1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương thức “huyền thoại hóa” hình tượng nữ giới trong văn học cách mạng việt nam giai đoạn 1954 – 1975 (2017)

103 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN --- NGUYỄN THỊ HỒNG LÂN PHƯƠNG THỨC “HUYỀN THOẠI HÓA” NHÂN VẬT NỮ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975 KHÓA

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -

NGUYỄN THỊ HỒNG LÂN

PHƯƠNG THỨC “HUYỀN THOẠI HÓA” NHÂN VẬT NỮ TRONG MỘT SỐ TÁC

PHẨM VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

ThS NGUYỄN THỊ VÂN ANH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận này người viết đã nhận được sự giúp đỡ

và chỉ bảo tận tình của Ths Nguyễn Thị Vân Anh – Giảng viên tổ Lí luận vănhọc, các thầy cô trong tổ cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ Văntrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo hướng dẫn cùng toàn thể các thầy

cô giáo trong khoa đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận này!

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Lân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin khẳng định đề tài: “Phương thức “huyền thoại hóa” nhân vật nữtrong một số tác phẩm văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975”

là kết quả tôi cùng sự hướng dẫn của Ths Nguyễn Thị Vân Anh, đồng thời đềtài này không trùng với kết quả của tác giả khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Lân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Bố cục của khóa luận 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH HUYỀN THOẠI 7

1.1 Khái niệm “huyền thoại” và “huyền thoại hóa” 7

1.2 Phê bình huyền thoại – nguồn gốc và quá trình phát triển 10

1.3 Phê bình huyền thoại một hướng tiếp cận giàu tiềm năng 14

Chương 2 “HUYỀN THOẠI HÓA” NHÂN VẬT NỮ GIỚI NHƯ MỘT HỆ THỐNG TU TỪ NGHỆ THUẬT 16

2.1 Sự quy chiếu các mẫu gốc của huyền thoại 16

2.1.1 Mẹ Tổ quốc 16

2.1.2 Nữ anh hùng chiến trận 25

2.1.3 Con người bất hạnh được cứu rỗi 31

2.2 Thủ pháp trùng điệp và khoa trương, khuyếch đại 38

2.2.1 Thủ pháp trùng điệp 38

2.3 Mô típ thiện – ác đối đầu và cái kết có hậu 46

2.3.1 Mô típ thiện ác đối đầu 46

2.3.2 Mô típ cái kết có hậu 52

KẾT LUẬN 56

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

vô thức tập thể của cộng đồng, của nhân loại nên nó như một di chỉ của kí ức,văn hóa ăn sâu vào tiềm thức, chi phối, kiến tạo nên chất liệu trong quá trìnhsáng tác của nghệ sĩ Hướng tiếp cận huyền thoại mở ra những khả năng, triểnvọng mới trong nghiên cứu văn học nhưng đồng thời cũng gợi mở nhữnghướng thăm dò mới trong nghiên cứu quá trình tương tác, xâm lấn, ứng xửvới những chất liệu huyền thoại ở từng loại hình nghệ thuật (sân khấu, điệnảnh, âm nhạc, kịch, điêu khắc…).

2 Giai đoạn 1954 – 1975 là một chặng đường dài đối với lịch sử dântộc cũng như đối với nền văn học Việt Nam Văn học giai đoạn này phần lớn

là các sáng tác nói về cuộc kháng chiến chống Mĩ cùng với đó là sự chiến đấuanh dũng của quân và dân ta Chiến tranh qua đi nền văn học cũng dần đi vào

Trang 7

dĩ vãng Do đó, việc tìm hiểu tác phẩm văn học cũng như nền văn học giaiđoạn 1954 – 1975 dưới những góc độ khác nhau là rất cần thiết Người đọc cóthể tiếp cận tác phẩm từ nhiều góc nhìn khác nhau để có được cái nhìn tổngquát về toàn bộ nền văn học Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Phươngthức “huyền thoại hóa” nhân vật nữ trong một số tác phẩm văn học cách mạngViệt Nam giai đoạn 1954 – 1975” để có được cái nhìn mới hơn về văn họcgiai đoạn này cũng như sự quy chiếu của các mẫu gốc huyền thoại đối vớivăn

Huyền thoại không chỉ đơn giản là một phương thức, kĩ thuật sáng tác

mà hơn hết huyền thoại được xem như một “tiền văn bản”, một thể loại tồntại lâu đời nhất, một hình thức nguyên hợp sơ khai, nơi lưu giữ văn bảnnhân loại Từ mối quan hệ giữa huyền thoại và văn học, tác phẩm văn họcchính là mảnh đất màu mỡ cho sự tham dự của huyền thoại, tư duy huyềnthoại nảy mầm biểu hiện bằng sự gia tăng, lặp đi lặp lại những cổ mẫu từ đóhình thành nên khuynh hướng sáng tác huyền thoại đa dạng

Từ thực tiễn trong hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn học chúng tôilựa chọn đề tài “Phương thức “huyền thoại hóa” hình tượng nữ giới trong vănhọc cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975” hướng đến giải quyếtnhững luận điểm khoa học đã nêu ra

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Như đã nói huyền thoại đóng vai trò như là “trạng thái đầu tiên” của cái

mà sau này sẽ được gọi là “ý thức xã hội của cộng đồng dân tộc” hoặc “liêndân tộc” Thực tế cho thấy nghiên cứu về huyền thoại đã có từ lâu Khóa luậnnày tìm hiểu phương thức “huyền thoại hóa” tức là nghiên cứu quá trình, cơchế xâm lấn của huyền thoại, tư duy huyền thoại trong văn học viết mà phạm

vi cụ thể là hình tượng nữ giới trong văn học cách mạng 1954 – 1975

Qua khảo sát chúng tôi tìm thấy một số công trình nghiên cứu cũng đã

đề cập đến phương thức “huyền thoại hóa” trong văn học Luận văn của LêQuốc Hiếu “Phương thức huyền thoại hóa trong văn xuôi Việt Nam đươngđại” (Qua một số sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, NguyễnXuân Khánh) đã đề cập đến phương thức huyền thoại hóa trong văn học.Luận văn đề cập đến phương thức huyền thoại hóa từ phương diện thẩm mĩ;các phương thức, khuynh hướng tái tạo huyền thoại

Trên trang Văn học và Ngôn ngữ bài viết “Tìm hiểu phương thức

“huyền thoại hóa” trong một số tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới” củaTrần Mai Nhân cũng đã đề cập đến vấn đề huyền thoại hóa Bài viết đã gópphần có cái nhìn mới về phương thức “huyền thoại hóa” Đề cập đến việc sửdụng các điển tích để tạo nên những “huyền tích” cho tác phẩm Bài viết cũng

đã chạm được đến một số khía cạnh của huyền thoại Tuy nhiên, do dunglượng bài viết còn hạn chế nên vấn đề bàn luận chưa được sâu sắc

Bài viết “Hình tượng nhân vật nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn

1954 – 1975” của Ths Nguyễn Thị Vân Anh trên Diễn đàn văn nghệ Việt

Nam đã đề cập đến dấu ấn của phương thức “huyền thoại hóa” trong văn học

giai đoạn 1954 – 1975 Bài viết đã đề cập đến sự quy chiếu của các mẫu gốchuyền thoại trong việc xây dựng hình tượng nhân vật Vấn đề nghiên cứu chỉ

