tập trung vàomối quan hệ bên trong, nội tại của chính văn bản tác phẩm Độc tôn văn bản tácphẩm, Phê bình mới còn phủ nhận luôn sự tiếp nhận của người đọc, cho đó đều lànhững “cảm thụ ngộ nhận”.

Mỹ học tiếp nhận ra đời, với các đại diện lớn, phải kể đến nhà nghiên cứungười Ba Lan Roman Ingarden (1893-1970) Ông khẳng định hoạt động đọc là mộthoạt động chủ động chứ không thụ động, người đọc có tư thế tự trị và vì vậy, không

lệ thuộc ý đồ sáng tạo của tác giả Mỗi người đọc là một chủ thể, có ý thức khácnhau, có học vấn, kinh nghiệm sống, quan niệm nghệ thuật, số phận cuộc đời, giớitính, lứa tuổi… khác nhau, chi phối kinh nghiệm thẩm mỹ mỗi người Chính kinhnghiệm thẩm mỹ khác nhau nên khi đọc văn bản thì sẽ có nhiều cách hiểu khácnhạu Điều này là một chân lý hiển nhiên Thế nên, với mỹ học tiếp nhận, mọi tiếpnhận văn học là ngang bằng nhau, khác nhau; vì thế, không nên so sánh hơn kém.Chỉ có điều, nếu kinh nghiệm thẩm mỹ của anh phong phú, sâu dày, thì khi đọc vănbản, anh sẽ có cho mình một tác phẩm sâu sắc, với đa tầng ý nghĩa, như trái câyngọt ngào, trĩu cành trong văn bản được người đọc tiếp lấy; trái lại, kinh nghiệmthẩm mỹ nông cạn, thì chỉ có những thân cây tàn úạ Ông coi trọng “vai trò tiếp

nhận của người đọc” Trong công trình Về việc nhận thức tác phẩm văn học nghệ thuật , ông là người đã tu chỉnh hai khái niệm cụ thể và tái lập làm thành hai mặt

của việc người nhận (Adressat) tiếp nhận tác phẩm Ingarden chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ hiện tượng học của Husserl, từ ý tưởng về tính chủ định (intentional) sau đó trởthành ý tưởng cơ sở cho tất cả những ai tiếp tục chủ trương mỹ học tiếp nhận Chính

ý tưởng này là luận chứng triết học cho bản chất giao tiếp của nghệ thuật, giải thíchtính chất tích cực, sáng tạo cúa sự tiếp nhận ở độc giả Ý tưởng về vai trò sáng tạocủa cá nhân trong việc nhận thức thế giới đã được mỹ học tiếp nhận tiếp thu, đặtvào trung tâm chú ý vấn đề sự tồn tại của tác phẩm như là kết quả giao tiếp giữa tácphẩm và độc giả, như là việc tạo ra “hàm nghĩa của tác phẩm” bởi độc giả

Đầu những năm 40 thế kỷ XX, một đại diện của chủ nghĩa cấu trúc trườngphái Prague là Felix Vodicka cho rằng không phải tất cả những sự cụ thể hóa có thể

Trang 16

xét từ góc độ những ý đồ của cá nhân độc giả, đều có thể trở thành mục tiêu nghiêncứu, mà chỉ có những sự cụ thể hóa nào cho thấy có diễn ra sự “gặp gỡ” cấu trúc tácphẩm và cấu trúc các chuẩn mực văn học do thời đại lịch sự cụ thể quy định, nhữngchuẩn mực mà người tiếp nhận là đại diện Theo cách hiểu của nhà khoa học, ngườitiếp nhận như thế, người đảm bảo cho chuẩn mực văn học hiện hành, là nhà phêbình văn học (“người bảo trợ các chuẩn mực văn học”).

Một trong những phần cốt yếu của mỹ học tiếp nhận là các vấn đề của giảithích học, nó giống như chiếc cầu nhỏ bắc từ cấu trúc tác phẩm sang người tiếp

nhận, người mà sẽ hiểu cấu trúc ấy Nhà nghiên cứu H.J.Gadamer ở công trình Lịch

sử tác động nghệ thuật đã đưa ra chân lí khoa học xã hội nhân văn (trong đó có

khoa học về văn học) đem đối lập một cách dứt khoát với “tri thức phương pháp”như là tổng số thông tin về sự kiện có được bởi các khoa học tự nhiên TheoGadamer, hiểu văn bản có nghĩa là “áp dụng”, “đặt để” nó vào tình thế cùng vớingười lí giải (người tiếp nhận), cũng giống như người luật sư “áp dụng” (cụ thể hóa)

bộ luật, nhà thần học áp dụng “Lời Thiêng” Quan niệm của Gadamer mang tínhchất hai mặt Một mặt, sự hiểu được ông xác định như sự tự biểu hiện của người lígiải với sự hỗ trợ của những bằng cứ tư liệu của tư liệu quá khứ, hoàn toàn khác vớichủ nghĩa lãng mạn Chống lại quan niệm về “sự thân thuộc bí ẩn giữa những tâmhồn” tác giả và người lí giải tác giả, Gadamer yêu cầu cả hai cùng tham dự côngviệc chung: cùng chìm ngập vào “hàm nghĩa chung” và trên cơ sở ấy sẽ nảy sinh sự

tự hiểu Mặt khác đối với Gadamer “hàm nghĩa không trở thành đối tượng của một

sự phân tích thực sự khoa học, bởi vì các nhà nghiên cứu khoa học, lí thuyết và siêungôn ngữ của khoa học

Bước sang những năm 60 của thế kỉ XX, với thiên tiểu luận nổi tiếng “Lịch

sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học”, H.R.Jauss cùng với

những đồng nghiệp của mình như: W.Iser, Warning ở trường Đại học Konstanzcủa Cộng hoà liên bang Đức đã chính thức khai sinh một hướng mới trong nghiêncứu văn học Khuynh hướng mới đó là mỹ học tiếp nhận Có thể nói công trình nàycủa H.R.Jauss là một tác phẩm lí luận hoàn chỉnh nhất về những nguyên tắc mỹ học

Trang 17

của quy luật tiếp nhận văn học của người đọc từ trước đến nay Trong đó vai trò củađộc giả đối với sự phát triển của lịch sử văn chương được đề cập khá rõ nét Bêncạnh đó, “Họ phê phán thuyết văn bản trung tâm của Phê bình mới và chủ nghĩa cấutrúc và khẳng định rằng ý nghĩa của tác phẩm đươc sản sinh trong sự tương tác giữavăn bản với người đọc Trên cơ sở đó, Mỹ học tiếp nhận đã chuyển giao vị trítrung tâm từ văn bản sang người đọc và lịch sử văn học, do đó không phải là lịch sửcủa tác giả với những tác phẩm, mà là lịch sử tiếp nhận của người đọc” [3; 329] Mỹhọc tiếp nhận của trường phái này đặt mục tiêu cách tân và mở rộng sự phân tích củanghiên cứu văn học bằng cách đưa vào lược đồ quá trình văn học sử một bậc độc lậpmới, đó là độc giả Luận đề trung tâm là: giá trị thẩm mỹ, tác động thẩm mỹ và tác

động văn học sử của các tác phẩm đều dựa trên cơ sở sự khác biệt giữa tầm chờ đợi

(tầm đón nhận) của tác phẩm và độc giả, được thực hiện dưới dạng kinh nghiệmthẩm mỹ và kinh nghiệm sống thực tế mà người đọc có được Sau này, dưới ảnhhưởng các cuộc thảo luận xung quanh tư tưởng của trường phái Konstanz, Juus đãbiến điệu quan niệm của mình, đặt lên hàng đầu quá trình giao tiếp giữa tác phẩm vàngười tiếp nhận nó trong khuôn khổ kình nghiệm thẩm mĩ, ở đó có các chức năngtạo chuẩn mực và khẳng định chuẩn mực có vai trò đặc biệt

Kết hợp phân tích đồng đại và lịch đại về sự tiếp nhận, H R Jauss đã miêu

tả lịch sử tiếp nhận như là quá trình khai triển dần dần tiềm năng nghĩa ở tác phẩmvốn được hiện thời hóa trong các giai đoạn lịch sử của sự tiếp nhận Theo ông, chỉ

có nhờ vào trung giới của độc giả, tác phẩm mới hòa hợp với tầm kinh nghiệm biếnđổi của một truyền thống nào đó mà trong khuôn khổ của nó liên tục diễn ra sự pháttriển của tiếp nhận và thụ động, đơn giản đến hiểu một cách có phê phán, tích cực;

từ chỗ dựa vào các chuẩn mực thẩm mỹ được thừa nhận các chuẩn mực mới

Tác phẩm văn học không thể coi như cái hoàn toàn mới, dựa vào những tínhiệu lộ liễu, hoặc ẩn dấu chưa đựng bên trong, nó tạo cho công chúng một cách tiếpnhận hoàn toàn xác định, nó kích thích độc giả nhớ lại những gì đã đọc, đưa độc giảvào một trạng thái xúc cảm nhất định

Trang 18

Theo H R Jauss, tương quan giữa tác phẩm và công chúng không phải chỉ làmột chiều mang tính chất quyết định luận Có những tác phẩm vào lúc xuất hiệnkhông hướng vào một công chúng nào thật xác định, nhưng những tác phẩm ấy pháhủy không thương tiếc tầm chờ đợi văn học quen thuộc, đối với điều kiện đó cầnphải có thời gian để sản sinh một công chúng, một môi trường độc giả có khả năngcoi tác phẩm ấy là “của mình” Tầm chờ đợi văn học khác với tầm chờ đợi thực tiễnsống ở chỗ, nó không chỉ bảo lưu kinh nghiệm trước kia, mà còn dự báo khả năngchưa có, mở rộng không gian hạn hẹp của hành vi xã hội, làm nảy sinh những mongmuốn, nhu cầu mới.

