1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lớp từ, ngữ thông tục trong truyện ngắn của nguyễn huy thiệp

68 132 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN ====== VŨ THỊ THANH HÀ LỚP TỪ, NGỮ THÔNG TỤC TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

VŨ THỊ THANH HÀ

LỚP TỪ, NGỮ THÔNG TỤC TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA

NGUYỄN HUY THIỆP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

ThS.GVC LÊ KIM NHUNG

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận, em đã nhận được sự hướng dẫn

nhiệt tình và chu đáo của cô giáo ThS.GVC Lê Kim Nhung – Giảng viên tổ

Ngôn ngữ, cùng sự ủng hộ, góp ý của toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữvăn – trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới các thầy cô, đặc biệt là

ThS.GVC Lê Kim Nhung, người đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.

Hà Nội, ngày tháng năm2017

Sinh viên

Vũ Thị Thanh Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của

riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của cô giáo ThS.GVC Lê Kim Nhung Khóa

luận tiếp thu và kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của những người đitrước, song không trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác Nếu sai,tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Thanh Hà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Đóng góp của khóa luận 7

8 Bố cục khóa luận 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 9

1.1 Từ ngữ thông tục 9

1.1.1 Khái quát 9

1.1.2.Từ khẩu ngữ 10

1.1.3.Từ ngữ thông tục 11

1.2 Tác giả Nguyễn Huy Thiệp 12

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp 12

1.2.2 Vài nét về phong cách tác giả Nguyễn Huy Thiệp 13

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ 15

2.1 Kết quả thống kê 15

2.2 Miêu tả kết quả thống kê 16

2.2.1 Từ thông tục qua cách xưng hô trong lời thoại của nhân vật 16

2.2 Ngôn ngữ thông tục qua các lời chửi, câu chửi 18

2.3 Từ ngữ thông tục thuộc nhóm kiêng kị trong giao tiếp 20

CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA TỪ NGỮ THÔNG TỤC TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 25

Trang 5

3.1 Từ ngữ thông tục góp phần khắc họa tính cách nhân vật 253.2 Từ ngữ thông tục phản ánh tính chất quan hệ giữa các nhân vật 313.3 Từ ngữ thông tục thể hiện cảm xúc , thái độ của nhà văn trước cuộc sống 343.4 Ngôn ngữ thông tục với việc thể hiện phong cách tác giả 36KẾT LUẬN 42TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

mục đích tu từ Tác giả Đinh Trọng Lạc khẳng định: “Ngôn ngữ nghệ thuật trong những phạm vi nhất định, sử dụng cả những phương tiện ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ văn hóa, như những từ địa phương, những từ tiếng lóng, những từ tục Ngôn ngữ nghệ thuật hiểu theo một nghĩa nào đó là giàu có hơn ngôn ngữ toàn dân.” [3; 120] Như vậy, khi xem xét giá trị tác phẩm văn học

từ góc độ ngôn ngữ thì việc nghiên cứu giá trị sử dụng của từ ngữ thông tục làcần thiết và có một ý nghĩa về mặt lí luận

1.2 Cơ sở thực tiễn

Trong các nhà văn hiện đại, Nguyễn Huy Thiệp nổi lên như một hiệntượng đặc sắc, độc đáo.Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đem đến cho côngchúng một cái nhìn mới, khai thác từng khía cạnh đổi mới của đời sống conngười trong cuộc sống hàng ngày Nguyễn Huy Thiệp được người ta quan tâmnhiều trước hết là những cách tân mới mẻ về nghệ thuật Đề tài của ông khôngmới, nó có một chút của Vũ Trọng Phụng, của Tô Hoài, của Ma VănKháng….tuy vậy nhưng nó vẫn rất hấp dẫn người đọc Có được những điềunày là nhờ vào sự cách tân nghệ thuật của tác giả đặc biệt là trong cách sửdụng ngôn ngữ Nguyễn Huy Thiệp đã đặc biệt tỉ mỉ, kĩ lưỡng trong cách

Trang 7

miêu tả mọi biến động của cuộc sống Tác giả Hoàng Ngọc Hiến nhận xét:Nguyễn Huy Thiệp không ngần ngại nêu lên những sự bê tha nhếch nháctrong cuộc sống, kể cả những sự thật rùng rợn, khủng khiếp Cốt truyện củaông không hề giật gân mà nó chỉ là cuộc sống bình thường của người dân laođộng và cuộc sống cứ thế chảy để rồi chảy vào nhịp của văn chương Cuộcsống hỗn loạn xô bồ Văn của Nguyễn Huy Thiệp là cả một tổng thể hỗn loạn

sự kiện và người đọc bị cuốn theo tổng thể ấy.Việc tiếp cận và cảm nhận văncủa Nguyễn Huy Thiệp không hề đơn giản, nó đòi hỏi độc giả phải có tầmhiểu biết, vốn sống, tri thức, sự tìm tòi Do vậy việc nghiên cứu tác phẩm cóthể dựa trên nhiều phương diện: ngôn ngữ, các biện pháp tu từ…Mỗi phươngdiện nghiên cứu sẽ cho chúng ta thấy một khía cạnh mới của tác phẩm Ở đềtài này, người viết sẽ tìm hiểu lớp từ ngữ thông tục trong truyện ngắn của ông.Thông qua việc tìm hiểu này sẽ giúp cho bạn đọc thấy nhiều khía cạnh hơncủa văn học Việc tìm hiểu lớp từ ngữ thông tục có ý nghĩa tích cực trong việctiếp cận truyện ngắn hiện đại nói chung và truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệpnói riêng

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn nghiên

cứu đề tài:“Lớp từ, ngữ thông tục trong truyện ngắn của Nguyễn Huy

Thiệp”.

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ văn học.

Nguyễn Huy Thiệp là tên thật và cũng là bút danh Ông là một tác giảtiêu biểu của văn học đương đại Việt Nam Độc giả biết đến ông là một nhàvăn, nhà văn mang những tư tưởng đầy táo bạo và tiến bộ

Nhà phê bình La Khắc Hòa khẳng định rằng “Tôi không nghiên cứuNguyễn Huy Thiệp chỉ từ những cách tân văn chương, tôi nghiên cứu ông nhưmột hiện tượng tạo ra bước ngoặt trong văn chương Việt Nam sau 1975” và

Trang 8

“Nguyễn Minh Châu mở đường đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 vớitruyện ngắn “Bức tranh” Còn Nguyễn Huy Thiệp là người đầu tiên tạo rabước ngoặt quan trọng của đổi mới”[4] Không phải tự nhiên mà tác giả LaKhắc Hòa lại nhận định rằng Nguyễn Huy Thiệp là hiện tượng tạo ra bướcngoặt trong văn chương Để hiểu thêm về nhận định này nhà phê bình cũnggiải thích thêm là bởi Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt đểphản ánh cuộc đời Đây là điểm độc đáo và khác biệt với tất cả những nhà vănkhác “Văn chương là nghệ thuật ngôn từ” nhưng ngôn từ trong tác phẩm củaNguyễn Huy Thiệp chưa có nghệ thuật nhiều Lớp ngôn từ đó phần nhiều đượclấy ra từ trong cuộc sống hàng ngày của những người dân lao động Chínhnhững từ ngữ đầy bụi bặm, tục tĩu đấy lại làm nên một bức tranh cuộc sốngnhiều màu sắc hơn và cũng sinh động hơn Trong một số tác phẩm của nhà vănNguyễn Huy Thiệp đôi lúc còn xuất hiện cả những từ thô tục, những từ màchưa một nhà văn nào đưa vào trong tác phẩm văn học của mình.