Trang 9

chạm đến một khía cạnh nhỏ của huyền thoại, nhưng lại giúp ta đến với “đại

lộ thênh thang” về lịch sử nghiên cứu huyền thoại

Do sự khảo sát còn hạn chế nên chúng tôi chưa tìm hiểu hết được cácbài viết, các công trình nghiên cứu liên quan đến phương thức “huyền thoạihóa” Tuy nhiên, có thể khẳng định đây là một vấn đề mới mẻ trong nghiêncứu văn học cần được đào xới, tìm tòi, đi sâu phân tích

Những bài viết trên đây, dù còn lẻ tẻ, song thực sự là chỉ dẫn, gợi ý quýbáu cho chúng tôi trong việc triển khai đề tài “Phương thức “huyền thoạihóa” nhân vật nữ trong một số tác phẩm văn học cách mạng Việt Nam giaiđoạn

1954 – 1975

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài đã lựa chọn, đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận sẽ là:các nguyên tắc “huyền thoại hóa” nhân vật nữ trong một số tác phẩm văn họccách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Số lượng các tác phẩm trong giai đoạn văn học này khá nhiều nhưngtôi chỉ đi tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu Về thơ, chúng ta có thể kể đếncác sáng tác của Tố Hữu, Lâm Thị Mĩ Dạ, Lê Anh Xuân, Dương Hương

Ly… Về truyện ngắn có thể kể đến một số tác phẩm như Mùa Lạc (Nguyễn Khải), Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê)… Tiểu thuyết có Hòn

đất (Anh Đức), truyện kí có Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi),…

4 Mục đích và nhiệm nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Phương thức “huyền thoại hóa” nhân vật nữ trongmột số tác phẩm cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975”, người viết

Trang 10

muốn tìm hiểu những ảnh hưởng của các hình tượng văn học dân gian đối vớiviệc xây dựng các hình tượng nhân vật trong văn học viết giai đoạn 1954 –

1975

Hơn nữa việc thực hiện đề tài khóa luận giúp cho chúng tôi có đượcnhững hiểu biết sâu sắc hơn đối với văn học dân gian cũng như hiện tượngvăn học mà chúng tôi đang nghiên cứu

Đồng thời, chúng tôi cũng mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vàoviệc nghiên cứu hình tượng nhân vật nữ trong văn học cách mạng giai đoạn

1954 – 1975

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ đặc điểm sau:

- Thứ nhất: Sự quy chiếu các mẫu gốc của huyền thoại

- Thứ hai: Các thủ pháp nghệ thuật và các mô típ được sử dụng trongvăn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975

Khi nghiên cứu vấn đề này người viết không chỉ dừng lại ở một thể loạivăn học mà có sự tìm tòi ở nhiều thể loại văn học như: thơ, truyện ngắn, tiểuthuyết, truyện kí… để thấy được nét độc đáo trong việc quy chiếu các mẫugốc trong văn học

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận này để làm sáng tỏ vấn đề, người viết sử dụng cácphương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Trước hết, phê bình huyền thoại được xác định là phương pháp chủđạo Đây là một một phương pháp nghiên cứu mà có vai trò quan trọng trongviệc giải quyết vấn đề

- Phương pháp tra cứu

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

Trang 11

- Phương pháp hệ thống.

6 Đóng góp của khóa luận

- Về mặt lí luận: khóa luận này góp phần làm sáng tỏ thêm phương thức

“huyền thoại hóa” nhân vật nữ trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn

1954 – 1975

- Về mặt thực tiễn: góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu, giúpcho việc tìm hiểu và nghiên cứu về phương thức “huyền thoại hóa” trong vănhọc thêm phong phú

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận được triển khai thành 2chương chính:

- Chương 1: Khái quát về phê bình huyền thoại

- Chương 2: “Huyền thoại hóa” nhân vật nữ giới như một hệ thống tu

từ nghệ thuật

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH HUYỀN THOẠI 1.1 Khái niệm “huyền thoại” và “huyền thoại hóa”

“Huyền thoại” được xác định trong thuật ngữ phương Tây bằng từ gốc

là Myth (trong cổ ngữ Hi Lạp là Muthos, tiếng Pháp: Mythe, tiếng Anh:Myth), với cách hiểu là câu chuyện về các vị thần, các cá nhân siêu việt, cácanh hùng chiến trận và gắn liền với khuynh hướng ngợi ca Ở Việt Nam, kháiniệm “huyền thoại” vốn gắn liền với khái niệm “thần thoại”, tức là nhữngcâu chuyện có tính chất thần kì (thần: thần kì; thoại: chuyện kể, câu chuyện)

Từ điển văn học định nghĩa huyền thoại là "thể loại truyện ra đời sớm

nhất trong lịch sử truyện kể dân gian các dân tộc Đó là toàn bộ những truyệnhoang đường tưởng tượng về các vị thần và những con người, những loài vậtmang tính chất thần kì, siêu nhiên do con người thời nguyên thuỷ sáng tạo ra

để phản ánh, lí giải các hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội theo quanniệm “vạn vật có linh hồn” (hay thế giới quan thần linh) của họ” Cách hiểu

tương tự cũng được thể hiện trong Từ điển tiếng Việt, khi các nhà biên soạn

khẳng định câu chuyện huyền thoại là “kì lạ, hoàn toàn do trí tưởng

tượng” Lại Nguyên Ân trong sách 150 thuật ngữ văn học có cách định nghĩa

rộng rãi hơn khi cho rằng huyền thoại tồn tại “với tính cách là ý thức nguyênhợp của xã hội cổ đại” và nó “không chỉ là thi ca, là sự hiểu biết (hoặc hiểulầm) về thế giới tự nhiên và xã hội mà còn là nghi thức, nghi lễ sùng bái, thểhiện sự khuất phục của con người trước các sức mạnh khó hiểu, đầy tai hoạcủa tự nhiên và xã hội” Như vậy, về cơ bản, khái niệm huyền thoại theonghĩa gốc nhằm chỉ một thể loại văn học, những câu chuyện gắn liền với tưduy nguyên hợp và quan niệm vạn vật hữu linh của người cổ đại, thể hiệnnhững nhận thức ngây thơ của họ về các quy luật của tự nhiên và xã hội

Trang 13

Vào thế kỉ XX, khi tư duy huyền thoại trở thành một hiện tượng phổbiến trong văn học nghệ thuật thì càng có nhiều người quan tâm đến việc địnhnghĩa một cách rõ ràng về khái niệm này, thường là trong các công trình khoahọc, như một giới hạn cho những vấn đề nghiên cứu của mình Barbéris chorằng “huyền thoại là một hình tượng mà ý nghĩa ngày càng sâu sắc thêm ngay

cả khi kẻ sáng tạo hoặc những hoàn cảnh sinh ra nó đã đi qua từ lâu rồi” Ưuđiểm của định nghĩa này là đã mở rộng nội hàm của khái niệm, mở ra conđường để tiếp cận chủ nghĩa huyền thoại thế kỉ XX, nhưng ngay trong sự mởrộng ấy đã bộc lộ hạn chế Trong lí luận văn học hiện đại, với quan niệm tácphẩm văn học như là quá trình, bất cứ một hình tượng nào cũng luôn có khảnăng sâu sắc thêm về ý nghĩa theo thời gian, và như vậy thì định nghĩa trên đãcho phép du nhập vào huyền thoại tất cả mọi loại hình tượng Garaudy víhuyền thoại như một hệ thống tín hiệu thứ ba Mặc dù trong định nghĩa nàyGaraudy chưa luận giải một cách thật rõ ràng về mặt khoa học, nhưng cũngphản ánh được phần nào tính chất của huyền thoại, thậm chí đã động được