W Iser trong quá trình Cấu trúc vẫy gọi của văn bản đã đưa ra các phạm trù

bất định của tác phẩm văn học do R Ingarden nêu ra, cho rằng kinh nghiệm thẩm

mỹ được hình thành chính là nhờ có những “vùng bất định” hoặc những “điểmtrống” trong văn bản Ông đã dày công soạn thảo cả một danh mục những điều kiện

và những thủ pháp sản sinh những “điểm trống” của văn bản

Tuy nhiều luận điểm và định nghĩa đã được luận chứng khá kỹ, song mỹ họctiếp nhận với tư cách là hệ thống lí thuyết vẫn còn chưa hoàn chỉnh G Grimm đãnhận xét, những khó khăn gắn với việc xây dựng một lí thuyết tiếp nhận thống nhất,

có gốc rễ ở tính phức tạp và đa thành phần của chính đối tượng nghiên cứu, đòi hỏi

sự tiếp cận phân tính liên ngành và đa ngành Hiện tại các chuyên gia mới chỉ ghinhận một số lĩnh vực và khuynh hướng nghiên cứu của mỹ học tiếp nhận:

+ Mỹ học tiếp nhận nhận thức lí thuyết (giải thích học và hiện tượng học).+ Mỹ học tiếp nhận mô tả tái tạo (chủ nghĩa cấu trúc, người kế tục chủ nghĩahình thức Nga)

+ Mỹ học tiếp nhận xã hội học thực nghiệm ( xã hội học về thị hiếu học).+ Mỹ học tiếp nhận tâm lí (nghiên cứu tâm lí các thế hệ độc giả)

+ Mỹ học tiếp nhận lí thuyết giao tiếp (nghiên cứu kí hiệu học)

+ Mỹ học tiếp nhận thông tin xã hội học ( nghiên cứu vai trò xã hội của cácphương tiện thông tin đại chúng)

Trang 19

1.2 Sự giới thiệu và vận dụng lí thuyết tiếp nhận ở Việt Nam

Tiếp nhận văn học là một mảng lí luận văn học đang còn để ngỏ Trong bakhâu của một tiến trình văn học là nhà văn, tác phẩm và người đọc thì khâu cuối chỉthực sự được lý luận văn học quan tâm vài thập kỷ trở lại đây Mĩ học tiếp nhận là líthuyết văn học từng gây ảnh hưởng lớn trên thế giới suốt từ những năm cuối thập kỉ

60 đến cuối thập kỉ 80 ở phương Tây và rầm rộ ở Trung Quốc từ những năm 80 củathế kỉ 20 đến giữa thập niên đầu tiên của thế kỉ 21 Ở Việt Nam, mặc dù lí thuyếtnày xuất hiện khá sớm (1985), nhưng cho đến nay, dấu ấn của nó vẫn chưa thật sự

rõ ràng, có rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác, tận dụng Tái hiện chỉnh thểdiện mạo của Mĩ học tiếp nhận ở Việt Nam và lí giải nguyên nhân dẫn đến diệnmạo đó là cơ sở quan trọng để luận bàn về vấn đề tiếp nhận lí thuyết ngoại lai

Mĩ học tiếp nhận ra đời vào những năm 60 của thế kỉ 20 ở Đức gắn với nhânvật tiêu biểu là Hans Robert Jauss và Wolfwang Iser Các công trình lý luận của haiông và những người kế tục đường hướng này đã tạo lập một trường phái mới trongnghiên cứu văn học: trường phái Konstanz (Đức) Sự đóng góp của hai ông vànhững người kế tục làm cho từ ngữ Konstanz đã trở thành một thuật ngữ, một kháiniệm trong thế giới hàn lâm học viện nói chung, trở thành một trường phái khoahọc, lý luận văn học nổi tiếng Ở Việt Nam khoảng hai thập niên gần đây, một sốnhà nghiên cứu đã bắt đầu ý thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu văn họctheo hướng lịch sử chức năng Trong nhiều bài viết trên các tạp chí và một sốchuyên khảo xuất bản gần đây, lý thuyết tiếp nhận đã bước đầu được giới thiệu tớicông chúng Việt Nam

Người đề cập đến khâu tiếp nhận như là một phương pháp nghiên cứu mới ở

Việt Nam là Nguyễn Văn Hạnh trong một bài viết có tên Ý kiến của Lê-nin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống Ông viết “Giá trị của một tác phẩm thật ra không

phải chỉ đóng khung lại trong phạm vi sáng tác mà còn lan rộng ra đến phạm vi

thưởng thức” Chính ở khâu thưởng thức tác phẩm mới có ý nghĩa xã hội thực tế

của nó Quan điểm này tất yếu sẽ dẫn đến những tiêu chuẩn mới để đánh giá tácphẩm, đến một phương pháp nghiên cứu mới” [8] Ở một đoạn khác ông khẳng định

Trang 20

“trong khâu sáng tác giá trị là cố định và ở thế khả năng; ở trong khâu thưởng thức,trong quan hệ với quần chúng giá trị mới là hiện thực và biến đổi” [8] Ý kiến củaông trong bài viết này đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận trên Tạp chí Văn học

từ năm 1971 đến cuối năm 1972 với các ý kiến của Nam Mộc, Sơn Tùng, PhùngVăn Tửu, Nghĩa Nguyên, Nguyễn Minh, Văn Khang, Vũ Tuấn Anh… Nếu chúng

ta lưu ý tới một điều là trong thời gian này, nghĩa là vào những năm 70, lý thuyếttiếp nhận mới bắt đầu thịnh hành ở nhiều nước trên thế giới, thì chúng ta sẽ thấy sựnhạy cảm của tác giả và ý nghĩa thời sự của vấn đề do tác giả đặt ra Rất tiếc, tưtưởng này ngay sau đó không có cơ hội để phát triển

Tại miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975, Nguyễn Văn Trung cũng đã đề

cập đến vấn đề người đọc trong cuốn Lược Thảo văn học tập 2, nhưng cũng rất tiếc,

ông chỉ mới đụng chạm đến chứ chưa giải quyết trực diện và triệt để, chính vì thế

mà những nghiên cứu của ông không được hưởng ứng rộng rãi

Sau ngày đất nước thống nhất, giới nghiên cứu Việt Nam có điều kiện hơntrước trong việc tiếp cận những công trình nghiên cứu về mỹ học tiếp nhận của giớinghiên cứu nước ngoài, mà chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô,Cộng hòa dân chủ Đức… Năm 1978, Tạp chí Văn học cho công bố bài của Man-

phơ-ret Nao-man Song đề của “Mỹ học tiếp nhận”, do Huỳnh Vân dịch Bài viết có thể được xem như là một phần tóm tắt sơ lược của công trình tập thể Xã hội văn học đọc do tác giả làm chủ biên Tác giả của báo cáo này đã phản bác lại quan điểm tư

sản của H.R Jauss về vấn đề tiếp nhận, cũng như về chức năng thanh lọc của tácphẩm đối với người đọc trong quá trình tiếp nhận Cũng trong năm này, nhà xuất

bản Tác phẩm Mới thuộc Hội Nhà văn Việt Nam cho công bố bản dịch cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học của M.B Khrapchenco Trong đó chương 5 bàn trực tiếp về tiếp nhận văn học có tên Thời gian và cuộc sống của tác phẩm văn học Tác giả công trình khẳng định: “… phương pháp

nghiên cứu văn học theo chức năng là một trong những khuynh hướng quan trọng

và có triển vọng của ngành nghiên cứu văn học mác xít” [12; 331]