Tác giả cũng khẳng định: Văn của Nguyễn Huy Thiệp là truyện kể, xóa

bỏ trật tự tôn ti, lấy “mạt thế” làm khung, còn trước đó văn xuôi Việt Namchủ yếu viết theo kiểu huyền thoại Hầu hết truyện ngắn của ông đều viết dưới

dạng kể lại Trong truyện ngắn “Huyền thoại phố phường”,Nguyễn Huy

Thiệp đã kể lại khát vọng muốn làm giàu mà bất chấp thủ đoạn của nhân vậtHạnh Để đạt được mục đích của mình, Hạnh sẵn sang mơn chớn bà Thiều đểchiếm đoạt cái vé số đã được đem đi cầu ở đền Nhưng cuối cùng Hạnh phảinhận cái kết cục đau đớn, đó là tờ vé số đó không trúng và cậu đã phát điên.Lối viết đơn giản giống như kể chuyện đã tạo ấn tượng mạnh mẽ với bạn đọc

Dù cốt truyện sâu sắc hay đơn giản thì nó cũng đủ để lưu lại trong tâm trí bạnđọc Ở đây còn có sự xuất hiện của ngôn từ hội thoại càng làm cho tác phẩmtrở nên phong phú hơn và đa dạng hơn Lối viết văn theo hướng kể chuyệncòn được nhà văn sử dụng để kể về những vấn đề ở nông thôn Truyện ngắn

Trang 9

“Những bài học ở nông thôn” đã cho nhân vật “tôi” rất nhiều cảm nhận khác

nhau về cuộc sống của vùng quê Phải chăng đó còn là những thay đổi cơ thể

về mặt sinh học hay những đụng chạm tuổi mới lớn Bằng những lời văn mộcmạc đúng chất của người nông dân, Nguyễn Huy Thiệp đã hé thêm một cánhcửa mới cho bạn đọc nhìn thấy những góc khuất của cuộc sống

Nhà văn Đỗ Đức Hiếu nhận xét: “Trong hành trình Đi tìm Nguyễn HuyThiệp, tôi thấy một giọt vàng rơi vào lòng mình, giọt vàng ròng ngời sáng Đó

là truyện ngắn của anh Anh tái tạo truyện ngắn ở Việt Nam vào những nămcuối thế kỷ XX này và nâng nó lên một tầm cao mới: thơ ca và triết lý, truyềnthống và hiện đại, phương Đông và toàn nhân loại”[5] Trong hành trình ấy,người viết đã tìm thấy được “giọt vàng” của nhân loại, phải chăng đó là mộttia sáng cho văn học Việt Nam giai đoạn này Khi đọc các tác phẩm củaNguyễn Huy Thiệp, người đọc như đang trong cuộc hành trình phiêu lưutrong văn bản ngôn từ phức hợp, tuyệt vời ấy, và cũng nhiều cạm bẫy Đồngthời, người đọc khám phá những hạt vàng lấp lánh trong trái tim mình Haiđộng thái ấy tác động đến đáy sâu tâm hồn người đọc, nó rung lên, nó tạo nênnhững lớp sóng lan tỏa xung quanh Một thế giới mới hình thành trong lòngngười đọc Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã đặt vào trong nhận thức của bạnđọc một cái nhìn mới mẻ hơn, khách quan hơn trước hiện thực cuộc sống đầy

xô bồ này

Như vậy, các nhà nghiên cứu, nhà phê bình đã đã chú ý đến sự đổi mới

về mặt ngôn ngữ của Nguyễn Huy Thiệp và những đóng góp của Nguyễn HuyThiệp đối với văn học đương đại Việt Nam, đặc biệt trong việc sử dụng từngữ thông tục

2.2 Nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ ngôn ngữ

Tạp chí “Ngôn ngữ và Đời sống” số 2/1998 có bài “Tiếng lóng tronggiao thông vận tải” của tác giả Chu Thị Thanh Tâm [7] Sau quá trình tập hợp

Trang 10

những định nghĩa các từ điển giải thích, tác giả rút ra định nghĩa về tiếnglóng Tiếng lóng là một loại từ ngữ thông tục, không mang tính truyền thống.

Nó vừa là cách nói tỉnh lược và là thứ ngôn ngữ dùng để trêu đùa, vui vẻ hoặc

bí mật Ngôn ngữ mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sử dụng trong các sáng táccủa mình có sự xuất hiện của các tiếng lóng, lớp từ ngữ thông tục và cả nhữngtiếng chửi Chính điều này đã mang lại điểm khác biệt cho nhà văn với cácnhà văn khác cùng thời Đọc truyện ngắn của ông, chúng ta thấy sự mới mẻ,khác biệt so với văn học cùng thời và ngôn ngữ cũng là yếu tố quyết định sựthành công của tác phẩm

Tác giả Phùng Gia Thế trong bài viết “Tính chất Các-na-van trong ngônngữ văn xuôi đương đại” [8] có bàn về việc sử dụng ngôn ngữ của nhà vănNguyễn Huy Thiệp Tác giả đề cập đến sự xuất hiện khá nhiều các từ ngữ

thông tục như “ngu như chó”, “thằng khốn nạn”,… hay sự xuất hiện của các

từ chỉ chất thải như “phân”, “cứt”….Cũng trong bài viết này, Tiến sĩ Phùng

Gia Thế đã lí giải nguyên nhân và tác dụng của việc sử dụng từ ngữ thông tụctrong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Theo tác giả, nhà văn đã nhìn thấunhững lỗ hổng của hiện thực đương thời để rồi để cho nhân vật của mình thốt

ra những tiếng chửi, những từ ngữ tục tằn Có thể nói, sự xuất hiện côngnhiên các thể loại lời thông tục trong các truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cócăn nguyên từ quan niệm về hiện thực và về ngôn từ văn học của nhà văn.Chính kiểu phát ngôn này đã đưa nhân vật truyện ngắn của Nguyễn HuyThiệp trở về với đời sống thường nhật thô nhám Nhân vật của ông, cho dù cóvai xã hội thế nào thì cũng được xếp trên cùng một mặt sân giá trị bình đẳng.Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Minh, giảng viên trường Đại học Sư phạm HàNội 2, có bài viết “Lớp ngôn từ thông tục trong văn xuôi đương đại ViệtNam” [6] Ở bài viết này, tác giả đã dành một phần để nhận xét việc sử dụngngôn ngữ trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp Tác giả cho rằng,