đến đặc trưng cơ bản nhất của nó Trong cuốn Thi pháp của huyền thoại,

Meletinsky không đưa ra một định nghĩa cụ thể, song có thể thấy ông hiểuhuyền thoại là toàn bộ những gì được tạo nên do trí tưởng tượng của conngười, phân biệt với phi huyền thoại ở tính chất kì ảo, phi thực (huyền thoạicổ), hoặc tính chất phi logic, phi thực được tạo bởi sự lắp ghép những mẫu vậtkhông theo logic thông thường của nó Quan niệm này gần gũi với cách địnhnghĩa của Phùng Văn Tửu: “Huyền thoại là những hình tượng nghệ thuật giántiếp, có tầm khái quát lớn và lung linh đa nghĩa Nó là những hình ảnh tượngtrưng với quy mô lớn hơn cả về bề rộng lẫn chiều sâu Huyền thoại hiện đại là

do trí tưởng tượng thuần tuý xây dựng nên, không thể xét đoán bằng lí trí haytiêu chuẩn khoa học, nhưng thường cũng chẳng có yếu tố hoang đường,chẳng có thiên thần, á thánh, ma quỷ, cũng chẳng có tầng địa ngục haynhững chốn

Trang 14

thiên đường Hoàng Trinh trong Phương Tây văn học và con người định

nghĩa huyền thoại là một biểu tượng văn học đạt được sự tổng hợp nhất định.Dưới một hình thức phóng to (hoặc rất cụ thể hoặc rất trừu tượng), và xuyênqua một ẩn ý triết học, tác giả muốn làm nổi lên một cách tổng quát một hiệntượng nào đó để ca ngợi hoặc phê phán theo quan niệm thẩm mĩ củamình”. Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa khác mà do khuôn khổ bài viết,chúng tôi không tiện dẫn

Nhìn vào các định nghĩa trên, ta có thể thấy ngày nay cách hiểu vềhuyền thoại đã thoát li phạm trù thể loại để đáp ứng yêu cầu nghiên cứuhuyền thoại trong tư cách là một hình thức tư duy thuần tuý, một đặc điểmquan trọng của văn học thế kỉ XX Đến đây, chúng tôi mạnh dạn đưa ra mộtđịnh nghĩa phù hợp với hướng nghiên cứu riêng, tất nhiên là có kế thừa địnhnghĩa của những người đi trước: “Huyền thoại là những hình ảnh được tạonên do trí tưởng tượng của con người bao gồm những yếu tố kì ảo, hoangđường bởi cấu trúc bên trong của nó, ít có bóng dáng của đời sống thực tại vềmặt hình thức (những câu chuyện về thần linh, thiên đường, địa ngục ) hoặcđược tạo thành từ những chất liệu thực tại, nhưng bằng các mối quan hệ vớinhững chi tiết khác, vượt qua những giới hạn lịch sử cụ thể, mang thêm tính

kì lạ, khó chấp nhận theo logic thông thường, để giải thích một hiện tượngcủa thực tại hoặc để biểu đạt một ý nghĩa nào đó có tính chất phổ quát”

Huyền thoại hóa (Mystification) là quá trình tạo lập huyền thoại TheoDamiel-Henri Pageux, “Huyền thoại là tất cả những gì mà một nền văn hóa

có thể và mong muốn biến thành huyền thoại” “Nếu một nhân vật lịch sử trở

thành huyền thoại (chẳng hạn Napoleon xuất hiện như một Achile mới, mộtPromethe khác hay con yêu tinh vùng Corse) thì điều quan trọng là khả năngcấu thành của nó trong ý thức cộng đồng”

Trang 15

Rolland Barthe thì cho rằng “Huyền thoại hóa” là một vận hành cónhiệm vụ biến những hiện tượng ngẫu nhiên mang tính lịch sử trong một nềnvăn hóa thành những câu chuyện, những điều thiêng liêng, thần thánh hoặcnhững chân lí hiển nhiên, không còn gì thắc mắc hay đáng ngờ “Huyền thoạihóa” tạo nên “doxa” Barthes dùng lại thuật ngữ “doxa” của Platon, với nghĩa

“giọng nói của tự nhiên” để chỉ tất cả những quan điểm chính thống về sự vật,

về cuộc đời… Người ta bị thuyết phục tin rằng tất cả những gì xảy ra chungquanh ta, các định chế xã hội, các nguyên tắc đạo lí, các quy ước văn học…đều hoàn toàn tự nhiên, không có gì phải bàn cãi về tính chất tự nhiên củachúng Tính thiêng liêng thần bí, giả tạo bao quanh những sự vật, hiện tượng

đó được hình thành do sự cố tình xóa bỏ, lãng quên tính ngẫu nhiên lịch sửcủa chúng

1.2 Phê bình huyền thoại – nguồn gốc và quá trình phát triển

Khuynh hướng phê bình huyền thoại học được nảy sinh ở Anh vào thế

kỉ XX và sau đó được phát triển ở Mĩ Cơ sở phương pháp luận của phê bìnhhuyền thoại là quan niệm cho rằng “huyền thoại” là nhân tố quyết định đểhiểu toàn sản phẩm của nhân loại Hiện nay, phê bình huyền thoại là mộtphương pháp mới trên thế giới và dần xác lập được nội hàm khái niệm Tuyvậy, nội hàm và ngoại diên của nó phức tạp đến mức nào thì bản thân chúng

về cơ bản đã được xác định Vì thế, thuật ngữ “phê bình huyền thoại” là chỉcho một ngành nghiên cứu văn học nhất định, có cơ sở lí thuyết

Trong số những nhà nghiên cứu về huyền thoại thì Northrop Frye (1912– 1991), nhà khoa học người Canada, có tầm ảnh hưởng đặc biệt trong việcxây dựng phương pháp luận của phê bình huyền thoại Theo ông, “huyềnthoại là hạt nhân của toàn bộ nền văn chương nhân loại mà huyền thoại trungtâm hay huyền thoại gốc của nó là huyền thoại – truy tìm (quest – myth)”.Frye cũng đánh giá khá cao những thành quả của Jung trong nghiên cứu

Trang 16

huyền thoại dựa trên học thuyết về “cổ mẫu” Phê bình huyền thoại còn đượcbiết đến với những cách gọi khác nhau, được quan niệm là hai nhánh của phêbình huyền thoại đó là “phê bình nghi lễ” và “phê bình cổ mẫu” Tuy hìnhthành hai cách thức nghiên cứu khác nhau nhưng hai hướng nghiên cứu nàychẳng những không tiêu diệt nhau mà còn bổ sung cho nhau để phát triển.Theo đó, huyền thoại không chỉ là sự phân nhánh tư duy mà huyền thoại còn

là những mẩu chuyện hoang đường ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu lí giải thếgiới tự nhiên của con người lúc bấy giờ

Theo Gilbert Durand – nhà phê bình huyền thoại tiêu biểu của thế kỉ

XX, phê bình huyền thoại (mythocritique) là sự phân tích để tìm ra đượcnhững “chuyện kể nằm bên dưới chuyện kể” và “gắn liền với ý nghĩa của mọichuyện kể” Đồng thời ông cũng xác định ba giai đoạn của phương pháp