Trang 21

Đến năm 1980, Hoàng Trinh công bố bài Văn học so sánh và vấn đề tiếp nhận văn học, trong bài viết này, tác giả đã nhìn vấn đề tiếp nhận văn học từ góc

nhìn của văn học so sánh Mặc dù những bài viết trên còn khá khiêm tốn, nhưng ítnhiều đã đánh thức giới nghiên cứu ý thức đến một vấn đề lí thuyết không kém phầnquan trọng khi nghiên cứu văn học, đó chính là lí thuyết tiếp nhận

Vương Anh Tuấn đã khẳng định Vị trí và vai trò tích cực của người đọc trong đời sống văn học (1982), người viết nêu lên và phân tích một số hình thái, đặc

điểm chung của người đọc, làm tiền đề cho những nghiên cứu sâu và cụ thể hơn

Năm 1990 tác giả trở lại vấn đề người đọc qua bài viết Xung quanh việc tiếp nhận văn học hiện nay nhưng tập trung vào loại người đọc đặc biệt là nhà chuyên môn –

nhà phê bình trong việc đánh giá chính xác tác phẩm, tránh sự không hiểu nhau giữanhà văn, nhà phê bình và công chúng bạn đọc đông đảo

Trên cơ sở mỏng manh đó, năm tháng 11 năm 1985 Mĩ học tiếp nhận củatrường phái Konstanz Đức lần đầu tiên được Nguyễn Văn Dân giới thiệu ở Việt

Nam trong bài Tiếp nhận “Mĩ học tiếp nhận” như thế nào? Trong bài này, ông chỉ

giới thiệu một số tư tưởng của Jauss qua thuật ngữ “Tầm đón đợi”, “Khoảng cáchthẩm mĩ” Đến năm 1986 chính tác giả lại trình bày sơ qua về khái niệm “tầm đónnhận” của Jauss và xuất phát từ tâm lí tiếp nhận thử nghiệm đưa ra khái

niệm “ngưỡng tiếp nhận” trong bài viết Nghiên cứu sự tiếp nhận văn học trên quan điểm liên ngành Đáng tiếc là tiếp sau đó, Mĩ học tiếp nhận ở Việt Nam không được

chính thức nghiên cứu với tư cách là một khuynh hướng lí thuyết riêng, mà chủ yếuđược hòa vào trong hướng nghiên cứu chung – nghiên cứu vấn đề Tiếp nhận văn

học Chẳng hạn, cùng năm 1986 Hoàng Trinh viết một bài khá dày dặn về Giao tiếp văn học (Tạp chí Văn học số 4) nhưng không nhắc gì đến Mĩ học tiếp nhận Sang thập niên 90, Nguyễn Lai viết Tiếp nhận văn học một vấn đề thời sự (Báo Văn nghệ số 27, ngày 7-7-1990), Nguyễn Thanh Hùng viết Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học (Báo Văn nghệ số 42, ngày 10-10-1990) đều nhấn mạnh đến tính chất chủ

quan năng động của người đọc Cũng cần lưu ý rằng, bài viết của Nguyễn Lainghiên cứu vấn đề tiếp nhận từ góc độ đa ngành, mà chủ yếu là từ góc độ kí hiệu

Trang 22

học, còn bài viết của Nguyễn Thanh Hùng, mặc dù liệt kê tên của khá nhiều nhànghiên cứu tiếp nhận văn học trên thế giới, nhưng đối tượng nghiên cứu trungtâm vẫn không phải là Mĩ học tiếp nhận Để đối thoại với việc nhấn mạnh vai tròchủ quan của người tiếp nhận trong hai bài viết trên, Trần Đình Sử viết một bài

đăng trên Văn nghệ số 50 năm 1990 thừa nhận “kẻ có quyền cắt nghĩa tác phẩm

thuộc về lịch sử, thuộc về các thế hệ người đọc hiện tại và mai sau”, nhưng bêncạnh “phần mềm là sự cảm thụ, giải thích đời sống xã hội, phụ thuộc vào “lòng”người đọc thì tác phẩm vẫn còn “phần cứng là văn bản, là sự khái quát đời sống cóchiều sâu, một hệ thống ý nghĩa đã được mã hóa” Thực chất trong bài viết này,Trần Đình Sử hướng tới điều chỉnh giữa chủ quan và khách quan trong tiếpnhận, phản đối khuynh hướng cực đoan, đề cao quá mức chủ quan của người tiếpnhận

Năm 1990, công trình Văn học và hiện thực của Viện Văn học có bài Quan hệ văn học – hiện thực và vấn đề tác động, tiếp nhận và giao tiếp thẩm mỹ của

Huỳnh Vân, tác giả nhấn mạnh đến chức năng giao tiếp của văn học Ông cho rằng:

“… cần thiết phải nghiên cứu trên cả hai mặt lý luận và lịch sử văn học vấn đề tácđộng và tiếp nhận văn học và nghệ thuật” [20; 221] Ông đề cập đến vấn đề cầnquan niệm mối quan hệ văn học – hiện thực ở cả hai chiều: phản ánh và tác động,tiếp nhận, tức chiều từ hiện thực đến tác giả và tác phẩm và chiều từ tác giả,tác phẩm đến hiện thực Điều đó nhằm nhấn mạnh rằng khâu tác động và tiếpnhận là không thể không được quan tâm trong nghiên cứu văn học Nhưng hơnmột thập kỷ sau đó, vẫn chưa thấy ông cho công bố tiếp những suy nghĩ mới củaông về vấn đề này

Cùng năm, tác giả tiếp tục cho công bố trên Tạp chí Văn học bài Nhà văn, bạn đọc và hàng hóa sách hay văn học và sự dị trị Ông cho rằng sách với tư cách

là một hình thức hàng hóa nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt Hai giá trị dị biệtnhau cùng tồn tại trong một thực thể là hàng hóa sách Ở bài viết này ông đềcập đến khâu trung gian giữa sáng tác và tiếp nhận văn học, nơi mà những yếu tốkinh tế – như một sự tất yếu khó tránh khỏi trong cơ chế kinh tế thị trường, kinh

tế sản xuất hàng hóa – tác động vào văn học như một yếu tố dị trị Năm 2009, nhà

Trang 23

nghiên cứu này trở lại vấn đề mỹ học tiếp nhận qua bài Vấn đề Tầm đón nhận và xác định

Trang 24

tính nghệ thuật trong mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss, như tiêu đề bài viết

đã cho biết, bài viết lý giải khá sâu về một trong những khái niệm then chốt của mỹhọc tiếp nhận: tầm đón đợi Cũng như phân tích quan niệm của Jauss về việc xácđịnh tính nghệ thuật của tác phẩm văn học, được coi như là một cơ sở để Jauss xácđịnh tính lịch sử của văn học Huỳnh Vân cũng lưu ý đến một thực tế trong quá

trình vận dụng mỹ học tiếp nhận ở Việt Nam trong thời gian qua là “các tác giả đã không đưa ra những định nghĩa rõ ràng về các khái niệm trên, cho nên kết quả nghiên cứu không tránh khỏi chung chung, mơ hồ” [21; 969] Một năm sau đó, tạp chí Nghiên cứu Văn học cho công bố tiếp bài Hans Robert Jauss: lịch sử văn học là lịch sử tiếp nhận, trong bài này, Huỳnh Vân tiếp tục trình bày và lý giải những luận

điểm tiếp theo của H.R Jauss khi đề xuất những vấn đề, những phương thức cụ

thể hơn cho lịch sử văn học đổi mới của ông – lịch sử văn học của người đọc.

Đây là những kết quả nghiên cứu đáng tin cậy và có sức thuyết phục, vì tác giảcủa nó – nhà nghiên cứu Huỳnh Vân là ngừơi nghiên cứu chuyên sâu, tiếp cận tưliệu tận nguồn và cũng là những ý kiến, luận điểm mà chúng tôi sẽ còn tiếp tụctrình bày, vận dụng trong những bài viết khác

Trước sự tương đối sôi động trong bàn luận về tiếp nhận văn học từ năm

1985 đến 1990, năm 1991 Viện thông tin khoa học xã hội cho xuất bản cuốn Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận, nhưng trong đó chỉ có bài viết của Trần Đình Sử (Mấy vấn đề lí luận tiếp nhận văn học) và của Nguyễn Văn Dân (Lý luận tiếp nhận văn học với sự tiếp nhận văn học – nghệ thuật thế giới ở Việt Nam ta hiện nay), 10

bài còn lại đều là dịch, lược dịch, lược thuật những bài viết của Schifrnet, Morar,

Pascadi, Marian Năm 1995 Trương Đăng Dung công bố bài viết Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giá trị thẩm mĩ, tập trung nghiên cứu vấn đề “văn bản”, “tác

phẩm” và sự tạo nghĩa thông qua hành động đọc Trong bài viết này, ông vận dụngquan điểm của nhiều nhà nghiên cứu tiếp nhận văn học, trong đó có nhắc qua đếnJauss

Cuối thập niên 90, đáng chú ý nhất là cuốn giáo trình Tiếp nhận văn học (1997), viết cho trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Huế của Phương Lựu, chuyên luận Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1998) của Trương Đăng Dung và bài Lý