Trang 11

Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng ngôn từ thô nhám, gai góc, bóc trần bản chất

sự vật, có khi còn đẩy tới cực đại, không nương nhẹ, không e ấp, ngại ngần

Ví dụ:

- Bây giờ tao nói chuyện đàn ông với mày

- Tôi cũng vô giáo dục nhưng không nhìn trộm phụ nữ cởi truồng

Ngôn từ thông tục đã xuất hiện trong văn chương Việt Nam mà điểnhình ở đây là Nguyễn Huy Thiệp là một sự sáng tạo vượt bậc của nhà văn,nhà văn muốn đem lại những nguồn sáng mới cho người tiếp nhận Ngôn ngữthông tục làm cho mỗi nhân vật xuất hiện trong tác phẩm đều có những dấu

ấn riêng và mỗi lúc nhân vật xuất hiện lại làm cho tác phẩm như sáng hơn,sâu sắc hơn

Như vậy, việc nghiên cứu về từ ngữ thông tục trong văn học hiện đại nóichung, trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp nói riêng đã được quan tâmnghiên cứu Điều này chứng tỏ, đây là một vấn đề có tính thời sự và cần thiếtphải tìm hiểu Tuy nhiên, những bài luận, nghiên cứu về Nguyễn Huy Thiệpchủ yếu dừng lại ở mức độ nhận xét, minh họa mà chưa đi sâu vào nghiêncứu, tìm hiểu một cách có hệ thống về việc sử dụng lớp từ ngữ thông tụctrong tác phẩm của ông

Trên cơ sở những gợi ý của các nhà nghiên cứu, ở khóa luận này, ngườiviết sẽ đi tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thông qua việc sử dụnglớp ngôn từ thông tục để từ đó góp thêm một tiếng nói khẳng định những giátrị nghệ thuật cũng như đóng góp của tác giả đối với nền văn học đương đạiViệt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu, nghiên cứu và khẳng định một vấn đề lí thuyết về ngôn ngữhọc

Trang 12

- Góp phần khẳng định những đóng góp của nhà văn Nguyễn Huy Thiệptrong việc đổi mới ngôn ngữ, cụ thể là việc sử dụng lớp từ ngữ thông tục đầymới lạ vào trong sáng tác của mình.

- Góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy văn học vàtiếng Việt trong chương trình Ngữ văn phổ thông

4.Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp các vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài

- Khảo sát, thống kê, phân loại, nhận xét lớp từ, ngữ thông tục trongtruyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

- Phân tích, xem xét hiệu quả sử dụng lớp từ ngữ thông tục trong truyệnngắn của Nguyễn Huy Thiệp.Từ đó rút ra những kết luận cần thiết

5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Lớp từ, ngữ thông tục trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Tuyển tập “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, Nhà xuất bản Văn hóa,Sài Gòn, 2007

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, so sánh

- Phương pháp tổng hợp

7.Đóng góp của khóa luận

- Về mặt lí luận: Khóa luận góp phần làm rõ về hướng tiếp cận văn học

từ góc độ ngôn ngữ, cụ thể thông qua lớp từ, ngữ thông tục – lớp từ xuất hiệnkhá nhiều trong truyện ngắn của nhà văn

- Về mặt thực tiễn: Khóa luận cung cấp tư liệu cho quá trình học tập,giảng dạy Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông nói riêng và việc cảm thụ vănhọc nói chung

Trang 13

8 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậnđược cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Kết quả khảo sát, thống kê

Chương 3: Vai trò của lớp từ, ngữ thông tục trong truyện ngắn củaNguyễn Huy Thiệp

Trang 14

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Từ ngữ thông tục

1.1.1 Khái quát

Ngôn ngữ giao tiếp của con người thường được tồn tại dưới hai dạng đó

là dạng viết và dạng nói Về mặt thuật ngữ, trước đây chúng ta vẫn thườnggặp các tên gọi “phong cách nói” hoặc “phong cách khẩu ngữ” đặt trong thếđối lập với “phong cách viết” hoặc “phong cách sách vở”

Tuy gọi tên như vậy, nhưng bản chất trong nội hàm đó là sự phân biệtgiữa một bên là ngôn ngữ thông tục, “đời thường”, chưa có sự gia công, traudồi, ít gắn với những chuẩn mực nguyên tắc; và một bên là ngôn ngữ được traudồi, chọn lọc, gắn liền với những chuẩn tắc của văn hóa xã hội và cộng đồng.Thực tế, ngay trong phong cách nói cũng có sự phân biệt giữa lời nóiđược chọn lọc, trau dồi (ví dụ như lời diễn giảng, thuyết trình, lời phát biểuchính thức có chuẩn bị sẵn, ) với lời nói chưa được chọn lọc kĩ và trau dồicẩn thận (ví dụ như trong nói năng thân mật thông thường hàng ngày, thậmchí có thể chấp nhận cả tính chất thông tục trong đó) Loại thứ nhất ở đâynhích gần về phía ngôn ngữ thuộc phong cách viết hơn, còn loại thứ hai, từbản chất của nó, được gọi đích danh là khẩu ngữ – một tên gọi mà tuy khôngnói ra một cách hiển minh, nhưng ít nhiều bên trong, người ta có ý phân biệt

nó với ngôn ngữ nói, nói chung

Như thế, có thể nhận ra trong từ vựng có ba lớp từ mang đặc điểm của baphong cách: lớp từ khẩu ngữ, lớp từ ngữ thuộc phong cách viết, và cuối cùng

là lớp từ ngữ trung tính (hoặc còn gọi là trung hoà về phong cách) có thể dùngtrong mọi phong cách khác nhau.Từ, ngữ thông tục thuộc về lớp từ khẩu ngữ

Trang 15

1.1.2.Từ khẩu ngữ

Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “Từ khẩu ngữ (từ hội thoại) là những từ được dùng đặc biệt trong lời nói miệng của sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong đối thoại.” [3; 196].

Trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt”, trang 285, tác giả Đỗ HữuChâu chia từ vựng hội thoại thành hai loại: Từ vựng hội thoại toàn dân (baogồm từ vựng hội thoại văn hóa và từ vựng nói chuyện tự nhiên) và từ vựnghội thoại hạn chế về lãnh thổ hay xã hội (bao gồm: từ địa phương, từ lóng)

Cũng theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ vựng nói chuyện tự nhiên bao gồm cả những từ thô tục Những từ này có tính chất suồng sã, thậm chí thô lỗ”.[1;

286)

Từ khẩu ngữ của tiếng Việt một số đặc điểm như sau:

Về mặt cấu trúc hình thức, các từ ngữ thuộc lớp này khi đi vào hoạt độnggiao tiếp, ít nhiều có thể “tự do, phóng túng” nếu điều kiện cho phép Nóicách khác, chúng có nhiều khả năng biến đổi cấu trúc vốn có của mình

Ưa dùng những từ ngữ có sắc thái đánh giá cực đại theo chiều nào đó đểcường điệu sự đánh giá của người nói, lôi cuốn sự chú ý của người nghe Vídụ: lo thắt ruột, chờ đỏ mắt, đánh sặc tiết, chạy bở hơi tai, chẻ xác ra, no đòn,cứng họng, (tức) sôi máu, (giận) tím mặt,

Chấp nhận những lối xưng hô thân mật hoặc đậm màu sắc bày tỏ thái độ.Bên cạnh đó là những từ ngữ có sắc thái thông tục, thậm chí thô thiển Chẳnghạn, về xưng hô, có thể dùng: mày, tao, cậu, tớ, mình, chúng mình, bọn mình,

y, hắn, hắn ta, bọn nó, tụi nó, thằng, thằng cha, con mẹ, mụ, con mụ, mụ ta,

Về những từ đánh giá hoặc miêu tả hành vi có: ngu, tồi, mèng, chẳng ra chó

gì, chẳng nước mẹ gì, ăn thua gì, ăn thua mẹ gì, nước non gì, ăn vàng ăn bạc

gì, biết tay, phải lòng, cực, cực kì, nghiêm, gìn,

Trang 16

Rất ưa dùng các quán ngữ, thành ngữ để đưa đẩy, rào đón, hoặc diễn đạtcho sinh động Ví dụ: của đáng tội, có đời thuở nhà ai, thôi thì , thì đã đành

là vậy, nó chết một nỗi (một cái) là , đánh đùng một cái, ấm ớ hội tề, chầu rìahút thuốc vặt, tuần chay nào cũng có nước mắt, ai biết quan đái mà hạ võng,luỵ như luỵ đò,

Sắc thái khẩu ngữ và biểu cảm của lớp từ khẩu ngữ còn thể hiện rõ ở sựhiện diện và hoạt động của những từ thưa gửi (dạ, thưa, ), các từ ngữ cảmthán (ôi, ối, ôi trời, trời ơi, trời đất ơi, cha mẹ ơi, ), ở các ngữ khí từ (à, ư,nhỉ, nhé)

Mặt khác, việc dùng các từ ngữ với sắc thái nghĩa mới, hoặc kèm theonhững nghĩa ngữ cảnh, nghĩa lâm thời, khá phổ biến Bởi một lí do đơn giảnlà: khẩu ngữ ít nhiều “phóng túng” về mặt chuẩn tắc Tuy vậy, cũng phảikhẳng định rằng tính thông tục của khẩu ngữ nói chung và từ vựng khẩu ngữnói riêng, không phải là sự nói tục và các từ tục Nếu không thấy sự khác biệt

về bản chất này, lạm dụng các từ tục thì sẽ dẫn đến chỗ làm vẩn đục ngônngữ, phá mất cái gọi là thẩm mĩ ngôn ngữ, thậm chí vi phạm đạo đức tronggiao tiếp

Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “Trong sáng tác văn học, những từ hội thoại được nhà văn sử dụng như một công cụ lợi hại nhất để miêu tả, tái tạo cuộc sống thực Nhiều khi chỉ cần một vài từ hội thoại là tính cách nhân vật cũng đã hiện ra rất rõ nét.”[3; 198].

1.1.3.Từ ngữ thông tục

Hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau về từ ngữ thông tục, nhưng cáchhiểu phổ biến cho rằng đây là lớp từ phổ dụng trong giao tiếp bằng lời nói tựnhiên (còn gọi là khẩu ngữ) và đại đa số có gốc thuần Việt Tác giả Đinh

Trọng Lạc định nghĩa: “Từ thông tục là những từ chỉ được dùng trong lời nói miệng thoải mái, thậm chí thô lỗ, tục tằn.”[3; 198] Từ ngữ thông tục thuộc

Trang 17

nhóm từ vựng nói chuyện tự nhiên Từ thông tục không nằm trong từ vựngcủa hội thoại văn hóa Trong hội thoại văn hóa thông dụng, người ta tránhdùng những từ ngữ này Có nghĩa là những từ thông tục chỉ được dùng tronghội thoại tự nhiên thông tục giữa các cá nhân có quan hệ tự do, thỏa mái,suồng sã Từ ngữ thông tục gồm những nhóm như: các từ ngữ tình thái chỉ sựsuồng sã (cái nhà anh này, mụ nhà tôi,con mẹ,chó đểu, thằng cha); các từ tụctĩu, lời chửi (đ mạ, cứt, thằng chó, cha bố mày…); các quán ngữ đưa đẩy(thôi thì, thì đã đành là vậy, của đáng tội, đánh đùng một cái, lo sốt vó);những từ phủ định ( đếch, cóc…); từ lóng ( chặn họng, gà mờ, đánh chén…).Tác phẩm văn học thuộc phong cách viết, tức là phong cách sử dụng ngôn

từ có sự chọn lọc, trau chuốt, gọt giũa Tuy vậy, trong các sáng tác của mình,bên cạnh việc sử dụng lớp từ thuộc phong cách viết, nhà văn có thể sử dụnglớp từ thuộc phong cách nói, trong đó có lớp từ ngữ thông tục Nhưng phạm vi

sử dụng lớp từ ngữ thông tục trong tác phẩm văn học là có điều kiện, tức làchúng chỉ xuất hiện ở ngôn ngữ nhân vật (phần thội thoại mang phong cáchnói) mà hầu như không xuất hiện trong ngôn ngữ tác giả (phần dẫn thoại, trần

thuật, mang phong cách viết) Tác giả Đinh Trọng Lạc khẳng định: “Các từ thông tục có thể được dùng trong các văn bản báo, đặc biệt là trong văn xuôi nghệ thuật để làm phương tiện tu từ nêu đặc trựng của lời nói nhân vật.”[3;

198]

1.2 Tác giả Nguyễn Huy Thiệp

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp

1.2.1.1 Cuộc đời

Nguyễn Huy Thiệp (26/7/1950) quê Thanh Xuân – Hà Nội Thưở nhỏ,ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ từ Thái Nguyênqua Phú Thọ, Vĩnh Phúc Năm 1960, gia đình ông chuyển về quê định cư ởxóm Cò, làng Khương Hạ- Hà Nội Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa Sử-trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lên dạy học tại Tây Bắc đến năm 1980

Trang 18

Cũng trong năm đó, ông chuyển về làm việc tại Bộ giáo dục và Đào tạo, sau

đó làm việc tại công ty Kĩ thuật trắc địa bản đồ - Cục Bản đồ cho đến khi nghỉhưu Năm 1994 Nguyễn Huy Thiệp gác bút và xoay sang mở nhà hàng ở HàNội, tên là “Hoa Ban” rất ăn khách Hiện nay, ông sống tại Hà Nội và là hộiviên Hội nhà văn Việt Nam