“phân tích”, bao gồm “một” bản kê những chủ đề” huyền thoại, những tìnhhuống phối hợp các nhân vật và các trang trí, cuối cùng, sự đối chiếu nhữngbài học của huyền thoại với những huyền thoại khác thuộc “một thời đại haymột không gian văn hóa khá xác định” Trong sự chuyển hóa vào các tácphẩm, huyền thoại gốc (monomyth) không ngừng tiếp nhận thêm những sángtạo mới không ngừng cải biến tùy thuộc vào cá tính của người nghệ sĩ và tinhthần thời đại Chính vì vây, theo Durand phê bình huyền thoại là sự nghiêncứu trên tinh thần kết hợp giữa một “yếu tố văn hóa” và một “tập hợp xã hộinhất định” và việc xem xét tác phẩm theo “phê bình huyền thoại” sẽ chochúng ta biết về “linh hồn cá nhân hay tập thể” Đối với những tiểu thuyếtđược sáng tác trong thế kỉ XIX, XX thì huyền thoại là chất liệu không thểthiếu để truyền tải ý nghĩa của tác phẩm

Trong khoảng thời gian gần đây, những công trình dịch thuật, các tàiliệu nghiên cứu huyền thoại và thi pháp huyền thoại trong sáng tác văn học đãtăng lên Tiếp nhận lí thuyết về huyền thoại trong giới nghiên cứu văn học ở

Trang 17

Việt Nam khá muộn Theo tìm hiểu bài viết “ Fzan Kafka- và vấn đề “huyền

thoại” trong văn học” của Hoàng Trinh đăng trên tạp chí Văn học (tháng

5/1970) có vai trò tiên phong trong việc trong việc bàn luận về “huyền thoại”trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam Theo tác giả “không nên nghĩ rằng

trong các tiểu thuyết Lâu đài, Vụ án và các tiểu thuyết trong tập Vạn lí trường

thành, Biến dạng… Kafka muốn phản ánh hay ghi lại những câu chuyện cóthật nào đó theo quan niệm thông thường của các nhà văn hiện thực”, hơn hếtnhững tư liệu này là cái “cớ” để thông qua nó dựng lên “huyền thoại”- tức lànhững hình tượng văn học gián tiếp và có tầm khái quát lớn, mang một ẩn ýsâu, phản ánh những tư tưởng triết học của tác giả về những vấn đề nào đóđang đặt ra trong cuộc sống” Những lí giải của Hoàng Trinh chưa thật sựthuyết phục và rõ ràng Cũng trong bài viết này ông đã đưa ra những nhận xétxác đáng về khái niệm huyền thoại trong văn học Theo ông, huyền thoạikhông gì khác là những “hình ảnh” có nguồn gốc, được “rút ra” trong hệthống thần thoại, điển tích là những hình ảnh khác thường, “phi lí tính” donhà văn sáng tạo ra, qua đó nói lên một cách ẩn ý những sự thật, những nỗiniềm, những ước vọng nào đó của cá nhân mình đồng thời cũng là thời đạimình Nó là một tấm voan mờ ảo khoác lên trên những hiện thực sinh động,

mà nhà văn đã chủ động che bớt ánh sáng hoặc phá bỏ kích tắc

Rõ ràng, theo quan điểm của Hoàng Trinh, huyền thoại không chỉ trởthành một nguồn suối chất liệu dồi dào mà còn trở thành phương thức biểuhiện, biện pháp cảm thụ thế giới, và là nơi gửi gắm những điều thực tế mànhà văn muốn nói

Bài viết của Phùng Văn Tửu “Vấn đề huyền thoại trong văn học nghệ

thuật” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, số tháng 3/1976 đã soi chiếu

huyền thoại như một “phương thức nghệ thuật đang có xu hướng trở thànhmột trong những kĩ thuật sáng tác của tiểu thuyết hiện đại” Phùng Văn Tửu

Trang 18

luận bàn khái niệm “huyền thoại” đồng thời chỉ ra sự quan tâm đến huyềnthoại của các nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới thông qua việc liệt kê cáccông trình nghiên cứu, sáng tác tiêu biểu Không chỉ vậy nhìn vào đời sốngvăn học Việt Nam tác giả còn lí giải nguyên nhân mà huyền thoại trở thànhvấn đề “xa lạ”, “ít ai quan tâm” bằng những dẫn chứng khá thuyết phục Đó là

do hoàn cảnh đất nước phải trải qua chiến tranh liên miên, chủ nghĩa anhhùng với nguyên tắc mĩ học được đề cao Vậy nên ở giai đoạn văn học cáchmạng, sáng tác cũng như lí luận phê bình thế kỉ XX, huyền thoại – với quanniệm, nhận định liên quan đến sự mơ hồ, kì ảo ít được chú ý Tuy nhiên tìnhhình có sự biến đổi, khởi sắc Từ sau 1986, “trên văn đàn những tác phẩm vớicác nhân vật, các sự kiện siêu nhiên được xây dựng trên cơ sở của trí tưởngtượng sáng tạo, vượt ra ngoài khuôn khổ chân thực, cụ thể lịch sử” xuất hiệnngày càng nhiều Bài viết của Phùng Văn Tửu đã đưa ra những ý kiến khoahọc sắc sảo, gợi mở khả năng ứng dụng nghiên cứu huyền thoại

Tác giả Lại Nguyên Ân (“Thần thoại, văn học, văn học huyền thoại”

đăng trên tạp chí Văn học, số tháng 3/1992) bày tỏ những quan ngại về tình

trạng nghiên cứu huyền thoại Thứ nhất, giới nghiên cứu “chưa chú ý đến mốiliên hệ giữa văn học với thần thoại” (Lại Nguyên Ân đồng nhất “huyền thoại”với “thần thoại”) Thứ hai, thái độ xem thường thậm chí là phủ nhận nhữngsáng tác huyền thoại ở văn học thế kỉ XX Thứ ba, khẳng định một cách mạnh

mẽ “thế giới quan thần thoại” không hề mất đi cùng với việc “ý thức nguyênhợp đã mất đi khi phân lập thành các hình thái ý thức riêng biệt”, nên chú ýđến hiện tượng “ý thức huyền thoại hóa” Bài viết chỉ ra sự bùng nổ mạnh mẽcủa các kiểu sáng tác huyền thoại hóa đang ngày càng lớn mạnh trong cả đờisống văn học và xã hội, cùng sự cảnh báo những hệ quả của ý đồ huyền thoạihóa

Chùm bài “Phương pháp phê bình huyền thoại học” (Đỗ Lai Thúy giới

thiệu) đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài, số 2/2001 gồm “J.Grimm –

Trang 19

Huyền thoại Đức “Gilbert Durand và phương pháp phê bình huyền thoạihọc”, Jean – Yves Tadie và “Huyền thoại trong tiểu thuyết của Emile Zola”của Lê Ngọc Hân tiếp tục đóng góp những diễn giải về huyền thoại, ứng dụnghuyền thoại trong nghiên cứu văn học.