Trang 25

thuyết tiếp nhận và phê bình văn học (số 124 tháng 06-1999) Trong cuốn giáo trìnhcủa mình, Phương Lựu đã dành một chương để giới thiệu về Tiền đề sinh thành,

về tư tưởng của Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser, đồng thời sơ bộ đánh giánhững điểm “khả thủ” và “cực đoan phiến diện” của Mĩ học tiếp nhận Tuyvậy, nhìn chung, phần viết về Mĩ học tiếp nhận trong giáo trình của Phương Lựumới dừng lại ở “giới thiệu sơ lược” về khuynh hướng nghiên cứu này Cuốn chuyên

luận Từ văn bản đến tác phẩm văn học của Trương Đăng Dung thực chất

không tập trung nghiên cứu tiếp nhận văn học, trong 14 bài, chỉ có 2 bài nhắc đến

tư tưởng của khuynh hướng này trong những luận bàn chung về Văn bản – tác

phẩm – bạn đọc, trong đó bài Từ văn bản đế tác phẩm văn học và giá trị thẩm

mĩ thực ra đã được công bố vào năm 1995, còn bài Tác phẩm văn học như là quá trình (tác giả đề là hoàn thành năm 1996) thực chất đã dùng tiêu đề một bài viết

của M.Markov viết năm 1970 Trong bài viết này, ông cũng nhắc đến quan niệm vềhoạt động tiếp nhận và vấn đề văn bản của hai đại diện lớn của Mĩ học tiếp nhận làJauss và Iser Tuy nhiên, Trương Đăng Dung chỉ nêu lên tư tưởng của Mĩ học tiếpnhận như một căn cứ để chứng minh cho luận điểm khác của mình, ngay lời đề

từ của bài viết ông cũng dùng câu nói của đại diện tiêu biểu cho Hiện tượng học– một trong những tiền thân của Mĩ học tiếp nhận - Roman Ingarden, chứkhông phải của Jauss hay Iser Còn Trần Đình Sử, mặc dù không nhắc gì đến Mĩhọc tiếp nhận trong bài viết công bố năm 1999 của mình nhưng cũng đã nhắc đếnnhững vấn đề cơ bản của tiếp nhận, như vấn đề đồng sáng tạo của người đọc,tuy vậy, ông vẫn theo đuổi quan điểm cho rằng ý nghĩa của tác phẩm văn học vừaphụ thuộc vào tiếp nhận, vừa phụ thuộc vào văn bản

Có thể thấy, những năm 90 ở Việt Nam, vấn đề Tiếp nhận văn học đã trởthành chủ đề được bàn luận khá sôi nổi, tuy nhiên, một đặc điểm rất dễ nhậnthấy là các nhà nghiên cứu chủ yếu dựa trên những tri thức tổng hợp về Tiếpnhận văn học nói chung trên thế giới, cùng với sự nhạy bén khoa học của mình đểbàn luận vấn đề một cách chung nhất, chưa có những nghiên cứu sâu giúpngười đọc thực

Trang 26

sự hình dung cụ thể về một lí thuyết tiếp nhận, ngoại trừ những bài mang tính giới thiệu sơ lược.

Sang đầu thế kỉ 21, bóng dáng của Mĩ học tiếp nhận được xuất hiện trong

hai chuyên luận Đọc và tiếp nhận văn chương(2002) của Nguyễn Thanh Hùng và Tác phẩm văn học như là quá trình (2004) của Trương Đăng Dung Trong công trình của mình, Nguyễn Thanh Hùng có một mục viết về Trường phái tiếp nhận Konstanz và ý nghĩa của tên gọi nêu lên sơ lược về các khuynh hướng

nghiên cứu tiếp nhận nói chung, trong đó có Mĩ học tiếp nhận Mặc dù đây làchuyên luận trên cơ sở tiếp thu tổng hợp lí thuyết tiếp nhận nước ngoài kết hợpvới thực tế văn bản văn học trong nước đã trình bày khá sâu sắc về vấn đề

“đọc và tiếp nhận văn chương”, nhưng Mĩ học tiếp nhận không phải là đối tượngnghiên cứu trọng tâm mà chỉ là một ví dụ, một phần rất nhỏ Trương Đăng Dungtrong chuyên luận lần này đã nhắc nhiều hơn đến tư tưởng của trường pháiKonstanz khi bàn đến vấn đề “Kinh nghiệm thẩm mĩ và tầm đón đợi”, “Sự đọc vàquá trình cắt nghĩa văn bản”, “Tính lịch sử của quá trình tiếp nhận” Nhưng có thểnhận thấy Trương Đăng Dung nhắc nhiều hơn đến tư tưởng tiền thân của Mĩ họctiếp nhận là Giải thích học và Hiện tượng học với những tên tuổi như Husserl,Heideger, Gadamer, Ingarden

Đáng ghi nhận nhất là năm 2002, Trương Đăng Dung đã dịch tuyên ngôn của

Jauss Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học, và cho đến

nay, đây vẫn là văn bản duy nhất của Mĩ học tiếp nhận được dịch ra tiếng Việt vàcông bố ở Việt Nam Dưới ảnh hưởng của các công trình trên, trong thập niên đầutiên của thế kỉ mới cũng rải rác có các bài viết của Phạm Quang Trung đăng trên

website cá nhân (pqtrung.com) như Lý thuyết tiếp nhận trong đời sống văn chương hiện nay (2009), Chung quanh khái niệm “tầm đón nhận” của H.Jauss (2010), ngoài ra có một xu hướng tương đối nổi trội là Vận dụng một số vấn đề của

lí thuyết tiếp nhận vào việc giảng dạy và học môn văn trong nhà trường(2009) Tuy

nhiên, những bài viết kiểu này không có đóng góp gì mới mẻ về mặt nghiên cứu líthuyết Cuối thập niên đầu tiên của thế kỉ mới, đáng chú ý hơn cả là cuộc tranh

Trang 27

luận nhỏ giữa Đỗ Lai Thúy và Trần Đình Sử quanh bài viết Khi người đọc xuất hiện

của Đỗ

Trang 28

Lai Thúy Để phản đối tiêu chí phân loại “độc giả cổ điển” và “độc giả hiện đại” của

Đỗ Lai Thúy, Trần Đình Sử đã vận dụng tri thức tổng hợp tri thức về tiếp nhận văn

học, trong đó có tư tưởng của Mĩ học tiếp nhận, để viết thành bài Những luận lí khó tin, và sau khi Đỗ Lai Thúy thanh minh yếu ớt bằng bài Người đọc như là… thì Trần Đình Sử liền công bố bài Cần có tiêu chí khoa học để phân biệt người đọc hiện đại và người đọc cổ điển (2010).

Trong số những nhà nghiên cứu về lĩnh vực tiếp nhận văn học ở Việt Namhiện nay thì Trương Đăng Dung là người bền bỉ và chuyên sâu Năm 1998 ông xuất

bản Từ văn bản đến tác phẩm văn học, năm 2004 ông cho công bố quyển Tác phẩm văn học như là quá trình, cuốn này là sự triển khai những luận điểm đề xuất ở Từ văn bản đến tác phẩm văn học Theo tường giải học (hay có thể gọi là thông diễn

học), sự tiếp nhận có nghĩa là qúa trình thỏa thuận giữa văn chương và sự tái

sáng tạo bản sắc riêng của người đọc qua “Tác phẩm văn học như là quá trình” của

Trương Đăng Dung

Qua những công trình nghiên cứu của Trương Đăng Dung, và đặc biệt là qua

cuốn sách “Tác phẩm văn học như là quá trình”, chúng ta có thể thấy trên cơ sở

những kết quả nghiên cứu về tác phẩm văn học như là quá trình, TrươngĐăng Dung đã từng bước khám phá bản chất của tác phẩm văn học, khẳng định

sự đa dạng của các khái niệm văn học và không đánh giá quá trình văn học như

là quá trình lịch sử duy nhất và thống nhất Ông nhấn mạnh khoa học văn họcngày nay không chỉ có nhu cầu nghiên cứu văn học như là các tác phẩm làm nênlịch sử văn học mà còn nghiên cứu cái bản chất quyết định văn bản trở thành tácphẩm văn học, đó là tính chất văn học ẩn chứa trong các mối liên kết văn bản Từchỗ lấy mỹ học sáng tạo làm cơ sở, tư duy lý luận văn học hậu hiện đại đã từngbước khẳng định vai trò quan trọng của mỹ học tiếp nhận Tính chất khép kín củavăn bản nghệ thuật trong mỹ học trước đây nay được thay thế bằng tính chất mở

và dấu ấn cá nhân Đối tượng của Mĩ học tiếp nhận không phải chỉ là tác phẩm haytác giả mà là hoạt động giao tiếp của người sáng tác và người tiếp nhận, là mốiquan hệ của hoạt động liên đới Quá trình văn học là quá trình tác động tương

hỗ với hai yếu tố: ảnh hưởng

Trang 29

thông qua văn bản và sự tiếp nhận thông qua người đọc Văn bản là mối quan

hệ giao tiếp, sự đọc là quan hệ đối thoại Tác phẩm văn học là bộ phận của quátrình đặc biệt mà cái quyết định sự tồn tại và chất lượng của nó còn phụ thuộc ởnhiều yếu tố ngoài nó Sự tồn tại đích thực và những đặc trưng của tác phẩm chỉ

có được nhờ hai hoạt động ý thức có nội dung chủ ý từ tác giả và người đọc Tácphẩm văn học được hình thành từ quá trình mở về phía chủ thể tiếp nhận