1.2.1.2 Sự nghiệp

Nguyễn Huy Thiệp viết rất nhiều ở các thể loại khác nhau: truyện ngắn,tiểu thuyết, kịch, tiểu luận, phê bình, tập văn Nhưng thành công hơn cả làtruyện ngắn Tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp in dấu khá đậm nét về nông thôn

và những người lao động Tác phẩm tiêu biểu:

Truyện ngắn: Tướng về hưu (1987), Kiếm sắc (1988),Vàng lửa (1988),Phẩm tiết (1988), Con gái thủy thần (1998)……

Kịch: Suối nhỏ dịu êm, Còn lại tình yêu, Xuân hồng, Gia đình…… Tiểu thuyết: Tuổi hai mươi yêu dấu, Tiểu long nữ, Gạ tình lấy điểm… Ngoài

ra, ông còn viết thơ Tuy chưa xuất bản tập thơ nào nhưng xuất

hiện khá nhiều trong các tập truyện ngắn của ông

1.2.2 Vài nét về phong cách tác giả Nguyễn Huy Thiệp

Nguyễn Huy Thiệp là người có khả năng cuốn hút, ông thể hiện sự sâusắc, quyết đoán và khá ngay thẳng trong khi đối thoại Có thể nói rằng, đằngsau vẻ ngoài lãnh đạm, khắc khổ của con người “từng trải” đó là một tâm hồnnhạy cảm hơn ta tưởng Để diễn đạt nỗi buồn hay sự phiền lụy trong đời sống,ông có thói quen dùng từ “đau khổ” hay “khổ” Phong cách Nguyễn HuyThiệp có thể khái quát ở một số đặc điểm như sau:

Trước hết là cốt truyện ly kì thường xây dựng nên những cuộc phiêu lưucủa nhân vật này, nhân vật nọ để mượn cớ đưa người đọc vào những thế giớiđầy cảnh lạ, chuyện lạ Một thế giới nhân vật cũng toàn những con người gânguốc Người nào dường như cũng sống đến tận cùng cá tính của mình Có

Trang 19

những người xuất thân từ đáy xã hội, là những người rác rưởi, tâm địa đen tốinhưng thi thoảng trong tâm hồn họ vẫn lóe lên một tia sáng của lương tâm.Ngôn ngữ trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp khá mới mẻ và độc đáo,

nó cũng làm cho nhiều người cảm thấy rờn rợn ghê ghê Đó cũng là một néthấp dẫn của văn Nguyễn Huy Thiệp Một thứ ngôn ngữ táo bạo đôi khi như làđột nhiên lột tả hết những ý nghĩ, thèm khát mà con người ta vẫn thường phảiche đậy

Thơ ca và triết lý là đặc trưng cơ bản của truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất hiện đại về cấu trúc, ngôn từ, vềchính cái “viết” của nó: nó tự viết, tự hình thành, nó vừa đáng giá vừa sâu sắc,vừa trực giác, vừa lí trí , nó lôi cuốn người đọc

Như vậy, Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm tất yếu của sự gặp gỡ giữa tàinăng với khát vọng dân chủ và đổi mới mà sự vận động ý thức xã hội cũngnhư văn học sau 1975 đem lại Nguyễn Huy Thiệp là tài năng hiếm và độcđáo Đúng như Nguyễn Đăng Mạnh khái quát: “Nguyễn Huy Thiệp khôngphải là xu hướng phổ quát và tất cả của đổi mới nhưng nó là dòng mạch xuấthiện đồng thời đổi mới”

Trang 20

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ

2.1 Kết quả thống kê

-Trong tổng số 45 truyện ngắn mà chúng tôi khảo sát thì từ ngữ thôngtục được sử dụng ở 36 truyện với 296 phiếu Như vậy lớp từ ngữ thông tụcđược nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sử dụng tương đối nhiều Bằng cách sửdụng lớp từ ngữ thông tục một cách khá dày đặc vừa thể hiện cá tính sángtạo của nhà văn lại vừa mang sự phá cách mới của văn học Việt Nam hiệnđại Nhà văn sử dụng lớp từ ngữ thông tục này như một điểm nhấn nhằmlàm tỏa sáng tác phẩm.Có thể thấy, những từ ngữ thông tục xuất hiện phổbiến nhất đều là những từ tục quen thuộc, được sử dụng rất nhiều tronglời nói sinh hoạt Chúng tạo nên một không khí đối thoại suồng sã,thậm chí thô lậu nhưng cũng dễ dàng làm cho người đọc cảm nhận được sự

tự nhiên, chân thực của đời sống

-Việc sử dụng từ ngữ thông tục vào trong sáng tác văn chương đã manglại những thành công nhất định cho nhà văn Trong truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp, “tần suất” sử dụng từ ngữ thông tục khá dày đặc Từ ngữ thôngtục xuất hiện với nhiều dạng, loại như: đại từ xưng hô, lời chửi, câu chửi haycác từ ngữ thuộc nhóm kiêng kị trong giao tiếp

-Từ kết quả khảo sát, thống kê, chúng tôi thấy những từ thông tụcđược sử dụng nhiều như “mày’, “tao”, “mẹ chúng mày”, “cha chúng mày’,

“cứt”… Những từ này xuất hiện khá nhiều trong tập truyện ngắn mà chúngtôi khảo sát Các từ “ mày”, “chúng mày” “chúng tao” xuất hiện 197 lần(chiếm 66%) Điều này cũng dễ giải thích rằng văn xuôi Việt Nam ngày cànghiện đại hơn và nó làm cho ngôn ngữ sáng tác cũng thay đổi rất nhiều Nhàvăn Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn đầy táo bạo khi mang ngôn ngữ đời sống

Trang 21

sinh hoạt vào trong văn chương và làm cho văn của mình theo kịp nhịp sốnghiện đại Khác

Trang 22

với văn xuôi truyền thống, văn xuôi hiện đại đi sâu vào khai thác thế giới nộitâm nhân vật, chú ý đến những dòng cảm xúc, những tâm trạng, những suy

tư của con người Vì thế ngôn từ bao giờ cũng dùng để phản ánh cuộc sốngcủa

người dân và nó luôn phản ánh một cách chân thực nhất Nguyễn HuyThiệp sử dụng lớp từ ngữ thông tục như nhấn mạnh thêm sự thay đổi của xãhội đã tác động đến con người như thế nào và nhằm thể hiện dòng cảm cảmxúc tâm trạng của mình.Việc sử dụng lớp từ ngữ thông tục tạo sự chú ý chongười đọc và tác động mạnh vào lí trí, tình cảm của người đọc

-Từ thông tục “mẹ’, “mẹ nó” cũng được nhà văn sử dụng nhiều, xuấthiện 49 lần ( chiếm 16,4%) Khi những ngôn ngữ của đời sống được đưa vàotrong văn chương, nó sẽ làm cho tác phẩm trở nên gần gũi với con người hơn,mang theo hơi thở của sộng sống hiện dại xô bồ vào văn học Sử dụng từ ngữthông tục khi viết truyện ngắn không chỉ có tác dụng thu hút sự chú ý củabạn đọc mà còn tạo ra điểm nhấn, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc Bạnđọc sẽ có những ấn tượng sâu sắc hơn, mới mẻ hơn với tác phẩm của nhàvăn Nguyễn Huy Thiệp