Năm 2004, nhóm tác giả Song Mộc, Trần Nho Thìn giới thiệu công

trình dịch Thi pháp của huyền thoại (1976) của nhà nghiên cứu văn học dân

gian lỗi lạc người Nga E.M.Meletinsky Có thể khẳng định, đây là công trình

có ý nghĩa khoa học lớn lao trong việc giới thiệu tư tưởng lí luận về huyềnthoại của Meletinsky Công trình gồm 3 phần Phần thứ nhất, giới thiệunhững lí thuyết mới về huyền thoại và cách tiếp cận văn học từ góc độnghi lễ – huyền thoại Phần thứ hai, trình bày những hình thức cổ điển củahuyền thoại và sự thể hiện của huyền thoại trong truyện kể dân gian Phầnthứ ba mang tính chất ứng dụng nhiều hơn Tác giả đã đi phân tích sự xuấthiện của “chủ nghĩa huyền thoại” trong văn học thế kỉ XX, nghiên cứutrường hợp tiểu thuyết của James

Như vậy, phê bình huyền thoại là một hướng nghiên cứu mới, nó mớichỉ xuất hiện ở Việt Nam trong vài thập niên trở lại đây Do đó, còn nhiềuđiều mới mẻ chưa khám phá được

1.3 Phê bình huyền thoại một hướng tiếp cận giàu tiềm

Trang 20

Trong những năm gần đây những công trình dịch thuật, tài liệu liênquan đến lĩnh vực nghiên cứu huyền thoại đã tăng hẳn lên Tuy nhiên, để sosánh những công trình nghiên cứu của ta so với các công trình nghiên cứu ởnước ngoài ta thấy rằng những gì của chúng ta vẫn còn rất ít ỏi và thiếu hệthống

Dân tộc nào trên thế giới, ít hoặc nhiều đều có những kho tàngthần thoại riêng của mình Những huyền thoại ấy cũng mơ hồ tối nghĩa, cầnphải giải đoán và không thể đưa ra những tiêu chuẩn của lí trí để bắt bẻ.Trong sáng tác văn học dù có ý thức hay không nhà văn đã vận dụng đặc thù

“biến dạng” của huyền thoại theo cách riêng, chẳng hạn như phương phápđiển hình hóa Tuy nhiên, nếu không để ý thì bạn đọc khó có thể nhận rađược yếu tố huyền thoại trong tác phẩm

Do đó, huyền thoại cần được giải mã, cái hay cái đẹp của một tácphẩm văn chương sâu sắc được thể hiện ra ngay trên bề mặt các trang giấyhay con chữ Tính chất “huyền” của huyền thoại thể hiện ngay ở khía cạnh

đó chứ không phải là những yếu tố hoang đường

Phê bình huyền thoại ngày nay đang dần được chú trọng phát triển

nó không chỉ thể hiện được xu hướng hướng về cội nguồn của dân tộc màcòn là một khuynh hướng phát triển mới của văn học

Trang 21

Chương 2

“HUYỀN THOẠI HÓA” NHÂN VẬT NỮ GIỚI NHƯ MỘT HỆ

THỐNG TU TỪ NGHỆ THUẬT 2.1 Sự quy chiếu các mẫu gốc của huyền thoại

Văn học 1954 – 1975 là giai đoạn văn học khi mà đất nước đang trongthời kì chiến tranh diễn ra ác liệt Do đó, nhiệm vụ của văn học là phục vụchiến đấu Không chỉ có nam giới mới tham gia chiến đấu mà ta còn thấy ở

đó là bóng dáng của phụ nữ tham gia chiến đấu bằng lòng hăng say, quyếttâm đánh giặc ngoại xâm Văn học giai đoạn này phần lớn xây dựng những

nữ anh hùng kiên cường, bất khuất Họ được nhấn mạnh ở con người côngdân, con người xã hội qua cái nhìn có phần “nam hóa” mạnh Nhà cấu trúcluận Iu.M Lotman cho rằng: “Thiết chế văn bản sản sinh huyền thoại bao giờcũng được phân bố ở trung tâm của khối văn hóa” Như vậy, có thể hiểusáng tác văn học giai đoạn này đều là các văn bản chính thống, tồn tại côngkhai và nằm ở vị trí trung tâm của văn hóa, văn học thời đại Do vậy, nhưmột quy luật mỗi hình tượng nhân vật nữ trong văn học giai đoạn này đềutìm đến một nguyên tắc thích hợp đó là nguyên tắc “huyền thoại hóa” Vănhọc giai đoạn 1954 – 1975 đã dày công tạc dựng những nữ anh hùng “Kiêncường, bất khuất, trung hậu, đảm đang” Hay nói cách khác văn học đãmượn những nguyên mẫu có thực để đưa họ vào trong văn học và họ trởthành những người phụ nữ điển hình cho thời đại Ở đây những dấu ấn cổxưa của huyền thoại đã tìm về và in dấu đậm nét trong văn học giai đoạnnày

2.1.1 Mẹ Tổ quốc

Trong không khí của cuộc cách mạng sục sôi và dưới ánh sáng của lýtưởng mới, hơn bao giờ hết hình ảnh người phụ nữ hiện lên với vẻ

Trang 22

ra khỏi vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến, để hòa mình vào công cuộcchung của

Trang 23

đất nước Thơ văn đã dành sự ưu ái lớn khi miêu tả hình ảnh những bà

mẹ Việt Nam anh hùng cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng, chiến

đấu bảo vệ nước nhà Từ những người mẹ trẻ như Út Tịch (Người mẹ cầm

súng – Nguyễn Thi), Sứ (Hòn Đất – Anh Đức)… cho đến những bà mẹ cao

tuổi như mẹ Tơm, mẹ Suốt trong thơ Tố Hữu, mẹ Sáu (Hòn Đất – Anh

Đức), bà mẹ đào hầm trong thơ Dương Hương Ly… đều sáng ngời đức hisinh, chở che đùm bọc Trong cuộc sống thường nhật người mẹ tần tảo locho con, chăm con từng bữa ăn, giấc ngủ, chở che, đùm bọc yêu thương concái vô điều kiện Phương diện này đã được các nhà văn chú trọng nâng lênthành một tầm vóc vĩ đại bởi nó gắn liền với sứ mệnh thiêng liêng mà lịch sửdân tộc đặt lên vai mỗi người dân Việt Nam, trong đó có người phụ nữ

Trong thế hệ các nhà văn, nhà thơ thời kì chống Mĩ, Tố Hữu được xem

là lá cờ đầu là gương mặt tiêu biểu nhất của dòng văn học cách mạng.Thơ ông cũng là tiếng thơ giàu cảm xúc, mang âm điệu hào sảng về nhữngngười mẹ Việt Nam anh hùng

Xuất phát từ những người mẹ cụ thể, Tố Hữu đã khái quát nênngười mẹ Tổ Quốc Hình tượng Tổ Quốc được Tố Hữu lồng trong hình ảnhngười Mẹ một cách thấu suốt và sáng rõ:

“Việt Nam, ôi Tổ Quốc thương yêu Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng Nhẫn nại nuôi con suốt đời imlặng

…Biết hi sinh nên chẳng nhiều lời”

(Chào xuân 67 – Tố Hữu)

Trang 24

Tác giả đã khắc họa một hình tượng bà mẹ khổ đau gắn liền với đức

hi sinh vô bờ bến, một đức hi sinh thầm lặng, cao cả, thủy chung và thiêngliêng

Trang 25

Nụ cười thầm lặng, nước mắt thầm lặng, cái chết thầm lặng của bà

má Hậu Giang là nét phẩm chất chung của các bà mẹ Việt Nam, phụ nữ

Việt Nam Với bài Bầm ơi bằng việc tìm sự đối xứng và tương phản, Tố

Hữu đã khắc họa một người mẹ lam lũ, vất vả, thầm lặng quên nỗi đau củamình để hướng về con người ngoài mặt trận, hướng về Tổ Quốc:

“Con đi trăm núi ngàn kheChưa bằng muôn nỗi tái tê lòng BầmCon đi đánh giặc mười nămChưa bằng khó nhọc đời Bầm sáu mươi”

(Bầm ơi – Tố Hữu)

Ở đây có nỗi xót xa, cay đắng, có nỗi nhọc nhằn, tần tảo của người

Mẹ, người phụ nữ trong ca dao, dân ca, trong thơ các nhà thơ cổ điển

Những con người quanh năm “gửi lưng cho trời, gửi mặt cho đất”, lặn lội

“mom sông” để “nuôi đủ năm con với một chồng”.