Qua lược thuật ở phần trên, có thể nhận thấy, trong gần 30 năm, thành tựunghiên cứu về Mĩ học tiếp nhận ở Việt Nam vẫn vô cùng khiêm tốn, trừ những bàimang tính chất giới thiệu sơ lược trực tiếp, phần lớn giới nghiên cứu văn học ViệtNam chủ yếu nhắc đến Mĩ học tiếp nhận trong tổng thể chung về vấn đề Tiếp nhậnvăn học, các bài viết chủ yếu là góp nhặt mỗi nơi một chút, rất hiếm những bài viếtlấy Mĩ học tiếp nhận làm đối tượng trung tâm, có nhiều ý tưởng vay mượnnhưng cội nguồn tư tưởng của nó cũng không được ghi rõ ràng Và hệ quả tất yếu

là việc áp dụng lí thuyết này vào nghiên cứu thực tiễn văn học nước nhà cũng vôcùng khiêm tốn Ngoài ra, bổ sung, điều chỉnh về mặt lí thuyết sao cho thích hợpvới thực tiễn Việt nam cũng rất hạn chế

Mĩ học tiếp nhận được giới thiệu vào Việt Nam sớm, nhưng trong suốt gần

30 năm qua, dấu ấn của nó trong nghiên cứu văn học Việt Nam chưa thực sự

rõ ràng Nó len lỏi vào nghiên cứu văn học Việt nam qua cách tiếp cận tổng thể vềvấn đề tiếp nhận văn học, chứ chưa bao giờ thực sự được nghiên cứu như một đốitượng trung tâm, chưa bao giờ được các nhà lí luận định hướng ứng dụng như mộtkhuynh hướng lí thuyết riêng biệt Nếu có nói đến chút ảnh hưởng nào của Mĩhọc tiếp nhận, có lẽ chỉ nhắc đến thiên hướng ứng dụng nó vào vấn đề dạy văn,học văn mà cơ bản là sự đọc Nhưng thực tế cho thấy, trong lĩnh vực này, người

ta cũng khó thấy đâu là dấu ấn cụ thể của nó Chính vì cách tiếp cận này đãkhiến nghiên cứu tiếp nhận văn học ở Việt Nam bề mặt có vẻ sôi động, nhưngthành tựu lại không rõ ràng, chủ yếu là những lời bàn qua bàn lại Có thể coi đây làmột ví dụ tiêu biểu cho một khía cạnh đáng lưu tâm trong việc tiếp nhận lí thuyếtphương Tây ở Việt Nam

Trang 30

1.3 Một số thuật ngữ cơ bản khi nghiên cứu mỹ học tếp nhận

Kinh nghiệm thẩm mỹ: một trong số những phạm trù trung tâm của mỹ học

tiếp nhận do R Ingarden nêu ra trong cuốn Cụ thể hóa và tái lập Khái niệm này được H R Jauss tu chính trong cuốn Văn học sử như là sự khiêu khích nghiên cứu văn học hay cuốn Kinh nghiệm thẩm mỹ và giải thích văn học Kinh nghiệm thẩm

mỹ cho phép người đọc đột phá về phía tương lai, mở cho con người nhữngkhả năng mới, làm sống lại quá khứ bị lãng quên; cho phép người đọc thâm nhậpvai đối với cái thế giới được mô tả và biểu hiện, tạo cho người đọc khả năng tham

dự trò chơi độc đáo, đồng nhất mình với những gì được hình dung là lí tưởng; nócũng cho phép người đọc thưởng thức những cái mà trong cuộc đời thực khôngthể thực hiện được H R Jauss cho rằng, bản chất sâu xa của kinh nghiệm thẩm mỹkhông phải ở sự tiếp nhận hay nhạy bén cái mới, không phải ở cái ấn tượng sửngsốt chứa đựng trong sự làm quen với thế giới khác; bản chất ấy là ở việc quay lạithời gian đã mất, tìm kiếm cái quá khứ đã bị lãng quên từ lâu mà con đường điđến phải qua “cánh cửa của sự nhận biết lặp lại”

Khoảng cách lặp lại: khái niệm xác định mức độ bất ngờ của tác phẩm đối

với độc giả, và theo quan niệm của mỹ học tiếp nhận, nó xác định giá trị thi học củatác phẩm Sự ngạc nhiên hay thất vọng xâm chiếm người tiếp nhận khi gặp gỡ tácphẩm Khoảng cách giữa tầm chờ đợi của độc giả và tầm chờ đợi của tác phẩm,tức giữa cái quen biết thuộc kinh nghiệm thẩm mỹ và sự tất yếu “biến đổi tầm”

mà sự tiếp nhận tác phẩm mới đòi hỏi, theo quan niệm của mỹ học tiếp nhận,khoảng cách ấy xác định tính nghệ thuật của tác phẩm văn học Trong trường hợpkhoảng cách thẩm mỹ được rút ngắn lại, ý thức cảm thụ của người tiếp nhậnkhông đòi hỏi tiếp xúc với tầm kinh nghiệm thẩm mỹ mới, thì tác phẩm tiếp cậnphạm trù “tiêu dùng” Nghệ thuật đó không còn đòi hỏi thay đổi tầm chờ đợi củangười tiếp nhận, ngược lại nó hoàn toàn đáp ứng sự chờ đợi ấy, thỏa mãn nhucầu của người tiếp nhận là gặp lại các mẫu mực quen thuộc về thẩm mỹ

Cụ thể hóa: thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận, chỉ quá trình độc giả tái tạo tác

phẩm nghệ thuật, đem ý niệm và xúc cảm của mình, dựa trên cơ sở tầm chờ đợicủa

Trang 31

bản thân mình, lấp đầy nghĩa vào điềm trống, những vùng bất định trong khungcấu trúc nghệ thuật của tác phẩm Theo R Ingarden, tác phẩm văn học mang tínhnghệ thuật chỉ là một thứ khung sườn, độc giả sẽ phủ da đắp thịt lên thứ khungsườn ấy Có vô số sự cụ thể hóa trong cùng một tác phẩm, mỗi lần đọc lại tạo ra

một sự cụ thể hóa mới, khác với sự cụ thể hóa cũ Cùng với khái niệm cụ thể hóa,

R Ingarden còn đề xuất khái niệm tái cấu trúc và giải thích nó như là sự khách

quan hóa nội dung đề tài tác phẩm mà độc giả thực hiện sau khi cụ thể hóa

Felix Vodicka cho rằng, không phải tất cả những sự cụ thể hóa có thể có xét

từ góc độ những ý đồ của cá nhân độc giả, đều có thể trở thành mục tiêunghiên cứu, mà chỉ những sự cụ thể hóa nào cho thấy có diễn ra sự gặp gỡ cấutrúc tác phẩm và cấu trúc các chuẩn mực văn học do thời đại lịch sử cụ thể quyđịnh, những chuẩn mực mà người tiếp nhận là đại diện

Đồng thời hóa: thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận, chỉ sự tự đồng nhất của

độc giả với các nhân vật văn học; việc độc giả trải nghiệm thế giới hư cấu của tácphẩm nghệ thuật như là thế giới cụ thể sống động có thực, trải nghiệm này nảysinh trên cơ sở niềm tin của độc giả vào tính thực tại của ảo giác nghệ thuật

W Iser xem quá trình đọc như là sự xung đột thường xuyên của hai hướng:một mặt độc giả có nhu cầu đồng nhất hóa, tin vào ảo giác, mặt khác là “mỉa maivăn bản”, đặt toàn bộ các liên hệ cấu trúc của văn bản trước sự hoài nghi W Isernhận xét rằng, trong quá trình đọc, có sự nảy sinh hình thức tham gia của độcgiả vào tác phẩm, khi anh ta bị lôi kéo vào văn bản đến mức anh ta có cảm tưởng

là bất cứ khoảng cách nào giữa anh ta và những điều xảy ra trong tác phẩm, cũngđều đã mất đi Kết quả là diễn ra sự “tan” ranh giới giữa chủ thể và khách thể, đưađến sự tách vỡ cá nhân của bản thân độc giả