2.2 Miêu tả kết quả thống kê

2.2.1 Từ thông tục qua cách xưng hô trong lời thoại của nhân vật.

Từ là do tiếng tạo thành, mỗi từ đều mang một ý nghĩa và có thểdùng độc lập trong câu Đặc điểm đầu tiên là các từ xưng hô (gồm các đại từnhân xưng, các từ khác dùng để xưng hô) của lời nói thường ngày xuất hiệnkhá nhiều ở lời thoại nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

Trong truyện ngắn “Huyền thoại phố phường”: con gái, ông công chức, bà

mẹ, bà Thiều, cậu Phúc, anh ấy, chị, em, cậu ấy, anh, cha bố cô…Trong

“Không có vua”: mày, tao, chúng mày,cha chúng mày, mẹ mày, mẹ

Trang 23

chúng mày, bọn chúng mày, lũ chúng mày, tôi, chú, công chức gì mặt mày,

….Trong “Những

Trang 24

người thợ xẻ”: mẹ đĩ, chúng mày, bố tiên sư chúng nó, mày, tao, chó, cứt chó, anh, tôi……

Đặc sắc của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là các tác phẩm của ôngdung lượng không dài nhưng lại đi sâu vào miêu tả cuộc sống của nhữngngười lao động nghèo trong những năm sau khi đất nước được giải phóng,

đang trên con đường đổi mới “Những bài học nông thôn” là tác phẩm têu

biểu Truyện chỉ dài hai mươi mốt trang giấy nhưng nó đã tái hiện được mộtphần cuộc sống ở nông thôn Đó là một vùng nông thôn mang đặc trưngcho bao vùng nông thôn thuần hậu trên đất nước Việt Nam Nhà văn NguyễnHuy Thiệp rất tinh tế trong việc sử dụng từ ngữ thông tục trên nền củalàng quê Việt Nam bình yên, dân dã Nó làm cho khung cảnh ấy mất đi vẻyên bình vốn có của nó

Từ xưng hô trong truyện ngắn cũng giản dị đậm chất nông thôn, nó chưa

bị pha trộn quá nhiều ngôn ngữ của cuộc sống Lớp từ thông tục mang hơithở của đời sống hiện đại, mang sự thay đổi về với miền quê, sự thay đổi này

là từ từ không mạnh mẽ Những gì mà văn học thời đại trước kiêng kị, nhữngngôn ngữ mà các nhà văn đi trước chưa dám đưa vào văn chương thì đếnthời kì hậu hiện đại, Nguyễn Huy Thiệp đã dám đưa vào trong sáng táccủa mình Đây là một quyết định cực kì táo bạo Truyện ngắn này đã để lạinhiều cảm xúc khác nhau cho người đọc và điều rõ nhất là nó để lại đóchính là nhịp sống hiện đai, con người hiện đại và cuộc sống hối hả, vội vãđang tràn về làng quê yên bình này Như vậy nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đãrất thành công trong việc đưa ngôn ngữ thông tục về với làng quê Việt Nam,phản ánh cuộc sống sinh động, đa chiều và xô bồ của làng quê Lớp từ, ngữthông tục đã làm cho văn học trở nên đa sắc màu hơn và chắc hẳn nhiều bạnđọc chưa thể bắt kịp Từ dùng để xưng hô trong hội thoại giữa các nhân vật

Trang 25

đã có sự thay đổi Số lượng xuất hiện các từ ngữ thông tục không nhiềunhưng nó đủ để chúng

Trang 26

ta nhận ra sự mới mẻ và sáng tạo trong văn chương của nhà văn Cuộc sốnglàm cho con người trở nên chật vật hơn, hỗn độn hơn Lời thoại của các nhânvật trong truyện đã tái hiện cuộc sống hiện tại một cách chân thực và sâu sắcnhất.

2.2.2 Ngôn ngữ thông tục qua các lời chửi, câu chửi

Ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệpxuất hiện tần số khá cao các lời chửi, câu chửi Chửi là hành vi kiêng kị tronggiao tiếp, nhưng trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp lại sử dụng vớinhững mục đích nhất định

Trong truyện ngắn “Không có vua”, lời chửi và các câu chửi xuất hiệntương đối nhiều Lão Kền mắng thằng con trai lão:

- “Cha chúng mày, chúng mày ám hại ông”…

- “Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à”…

- “Mẹ cha này thế mày nâng bát cơm lên miệng hàng ngày mày có

nghĩ không?”

- “Bọn chúng mày bây giờ thì vực đạo gì?”

- “Mẹ cha mày, tao chỉ nghĩ thân tao thì lũ chúng mày được thế này

à?”

Hay lời của nhân vật Bường trong “Những người thợ xẻ” :

- “Chúng mày thông cảm”.

- “Mẹ đĩ về đi”.

- “Chúng mày cẩn thận.Ở Hà Nội ăn cắp như rươi”.

- “Cái thằng nào nghĩ ra cái tên Bình Minh ở cái đất khỉ ho cò gáy này

thật là một thằng bịp bợm khốn nạn”.

- “Tiên sư đời, khốn nạn chưa”.

- “Tiếng kêu bệnh hoạn của dục vọng suy đồi”.

- “Đừng bẫy tao vào chính trị tư tưởng,mày đểu lắm”.

Trang 27

- “Đồ chó, nếu muốn đânh nhau thì ra ngoăi kia”.

Sự xuất hiện của một loạt câc lời chửi, cđu chửi trong truyện ngắn cóthể lăm cho bạn đọc ngỡ ngăng nhưng chính bạn đọc lại được đi từ bất ngờnăy sang bất ngờ khâc Nhă văn sử dụng lớp ngôn từ thông tục năy căng lămcho kịch tính của truyện được đẩy lín cao Trong truyện ngắn “Không cóvua” nhă văn đê miíu tả xuất sắc diễn biến của xê hội Việt Nam những ngăyđầu mới độc lập Con người bước đầu bị cuốn theo vòng quay của xê hội củacông việc Cđu chuyện mă họ xoay quanh không còn lă những chuyện thườngnhật nữa mă lă chuyện tiền bạc, ăn uống, thậm chí lă gâi Cuộc đấu khẩu củaLêo Kền với Đoăi như phơi băy hết tất cả những xấu xa trong xê hội cũ Chỉ

vì dđy điện hở mă lêo Kền bị giật mă ông sẵn săng chửi luôn những đứa con

của mình “Cha chúng măy, chúng măy âm hại ông”; Lêo Kền bảo “Lăm người nhục lắm” rồi lêo chửi “Mẹ cha măy, tao chỉ nghĩ cho thđn tao thì

chúng măy được thế năy ă?” Ngôn ngữ trong gia đình bị đảo lộn, những cđu

chửi xuất hiện nhiều hơn vă lăm cho cuộc sống trở nín hỗn độn, cha con bấtđồng Ngôn ngữ hội thoại trong gia đình bị chi phối bởi cuộc sống xê hội quânhiều Qua những lời chửi, cđu chửi của lêo Kền, phần năo chúng ta cũnghiểu được những điều bức bối mă nhă văn đang nhìn thấy vă phải chứngkiến trong xê hội lúc bấy giờ Nguyễn Huy Thiệp nhìn thấy nhưng ông khôngthể thay đổi