Đó còn là hình ảnh về người phụ nữ, người mẹ trong Người mẹ cầm

súng của Nguyễn Thi Chị Út Tịch trong tác phẩm của Nguyễn Thi được xây

dựng theo bút pháp huyền thoại Chị Út Tịch là một người phụ nữ dũngcảm, gan dạ, căm thù giặc sâu sắc, không chỉ giỏi việc nước mà còn đảm việcnhà Có thể khẳng định đây là người phụ nữ xứng đáng với tám chữ vàng

mà Hồ Chí Minh đã dành tặng cho phụ nữ Việt Nam “ANH HÙNG – BẤTKHUẤT

– TRUNG HẬU – ĐẢM ĐANG” Với dáng người nhỏ gọn, chị có khuôn mặt

tròn và đôi mắt to sáng Con người chị thể hiện sự thông minh, nhanh nhẹn,

từ nhỏ chị đã đi ở đợ, chống trả bà chủ của mình không ngần ngại Đánh vợcủa Hàm Giỏi “…Lúc ngồi dậy sẵn tay, Út liệng luôn cái chén vào mặtmụ…” “Út thủ sẵn nắm bột ớt Con kia lớn gấp ba Út Nó vừa quơ cây lên

Trang 26

thì nắm bột ớt đã đâp ngay vào mặt nó” Lúc nhỏ thường xuyên phải chịunhững trận đòn chính vì thế mà cái bản lĩnh gan dạ luôn có sẵn trong chị Rồicách mạng

Trang 27

đến với chị, chị rất hăng hái đánh Tây Chị vừa chăm sóc con cái, vừa thamgia chiến đấu Trải qua những cuộc đấu tranh cách mạng chị đã trở thànhmột con người khôn ngoan, thông minh, sắc sảo Dù là một người phụ nữnhưng chị đánh giặc rất giỏi Cũng như bao người phụ nữ Việt Nam chị cũnglấy chồng, sinh con, bươn trải lo cho cuộc sống gia đình mình Chị là mộtngười vợ thủy chung, một người mẹ chu đáo Mặc dù chị mải chiến đấunhưng không bao giờ quên nhiệm vụ của một người mẹ Ngày chị vẫn ghéqua nhà một lần để xem bọn trẻ thế nào…, chị trà gạo lứt với muối saynhuyễn để ở nhà cho con bé quấy bột cho em Chị dặn con nấu cơm khôngđược chắt nước, kẻo sợ nó bị bỏng Chị sửa lại mái nhà dột, bện lại dây võngnhững công việc đó lẽ ra là công việc của người chồng nhưng chị đã thu vềtất cả những công việc đó Điều đó cho thấy, chị không những là người mẹđảm đang mà còn là hậu phương vững chắc, niềm tin tưởng lớn lao cho anhTịch yên tâm đánh trận Cuộc sống của một người chiến sĩ và bổn phậnlàm vợ, làm mẹ đã hết lần này đến lần khác thử thách lòng chị mà ngàycàng cao hơn Nếu như đánh bót Đường Trâu là để thử thách tấm lòng củamột người mẹ anh hùng lo cho tánh mạng của con “lúc vo quần chuẩn bịxông vô bót, một ý nghĩ vụt qua trong đầu Út, ý nghĩ mà người mẹ cầm súngnào cũng nghĩ tới đó là con! Chỉ một tiếng ngắn gọn như vậy nhưng độngbao tình sâu nặng” Đó là một nỗi lo của một người mẹ cầm súng khi nghĩ vềcon của mình Thì giờ đây có một nỗi lo dò xét trái tim của người vợ ấy, đó

là đánh bót Tám Thế bằng mĩ nhân kế Mặc dù anh Tịch vui lòng để chị đilàm nhiệm vụ, nhưng trong thâm tâm của chị, chị rất thương chồng Côngtác cách mạng đôi khi phải hi sinh việc nhỏ thì việc lớn mới thành côngnhưng nếu lỡ cần phải hi sinh chị vẫn chịu được Có đôi khi chị phải gác việcnhà để hoàn thành việc nước tuy có khó khăn nhưng với lòng yêu nước và ý

Trang 28

nghĩ nước nhà độc lập thì cuộc sống gia đình mới hạnh phúc lại thôi thúc chịhành động

Trang 29

Một người phụ nữ hết lòng vì gia đình, vì sự nghiệp cách mạng củadân tộc nên chị Út Tịch được làng xóm yêu mến và giúp đỡ những lúc khókhăn Má Hai hết lời khen ngợi Út vì tóc đã quàng tai, vai quàng súng, vừađánh giặc vừa làm nuôi con Trong chiến tranh loạn lạc, khi anh Tịch đi chiếnđấu thì ở nhà Út làm đủ mọi việc để kiếm tiền nuôi con và hoạt động cáchmạng: trồng dưa, đi bán khoai, bán bánh, bán mì nấu, nước mía tại chợ Cầu

Kè “Số tiền có được Út quyên góp may đồ tặng các anh hết” đó cũng đã thểhiện tấm lòng nhân hậu, thương người của chị, đó cũng là phẩm chất tốtđẹp của người phụ nữ Việt Nam

Trong cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước phụ nữ Việt Nam là lựclượng xung kích, là “đội quân tóc dài” trên mặt trận đấu tranh chính trị;trong đấu tranh vũ trang thì phụ nữ Nam Bộ cũng không kém gì nam giới

về mưu trí và lòng dũng cảm Trong cuộc chiến đấu với địch chị đã trải quabiết bao nhiêu gian nan, vất vả nhưng ý chí quyết tâm đánh giặc không hề bịrung chuyển Nhiều người hỏi chị “Uống thuốc gì mà gan dữ vậy” Chị trả lời

có uống gì đâu bị đòn nhiều mà cứ ngậm ở trong lòng mới nảy sinh ra cái gan

dữ vậy Mới 14 tuổi nhưng chị đã rút ra một điều có ý nghĩa làm phươngchâm cho suốt đời “đánh nó để nó không đánh được mình” Lên 15 tuổi chịxin đi bộ đội, các chú bộ đội hỏi “Tại sao?” chị trả lời ngay “Ở đợ cựcquá” “Đi đánh tây cũng cực vậy” – các chú bộ đội cười và nói Chị tỉnh bơ:

“Đi đánh tây sướng bằng tiên chứ cực gì!” “Nó đánh mình mình đánh lại nómới sướng chớ!” Đó là quan niệm về hạnh phúc về sướng khổ ở đời Vớiquan niệm đó cho thấy rằng người phụ nữ này rất nhiệt tình khi tham giachiến đấu bảo vệ dân tộc Thật vậy được đánh tây là một niềm hạnh phúclớn nhất của chị Út “cái công việc mà nếu phải ngừng lại một lúc nào đó thì

cả hai vợ chồng cảm thấy lẻ loi, trơ trọi và buồn khổ biết chừng nào” Bởi vì

Trang 30

ngừng chiến đấu, ngừng làm cách mạng là quay trở về với cuộc đời nô lệcực nhục của ngày

Trang 31

xưa, cuộc đời đó chị không bao giờ chịu nổi nữa Toàn dân Việt Nam khôngbao giờ quên câu nói của chị “còn cái lai quần cũng đánh” Quyết tâm của chịlại được củng cố bằng lòng tin tưởng vào con đường cách mạng, vào chủtrương sáng suốt của Đảng Đối với kẻ thù chị quyết không đội trời chungnhưng đối với những bà con nghèo thì chị lại có một tình thương thắm thiết.