Hiện thời hóa: thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận, chỉ việc độc giả làm sống

động, vật thể hóa các chi tiết hoặc các đoạn của tác phẩm văn học, biến nhữngcảnh thoáng qua thành bức tranh khai triển, làm nảy nở một mạng lưới liên tưởng

và cảm xúc R Ingarden quan niệm, hiện thời hóa là một trong những cách kháchquan hóa và cụ thể hóa sự miêu tả nghệ thuật, ở mức độ nhất định nó được lậpchương trình

Trang 32

bởi bản thân văn bản văn học Độc giả nghe và tiếp nhận sau đó hiện thời hóa, tức

là vật thể hóa, làm sống động – nhờ khai triển và bổ sung bằng tưởng tượng củabản thân – không phải bất cứ cái gì, mà chỉ những điều ám chỉ chứa trong tácphẩm; các chi tiết, đường nét, ngôn từ, hình ảnh… Trong việc hiện thời hóa cácmảng của văn bản, độc giả giữ lấy một sự tự do đáng kể khỏi ý chí tác giả, nhưngkhông thể hoàn toàn lạ hóa khỏi tác phẩm Theo R Ingarden, hiện thời hóa (cũngnhư cụ thể hóa) các chi tiết nội dung là phần khó thực hiện nhất trong sự tiếpnhận của độc giả Ở đây nảy sinh sự lệch lạc đáng kể nhất khỏi chủ định của tácgiả, ở đây độc giả được độc lập nhiều nhất Các hình ảnh thị giác thường đượchiện thời hóa nhiều hơn so với các hình ảnh âm thanh và nhịp điệu Các bức tranhđược hiện thời hóa trong quá trình tiếp nhận hầu như không bao giờ hoàn tấthoàn chỉnh; chúng hầu như rải rác trong tác phẩm và chỉ gắn độc giả trong nhữngmảng nhỏ, những chi tiết, chỉ xuất hiện một cách bất thường, không rõ rệt theoquy luật

Tầm chờ đợi: thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận, chỉ sự đồng bộ các ý niệm

thẩm mỹ, xã hội chính trị, tâm lí… quy định quan hệ của tác giả, và do vậy các tácphẩm, với xã hội (và với những dạng công chúng độc giả khác nhau), cũng nhưquan hệ của độc giả với tác phẩm, như vậy nó quy định cả tính chất sự tác độngcủa tác phẩm đến xã hội lẫn việc xã hội tiếp nhận tác phẩm

H R Jauss phân thành tầm chờ đợi được mã hóa trong tác phẩm và tầmchờ đợi của độc giả Sự tiếp nhận tác phẩm và sự hình thành kinh nghiệm thẩm

mỹ của độc giả được thực hiện trong tiến trình tương tác của hai tầm chờ đợi ấy H

R Jauss nhận xét, tầm chờ đợi của tác phẩm là bình ổn, khác với tầm chờ đợi củangười tiếp nhận vốn luôn luôn biến đổi

Trang 33

Chương 2 CÁC KHUYNH HƯỚNG TIẾP NHẬN

TÁC PHẨM CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

2.1 Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn xã hội học dung tục

2.1.1 Khái quát về khuynh hướng xã hội học dung tục trong tếp nhận văn học

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, xã hội học dung tục là “biến tướng của xã

hội học Mác – xít, xuất phát từ những năm 20-30 của Liên Xô trước đây, mà đặcđiểm chủ yếu là sử dụng phiến diện, một chiều phương pháp xã hội học Mác – xít.Biểu hiện cụ thể của xã hội học dung tục trong nghiên cứu văn học là: tuyệt đối hoánguyên tắc giai cấp trong việc lí giải các hiện tượng văn học, xem nhà văn xuất thân

từ giai cấp nào thì tuyên truyền cho ý thức hệ của giai cấp đó…” [7; 429] Trong

cuốn “Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy”, Đỗ Lai Thuý khẳng định: “Phê bình xã hội học là phê bình sự thật chứ không phải phê bình giá trị Nhà phê bình

so bức tranh mà tác giả dựng lên với thực tiễn đời sống Như vậy, phê bình chỉ chú

ý đến quan hệ tương hỗ giữa tác phẩm – hiện thực” “Từ đây văn chương được coi như tấm gương có chức năng phản ánh và giáo dục cuộc sống theo hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, còn nhà văn được coi như là kĩ sư tâm hồn” [15; 144; 145].

2.1.2 Vấn đề tếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn xã hội học dung tục

Truyện ngắn Cánh đồng bất tận ngay từ khi xuất hiện đã có một sức hút rất

lớn với nhiều bạn đọc nói chung và giới nghiên cứu nói riêng Thậm chí giới nghiêncứu còn có thái độ hoài nghi, phê phán từ giới phê bình, nghiên cứu Bởi vậy mà

mở đầu bài báo “Cánh đồng bất tận và những vấn đề liên quan” tác giả Hà Quảng viết: “Đã khá lâu mới nổi lên một không khí văn chương sôi động như thế xung quanh tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư Sau khi xuất hiện trên mặt báo rồi in thành sách, có rất nhiều cuộc bàn cãi liên quan đến tác phẩm này, cho đến nay vẫn chưa dứt, chỉ im lặng tế nhị trên các diễn đàn” Truyện ngắn

Cánh đồng bất tận bị phê bình ở chỗ “đĩ dập dìu trên đê”, “cán bộ cúm gà của

xã “thưởng thức” vợ chủ nhà nên không bắt tiêu hủy gia cầm thả rong” [13]

Trang 34

Sau khi được phát hành, tác phẩm Cánh đồng bất tận đã bị Ban Tuyên giáo

Tỉnh ủy Cà Mau đề nghị “kiểm điểm phê phán một cách nghiêm khắc, rút kinhnghiệm khi viết” được đăng trên báo Tuổi trẻ vào ngày 21 tháng 4 năm 2006 Bài

báo có in đậm kết luận của Tỉnh ủy Cà Mau cho rằng “kiểm điểm Cánh đồng bất tận vì thiếu tính giáo dục” và đưa ra các hạn chế của tác phẩm cũng như với Nguyễn Ngọc Tư: “Trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” miêu tả cái xấu của xã hội nông thôn, câu từ hơi nặng nề, để ám chỉ con người bần cùng túng quẫn, không lối thoát, một cuộc sống quá cùng cực, bí lối, chỉ biết “làm gái, đổi thân xác lấy cuộc sống” “Tôi hỏi chị làm nghề gì để bị đánh Chị cười, “làm đĩ” Rồi có lẽ chị áy náy vì quá sỗ sàng với chúng tôi, chị vò đầu Điền “chắc mấy cưng không biết đâu” [19;168] Trưởng Ban Tuyên giáo, ông Dương Viết Thắng nói tiếp: “Cánh đồng bất tận thiếu tính tư tưởng, giáo dục xã hội, giáo dục con người, thiếu tính văn hóa nghệ thuật góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp mà xuyên tạc chê bai nhiều gây bất lợi”đồng thời “phê phán xã hội, nói cái xấu, mặt trái, hư cấu vượt quá hiện thực, cái không tốt nhiều hơn, không định hướng cho con người đi đến tương lai cuộc

sống, hướng tới cái đẹp” Nói như ông Dương Viết Thắng thì Cánh đồng bất tận

chưa khai thác được thực tiễn cuộc sống, cái đẹp, cái tốt mà xã hội đang xây dựng

và phát triển hay chưa có định hướng cho con người đến cái chân – thiện – mỹ

Trước những lời chê trách Cánh đồng bất tận của một số nhà nghiên cứu và

Tỉnh uỷ Cà Mau, có rất nhiều ý kiến bênh vực cho tác phẩm của độc giả trên các

diễn đàn ở chuyên mục ý kiến bạn đọc Trên diễn đàn “Trái tim Việt Nam online”

trong bài “Tác giả Cánh đồng bất tận" bị xử lý ” , bạn đọc có nick name hohakb

viết: “Trước lập luận phê phán của Thạc Sĩ Vưu Nghị Lực (Hội viên Hội NSSK VN, hội viên Hội VNDG VN, phó giám đốc Sở VH-TT Cà Mau) được đăng trên

ww

w tuoitre com ngày 14-12-2005 Ông Thạc Sĩ cho rằng từ xưa đến nay trong văn học dân gian chưa thấy chuyện phỉ báng cánh đồng, mà chỉ có làm đẹp lên thôi Văn học nghệ thuật cận – hiện đại cũng vậy Tôi không ngờ một người có một trình

độ cao như vậy lại có thể có một nhận xét thiếu tính tích cực đến vậy Tôi tự hỏi phải chăng Thạc Sĩ Vưu Nghị Lực đang thể hiện mình theo chủ nghĩa bảo thủ