được, câi duy nhất ông có thể thay đổi đó chính lă mang tiếng chửi văo trongtruyện ngắn của mình Tiếng chửi giống như ông đang hĩt văo câi xê hội mẵng đang sống Đđy cũng lă một câch mă nhă văn thể hiện thâi độ văquan

điểm của mình về cuộc sống Một nhă văn luôn nhìn thấy những mảng tối,những góc khuất của cuộc sống, vì vậy những gì ông mang văo văn chươngđều lă những gì chđn thực nhất

Trang 28

Ngoài truyện ngắn “Không có vua”,“Những người thợ xẻ” thì truyện

“Chuyện bà Móng” cũng xuất hiện nhiều những lời chửi, câu chửi Nhà văn

Trang 29

không để cho nhân vật của mình chửi nữa mà là một con vật cũng biết chửi

-con nhồng : “đời cũng chó nhỉ?”.

Mọi nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đều có thể chửi Tácgiả Phùng Gia Thế cho rằng: nhà văn đã nhìn thấu những lỗ hổng của hiệnthực đương thời để rồi để cho nhân vật của mình thốt ra những tếng chửi,những từ ngữ tục tằn; nhân vật của ông, cho dù có vai xã hội thế nào thìcũng

được xếp trên cùng một mặt sân giá trị bình đẳng Có thể là người nôngdân lao động trước những bí bách của cuộc sống mà bật ra tiếng chửi và cũng

có thể là những người thủ lĩnh lãnh đạo chửi Truyện ngắn “Mưa Nhã Nam”

kể về Đề Thám – một anh hùng trong thời kì chiến tranh Trong cuộc nói

chuyện Đề Thám phải thốt ra rằng: “Thời đại chó má!” Ở thời đại này, họ sẵn

sàng dốc vào họng thứ rượu nấu bằng sắn, thứ rượu mạnh đến nỗi có thểchâm lửa đốt cháy được để hòng làm dịu đi nỗi phiền muộn

Dù xuất hiện trong hoàn cảnh nào thì các lời chửi, câu chửi trong cáctruyện ngắn ấy cũng có những ý nghĩa nhất định Cái đặc sắc nhất ở đây chính

là nhà văn đã lưu lại được những góc khuất tối nhất của cuộc sống và những

gì thô nhám nhất còn xuất hiện trong xã hội

2.2.3 Từ ngữ thông tục thuộc nhóm kiêng kị trong giao tiếp.

Những từ ngữ thông tục mà người ta kiêng kị trong giao tiếp lại đượcnhà văn Nguyễn Huy Thiệp sử dụng rất nhiều trong sáng tác văn học Đó là

những từ như “cứt”, “chim”, “bướm”, “dái”, “con b ”…được xuất hiện với

tần số cao

Nói đến chuyện hố xí hai ngăn, chuyện hót phân ở Hà Nội mà lại khôngnhắc đến Nguyễn Huy Thiệp thì đúng là một thiếu sót Có thể nói, trong văn

chương Việt Nam đương đại, không ai quan tâm đến “cứt” nhiều như Nguyễn

Huy Thiệp Trong các truyện ngắn, ông cho từ ấy xuất hiện khá nhiều, một

Trang 30

cách trần trụi, hung hãn, đầy bạo động Nó tuôn ra từ miệng của vuaQuang

Trang 31

Trung khi quát tháo Ngô Khải: “Ta cho mày ăn cứt, xem có chê lợn không?”

(Phẩm tiết) Ngay cả khi Nguyễn Huy Thiệp viết về tình yêu, một thứ tình yêu

rất thơ mộng giữa Trương Chi và Mỵ Nương, ông cũng phun chữ “cứt” ra.

Không phải một lần mà là nhiều lần.Câu chuyện bắt đầu bằng cảnh TrươngChi đứng đái:

“Trương Chi đứng ở đầu mũi thuyền Chàng trật quần đái vọt xuống dòng sông Phía xa kia là chân trời rực hồng ráng đỏ Nhà nàng ở phía ấy Sương xuống lạnh Một nỗi buồn da diết choáng ngợp lòng chàng.”

Đái xong, chàng hát.“Tiếng hát vút cao Đêm xuống Bóng tối mù mịt.”

Hát xong, chàng duỗi thân, ngả người vào lòng thuyền Chàng nói: “Cứt!”

Rồi chàng nhớ đến Mỵ Nương, nàng công chúa đẹp tuyệt trần Nguyễn

Huy Thiệp tả: “Giờ đây, gặp Mỵ Nương rồi, chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc

sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được Không chỉ riêng chàng, mà cả bầy Tất cả đều thối hoắc.Cứt!” Cứ thế, từ đầu đến cuối truyện, Trương Chi cứ nói “Cứt” luôn miệng Trước khi nhảy xuống sông tự trầm, Trương Chi cũng lại chửi “cứt”.“Hình ảnh Mỵ Nương biến mất đâu

rồi” trước mặt chàng là sông nước trắng xóa một màu, trời mây trắng xóa một

màu Trương Chi chèo thuyền ra giữa tm sông Chàng lại nói: ‘Cứt!’”

Hình như vẫn bị ám ảnh bởi chuyện cứt, Nguyễn Huy Thiệp sau này viếthẳn một truyện nhan đề là “Chuyện Ông Móng” để kể về chợ bán phân

ở ngoại thành Hà Nội

-“Chợ phân họp chừng một giờ đồng hồ từ 3 giờ sáng đến 4 giờ sáng ở

ngay bên đường đi Sơn Tây Đây là vùng trồng rau, trồng cà nổi tiếng Giống

cà pháo, cà bát rất hợp với việc bón phân tươi, nhất là phân người Người ta cũng dùng phân để bón cho lúa, nhưng phân bón cho lúa phải được ủ cho mục ra, cho chín phân.”

Trang 32

-“Thế nào là ủ phân? Phân tươi có nhiều loại: phân trâu bò, phân lợn,

phân gà (gọi chung là phân chuồng), phân người (còn gọi là phân bắc)

nhưng được ưa quý hơn cả là phân lợn, phân gà Phân lợn quý vì nó mát, có thể dùng ngay, bón được ngay cho cây, mà cây nào cũng hợp Phân gà cũng quý nhưng phân gà nóng, chỉ hợp bón cho cây ớt mà thôi.”