Là một người chiến sĩ cách mạng đồng thời chị cũng là một người mẹ.Một người nam giới đánh giặc giỏi và trở thành anh hùng đã đáng phục rồi,nếu là một người phụ nữ thì càng đáng phục hơn Chị Út là một người mẹnghèo, đông con nhưng vẫn đánh giặc giỏi quả là đáng khâm phục Chị tuynghèo về vật chất nhưng giàu về tinh thần, đó là phẩm chất của một ngườianh hùng cách mạng Có nước ắt có tiền, có gạo, trên hết có những điều cònquý hơn cả tiền gạo, ấy là quyền tự do, tự chủ Tất cả những điều đó đã hunđúc cho chị có thể cầm súng đánh giặc

Đọc những đoạn chị Út Tịch mang bụng bầu đi đánh giặc, người đọc tựhỏi đi đánh giặc chứ có phải đi chơi đâu, người thường đã mệt huống chi làmột người bụng mang dạ chửa như chị Sao người mẹ có thai ấy lại cómột tâm hồn khỏe mạnh, trẻ trung đến như thế Câu trả lời chỉ có thể là tâmhồn ấy sáng rực tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng anh dũng, lạc quan,không chịu khuất phục trước bọn ngoại xâm Chính vì tình yêu gia đình, sự

hi sinh cao cả mà chị luôn được đồng bào Tam Ngãi rất yêu thương Đặcbiệt chị sống và chiến đấu như một tấm gương cho đồng bào noi theo

Bằng ngôn từ mang đậm màu sắc sử thi, Nguyễn Thi đã tạc dựng mộttượng đài về một bà mẹ Việt Nam anh hùng không chỉ giỏi việc nước mà cònđảm việc nhà Nhiều hành động của nhân vật được tác giả kể lại như kể

về một huyền thoại Huyền thoại ấy có sức lan tỏa mạnh mẽ trong ý thứcnhân dân xã Tam Ngãi Đặc điểm này thể hiện rõ qua đoạn văn miêu tả cảnh

Trang 32

Út Tịch “gồng gánh” bốn đứa con thơ vượt sông Hậu Giang đi thám thínhtình

Trang 33

hình địch nhưng không may xuồng bị lật trong đêm giông bão: “Đàn bà nhưtao thì sình lên rồi Nó vậy mà mẹ con còn y” Nhân vật Út Tịch được NguyễnThi xây dựng mang màu sắc phi phàm, kì vĩ mà người bình thường khó có thểlàm được Ở đây chúng ta thấy được lớp huyền thoại cổ xưa sau cảnh tượngchị Út bồng bế đàn con vượt sông Cảnh tượng chị Út bồng bế đàn con vượtsông gợi nhớ trong chúng ta đến cảnh tượng mẹ Âu Cơ từ thời xa xưa dắtdíu đàn con từ biệt chồng lên non khai mở, xây dựng cuộc sống mới, hayhình ảnh thánh mẫu Pô InưNuwgar với ba mươi bảy người con vừa có cônglao sáng thế vừa chăm dân, giúp đời Cảnh tượng đó còn gợi ta liên tưởngđến hình ảnh Bà Chúa Bầu một nữ tướng của Hai Bà Trưng có công đánhđuổi thái thú Tô Định nhà Hán…

Đó còn là mẹ Suốt trong thơ của Tố Hữu với hình ảnh: “Ngẩng đầu mái

tóc mẹ rung/ Gió lay nhưng sóng biển tung trắng bờ” (Mẹ Suốt – Tố Hữu) là

biểu trưng sâu sắc cho ý chí kiên trung, quật khởi của dân tộc, là khí thiênghun đúc được truyền đời Điều này đúng với một nhận xét của chủ tịch

Hồ Chí Minh: “Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyềnthống quý báu của dân tộc ta Mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy kếtthành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó nhấn chìm tất cả lũ cướp nước và

lũ bán nước” Họ là những biểu trưng văn hóa kết tinh từ truyền thống sâuthẳm của dân tộc Việt Nam Những con người biết làm chủ lịch sử, xã hội,biết hi sinh bản thân để hướng tới chân lí của thời đại, để hòa nhập với lẽsống của cộng đồng của nhân loại

Trở về với vùng quê Hanh Cát – Hanh Cù sau nhiều năm xa cách, nhàthơ Tố Hữu không khỏi xúc động khi nhớ về kỉ niệm kháng chiến gắn liền với

Trang 34

hình ảnh mẹ Tơm – người cưu mang giúp đỡ nhà thơ hay cũng chínhnhững

Trang 35

anh chiến sĩ, Đảng ta Mẹ nấu cơm cho cán bộ Đảng ăn mà không sợ kẻ thùbiết:

“Con đã về đây, ơi mẹ Tơm Hỡingười mẹ khổ đã dành cơm Cho con, cho Đảng ngày xưa ấyKhông sợ tù gông, chấp súng gươm”

Mẹ luôn là người yêu thương các con vô điều kiện Dù hi sinh, dù khó khăn

Trang 36

nhường nào nhưng mẹ vẫn không một lời than thở, mẹ luôn che chở, đùmbọc cho các con

Trang 37

Bài thơ Đất quê ta mênh mông của Dương Hương Ly cũng là một

dẫn chứng sinh động về huyền thoại mẹ Tổ quốc trong thời kháng chiến

chống Mĩ:

“Đất nước mình hai mươi năm chiến tranh Tiếng cuốc năm canh nặng tình đất nước Hầm mẹ giăng như lũy như thànhChe chở mỗi bước chân con bước”

(Đất quê ta mênh mông – Dương Hương Ly)

Hai mươi năm – đủ để một thế hệ lớn lên, hai mươi năm – cũng là thời

gian cả dân tộc phải đối đầu với sự hủy diệt của kẻ thù để bảo vệ nền độc lập,

tự do Thời gian đăng đẵng nhuộm mái tóc xanh của mẹ thành “phơ phơ đầubạc” – một thời xuân sắc đã đi qua Thành quả của mẹ, công sức của mẹ là ởnhững chiếc hầm bí mật “Giăng như lũy như thành” Sức vóc mảnh mai của

mẹ vụt lớn lao thành sức mạnh Nhân Dân, mẹ mang một tầm vóc lớn lao, phiphàm:

“Đất quê ta mênh môngQuân thù không xăm hết đượcLòng mẹ rộng vô cùng

Đủ giấu cả hàng sư đoàn dưới đấtNơi hầm tối lại là nơi sáng nhấtNơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam”

(Đất quê ta mênh mông – Dương Hương Ly)

Như một chân lý đơn giản, khi thế trận của lòng dân “giăng như thành

Trang 38

như lũy” kẻ thù phải bó tay, bất lực Tác giả có một liên tưởng vô cùng độcđáo từ “lòng mẹ” đến “lòng đất mẹ” Ở đây tác giả đã gợi ta liên tưởng đếnmột huyền thoại cổ xưa, câu chuyện mẹ Âu Cơ bọc lũ con trong bọc trămtrứng, nay mẹ đào hầm bọc “cả hàng sư đoàn” Phải chăng tác giả đangnghĩ về một mẹ Âu Cơ thời đại chống Mĩ? Tuy nhiên người mẹ ở đây lại làmột