Trang 35

chăng” [18] Hay “Ai cho rằng Cánh đồng bất tận không có giá trị nhân văn? Những tâm hồn trẻ thơ chịu biết bao nỗi đau sự bỏ rơi của người mẹ, sự thay đổi của người cha, nhưng ở chúng có một sự bao dung, sự thông cảm cho số phận con người bị người đời rẻ rúm… và ở phần cuối tác phẩm sự hối hận của người cha, một ước mơ về một sinh linh mới sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn Phải chăng đó không phải giá trị nhân văn?” Cũng trong diễn đàn, độc giả có nick name online49 cho rằng: “Nói lên những cái xấu không phải là phỉ nhổ hay bôi nhọ đất nước mình

mà để cho người ta nhìn vào cái xấu để làm cho nó tốt đẹp hơn Best-seller quả đúng không phải là cái chuẩn văn học hướng tới, nó chỉ như một công cụ để nhà văn và mọi người biết cuốn sách này có được độc giả yêu thích hay không thôi”[18]

… Hầu hết bạn đọc đều lên tiếng bênh vực tác giả và tác phẩm Người ta lo là đọc

Cánh đồng bất tận xong thì giới trẻ sẽ hoài nghi về cuộc đời, về đất nước Giới trẻ

sẽ không hoài nghi bởi ở lẽ họ đủ trình độ để hiểu rằng đâu đó trong cuộc sống

vẫn còn tồn tại những cái xấu xa và bẩn thỉu còn gấp trăm lần Cánh đồng bất tận.

Bên cạnh đó, ngay từ lúc Cánh đồng bất tận còn "nóng", nhà văn Đỗ Hồng

Ngọc cũng đã nêu lên mấy ý nhẹ nhàng Ông băn khoăn có ý trách manh nha "pháphách" của Nguyễn Ngọc Tư khi chị cố gắng tìm ra con đường mới trong sáng tácvăn học, hay như nhà báo Bích Châu cũng đã gợi ý tác giả nên có cái nhìn thấu đáohơn khi miêu tả xã hội nông thôn miền Nam, tránh gây ngộ nhận Đó là nhữnggóp ý hiếm hoi, đáng trân trọng Hẳn tác giả cũng đã cảm thấy tuy bộc bạch việc ra

đời của Cánh đồng bất tận chỉ là một cuộc tìm tòi cách viết mới, mà không được

thì lại quay về "lối cũ"

Để lí giải cho việc tiếp nhận tác phẩm dưới góc nhìn xã hội dung tục học,chúng tôi xin mượn một vài luận giải trong bài viết của tác giả Hoàng Phong Tuấn

“Định chế và sự đọc” (trường hợp tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận) Tác giả

thấy rằng, trước những ý kiến khác nhau của bạn đọc thể hiện những cách thức

lí giải và đánh giá, xuất phát từ các chiến lược đọc khác nhau, tương tác và vachạm với nhau, đó là nhóm người đọc thuộc về các định chế quản lí văn hoá Từbài Báo cáo “kiểm điểm” Nguyễn Ngọc Tư của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Cà Mau,xuất hiện

Trang 36

vai trò của định chế quản lí văn hoá Điểm đáng chú ý nữa là, “sự tự thể hiện vị trí trong định chế của ông Thắng được hỗ trợ và kiến tạo bởi chiến lược đặc thù của đinh chế truyền thông báo chí Vai trò chính của truyền thông báo chí là thông tin cho người đọc các sự kiện và vấn đề có tính thời sự, nhưng nó cũng ngầm ẩn một góc nhìn, một quan niệm đối với các sự kiện về vấn đề ấy.” [17;18] Ngoài cách

lí giải cho định chế quản lí của một vài người trong chính quyền Tỉnh uỷ Cà Mau,tác giả còn đưa ra vai trò và vị thế của người đọc ngoài định chế hay người đọc đạichúng Họ là những người hầu hết bày tỏ thái độ đứng về phía tác giả và đồng cảmvới nội dung tác phẩm

Nói như vậy, tiếp cận tác phẩm dưới góc độ xã hội học dung tục người tathường ít quan tâm tới hình thức, những kết quả khác nhau của người đọc sẽ dẫntới những kết luận thiếu tính khách quan

2.2 Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc nhìn phân tâm học

2.2.1 Khái quát về khuynh hướng tếp nhận tác phẩm văn học từ lí thuyết phân tâm học

Phân tâm học (viết tắt của Phân tích tâm lý học, tiếng A n h : Psychoanalysis)

là tập hợp những lý thuyết và phương pháp t â m lý học có mục đích tìm hiểunhững mối quan hệ v ô th ứ c của con người qua tiến trình liên tưởng Nó đượckhởi thảo bởi S i g m und Freu d , một bác sĩ người Á o Lí thuyết phân tâm đã được

áp dụng khá nhiều trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong đó có lĩnhvực văn học nghệ thuật

S Freud là người đầu tiên đã đưa phân tâm học vào nghiên cứu văn học

Trong công trình đồ sộ “Giải mộng” (1900), S Freud đã vận dụng phương pháp

phân tâm học do ông đề xướng để phân tích bi kịch Hamlet của W Shakespeare.Thuyết phân tâm học của S.Freud và về sau là C.G.Jung và các người kế nghiệp đã

có ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng của con người hiện đại, bao gồm cả nhiềulĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn học nghệ thuật Tuy vậy, ở ta, do nhiều lý do chủquan và khách quan, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về sự ảnh hưởngcủa phân tâm học trong văn học - nhất là văn học hiện đại Việt Trong khi đó, nhàvăn – qua

Trang 37

các giai đoạn, luôn có ý thức vận dụng những yếu tố, nội dung tích cực của phântâm học vào trong sáng tác của mình ngày càng đa dạng, phong phú và có sángtạo tích cực Nếu ở lĩnh vực sáng tác, các nhà văn ứng dụng một số phạm trù củahọc thuyết Freud nhưng tập trung nhất là mặc cảm Oedipe và tính dục thì lí luậnphê bình, các nhà nghiên cứu ứng dụng hầu hết các phạm trù trong phân tâm học

để phê bình các hiện tượng văn học cũng như giải mã tâm lí sáng tạo của nhà vănnhư vấn đề vô thức, tính dục, ám ảnh tuổi thơ, vấn đề dự phóng trong sáng tạo

Thời kì Pháp thuộc, phân tâm học đã bước đầu đi vào văn học Việt Nam, sauđổi mới có khá nhiều nghiên cứu ứng dụng phân tâm học mà tiêu biểu là ứng

dụng phân tâm học trong nghiên cứu tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn

Ngọc Tư

2.2.2 Vấn đề tếp nhận Cánh đồng bất tận từ lí thuyết phân tâm học

Trong bài viết “Truyện ngắn Cánh đồng bất tận từ ba góc nhìn”, tác giả Hoàng Đăng Khoa đã tiếp nhận Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư từ: góc

nhìn lí thuyết hậu hiện đại, từ lí thuyết nữ quyền luận và từ thuyết phân tâm

học Khi nghiên cứu về vấn đề tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ lí thuyết phân tâm

học, chúng tôi nhận thấy tác giả Hoàng Đăng Khoa có nhiều quan điểm mới mẻ

2.2.2.1 Nhân vật tính dục – bản

nguyên

Dục tình là một phần tất yếu của cuộc sống Có thể nói rằng thế giới nhân

vật trong Cánh đồng bất tận đều ám ảnh người ta bằng những ham muốn dục

tình Hoàng Đăng Khoa đã đề cập tới những người phụ nữ: đó là người vợ của Út

Vũ, "người đàn bà có cái cười làm lấp lánh cả khúc sông" thường thở dài khi tắm,

khi nước trôi dài trên làn da trắng như bông bưởi trong những ngày dài

chồng đi chuyến Chị đã "oằn uốn người" dưới tấm lưng của người đàn ông bán vải dạo "Họ cấu víu Vật vã Rên xiết" Người đàn bà Bàu Sen, người đàn bà bị chồng

bỏ để đi theo vợ bé, ba năm vắng bóng đàn ông, người đàn bà một mình nhìngương, tự ve vuốt và yêu lấy mình… Người đàn bà chiêm ngưỡng trộm cảnh Út Vũ

tắm, "nước mỏng tang tràn qua những thớ thịt đỏ au", "chị chợt giật thót người, cài vội chiếc nút áo bung ra vì không chịu nổi đôi vú căng tức" Chị không để ý gì