-“Riêng phân người (phân bắc) có lẽ bởi có nhiều đạm, nhiều chất khó

phân huỷ nên bón trực tiếp thì cây xót, chết ngay Riêng chỉ cây cà là chịu

đựng được, lại hợp với việc bón loại phân này.”

-“Nhìn chung, tất cả các loại phân đều phải được ủ thì mới nên dùng.

Người ta đào ngoài, trông như một cái mả, để đấy chừng dăm bữa nửa

tháng cho ngấu dần Phân được ủ chín, cứ thế mục ra, oải ra Những con dòi

ăn hết phân cũng chết đi, bản thân nó cũng hoá thành phân.”

-“Khi tôi đến thăm chợ phân thì chợ đang họp Đây là chợ phân tươi, hoàn toàn không có phân ủ (phân chín), không có phân xanh (phân làm từ các loại lá cây) hay phân hoá học Cũng rất ít có phân chuồng, tức là phân lợn, phân gà hay phân trâu bò Tất cả đều là phân người.”

-“Phân người được cho vào những thùng gò bằng tôn như thùng gánh nước Cũng có một số người dùng thùng gỗ hoặc cho phân vào sọt (sọt được lót bằng bao ni-lông) Có lẽ phần lớn phân ở đây đều được lấy từ các nhà xí công cộng trong thành phố ra, nhiều thùng phân còn thấy lẫn cả giấy vở học

sinh hay giấy báo.”

-“Chợ phân không đông, chỉ có chừng hơn ba chục người vừa mua vừa

bán Hình như họ vốn đã quen biết nhau và khá thuộc “mặt hàng” của nhau nên việc mua bán thoả thuận cũng nhanh Dưới ánh đèn cao áp tựa như ánh

trăng và không khí hơi lạnh buốt, chợ phân cũng có phần nào giấu đi được

sự bẩn thỉu, sự nghèo hèn, lam lũ và cần lao.”

Trang 33

Tại sao một nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp lại bị ám ảnh nhiều vềchuyện đi cầu, đi tiêu và phân người như vậy? Tại sao Trương Chi cứ chửi

“cứt” mãi? Trương Chi trong truyện cổ tch đâu có như vậy? Tiếng “cứt”vang lên sang sảng từ đầu truyện đến cuối truyện có làm tăng thêm chút giátrị thẩm mỹ hay nhân văn nào trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp?

Sự xuất hiện dày đặc từ ngữ thô tục trong các truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp xuất phát từ quan niệm về hiện thực và về ngôn từ văn học của nhàvăn Kiểu phát ngôn này đã đưa nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn HuyThiệp trở về với đời sống thường nhật thô nhám, trần tục

Không chỉ “Cứt” xuất hiện nhiều trong văn mà những từ cấm kị dùng

trong giao tiếp cũng được xuất hiện trong văn:

- "Ngọc ơi, mày có biết vì sao cái ấy của phụ nữ các cụ gọi là cái bướm

không? Nó là một thứ có cánh, phấp pha phấp phới "

- "Mặt đen mà tái như da ở bìu dái, lông mày rậm, răng vẩu mà

vàng như răng chó".

- "Ta cắt dái mày! Ta cho mày ăn cứt".

- "Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có con b…”

- “Chim bằng quả ớt…các cụ toàn chim to”.

- “Giận đời, lại muốn chuộc tội, ông Hai Chép lấy dao cắt phăng hòn

dái của mình xuống sông”.

- “Rượu thì nó ngồi mâm trên Ngủ thì nó đè lên mình”.

Sự xuất hiện của những từ thuộc nhóm kiêng kị trong giao tiếp đãlàm cho những truyện ngắn này trở nên hiện thực hơn Truyện ngắn

“Chuyện bà Móng” cũng xuất hiện một loạt những từ thuộc nhóm kiêng kị

trong giao tiếp:

-“Rốt cuộc, tớ lại là thằng bán chim cho mình!”’

-“Mình là con chim lớn nhất mà em bẫy được!”.

Trang 34

Những từ ngữ đậm chất cuộc sống, sinh hoạt đời thường được nhàvăn thổi hồn vào để văn chương trở nên có ý nghĩa hơn.Truyện kể lại lúc gặp

gỡ của cô Hợp và ông Móng khi ông Móng đến hỏi mua chim Nếu chúng tachỉ nhìn nhận tác phẩm từ một khía cạnh thì đây là một tác phẩm bìnhthường, không có gì đặc sắc nhưng nhìn tổng thể thì truyện ngắn đã phê phánrất nhiều những tồn đọng, những uẩn khúc sâu xa trong cuộc sống Sử dụngnhững từ kiêng kị vào văn chương của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã cho bạnđọc nhìn thấy một xã hội chân thực nhất, sâu sắc nhất Ông không ngần ngạikhi nói về góc khuất của cuộc sống, những góc khuất đầy tối tăm của xã hội.Đây là một nét táo bạo, khác biệt trong phong cách Huy Thiệp bởi khôngphải nhà văn nào cũng dám đưa những từ ngữ thuộc nhóm kiêng kị tronggiao tiếp vào văn chương

Ngôn ngữ nhà văn sử dụng rất phong phú và đa dạng, dù sử dụngnhững từ ngữ thuộc nhóm kiêng kị trong giao tiếp nhưng nó không làm chotác phẩm của ông trở nên vụng về, thô thiển mà nó làm cho tác phẩm củaông trở nên đặc sắc và thú vị hơn

Ngày đăng: 06/01/2020, 17:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
2.Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
3.Đinh Trọng Lạc (1977), Phong cách học tiếng Việt, NxbĐHQG Hà Nội.B. Bài báo, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NxbĐHQG Hà Nội.B. Bài báo
Năm: 1977
5.Đỗ Đức Hiếu, Hành trình đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Tạp chí Sông Hương, số 136/ tháng 6 ( h t tp: // www .t a p c h i s on g hu o n g . c o m .v n/t a p - c h i / c 2 06 / n5 3 6 7/ D i - tm-Nguyen-Huy-Thiep.html) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, T
6. Nguyễn Thị Tuyết Minh (2015), Lớp ngôn từ thông tục trong văn xuôi đương đại, Kỷ yêu Hội thảo Ngữ học toàn quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lớp ngôn từ thông tục trong văn xuôi đương đại
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Minh
Năm: 2015
7.Chu Thị Thanh Tâm (1998), Tiếng lóng trong giao thông vận tải, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số2/1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng lóng trong giao thông vận tải, T
Tác giả: Chu Thị Thanh Tâm
Năm: 1998
8.Phùng Gia Thế, Tính chất Các-na-van trong ngôn ngữ văn xuôi đương đại(htps://phebinhvanhoc.com.vn/tnh-chat-cac-na-van-trong-ngon-ngu-van- xuoi-viet-nam-duong-dai/) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất Các-na-van trong ngôn ngữ văn xuôi đương đại

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w