Trang 39

người bằng xương bằng thit chứ không phải bước ra từ huyền thoại Để từ

đó nhà thơ nhận ra sức mạnh của nhân dân Việt Nam từ một nghịch lí “Nơihầm tối lại là nơi sáng nhất” Điều này gợi ta nhớ đến một lời ca ngợi củađại thi hào Nga M.Gorki: “Không có Người Mẹ thì cả anh hùng, cả nhà thơđều không có Sức mạnh Việt Nam - dân tộc anh hùng và nghệ sĩ – đã bắtnguồn từ những người mẹ bình thường mà vô cùng vĩ đại”

Không chỉ dừng lại ở một số trường hợp tiêu biểu mà huyền thoại vềngười mẹ Tổ quốc còn in đậm trong sáng tác của các nhà văn khác cùng

thời Đó là mẹ của Việt và Chiến trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, mẹ Sáu trong Hòn Đất của Anh Đức, mẹ trong các bài thơ Mẹ

sinh con, Bà mẹ chiến sĩ và anh thương binh, Mẹ đi lấp hố bom của Huy Cận…

Phương thức huyền thoại hóa người phụ nữ qua hình tượng người

Mẹ Tổ quốc không chỉ xuất hiện trong văn thơ mà còn xuất hiện trong nhiều

loại hình nghệ thuật khác Có thể kể đến các ca khúc như Mẹ (Trịnh Công Sơn), Mẹ (Phan Long), Người mẹ của tôi (Xuân Hồng)… Cho đến ngày nay thì

huyền thoại về người mẹ vẫn còn luôn âm vang không chỉ trong sáng tác thơ

ca mà còn trong nhiều loại hình nghệ thuật khác Như vậy, chúng ta cóthể thấy mặc dù khác nhau về loại hình nghệ thuật nhưng các tác phẩm ấyđều có chung một tiếng nói đó là cơ chế diễn ngôn về giới nữ Hình tượngngười phụ nữ trong giai đoạn văn học 1954 – 1975 mang tầm vóc vĩ đại Họtrở thành những người mẹ Tổ quốc kiên trung, luôn dang rộng cánh tay đểđùm bọc, chở che những đứa con chiến sĩ bằng một tấm lòng ân ái và sự hisinh quên mình

2.1.2 Nữ anh hùng chiến trận

Bên cạnh hình mẫu mẹ Tổ quốc, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩaViệt Nam còn mượn hình tượng nữ anh hùng chiến trận trong truyền

Trang 40

thuyết để thực hiện ý đồ “huyền thoại hóa” người phụ nữ Bằng phươngthức này, các nhà văn đã tạc dựng một quần thể tượng đài nữ anh hùngtrên lĩnh vực

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Thị Hòai An (2013), “Dấu ấn phương thức huyền thoại hóa Franz Kafka sáng tác Phạm Thị Hoài”, Khoa học Văn hóa Du lịch, (67) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn phương thức huyền thoại hóa FranzKafka sáng tác Phạm Thị Hoài
Tác giả: Thái Thị Hòai An
Năm: 2013
3. Nguyễn Thị Vân Anh (2016), “Hình tượng nhân vật nữ trong văn học giai đoạn 1954 – 1975”, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, (25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng nhân vật nữ trong văn họcgiai đoạn 1954 – 1975”, "Diễn đàn văn nghệ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2016
4. Austin (1995), “Huyền thoại là gì?”, Ngân Xuyên dịch, Văn học, (283) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền thoại là gì
Tác giả: Austin
Năm: 1995
5. Lại Nguyên Ân (1992), “Thần thoại, văn học, văn học huyền thoại” tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần thoại, văn học, văn học huyền thoại” tạpchí "Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1992
6. Bellemin – Noel, Jean, “Phân tâm học văn học”, Đỗ Lai Thúy Phan Ngọc Hà dịch, w w w . p h e b inhv a n h o c . c o m . v n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học văn học
7. Barther Roland (2008), Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, Nxb.Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những huyền thoại
Tác giả: Barther Roland
Nhà XB: Nxb.Tri thức
Năm: 2008
8. Đào Ngọc Chương (2009), Phê bình huyền thoại, Nxb. Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình huyền thoại
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc giaTP Hồ Chí Minh
Năm: 2009
9. Lê Nguyên Cẩn (2013), Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
10. Cao Việt Dũng, “Chúng ta cần huyền thoại”, h t t p : // nh ili n h b l o g . b l o g s po t . c o m / Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng ta cần huyền thoại
14. Lê Minh Hà (2006), Truyện cổ viết lại, Nxb. Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ viết lại
Tác giả: Lê Minh Hà
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2006
15. Nguyễn Thái Hoàng (2014), “Không gian huyền thoại văn xuôi Việt Nam đương đại”, Nghiên cứu văn học (514) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian huyền thoại văn xuôi ViệtNam đương đại”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thái Hoàng
Năm: 2014
16. Khoa Ngữ Văn Báo chí (2007), Huyền thoại văn học, Nxb. Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền thoại văn học
Tác giả: Khoa Ngữ Văn Báo chí
Nhà XB: Nxb. Đại họcQuốc gia Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2007
17. Song Mộc, Trần Nho Thìn (2004), Thi pháp của huyền thoại (1976) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp của huyền thoại
Tác giả: Song Mộc, Trần Nho Thìn
Năm: 2004
18. Trần Thị Mai Nhân, “Tìm hiểu “phương thức huyền thoại hóa” một số tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới”, w w w . kho a v a n h oc - ngonngu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu “phương thức huyền thoại hóa” một sốtiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
19. Lã Nguyên (tuyển dịch) (2012), Lí luận văn học - những vấn đề hiện đại, Nxb. Đại học sư phạm Hà Nội, tr.128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học - những vấn đề hiện đại
Tác giả: Lã Nguyên (tuyển dịch)
Nhà XB: Nxb. Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
20. Đỗ Thị Mĩ Phương (2014) “Nhân vật mang màu sắc kì ảo truyện truyền kì Việt Nam trung đại”, Nghiên cứu văn học, (514) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật mang màu sắc kì ảo truyện truyềnkì Việt Nam trung đại”, "Nghiên cứu văn học, (
21. Lê Ngọc Tân (2001), “Huyền thoại tiểu thuyết E Zola”, Văn học nước ngoài,(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền thoại tiểu thuyết E Zola”, "Văn học nướcngoài,(
Tác giả: Lê Ngọc Tân
Năm: 2001
22. Nguyễn Thi (2006), Người mẹ cầm súng, Nxb. Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người mẹ cầm súng
Tác giả: Nguyễn Thi
Nhà XB: Nxb. Kim Đồng
Năm: 2006
23. Trần Nho Thìn (2005), “Cách đọc huyền thoại bối cảnh lí thuyết thế kỉ XX”, Văn hóa nghệ thuật, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách đọc huyền thoại bối cảnh lí thuyết thế kỉXX”, "Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Trần Nho Thìn
Năm: 2005
24. Đỗ Lai Thúy (2001), “Phương pháp phê bình huyền thoại học”, Văn học nước ngoài, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phê bình huyền thoại học”, "Văn họcnước ngoài
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w