Trang 38

nữa, chị đang ưng bụng, ngây ngất tràn trề trong mắt Ngày đầu dừng chân nơi

quán trọ Út Vũ,

Trang 39

Sương bị hớp hồn bởi "người đàn ông đang vồng lưng trong nắng sớm", "đẹp trai dễ sợ" “Chị tìm mọi cách để sà vào Và rồi trong cái chòi nhỏ trên bờ, nơi có người đàn ông tuổi tứ tuần ấy, phát ra "tiếng sột soạt rạo rực" khi chị táo tợn tách

hai đứa nhỏ cùng chiếc ghe để lên đó Chị bước ra khỏi chòi, khoan khoái vươn vai

Sự ưng ý, mãn nguyện lấp lánh trên khoé mắt Khuôn mặt chị tràn ngập ánh sáng

Trước những đưa đẩy lả lơi đầy chủ ý của chị, “bản năng tính dục” nơi hai người

đàn ông cán bộ ấp xã đã bùng phát Họ nuốt nước miếng, ánh nhìn ham muốnnhư mũi kim thò ra khỏi bọc, lơ láo” [9]

Trong bài viết “Cánh đồng bất tận – từ góc nhìn phân tâm học”, Hoàng

Đăng Khoa cũng lí giải về sự ham muốn dục tình, tác giả cho rằng “Nhu cầu thỏa mãn tình dục của con người là nhu cầu rất người” Tính dục như khối nham thạch

luôn chờ cơ hội để trào vọt Năng lượng Libidô là xung năng tạo nên sự sống ở mỗi

người Dục tình và xác thịt không xấu xa, không đáng bị khinh bỉ Tuy nhiên nếu con người cứ hồn nhiên để cái ấy (id) vô tư chiến thắng cái tôi (ego) thì hậu quả thật khôn lường Với hậu quả này, tác giả đưa ra ví dụ cụ thể, là người vợ Út Vũ: chị phải ra đi, "để bi kịch chất đống lên những người ở lại" Những người đàn ông

quê mùa, đó là mớ tiền công ít ỏi suốt một ngày làm việc quần quật biến mất

cùng người tình chớp nhoáng của mình, về nhà ngậm ngùi ngồi nhìn "vợ con bu quanh nồi khoai luộc trong nhập nhoạng nắng chiều" Còn "chị đĩ", đó là cơn "chết lặng trong nỗi ngượng ngùng" của thằng con trai mười bảy tuổi khi nó bị bàn tay

người đàn bà trải đời táo tợn làm gì đó nơi phần bụng dưới trong nước Haynhững người đàn bà đánh đổi gia đình, ruộng vườn, làng xóm, cả đứa con nhỏ

để chạy theo Út Vũ, đó là nỗi bẽ bàng bị bỏ, là con đường quay về bị bịt kín…

Tính dục mang giá trị mỹ học và nhân văn là tính dục nhằm tôn vinh conngười, khai phóng năng lực tiềm ẩn của con người, giúp họ thức nhận đầy đủ giá trịcủa mình, tận hiến và tận hưởng cuộc sống trong sự bao bọc của những cảm xúc

thiêng liêng “Trong Cánh đồng bất tận, các nhân vật đã điểm với bản năng tính dục không được kiểm soát, tình dục ở họ không là sự thăng hoa của tình yêu, mà chỉ hoặc là phương tiện để đổi chác, hoặc là hành vi tìm khoái lạc, bất chấp đạo lý, bổn

Trang 40

phận và trách nhiệm, họ do vậy, vừa đáng cảm thông, vừa cần được cảnh báo

để rồi được thanh lọc, giải thoát” [9].

nghĩ Trong bài viết có đề cập: “đó là cảnh tượng "trên chiếc giường tre quen thuộc,

má oằn uốn người dưới tấm lưng chơm chởm những nốt ruồi Họ cấu víu Vật vã Rên xiết” Đó là niềm "cay đắng" với cảm giác cha "quắp lấy" những người đàn bà

"vùi mặt vào da vào thịt, ngấu nghiến mà lòng cha lạnh ngắt", “cha làm chuyện đó thì cũng giống như mấy con vịt đạp mái…”, nhạt nhẽo hơn cả việc quan

hệ theo mùa, theo bản năng, trong cha không còn một chút cảm xúc nào…” [9]

Hai đứa trẻ trở nên kì dị Những dấu hiệu mà người đọc thấy được đólà

hình ảnh của một "thằng Điền nổi loạn" “Dấu hiệu bắt đầu từ một bữa trong

xóm đê, tình cờ ngó đôi chó nhảy nhau, thằng Điền cầm đoạn cây xông đến quấtđôi chó tới tấp Hai con chó kêu la thống thiết, hoảng loạn, không chịu rời nhau

"Dục tình và xác thịt không xấu xa, không đáng bị khinh bỉ" nhưng đã bị Điền khinh

bỉ, ghê tởm, coi đó là nguồn cơn của mọi bi kịch, của sóng gió đã cồn lên bất tận

với chị em nó” [19] Rồi "Điền chối bỏ niềm vui được trở thành một người đàn ông thực thụ Nó tự kìm hãm bản năng trỗi dậy mạnh mẽ ở tuổi dậy thì bằng tất cả sự miệt thị, giận dữ, căm thù Nó phản kháng bằng cách trút sạch những gì cha tôi có, cha tôi làm Giãy dụa đến rã rời, nhiều bữa, nó dầm mình dưới ao đến khi người tái nhợt Nó chạy như điên trong đêm, trên những bờ ruộng mướt cỏ đến khi mỏi nhừ, gục xuống Rồi nằm xoãi trên đồng, tả tơi" "Điền mười sáu tuổi ( ) đã lạnh ngắt Nó dửng dưng

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bách khoa toàn thư, https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%E1%BB%8Dc2. Nguyễn Trọng Bình: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phươngdiện quan niệm nghệ thuật về con người Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương
5. Trần Hữu Dũng, “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam” Nguồn: http:/ / www . v ie t -studies . net/NNTu/N N Tu_THD . htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam
6. Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam (1999), Bộ GD-ĐT, NXB Văn hóa Thông tin, tr.1796 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, nxb Giáo dục, tr429 160 322 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: nxb Giáo dục
Năm: 2004
8. Nguyễn Văn Hạnh, 1971, “Tạp chí Văn học số 6”, tr.96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn học số 6
9. Hoàng Đăng Khoa, “Cánh đồng bất tận – từ góc nhìn phân tâm học”Nguồn:http:/ / v anch u o n gviet . or g / index . php?c o m p = tacph a m & act i on = detai l &id= 13045 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Cánh đồng bất tận – từ góc nhìn phân tâm học
10. Hoàng Đăng Khoa, “Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc độ nữ quyền luận” Nguồn: v a n v n . ne t Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Tiếp nhận Cánh đồng bất tận từ góc độ nữ quyền luận
11. Phương Lựu (chủ biên),(2002), Lí luận văn học, tập 1, NXB Đại học sư phạm Hà Nội, tr.139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học, tập 1
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sư phạmHà Nội
Năm: 2002
12. M.B. Khrapchenco (1978), “Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học”, tr.131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học
Tác giả: M.B. Khrapchenco
Năm: 1978
13. Hà Quảng,” Cánh đồng bất tận và những vấn đề liên quan”. Nguồn:vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn
14. Trần Đình Sử (1998) , Dẫn luận thi pháp học, Nxb GD, tr.108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Nhà XB: Nxb GD
15. Đỗ Lai Thúy (2011), Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy, Nxb Hội nhà văn, tr.144, 145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2011
16. Đỗ Lai Thuý, “Quan hệ giữa văn hoá và văn học từ cái nhìn hệ thống” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa văn hoá và văn học từ cái nhìn hệ thống
17. Hoàng Phong Tuấn (2016) , “Định chế và sự học (trường hợp tiếp nhận Cánh đồng bất tận)”, Tạp chí nghiên cứu văn học số 9, tr.18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định chế và sự học (trường hợp tiếp nhận Cánhđồng bất tận")”
18. “Tác giả Cánh đồng bất tận bị xử lí…”http://t t v nol . c o m /threads/ta c - g i a -c a nh-do n g -b a t-tan-bi - xu-ly . 248059/page-5 19. Nguyễn Ngọc Tư (2010) , Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ, tr 168 199 175 176 187218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả Cánh đồng bất tận bị xử lí…”http://t t v nol . c o m /threads/ta c - g i a -c a nh-do n g -b a t-tan-bi - xu-ly . 248059/page-519. Nguyễn Ngọc Tư (2010) , "Cánh đồng bất tận
Nhà XB: Nxb Trẻ
20. Huỳnh Vân (1990), “Quan hệ văn học – hiện thực và vấn đề tác động, tiếp nhận và giao tiếp thẩm mỹ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “"Quan hệ văn học – hiện thực và vấn đề tác động, tiếp nhậnvà giao tiếp thẩm mỹ
Tác giả: Huỳnh Vân
Năm: 1990
21. Huỳnh Vân (2009), “Vấn đề Tầm đón nhận và xác định tính nghệ thuật trong mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss”, Nghiên cứu Văn học số 3, tr.969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề Tầm đón nhận và xác định tính nghệ thuật trongmỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss
Tác giả: Huỳnh Vân
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w